Trong thực tế nhữngnăm vừa qua, Nghệ Tĩnh đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có chấtlượng cao như bài: “Những năm đầu của phong trào đấu tranh chống Pháp ởNghệ Tĩnh và quá trình h
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
=== ===
phan thị lộc
khóa luận tốt nghiệp đại học
-ơng chống pháp cuối thế kỷ xix
(1885 - 1896)
chuyên ngành lịch sử Việt Nam
Trang 2Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
=== ===
khóa luận tốt nghiệp đại học
-ơng chống pháp cuối thế kỷ xix
(1885 - 1896)
chuyên ngành lịch sử Việt Nam
Giáo viên hớng dẫn: ts nguyễn quang hồng
Sinh viên thực hiện: Phan Thị Lộc
Lớp: 46E - Lịch sử
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của khóa luận 6
6 Bố cục của đề tài 7
B NỘI DUNG 8
Chương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN YÊN THÀNH TRƯỚC NĂM 1885 8
1.1 Điều kiện tự nhiên 8
1.2 Điều kiện xã hội 12
1.3 Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Yên Thành trước năm 1885 20
Chương 2 ĐÓNG GÓP CỦA NHÂN DÂN YÊN THÀNH TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CHỐNG PHÁP (1885-1896) 24
2.1 Vài nét về phong trào Cần Vương chống Pháp 24
2.1.1 Nguyên nhân bùng nổ 24
2.1.2 Nghệ Tĩnh một trong những trung tâm của phong trào Cần Vương chống Pháp 33
2.1.2.1 Khởi nghĩa của Lê Ninh 33
2.1.2.2 Khởi nghĩa Phan Đình Phùng - ngọn cờ tiêu biểu của phong trào Cần Vương Nghệ Tĩnh và toàn quốc 34
2.1.2.3 Khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn - quá trình tập hợp lực lượng 38
Trang 42.2 Yên Thành với căn cứ Đồng Thông trong khởi nghĩa Nguyễn
Xuân Ôn 54
2 2.1 Vị trí địa lý của căn cứ Đồng Thông 54
2.2.2 Vai trò của căn cứ Đồng Thông trong khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn 57
2.3 Những thủ lĩnh xuất sắc trong phong trào Cần Vương ở Yên Thành 59
2.3.1 Lê Doãn Nhã với cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn 59
2.3.2 Nguyễn Ngợi với cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn 64
2.3.3 Nguyễn Văn Nhoạn với cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn 65
2.4 Nhân dân Yên Thành trong cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn và phong trào Cần Vương chống Pháp 66
Chương 3 SỰ TÔN VINH CỦA HẬU THẾ ĐỐI VỚI CÁC THỦ LĨNH Ở YÊN THÀNH TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG 72
3.1 Đối với nhà thờ Lê Doãn Nhã 72
3.2 Giá trị lịch sử - văn hóa 74
3.2.1 Giá trị lịch sử 74
3.2.2 Giá trị văn hóa 75
C KẾT LUẬN 77
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trải qua quá trình sưu tầm tài liệu và làm việc nghiêm túc, đến nay,chúng tôi đã hoàn thành đề tài này, đó không chỉ là công sức của một mình tôi
mà đó là thành quả mà tôi đạt được dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
TS Nguyễn Quang Hồng, chính vì vậy tôi muốn gửi đến thầy - người đã
hướng dẫn tôi trong thời gian qua lời biết ơn sâu sắc của mình
Đồng thời, tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ủy ban nhân dân huyệnYên Thành, Ban tuyên giáo huyện ủy đã tạo điều kiện cung cấp tư liệu giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng rất biết ơn các thầy, cô ở khoaLịch sử Trường Đại học Vinh và gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ để tôihoàn thành khóa luận này
Vinh, tháng 5 năm 2010
Tác giả
Phan Thị Lộc
Trang 6Là một địa phương có vị trí chiến lược quan trọng và truyền thống yêunước lâu đời, được các lãnh tụ của phong trào chọn làm nơi xây dựng căn cứCần Vương ở Nghệ Tĩnh, đó là căn cứ Đồng Thông Từ khi chiếu Cần Vươngban ra, nhân dân Yên Thành đã sôi nổi hưởng ứng từ những ngày đầu và cónhững đóng góp hết sức quan trọng trong phong trào Cần Vương ở Nghệ Tĩnhcuối thế kỉ XIX Vậy cuộc khởi nghĩa ở Đồng Thông, Yên Thành diễn ra nhưthế nào? Có những đặc điểm gì? Nên đánh giá vai trò và vị trí của phong tràonày như thế nào trong phong trào chung của tỉnh Nghệ Tĩnh cho thỏa đáng?Hơn thế nữa, trong phong trào Cần Vương chống Pháp, nhân dân Yên Thành
đã có nhiều đóng góp cả về sức người, sức của Do đó, việc nghiên cứu vềnhững đóng góp của nhân dân Yên Thành trong phong trào Cần Vương chốngPháp là một yêu cầu cấp thiết
Chúng tôi thiết nghĩ việc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu phong trào yêunước chống Pháp ở Yên Thành mà tiêu biểu là căn cứ địa Đồng Thông cuốithế kỉ XIX không chỉ đưa lại những đóng góp về khoa học mà còn có ý nghĩathực tiễn to lớn Từ đó giúp chúng ta có được cái nhìn toàn diện đầy đủ hơn
về diện mạo của phong trào Cần Vương cả nước Những bài học lịch sử quýgiá rút ra từ phong trào yêu nước ở Đồng Thông, Yên Thành trong giai đoạnlịch sử này không chỉ có ý nghĩa đối với phong trào yêu nước của toàn tỉnh và
Trang 7Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài:
“Yên Thành trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX”
làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Phong trào Cần Vương là một phong trào yêu nước diễn ra trong mộtkhoảng thời gian tương đối dài (1885-1896) với quy mô rộng lớn, nên từtrước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố
Trước tiên là những tác phẩm của thực dân Pháp như: “Lịch sử quân sựĐông Dương”, các bài nghiên cứu của viên chỉ huy người Pháp trong côngcuộc “Bình định” phong trào Cần Vương Tiếp đó là tác phẩm “Việt Nam sửlược” của Trần Trọng Kim
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đặc biệt là sau năm 1954 hàngloạt các công trình nghiên cứu có đề cập tới phong trào Cần Vương đã đượccông bố như: “Lịch sử tám mươi năm chống Pháp”của Trần Huy Liệu, NxbXây dựng, Hà Nội 1957; “Lịch sử Việt Nam (1858 - cuối thế kỉ XIX)” củaHoàng Văn Lân - Ngô Thị Chính, quyển III, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 8Tại Nghệ Tĩnh trong những năm gần đây, cũng có nhiều địa phươngkhác, việc nghiên cứu biên soạn lịch sử địa phương đã và đang được đẩymạnh và trở thành một nhu cầu thực sự quan tâm, chú ý Trong thực tế nhữngnăm vừa qua, Nghệ Tĩnh đã có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử có chấtlượng cao như bài: “Những năm đầu của phong trào đấu tranh chống Pháp ởNghệ Tĩnh và quá trình hình thành cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng” của haitác giả Đặng Huy Vận và Bùi Bình Bình đăng trong Tạp chí nghiên cứu lịch
sử số 133 năm 1970 Bài “Nguyễn Xuân Ôn - một thủ lĩnh văn thân lỗi lạccuối thế kỉ XIX” (1825-1889) của Đinh Xuân Lâm đăng trong Tạp chí nghiêncứu lịch sử số 158 năm 1974 Bài “phong trào đấu tranh vũ trang chống xâmlược Pháp cuối thế kỉ XIX ở Nghệ Tĩnh” của Đinh Xuân Lâm đăng trong Tạpchí nghiên cứu lịch sử số 5 (218) năm 1984 Trong các công trình này, các tácgiả đã làm rõ thân thế, sự nghiệp của những người đứng đầu các cuộc khởinghĩa trong phong trào Cần Vương ở Nghệ An, Hà Tĩnh Tuy nhiên, việcnghiên cứu về những đóng góp của nhân dân Yên Thành lại chưa được trìnhbày một cách toàn diện
Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về lịch sử Yên Thànhnhư: “Sơ thảo lịch sử huyện Yên Thành”, tập 1, do Ngô Đức Tiến, Nxb Nghệ
Trang 9
Tĩnh, Vinh, 1990 Tuy nhiên, do đây là cuốn sách lịch sử mang tính tổng thể
đề cập đến rất nhiều vấn đề của đời sống kinh tế, xã hội từ nguyên thủy đếntrước cách mạng tháng Tám nên việc nghiên cứu về phong trào Cần Vươngcuối thế kỉ XIX không được sâu sắc Một số làng xã của huyện cũng đang xúctiến việc biên soạn lịch sử địa phương mình Trong các cuốn lịch sử Đảng bộđịa phương có đề cập đôi nét về phong trào Cần Vương trên địa bàn xã nhưnghết sức sơ lược
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây dù ít hay nhiều, trựctiếp hay gián tiếp đã đề cập đến nhiều khía cạnh của đề tài chúng tôi lựa chọnnghiên cứu Song chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệthống các sự kiện tiêu biểu, những diễn biến chính, chưa thấy hết được vaitrò, vị trí cũng như rút được những bài học kinh nghiệm cần thiết từ phongtrào yêu nước của nhân dân Yên Thành cũng như căn cứ địa Đồng Thôngcuối thế kỉ XIX Các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại các tài liệu
do các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương điền dã, sưu tầm và ghi chép giảnlược Một số khác cũng chỉ tồn tại dưới các dạng báo cáo các tham luận tạihội thảo khoa học và hầu như chỉ được quan tâm khi diễn ra các hoạt động kỉniệm, ngày lễ
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu được đề cập trên sẻ là cơ sởban đầu vô cùng quý giá, là nguồn tư liệu bổ sung cần thiết để chúng tôi tiếnhành nghiên cứu một cách sâu sắc và hệ thống hơn, góp phần làm hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Đối tượng của đề tài là: “Yên Thành trong phong trào Cần Vươngchống Pháp ở Nghệ Tĩnh” trong những năm 1885-1896 Do đó chúng tôi chủyếu đi sâu tìm hiểu và phân tích các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc giántiếp đối tượng đã xác định trên
Trang 10
b Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được giới hạn từ tháng 7 năm 1885 đến đầu 1896, tức là nghiêncứu phong trào yêu nước của nhân dân Yên Thành, mà tiêu biểu là cuộc khởinghĩa Đồng Thông, trong khoảng thời gian từ khi chiếu Cần Vương ban rađến khi cuộc khởi nghĩa bị thất thủ Đây là phần trọng tâm của đề tài, tuynhiên để trình bày một cách có hệ thống hơn, cũng như để thấy rõ được phongtrào yêu nước chống Pháp của nhân dân Yên Thành lúc bấy giờ, trong quátrình thực hiện đề tài chúng tôi cũng sẻ đề cập tới nhiều sự kiện trong phongtrào Cần Vương ở Nghệ Tĩnh có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Đồng Thông.Bên cạnh đó, trước khi nghiên cứu trực tiếp phần trọng tâm của đề tài, chúngtôi thiết tưởng cũng cần phải khái quát một số nét lớn về vị trí địa lí, truyềnthống yêu nước, cũng như tình hình Yên Thành trước 1885 Tuy nhiên về cơbản, thì đề tài được xác định trong một khoảng thời gian xác định là 1885-
1896 trên phạm vi không gian là huyện Yên Thành (Đông Thành cũ)
Việc giới hạn đề tài trong phạm vi hẹp như vậy sẽ giúp chúng tôi cóđiều kiện nghiên cứu một cách sâu hơn, nhằm rút ra một số nhận xét đánh giáxác đáng về phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Yên Thành cuốithế kỉ XIX Đây chính là mục đích mà đề tài cần đạt đến
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
a Nguồn tư liệu
Bên cạnh các nguồn tư liệu có tính chất tham khảo nghiên cứu vềphong trào Cần Vương trên bình diện toàn quốc, chúng tôi chủ yếu tập trungkhai thác những nguồn tư liệu riêng về khởi nghĩa Đồng Thông phục vụ trựctiếp cho đề tài như:
Trang 11
Chống xâm lăng, 1957, quyển III, của Trần Văn Giàu
Ngoài ra chúng tôi cố gắng tiếp xúc với một số nguồn tư liệu gốc docác chuyên viên nghiên cứu lịch sử địa phương điều tra, sưu tầm trước đâyhiện đang lưu giữ Đồng thời trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đãtrực tiếp về các hiện trường lịch sử, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa, để gặp gỡcác bậc cao niên, các nhà giáo lão thành, nhằm lắng nghe, tiếp thu những ýkiến quý báu phục vụ cho đề tài của mình Và trong quá trình điều tra thìchúng tôi đã chụp được một số hình ảnh mang tính chất tư liệu (hình ảnh trậnđánh ), rồi chúng tôi trực tiếp về các làng mà trước kia là quê hương của các
vị lãnh tụ kháng chiến để chụp hình tư liệu
b Phương pháp nghiên cứu
Nguồn sử liệu thực hiện đề tài này không phải là nhiều, hơn nữa nó làcông trình được thực hiện cách đây 10-15 năm về trước, nhiều quan điểm, sựkiện chưa tiếp cận được với những thành tựu của khoa học lịch sử Do vậyviệc lựa chọn phương pháp nghiên cứu là một vấn đề hết sức quan trọng,quyết định đến kết quả cuối cùng của khóa luận Vì thế khi nghiên cứu đề tàinày, chúng tôi đã lựa chọn phương pháp lịch sử và phương pháp logic,phương pháp so sánh, xác minh phê phán tư liệu lịch sử và phương pháp điền
dã sưu tầm lịch sử địa phương
Trên cơ sở những tư liệu đã thu thập được, đặc biệt là các tư liệu có liênquan đến đề tài, công việc của chúng tôi hoàn toàn không phải là lắp ghép,sao chép một cách máy móc lại các nguồn tư liệu sẵn có, mà từ các nguồn tưliệu, chúng tôi suy ngẫm, phân tích, khái quát “bằng ngôn ngữ lịch sử” củabản thân nhằm biến thành cái riêng của mình Các tài liệu đó chỉ là cơ sở đểthực hiện đề tài này
5 Đóng góp của khóa luận
Hệ thống tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài để tiện nghiên cứu, đốichiếu, so sánh
Trang 12Khóa luận góp phần vào việc giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào
về quê hương cho thế hệ trẻ
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dungchính được trình bày trong ba chương như sau:
Chương 1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội và truyền thống chống
ngoại xâm của nhân dân Yên Thành trước năm 1885
Chương 2 Đóng góp của nhân dân Yên Thành trong phong trào Cần
Vương chống Pháp (1885-1896)
Chương 3 Sự tôn vinh của hậu thế đối với các thủ lĩnh ở Yên Thành
trong phong trào Cần Vương
Trang 13
B NỘI DUNGChương 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI
VÀ TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN
YÊN THÀNH TRƯỚC NĂM 1885
1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Yên Thành được thành lập, tách từ huyện Đông Thành, phủDiễn Châu từ năm Minh Mệnh thứ 18 (1837)
Yên Thành là huyện đồng bằng ở phía Đông Bắc của tỉnh Nghệ An,cách thành phố Vinh 55km về phía Bắc Chiều Bắc Nam từ Hòn Sường giápQuỳnh Lưu ở phía Bắc, đến Tràng Sơn giáp Nghi Lộc, ở phía Nam dài gần40km, thuộc 18055’ đến 19012’ độ vĩ Bắc Chiều Đông từ thôn Ngọc Sơn làngĐại Độ đến làng Tràng Thịnh, ở phía Tây, dài 35km thuộc 105011’ đến
105034’ độ Kinh Đông Cách bờ biển nơi gần nhất ở xã Đô Thành 6km, nơi xanhất ở xã Thịnh Thành gần 40km
Huyện Yên Thành phía Đông giáp Diễn Châu, phía Bắc là huyện DiễnChâu và Quỳnh Lưu, phía Tây là huyện Nghĩa Đàn và Tân Kỳ, phía Nam làhuyện Nghi Lộc và huyện Đô Lương Huyện Yên Thành hiện nay có diện tích
tự nhiên 56.204ha, trong đó đất canh tác 15.647ha chiếm 29%
Về hình thể, huyện Yên Thành giống như một hình lòng chảo khôngcân Ba phía: Bắc, Tây, Nam là rừng núi và đồi trọc Ở giữa phía Đông là mộtvùng đồng trũng tiếp giáp với Diễn Châu Nơi cao nhất là đỉnh núi Vàng Tâm
ở phía Tây Bắc làng Quỳ Lăng cao 544m Nơi thấp nhất là vùng trũng vensông Điển, sông Cầu Bà âm 0,6m so với mực nước biển
Đồng bằng Yên Thành nằm trong dải đồng bằng Nghệ Tĩnh với diệntích đất nông nghiệp khoảng 16.954ha Vùng đồng bằng này được hình thànhtrong kiến tạo “Tân sinh” qua hai lần biển tiến (nước biển dâng lên từ 90-
Trang 14
100m) và hai lần biển thoái (nước biển hạ xuống từ 90-100m) cách ngày naykhoảng hai triệu năm và do vật liệu biển bồi tụ, những bậc thềm phù sa cổhình thành nên vừa nhỏ lại vừa kém phì nhiêu Điều đáng chú ý là đồng bằngYên Thành có độ nghiêng lớn, mặt cắt dày nên liên tục diễn ra cả quá trìnhmài mòn, rửa trôi lẫn bồi tụ Nhiều cánh núi, lèn đá mọc giữa đồng bằng,nhiều cánh đồng bị nhiễm mặn Nên nói chung độ màu mỡ của đồng bằngYên Thành kém hơn so với đồng bằng sông Mã, càng kém xa so với đồngbằng sông Hồng và sông Cửu Long Tuy vậy, từ hàng ngàn năm nay, YênThành vẫn là nơi sản xuất nhiều lúa gạo, hoa màu, nơi tập trung dân cư đôngđúc của xứ Nghệ
Câu “Nghệ Đông Thành, Thanh Nông Cống” hay các câu:
“Ăn mặn uống nước đỏ da
Ở đây không được thì ra Đông ThànhĐông Thành là mẹ, là chaĐói cơm rách áo thì ra Đông Thành”
“Hết nước thì có nước nguồnHết gạo thì có gạo buôn Đông Thành”
Ai muốn ăn dấm thì về mà ăn”
(Ca dao Nghệ Tĩnh)
Núi rừng và đồi ở Yên Thành là dạng địa hình chiếm hầu hết diện tích
ở phía Bắc, phía Tây và phía Nam huyện với độ nghiêng dốc lớn Tổng diện
Trang 15
tích đất lâm nghiệp khoảng 20.815ha Nhiều ngọn núi cao có tên tuổi đi vàokho tàng ca dao, dân ca xứ Nghệ như:
“Nhất cao là động Mồng Gà,Thứ nhì động Huyệt, thứ ba động Thờ”
Hay: “Thứ nhì rú Gám, thứ ba Hòn Sường”
Một dạng địa hình khác ở Yên Thành là do hiện tượng lắng đọng trầmtích đá vôi ở Đông Thành, Nam Thành, Lý Thành,Trung Thành, Bảo Thành,Long Thành, có nhiều hang động kín đáo, có nhiều mạch nước ngầm, nhiềuthung lũng, động, bàu mà tên gọi còn ẩn chứa bao điều huyền tích như độngThờ, động Huyệt, thung Lang, thung Mây, lèn Voi, lèn Cò, bàu Gianh, đậpSắt, đập Vừng [8;23]
Đồi núi, lèn đá, thung lũng và đồng bằng đã tạo nên nhiều cảnh quanđẹp đẽ
Hệ thống sông ngòi tự nhiên của Yên Thành không nhiều và không lớnhầu hết sông suối đều bắt nguồn từ các dãy núi từ phía Tây Bắc và Tây Nam.Đáng kể có một số sông lớn như:
Sông Dinh bắt nguồn từ Đồng Trổ, Đồng Trọc và một nhánh Đồng Mai
về khe Cấy, hợp lưu với nhau chảy qua Tràng Thành sang Long Hồi, TíchPhúc xuống sông Điển
Sông Dền bắt nguồn từ động Huyệt chảy qua kẻ Dền đổ xuống sông Sọt
Từ năm 1932 đến năm 1937, hệ thống nông giang Bắc được xây dựngđưa nước sông Lam về tưới cho phần lớn diện tích đồng bằng Yên Thành
Về khoáng sản, căn cứ vào kết quả thăm dò, Yên Thành chưa phát hiệnđược khoáng sản kim loại mà chỉ có khoáng sản phi kim loại Đáng kể có đá vôi
ở Đồng Thành, Trung Thành, Nam Thành, Bảo Thành, Vĩnh Thành, mỏ be-ry ởSơn Thành, cát xây dựng ở Sơn Thành, Bảo Thành, than bùn ở Vĩnh Thành
Yên Thành có khí hậu và thời tiết khá phức tạp, có những mặt ưu đãinhưng cũng có mặt khắc nghiệt Nằm trong vùng khí hậu ẩm nhiệt đới gió
Trang 16
mùa, quanh năm nhận được bức xạ lớn của mặt trời Tổng nhiệt lượng cả nămhơn 8.5000C,đạt 75calo/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm 230C Lượng mưatrung bình hàng năm 1.600 -1.800 mm Mưa tập trung vào các tháng cuối mùa
hạ, khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột, áp thấp nhiệt đới xuất hiện kèm theo mưabão to Nước từ các triền núi, khe suối đổ về làm đồng ruộng ngập trắng, cónơi ngập sâu 3 - 4m Cũng có năm ngay giữa tháng 5 (khoảng 20/4 âm lịch)xuất hiện cả lụt tiểu mãn Nhiều trận lũ đi vào lịch sử như trận lũ tháng 8 nămNhâm Thìn (1842), trận lũ năm Bính Ngọ (1846) cướp đi nhiều sinh mạng vàtài sản của nhân dân
Nắng nóng cũng không rải đều quanh năm mà tập trung vào tháng 6,tháng 7 Mùa hè có gió nồm từ biển thổi vào, gió Tây Nam từ dãy TrườngSơn thổi sang Gió phơn Tây Nam rất nóng, làm cho lượng nước bốc hơinhanh, đồng ruộng khô cạn Nhiệt độ trung bình mùa hè khoảng 350C, cóngày lên đến 390C Khi chưa có hệ thống nông giang, nhiều đợt nam kéo dàigây tác hại rất lớn tới mùa màng và sức khỏe con người
Về giao thông, trước đây Yên Thành chỉ có tuyến đường sông từ cửaLạch Vạn, Sông Bùng lên con đường bộ hầu như không đáng kể Chỉ làđường làng nhỏ hẹp, đường liên hương, liên xã, liên tổng cũng lỗ chỗ vết chântrâu, khiến cho Yên Thành một vùng lòng chảo không cân, ba phía là núi, ởgiữa là vùng đồng bằng trũng càng xa với các trung tâm kinh tế, văn hóa mãi đến đầu thế kỉ XX, đường quốc lộ 7 và tỉnh lộ 38 mới được khai thông,nhưng phần đi qua Yên Thành thật ngắn, chỉ qua một số làng xã Từ điều này
có thể nhận thấy rằng, Yên Thành là một huyện ngoại biên văn hóa, còn lưugiữ được nhiều nét phong tục, tập quán cổ xưa
Điều kiện địa lí tự nhiên như vậy đã ảnh hưởng đến tập quán, tính cáchcủa người dân Yên Thành Đồng thời, người dân nơi đây cũng đổ biết bao mồhôi, nước mắt để khai phá, tạo lập nên một vùng quê giàu đẹp của Yên Thành,một phần máu thịt của giang sơn cẩm tú Việt Nam
Trang 17
1.2 Điều kiện xã hội
Do địa hình vùng núi Yên Thành ăn liền với các dãy núi từ phía TâyBắc Nghệ An đổ xuống, có nhiều lèn đá vôi, nhiều hang động và thung lũngkín là địa bàn cư trú thuận lợi của người Việt cổ Theo kết quả nghiên cứu củacác nhà khảo cổ học cho biết, Yên Thành là nơi người Việt cổ xuất hiện lâuđời Các công cụ bằng đá tìm thấy được ở Bảo Nham, Vĩnh Tuy, ĐồngThành, Hậu Thành (chủ yếu là rìu và cuốc đá) có niên đại khoảng 2700 ±75năm TCN thuộc nền văn hóa Bàu Tró (Quảng Bình) - nền văn hóa hậu kì đồ
đá mới ở Việt Nam Người Việt cổ quần tụ trên các hang động ở Yên Thành
là những cư dân trồng lúa cuối thời đại đồ đá mới ở Nghệ Tĩnh Họ là nhữngcon cháu của người vượn ghè đá ở Thẩm Ồm (Quỳ Châu), những bộ lạc sănbắt, hái lượm ở Cồn Điệp (Quỳnh Văn) và là những người đương thời vớinhững người Việt cổ ở Rú Ta - Hai Vai (Diễn Châu) [8;24].Các hiện vật thuthập được cho thấy, các bộ lạc cuối thời kì đồ đá mới sống ở đây đã có kỷthuật chế tác công cụ đạt đến trình độ cao Nguồn sống chủ yếu của họ là lúa,ngô, khoai, các hải sản như: tôm, tép, ốc, hến Tất cả các bằng chứng khoahọc đã chứng tỏ rằng Yên Thành là vùng đất cổ, một bộ phận khăng khít củacác bộ lạc xa xưa cư trú vùng ven biển Nghệ Tĩnh
Đến thời đại văn hóa Đông Sơn, thuở các vua Hùng dựng nước VănLang, sống giữa thiên nhiên hoang dại, con người ở nơi đây đã biết tự mìnhxây dựng cuộc sống kinh tế, văn hóa Họ mở rộng địa bàn cư trú từ các hangđộng xuống các dải đất cao dọc thung lũng ven khe suối Con người chuyển
từ thời đại đồ đá sang thời đại đồ đồng, biết cày, cuốc ruộng, biết đồ xôi, làmbánh, làm đồ gốm bằng bàn xoay, biết đúc đồng, luyện sắt Nguồn sống chínhcủa họ là làm ruộng, trồng trỉa lúa, ngô, khoai và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà
Trên cơ sở chủ yếu là nền nông nghiệp trồng lúa nước, các công xãnông thôn xuất hiện với những Kẻ Sừng, Kẻ Sàng, Kẻ Dền, Kẻ Rục, Kẻ Sấu,
Kẻ Rọc Con người sống trong cộng đồng làng xã với những quan hệ họ
Trang 18
hàng, tôn tộc, xóm làng với những sinh hoạt văn hóa mang màu sắc của cưdân nông nghiệp trồng lúa nước
Trong suốt chiều dài lịch sử, thiên nhiên và con người Nghệ Tĩnh, trong
đó có Yên Thành luôn gắn bó với nhau Nhà yêu nước Nguyễn Xuân Ôn đãviết về con người Châu Hoan, Châu Diễn:
“Non nước Hoan Châu đẹp tuyệt vời,Sinh ra trung nghĩa biết bao người” [2]
Thiên nhiên ưu đãi và thử thách, thuận lợi và khó khăn, cùng với lịch
sử dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên con người Yên Thành, vốn quýnhất Đại Nam nhất thống chí viết:
“Đất xấu dân nghèo, tập tục cần kiệm
Nhà nông chăm chỉ ruộng nương, học trò ưa chuộng học hành”
Cư dân Yên Thành ngày xưa không đông lắm, dân số tăng chậm, chỉđến khi các quan cai trị Châu Diễn chọn Quỳ Lăng và Kẻ Dền để xây dựng lỵ
sở, cùng với công cuộc chuyển dân từ ngoài Bắc vào khai dân lập làng, cưdân mới tăng nhanh
Cho đến nay, chúng ta mới chỉ biết được vài số liệu gần đây:
Theo Tạp chí “Công báo kinh tế Đông Dương” tháng 11/1930 YênThành có 64.000 người
Theo tài liệu của Ủy ban kháng chiến hành chính Nghệ An năm 1951.Yên Thành có 42.202 hộ, 91.000 người Theo số liệu điều tra dân số 1989 có220.000 người, không có dân tộc thiểu số, tỉ lệ lao động là 45% và có 30.000người theo đạo Thiên Chúa
Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế và thư tịch trước đây, trên đất Yên Thànhkhông chỉ có người Kinh, mà cả người Mường cùng là chủ nhân vùng này
Đến thời kì nước ta giành được quyền tự chủ, với công cuộc mở mang
bờ cõi, khai hoang, di dân lập ấp của các triều đại phong kiến tập quyền, đồng
Trang 19Thời Trần và thời Hậu Lê (thế kỉ XIII, XIV, XV) công cuộc khai hoanglập ấp chẳng những được nhà nước đứng ra tổ chức, mà một số quan lại cũngđứng ra thành lập trang trại, một hình thức khai hoang nhỏ bé, nhưng phổ biến
ở Yên Thành là từng tốp nông dân dựa vào quan hệ bà con, xóm giềng chungsức nhau lập thêm những làng mới
Tộc phả của nhiều dòng họ và lịch sử các làng xã đã ghi lại nhiều đứcTriệu Cơ đã có công khai canh chiêu dân, lập ấp Vào cuối đời Trần, ông tổ
họ Nguyễn Duy là Nguyễn Duy Thiện cùng ông tổ họ Phan là Phan Vân,cùng ba bốn nông dân vào xứ Kẻ Rục khai canh
Ở Kẻ Lấu (Ngọc Thành), ông tổ họ Nguyễn Chi cũng vào đây khaicanh, lập làng
Ở Giai Lạc, cuối thờ Lê, ông Trần Đăng Dinh đã có công lập các làngPhúc Am, Đồng Bản, Xuân Lai Hầu như địa phương nào, từ những kẻ, cậy,đến những trang, sách, sở trại, người đến trước, kẻ đến sau, cùng chung sứckhai phá núi rừng, đầm lầy lập nên những làng mới, những công xã nôngthôn, mang tính chất điển hình của vùng đồng bằng Nghệ An
Cùng với quá trình khai hoang lập làng mới, các công trình thủy lợicũng được Nhà nước và các làng xã chú ý mở mang Một số quý tộc cũng gópcủa xây dựng công trình thủy lợi và đời sống
Tại Quỳ Lăng, nhân dân lập đền thờ bà Thái Thị Liệt, người có côngđắp đập đưa nước Bàu Sừng về tưới cho đồng làng
Trang 20Từ những vùng rừng núi, đầm lầy, hươu hoẵng đầy gò tiếng kêu vangđồng nội, chim công bay lượn che rợp núi trời “thủy kinh chú” Tổ tiên ta từthế hệ này qua thế hệ khác đã đổ mồ hôi nước mắt, tựa lưng vào nhau màsống, tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên, khắc phục mọi nguynan để làm biến đổi không ngừng bức tranh kinh tế - xã hội của quê hương.
Đó là những cánh đồng màu mỡ năm đôi ba vụ Đó là những nương vườnbốn mùa cây trái trĩu quả Đó là những thửa ruộng bậc thang chênh vênh bênsườn núi
Sự phát triển về kinh tế, một nền kinh tế tự cung, tự cấp khép kín trongtừng gia đình, từng vùng mang tính chất độc canh, cộng với việc giao thôngkhông thuận tiện, nên sự phân công lao động, sự phân hóa các tầng lớp cư dândiễn ra chậm chạp
Tuyệt đại bộ phận cư dân Yên Thành là nông dân lấy nghề nông làmnguồn sống chính Chưa có làng nào hình thành một làng thủ công chuyênnghiệp và người buôn bán ổn định rõ rệt Phía sau lũy tre xanh là các làng xã
có công điền công thổ, có những quan hệ gắn bó keo sơn tôn tộc họ hàng Cólàng có đình to nổi tiếng như đình Sừng, đình Mõ Làng nào cũng có đình
Trang 21
chùa miếu mạo, có thành hoàng, có lệ làng, có hương ước riêng Những làng
xã ấy rất thuận lợi cho công cuộc đánh giặc giữ làng, và khai thác đất đai ởphạm vi nhỏ, nhưng rất khó khăn chậm chạp, bảo thủ, trì trệ trong việc tiếpthu cái mới và phát triển kinh tế hàng hóa
Vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt và mọi áp lực bất công của xã hội
có giai cấp, dẫu cuộc sống có nhiều lúc cay đắng, lay lắt với những bát cháorau má, bữa cơm độn khoai nhưng người dân Yên Thành luôn luôn xây dựng,vun đắp cho mình một cuộc sống lạc quan yêu đời, với những ngày hội hè vuichơi thoải mái theo nhịp điệu mùa màng Những ngày hội này, nhân dânthường tổ chức các trò vui như chơi đu, đánh cờ, chọi gà, vật cù lộn tronghuyện có nhiều phường tuồng nổi tiếng như Xuân Nguyên, Phúc Tăng, LiênTrì làng Quỳ Lăng có phường hát chèo nổi tiếng Làng Xuân Nguyên cóphường hát ca trù của họ Nguyễn được xếp vào loại đại hàng, từng biểu diễn
ở kinh đô Huế năm 1925 và nhiều nơi trong vùng
Vào dịp hội mùa, hội làng, đầu xuân tiếng trống tuồng, trống chèo vanglên khắp các thôn xóm
Những người nông dân Yên Thành cũng là tác giả của một vùng vănhóa dân gian khá đặc sắc với những tục ngữ, ca dao, câu đố, chuyện cổ,chuyện trạng Dân Yên Thành thường hay kể vè hát ví, hát dặm Vào dịp ngàymùa những phường gặt thuê từ các huyện bạn đến Yên Thành đem theo baolời ví, điệu hò của các vùng quê pha trộn, hòa nhập vào những làn điệu củaYên Thành, làm cho nơi đây trở thành nơi giao lưu của những ngọn nguồnvăn hóa dân gian xứ Nghệ Đêm đêm bên cối giã gạo, giữa sân trục lúa, lời cađiệu ví, câu chuyện trạng nảy nở
Suốt mấy thế kỷ xây dựng nền văn hiến, tinh thần hiếu học của nhândân huyện Yên Thành được nuôi dưỡng phát huy Dân nghèo đói, nhưng aicũng muốn cho con học năm ba chữ để làm người Nhiều gia đình chắt chiutừng hạt gạo, củ khoai nuôi con ăn học Nhân dân đã nuôi dưỡng chăm sóc
Trang 22
nhiều học trò ưu tú đậu đạt cao trong các kỳ thi Theo “Nghệ An đăng khoalục”, từ thời Trần đến thời Nguyễn, ở Yên Thành có đến 18 vị đại khoa, trong
đó có 4 trạng nguyên, 3 thám hoa, 2 hoàng giáp, 5 tiến sỹ, 4 phó bảng
Ông Bạch Liêu người thôn Quảng Đông, xã Nguyên Xá, đậu trại trạngnguyên Thiệu Long thứ 9 (1226), vị trạng nguyên đầu tiên của Nghệ An Ôngthông minh, cường ký, đọc sách xem suốt 10 hàng nhớ ngay Ông không ralàm quan mà chỉ làm môn khách cho Thượng tướng Thái sư Trần QuangKhải, nhân dân thường gọi ông là Bạch Liêu cư sỹ Khi ông mất, được nhândân thờ làm phúc thần
Ông Hồ Tông Thốc hiệu là Động Đình, người thôn Tam Thọ, tổng QuỳTrạch (Thọ Thành), đậu trạng nguyên năm 19 tuổi thời nhà Trần Ông nổitiếng hay chữ nhất Kinh sư Trong một bữa tiệc, ông làm luôn 100 bài thơ.Ông là một nhà văn hóa lớn có tài năng nhiều mặt như thơ, văn, lịch sử Ông
là tác giả của nhiều tác phẩm:
“Thảo nhần hiệu tần thi tập”
“Đại Nam thế chí” và “Việt sử thông giám cương mục”
Ông Lê Doãn Nhã người làng Tràng Sơn, đậu phó bảng khoa Tân Vỵ(1871) Ông đã cùng với Nguyễn Xuân Ôn khởi nghĩa chống Pháp
Ông Trần Đình Phong người làng Yên Mã, đậu đệ tam giáp đồng tiến
sỹ khoa thi Kỷ Mão (1879) Ông làm tế cửu Quốc tử giám (Giám đốc trườngđại học Việt Nam thời nhà Nguyễn) là tác giả của tập sách: “Quỳ Trạch đăngkhoa lục”
Ông Phan Võ người Yên Nhân đậu đầu cử nhân trường thi Nghệ An(giải nguyên) khoa Kỷ Dậu (1909) và đậu phó bảng khoa Canh Tuất (1910).Ông là dịch giả quyển: “Thượng kinh ký sự” của Hải Thượng Lãn Ông
Qua thống kê chưa đầy đủ trên đây, chúng ta thấy truyền thống hiếuhọc của nhân dân Yên Thành được duy trì và phát huy từ khoa thi đầu tiênđến khoa thi cuối cùng Có gia đình ba bốn cha con, ông cháu đều đậu đạt
Trang 23Từ những ông trạng nguyên đến những nhà nho, họ đều là những ngườicon của quê hương, nhất là hàng trăm cử nhân, tú tài, thầy đồ gắn bó với quêhương, no đói vui buồn cùng dân Họ sống tiết tháo cương trực, tham gia vàomọi hoạt động ở nông thôn, cùng nhân dân sáng tạo nên mọi giá trị vật chất,tinh thần của quê hương Khi nước nhà lâm nguy, có người bỏ cả công danhquan trường, cùng nhân dân chống giặc như phó bảng Lê Doãn Nhã, cử nhânChu Trạc Cũng có người về quê dạy học và làm thơ kêu gọi và thức tỉnh tinhthần yêu nước trong nhân dân như tú tài Lê Liễu (ở Diệu Ốc,Giai Lạc), tác giảtập thơ “Nam quốc tỉnh mê ca” (bài ca thức tỉnh nước Nam) và nhiều bài thơvăn ca ngợi đất Hồng Lam.
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong cư dân YênThành xuất hiện thêm một bộ phận những đồng bào theo đạo Thiên Chúa, nơisớm nhất là Bảo Nham, Rú Đất, Đức Lân từ năm 1839 và muộn nhất là năm
1941, ở Kim Sơn chợ Rộc Hiện nay, Yên Thành có 48 nhà thờ xứ họ và hơn
ba vạn giáo dân, bà con lương cũng như giáo, đoàn kết tương thân, tương ái,đấu tranh chống giặc ngoại xâm và áp bức cường quyền Có người vừa theođạo vừa cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hươngnhư các ông Ngô Cương, Trần Khắc Thành (Công Thành)
Một truyền thống tinh thần quý báu của nhân dân Yên Thành là chuộngtín nghĩa, hiếu khách, kính trọng người già cả, biết ơn với những người cócông với họ hàng làng nước Những người có công khai khẩn đất đai, chiêudân lập ấp, hoặc có văn võ với dân, với nước cũng được nhân dân quý trọng,tôn làm thành hoàng, làm phúc thần và lập đền thờ
Trang 24ai cũng lo cho tương lai con cháu kế thế.
Lúc đầu là do nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo, dần dà giai cấp thống trị sửdụng những tập tục, tế lễ, hội hè để phô trương thanh thế, bòn rút của dân, trởthành tệ nạn xã hội, làm điêu đứng khánh kiệt bao nhiêu gia đình với hàngchục cỗ làng, cỗ họ, giỗ chạp
Đạo Nho vào Yên Thành muộn hơn đạo Phật Chỉ từ cuối đời Trần, đạoNho mới thịnh hành, nhưng ảnh hưởng của đạo Nho với tâm lý, tập quán, lốisống của nhân dân rất lớn Tiếp thu tinh hoa của đạo Nho là thuyết nhânnghĩa, vun đắp cho mình những phẩm chất cao quý như trung với nước hiếuvới dân, lấy báo ơn dân đền nợ nước làm nghĩa, giành độc lập cho dân tộclàm nhân Nhưng những hạn chế của đạo Nho cũng đã ảnh hưởng rất lớn đếnđời sống, cách cư xử của người dân ở đây Các làng xã tồn tại biệt lập như làmột công xã thị tộc nông thôn Thiết chế của xã hội phong kiến với nhữngđẳng cấp tôn ti thứ bậc trong tổng xã, trong gia đình và tộc họ, mang đậmtính chất gia trưởng Nền nếp sinh hoạt kiểu gia trưởng đã tồn tại kiểu daidẳng suốt mấy thế kỷ dưới chế độ phong kiến, chỉ đến khi cách mạng thángTám năm 1945 thành công, những tập tục lạc hậu này mới dần bị xóa bỏ.Nhưng trầm tích lắng đọng của nó còn vương vấn trong thói quen, nếp sốngmãi tới sau này
Cùng nhân dân Nghệ An, cư dân Yên Thành đã góp phần tạo dựngtruyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam, mang bản sắc riêng của một
Trang 25
vùng quê Yêu quê hương đậm đà tha thiết, đoàn kết tương thân tương ái, cần
cù chịu khó tiết kiệm, thuần hậu, chất phác, thẳng thắn, thật thà, nghĩa tìnhtrong cuộc sống
1.3 Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Yên Thành trước năm 1885
Lịch sử Yên Thành gắn liền với lịch sử đấu tranh kiên cường chốnggiặc ngoại xâm và áp bức cường quyền, vươn lên bảo tồn sự sống, làm chủquê hương đất nước.Thư tịch, dã sử, khảo sát thực địa cho chúng ta thấy rằngtrên đất Yên Thành, mỗi ngọn núi, khúc sông, cánh đồng, thôn xóm đều gắnliền với những chiến công oai hùng Nhà yêu nước Lê Doãn Nhã viết:
“Nhớ thời núi tụ anh linh,Quy Lai giáo dựng, Động Đình gươm reo
Trời chiều nổi áng cờ treo,Nhớ ơn tằng tổ hiểm nghèo xông pha” [2;33,34]
Địa thế hiểm yếu, cả ba phía là núi, giữa là đồng bằng nhìn ra biển.Tiến có thể đánh, lui có thể giữ Lòng dân yêu nước, dám xả thân vì nghĩalớn, đặt nền móng cho truyền thống yêu nước và cách mạng của Yên Thành,phần trung tâm của Châu Diễn Hầu hết không có cuộc kháng chiến nào củanhân dân Nghệ An mà không có con em Yên Thành tham gia Có lúc YênThành là đất đứng chân, là nơi gửi gắm niềm tin của những người lãnh đạovào những phút khó khăn nhất của cuộc kháng chiến giữ nước
Dưới thời Bắc thuộc, các cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lượcNguyên Mông, ngọn lửa chiến tranh không lan ra trên đất Yên Thành, nhưngnhân dân đã tích cực ủng hộ các vị Hoàng thân, quốc thích xây dựng hậu cứ,cung cấp binh lính và lương thực cho các cuộc khởi nghĩa ở phía Bắc và kìmchân quân giặc ở phía Nam
Trang 26
Tháng 11 năm 1041, được Lý Thái Tông phái vào làm tri châu Nghệ
An, Uy minh vương Lý Nhật Quang đã khai khẩn đồng bằng Yên Thànhtuyển mộ binh sỹ, thu chuyển lương thảo (gần 50 kho lương), phục vụ choviệc dẹp giặc, giữ vững nước nhà
Trong cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên, vào thời điểm khókhăn gay go nhất của cuộc kháng chiến, vua Trần đã chọn Hoan Diễn làm đấtđứng chân và gửi gắm vào đây niềm tin của cả dân tộc:
“Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”
(Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ, Hoan Diễn kia còn chục vạn quân) [2;35]
Theo tiếng gọi của đất nước, hàng nghìn con em quê ta đã lên đườnggiết giặc Tiêu biểu cho những người đi đầu ấy là trạng nguyên Bạch Liêu.Ông đã trở thành cánh tay đắc lực của tướng Trần Quang Khải, soạn thảo ra
“Biến pháp tam chương” góp phần rất quan trọng vào chiến thắng quânNguyên trên đất Nghệ An
Thời nhà Lê, trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, Lê Lợi đã pháinhững tướng lĩnh tin cậy vào đây để xây dựng hậu cứ, lập thắng địa, tuyểnchọn thắng binh Nhân dân Yên Thành đã góp phần cùng cả nước nổi dậyđánh quân Minh Nguyễn Vĩnh Lộc người làng Trang Niên (Mỹ Thành) đãtập hợp nghĩa binh tham gia đội quân của Lê Lợi lập nên nhiều chiến công lớnđược Lê Lợi tin dùng giao cho làm Nhập nội hành khiển Khi ông mất, đượcvua Lê phong là Trung đẳng thần Ở Bắc Thành, theo tộc phả họ Phan, cũngtrong thời gian này có ông Phan Vân ở làng Kẻ Rục đã cùng dân làng nổi dậygiúp Lê Lợi đánh giặc Minh Ở Yên Thành đã có nhiều gia đình gửi nhữngngười con ưu tú của mình sung vào nghĩa quân Lê Lợi Có gia đình bốn anh
em họ Nguyễn ở làng Tiên Thành là Nguyễn Thế Bồng, Nguyễn Thế Bình,Nguyễn Trung Lao, Nguyễn Thế Tài đều gia nhập nghĩa quân
Trang 27
Đến đầu thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì suyyếu, khủng hoảng kéo dài Sau khi triều Lê sụp đổ, các phe phái phong kiếnxung đột, tranh giành quyền lợi, dẫn đất nước vào thảm họa nội chiến tànkhốc hơn hai thế kỷ Yên Thành là nơi chịu nhiều hậu quả nặng nề của thời kìphân tranh Trịnh - Mạc (1543-1592), hỗn chiến Trịnh - Nguyễn (1627-1672)
Là nơi đông người, lắm thóc nên Yên Thành trở thành nơi tranh chấp quyếtliệt giữa các dòng họ Ngọn lửa chiến tranh giữa các dòng họ phong kiếnbùng lên liên miên hàng chục năm trên đất Yên Thành Vết tích của các cuộchỗn chiến ấy còn để lại dấu ấn không phai mờ trong lòng nhân dân, với nhữngcâu chuyện đau thương gắn với tên đất, tên núi suốt một vùng lòng chảo YênThành như:
“Trống thủng, cờ rách, tướng sứt đầu”
Hay: “Trống thủng, cờ rách, voi gãy ngà”
Sách Đại Việt Sử Kí Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên, tập 4 trang 161 viết:
“Các huyện ở Nghệ An đồng ruộng bị bỏ hoang, không thu được hạt thóc nào,dân đói to, lại bị bệnh dịch chết đến quá nửa, nhiều người phiêu bạt, trong hạttiêu điều” [2;40]
Đến cuối thế kỷ XVIII, nhân dân Yên Thành lại vùng lên mạnh mẽtrong phong trào nông dân Tây Sơn Chính Yên Thành là một trong những địaphương cung cấp quân lính quan trọng cho Quang Trung - Nguyễn Huệ khiông dừng chân tuyển thêm quân ở Nghệ An trên đường tiến quân ra Bắc đánhđuổi quân Thanh Nhân dân Yên Thành đã góp sức mình vào thắng lợi vangdội của phong trào Tây Sơn
Trong cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874), nhân dân Yên Thành đã đónggóp nhiều lương thảo, vũ khí và con em, cùng chiến đấu “chống cả Triều lẫnTây” ngay trên mảnh đất quê hương
Đặc biệt khi ngọn cờ Cần Vương chống Pháp tung bay trên núi rừng
Ấu Sơn (Hương Khê) thì phong trào đấu tranh của nhân dân Yên Thành cũng
Trang 28
phát triển với quy mô lớn, có tổ chức, liên kết với phong trào chống pháp của
cả Nghệ Tĩnh Yên Thành là căn cứ địa, là đại bản doanh, là trung tâm củacuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, hay còn gọi là khởinghĩa Đồng Thông, một trong hai cuộc khởi nghĩa lớn của phong trào CầnVương chống Pháp ở Nghệ Tĩnh Tuy bị thất bại nhưng nó thể hiện truyềnthống yêu nước sâu sắc và lâu đời của nhân dân Yên Thành
Chính những truyền thống yêu nước nồng nàn đã hun đúc nên trongmỗi người dân Yên Thành tinh thần xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Làmảnh đất tốt để ươm mầm những hạt giống cách mạng tạo điều kiện thuậnlợi cho sự ra đời của tổ chức Đảng Là tiền đề để nhân dân huyện Yên Thànhdưới sự lãnh đạo của Đảng đã góp phần to lớn trong cuộc đấu tranh chốnglại sự xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ giành lại độc lập tự docho Tổ quốc
Trang 29
Chương 2 ĐÓNG GÓP CỦA NHÂN DÂN YÊN THÀNH TRONG PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG CHỐNG PHÁP (1885-1896)
2.1 Vài nét về phong trào Cần Vương chống Pháp
2.1.1 Nguyên nhân bùng nổ
Tiếng súng của khởi nghĩa Giáp Tuất chưa ngừng được bao lâu thì giặcPháp đã tăng cường lực lượng ra Bắc Kì và đánh chiếm Hà Nội lần hai (25tháng 4 năm 1882) chúng tung quân lần lượt đánh chiếm nhiều nơi Đến ngày
18 tháng 8 năm 1883 chúng trắng trợn đánh vào cửa biển Thuận An mởđường vào kinh đô Huế Trên cơ sở thắng lợi chớp nhoáng đó chúng đã dùnglực lượng buộc triều đình Huế kí kết hiệp ước ngày 25 tháng 8 năm 1883 vàsau đó là hiệp ước mồng 6 tháng 6 năm 1884 xác lập nền đô hộ lâu dài trênđất nước ta
Từ sau các hiệp ước đó thì mâu thuẫn trong nội bộ phong kiến càng sâusắc Cánh hòa nghị trong triều đình đứng đầu là Trần Tiến Thành - đệ nhất đạithần trong hội đồng phụ chính đã ngả hẳn về phía giặc lôi kéo theo đó là một
bộ phận những người đứng lưng chừng Ngược lại cánh chủ chiến đứng đầu làTôn Thất Thuyết (là một trong ba phụ chính đại thần của triều đình Huế bấygiờ) được sự ủng hộ nhiệt liệt của nhân dân, vẫn một mực kiên trì chốngPháp Ông thường nói với kẻ tả hữu: “Phen này ta quyết sống thác với Tâymới được” Sau khi chuẩn bị xong lực lượng, vào đêm mồng 4 rạng ngàymồng 5 tháng 7 năm 1885 Tôn Thất Thuyết mở cuộc tấn công vào quân đồntrú Pháp ở đồn Mang Cá Cuộc phản công ấy bị thất bại Trước tình hình ấy,Tôn Thất Thuyết quyết định đưa vua rời khỏi kinh thành Sự kiện lịch sử nàyđược gọi là “vụ biến kinh thành, Hàm Nghi xuất bôn”
Trưa ngày mồng 10 tháng 7 năm 1885, xa giá nhà vua nghỉ tại nhà một
bá hộ ở làng Văn Xá Chính nơi đây Tôn Thất Thuyết mượn lời vua Hàm
Trang 30
Nghi hạ chiếu Cần Vương đi khắp nước Sau đó đến ngày 20 tháng 9 năm
1885 Tôn Thất Thuyết lại tiếp tục gửi: “Chiếu Cần Vương” kêu gọi văn thân
sỹ phu và nhân dân giúp vua chống Pháp Trong bài chiếu ấy có những nộidung cơ bản sau:
“Vì bọn Pháp áp bức, nhà vua phải chạy ra ngoài Tấm lòng CầnVương đâu cũng thế ” Từ trước trong kế chống giặc có ba cách là đánh, giữ
và hòa Hiện nay đánh thì chưa có cơ hội, giữ thì thật khó làm, còn hòa thìgiặc đòi hỏi không biết thế nào là chán Trước sự thể muôn vàn khó khăn,trẫm cực chẳng đã phải tòng quyền, dời giá đi nơi khác, việc này người xưacũng đã có làm Nước ta gần đây có nhiều việc xảy ra, trẫm còn trẻ tuổi nốingôi Đối với công việc tự cường tự trị còn chưa có thì giờ để làm mưu tínhtới Đã thế bọn Tây áp bức mỗi ngày mỗi tăng Binh thuyền của chúng kéođến ngày càng đông, làm khó dễ đủ thứ Tiếp đãi chúng theo lễ thường chúngnhất định không chịu Mọi người trong đô thành đều lo sợ, có nguy tai buổisớm, buổi chiều Các vị đại thần lo toan việc nước đã tìm hết mưu kế để giữcho triều đình được yên, xã tắc khỏi bị lung lay, tính rằng nếu cứ cúi đầu nghetheo mệnh lệnh của chúng, bỏ qua cơ hội chi bằng dòm thấy cơ sự phải đứngdậy trước để ứng phó kịp thời Mặc dầu việc làm không có cách nào khác, còncuộc đứng dậy ngày nay để mong có kết quả tốt sau này Âu đó cũng là thờithế phải thế xã tắc khỏi bị lung lay, tính rằng nếu cứ cúi đầu nghe theo mệnhlệnh của chúng, bỏ qua cơ hội chi bằng dòm thấy cơ sự phải đứng dậy trước
để ứng phó kịp thời Mặc dầu việc làm không có cách nào khác, còn cuộcđứng dậy ngày nay để mong có kết quả tốt sau này Âu đó cũng là thời thếphải thế Những ai lo lắng đều cảm thấy nên phải làm, ai là không chung mộtlòng diệt thù rửa hận, nghiến răng khí dận dâng lên tận mũ
Trẫm nay đức bạc gặp cơn biến cố, không thể hết sức xoay xở để cho
đô thành bị chìm đắm, xa giá của thái hậu phải long đong tội ấy ở trẫm thật làxấu hổ Nhưng luân thường ràng buộc, quan lại sĩ phu bất kì đều không bỏ
Trang 31
trẫm Người tài hiến mưu, người mạnh hiến sức, người giàu thì bỏ sức giúpquân nhu, ai nấy không từ gian hiểm Bây giờ phải làm thế nào? Mọi ngườikhông tiếc tâm lực, phù nguy cứu nạn may ra trời còn giúp, chuyển loạn làmthịnh, chuyển nguy làm an, khôi phục lại bờ cõi cũ Nếu người nào yêu tínhmạng của mình hơn yêu vua, lo cho nhà hơn lo cho nước, quan thì mượn cớlánh xa, lính thì bỏ hàng ngũ đi trốn, dân thì không biết nghe theo nghĩa gánhvác việc chung, kẻ sỹ thì cam bỏ sáng theo tối Như vậy nếu có được sốngthừa trên đời mặc áo đội mũ mà thân hình cầm thú nào có ra gì? Thưởng phạttriều đình đã có khuôn phép, đừng để hối hận về sau Phải tuân theo một cáchgắt gao” [19]
Dưới ngọn cờ Cần Vương, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra ở khắp nơi,
từ Trung Kì tới Bắc Kì, được đông đảo nhân dân tham gia, dưới sự lãnh đạocủa các sĩ phu yêu nước Dưới đây là những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trongphong trào Cần Vương
Khoảng tháng 4/1885, một cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền trung duBắc Kỳ đã nổ ra, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Văn Giáp
Nguyễn Văn Giáp cho lập căn cứ chống Pháp ở vùng Việt Trì, PhúThọ, sau đó mở rộng hoạt động đến các địa phương phía Tây Bắc như SơnTây, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Sa Pa, vào tới Nghệ An Nghĩa quân của NguyễnVăn Giáp có những liên hệ chặt chẽ với nghĩa quân của Nguyễn Quang Bích,Đèo Văn Trì tạo thành một phong trào chống Pháp trên một địa bàn rộnglớn Những hoạt động của nghĩa quân gây cho Pháp và chính quyền tay sainhiều thiệt hại
Bằng nhiều cách đánh linh hoạt, lại biết dựa vào địa hình rừng núi lúc
ẩn, lúc hiện làm cho quân địch hết sức khó chịu và mệt mỏi
Tháng 10/1885, hòng tiêu diệt phong trào kháng chiến của nhân dân doNguyễn Văn Giáp làm thủ lĩnh, Pháp đã điều nhiều binh đoàn chủ lực mở cáccuộc hành quân càn quét lớn vào căn cứ của nghĩa quân, nhưng không mang
Trang 32Hoạt động của nghĩa quân dựa vào căn cứ hiểm yếu ở Bãi Sậy - HaiSông, sau đó phát triển rộng ra các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng,Bắc Ninh, Bắc Giang chiến thuật chủ yếu của nghĩa quân là du kích chiến,chia thành từng nhóm nhỏ, dựa vào sự thông thạo địa hình của các nghĩa binh,được nhân dân che chở giúp đỡ mà đánh địch Hình thức tác chiến chủ yếu làđánh tập kích, phục kích, nhằm vào các toán quân tuần tiễu nhỏ, các đoàn xevận tải hậu cần, các đồn bốt lẻ của địch, gây cho quân Pháp và ngụy binhnhiều thiệt hại và một tâm lí lo ngại luôn luôn sợ bị đánh bí mật, bất ngờ.
Từ năm 1885-1887, Pháp liên tục tổ chức cuộc hành binh vây ráp nghĩaquân, song chúng không sao ngăn cản được các hoạt động ngày càng gia tăngcủa quân khởi nghĩa Để chống lại sự ảnh hưởng của các cuộc khởi nghĩa vàbảo vệ vùng chiếm đóng, từ năm 1888, Pháp cho xây dựng một hệ thống đồnbốt dày đặc ở những nơi chúng xác định là xung yếu, đồng thời cho tên Việtgian Hoàng Cao Khải (tổng đốc tỉnh Hải Dương) chỉ huy hàng ngàn ngụybinh, với sự hỗ trợ của quân Pháp tiến hành những cuộc càn quét quy mô lớnvào các căn cứ của nghĩa quân
Sau những trận giao tranh quyết liệt với quân địch và bị chúng truykích ráo riết, nhiều thủ lĩnh của nghĩa quân đã hi sinh hoặc bị bắt, lực lượng
Trang 33
khởi nghĩa suy yếu dần Trước tình hình ngày càng khó khăn, khoảng năm
1889, Nguyễn Thiện Thuật buộc phải lánh sang Trung Quốc
Lực lượng còn lại tiếp tục hoạt động cho đến năm 1892, một số ít nghĩabinh đã tham gia vào các cuộc khởi nghĩa khác
Đầu năm 1886, tại Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Ba Đình nổ ra do ĐinhCông Tráng, Phạm Bành và Tống Duy Tân chỉ huy
Khởi nghĩa Ba Đình nổ ra cùng thời gian với khởi nghĩa Hùng Lĩnhcũng trên quê hương Thanh Hóa, được đông đảo nhân dân các dân tộc Kinh,Thái, Mường tham gia, tạo thành phong trào kháng chiến chống Pháp rộngkhắp trong toàn tỉnh Thanh Hóa
Ba Đình là căn cứ chính của nghĩa quân, được xây dựng thành một cứđiểm vững chắc, có hào sâu, lũy tre dày đặc và thành đất cao bao bọc xungquanh Trong căn cứ Ba Đình, nghĩa quân đã đào nhiều hầm hố, công sự vớilực lượng 300 người Căn cứ Ba Đình là nơi xuất phát mọi hoạt động tiếncông quân địch của nghĩa quân Ngoài căn cứ Ba Đình, nghĩa quân còn có căn
cứ Mã Cao và một số tiền đồn nhỏ xung quanh
Năm 1886, nghĩa quân đã liên tiếp các cuộc tiến công quân Pháp ở cácphủ thành, huyện lị ở tỉnh Thanh Hóa Cùng với hoạt động đánh vào quânPháp nghĩa quân cũng tổ chức được nhiều trận đánh giao thông tiêu diệt đượccác đoàn xe địch hoặc các toán quân đi lẻ của địch, gây cho chúng nhiều tổnthất và phải lo chống đỡ khắp nơi
Tháng 12/1886, Pháp huy động một binh lực lớn để đàn áp cuộc khởinghĩa Chúng tập trung lực lượng đánh vào căn cứ Ba Đình Dựa vào địa hìnhhiểm trở và hệ thống thành lũy, hào hố hơn 300 tay súng trong căn cứ BaĐình đã đánh lui hai đợt tiến công lớn của quân Pháp ngày 18/12/1886 vàngày 6/1/1887 Sau hai đợt tiến công vào căn cứ Ba Đình không giành đượcthắng lợi, quân Pháp đã điều thêm lực lượng từ miền Bắc vào và từ miềnTrung đến, với một lực lượng gồm trên 3.500 quân Pháp và ngụy binh nhà
Trang 34
Nguyễn (có gần 100 sỹ quan), 25 khẩu đại bác, 4 pháo hạm do viên đại táBrit-xô chỉ huy Quân Pháp và quân ngụy đã vây chặt căn cứ Ba Đình nhằmcắt đứt mọi mối quan hệ giữa nghĩa quân với nhân dân quanh vùng, để chonghĩa quân dần dần cạn kiệt lương thực và vũ khí Đồng thời chúng ngày đêmcho đạn đại bác bắn phá vào căn cứ biến căn cứ Ba Đình thành biển lửa.Chiến đấu trong một tình hình như vậy nghĩa quân Ba Đình đã bị thiệt hại vàtổn thất lớn, song các nghĩa binh vẫn kiên trì bám giữ công sự, hầm hào, kếthợp làm công tác địch vận trong số lính người Việt nên đã đẩy lui được nhiềucuộc tiến công của quân Pháp Cuộc chiến đấu kéo dài 32 ngày đêm liên tục,lực lượng lại quá chênh lệch và cô lập với bên ngoài không liên lạc được vớiquân của Trần Xuân Soạn (một lực lượng kháng chiến trong phong trào CầnVương), đêm 20 rạng 21/1/1887 nghĩa quân chủ động phá vây rút khỏi căn cứ
Ba Đình
Sau khi chiếm được căn cứ Ba Đình, quân Pháp ráo riết khủng bố nhândân, truy kích nghĩa quân và ngày 2/2/1887 chiếm được căn cứ Mã Cao Bịmất các căn cứ quan trọng, tổn hao nặng nề về lực lượng qua các cuộc chiếnđấu không cân sức và dài ngày, nghĩa quân mất dần sức chiến đấu Cùng lúc
đó nhiều thủ lĩnh nghĩa quân bị bắt, hy sinh hoặc tự sát để không rơi vào taygiặc như Phạm Bành, Hà Văn Mao
Thủ lĩnh nghĩa quân Đinh Công Tráng đã có nhiều cố gắng mưu gâydựng lại phong trào, nhưng trong trận đánh ngày 7/9/1887, ông đã hy sinh.Đến tháng 10/1887, Pháp dập tắt được cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Năm 1886-1892, cuộc khởi nghĩa ở Hùng Lĩnh (Thanh Hóa) do TốngDuy Tân lãnh đạo nổ ra đồng thời với những cuộc khởi nghĩa khác ở Ba Đình,
Mã Cao và Bãi Sậy, vào lúc phong trào văn thân đương lan rộng Xuất thân làmột nhà khoa bảng và làm sơn phòng sứ Thanh Hóa, nghe tiếng gọi CầnVương, Tống Duy Tân cùng Cao Điền lập cứ điểm ở vùng Hùng Lĩnh có Cầm
Bá Thước, lãnh tụ nghĩa quân người Mường đóng ở Sầm Sơn giúp sức Sau
Trang 35Đa Bút 2/11/1889, trận Vạn Lại ngày 30/11/1889, trận Yên Lược ngày1/12/1889, trận Nông Cống ngày 7/3/1890, trận Mỹ Hòa ngày 29/4/1890, Cũng vì cố thủ tới cùng và ham đánh những trận lớn, nên mặc dầu nghĩa quân
có gây thiệt hại nhiều cho địch, nhưng sau đó, quân địch lại tập trung lựclượng để đàn áp và nghĩa quân dần dần bị tan vỡ Từ tháng 4/1892 trở đi,Tống Duy Tân và Cao Điền đã đến lúc không thể bảo tồn lực lượng được nữa,phải giải tán những nghĩa quân còn lại và cuối cùng, hai ông đều bị sa vàolưới giặc
Cuộc khởi nghĩa của Tống Duy Tân đã thể hiện tính chất Cần Vươngcủa văn thân và kêu gọi đoàn kết dân tộc Trong bức thư chiêu hàng ngụybinh của Cao Điền vẫn đề “niên hiệu Hàm Nghi thứ 6”, hô hào những ngườiViệt Nam trong quân đội Pháp “đánh lại giặc, cướp súng nộp nghĩa quân” và
hô hào “lương, giáo cùng con một nước, không nên sát hại lẫn nhau” Nghĩaquân Hùng Lĩnh đánh rất hăng và kéo dài được tới 6 năm vì có sức ủng hộcủa nhân dân địa phương Sử liệu cho biết cách biên chế của nghĩa quân bấygiờ gồm những hương binh của các làng Mỗi huyện có một cơ 200 người, domột cơ trưởng là người trong nghĩa đảng chỉ huy Đối với nhân dân lúc bấygiờ, việc gia nhập nghĩa quân là một nhiệm vụ Bên đồng bào người Kinh,những đồng bào miền núi do Cầm Bá Thước chỉ huy đã góp phần tích cựctrong cuộc kháng Pháp Sau khi Tống Duy Tân bị tên Việt gian Cao Ngọc Lễbáo cho giặc Pháp tìm bắt được và chém bêu đầu, trong dân gian truyền tụngđôi câu đố: “Vô địa khả dung Cao Ngọc Lễ; Hữu tiền nan mãi Tống Duy
Trang 36
Tân” nghĩa là: “Không đất để dung Cao Ngọc Lễ; Có tiền khôn chuộc TốngDuy Tân” Nó nói lên ý nghĩa đối với người anh hùng yêu nước không thểđánh giá bằng tiền, cũng như đối với tên Việt gian phản quốc không còn chỗnào có thể dung được Tình cảm tự nhiên của nhân dân là căm ghét những kẻphản quốc và kính mến những người ái quốc Tình cảm ấy đã biến ra hànhđộng, nổ ra những cuộc khởi nghĩa, cuộc này thất bại thì lại giành cho cuộckhác thành công
Ở Nghệ An các cuộc khởi nghĩa cũng nổ ra rầm rộ, hầu khắp các phủhuyện
Tháng 7/1885, tại Nghệ An nổ ra cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Xuân Ônlãnh đạo
Lấy Đồng Thông, phủ Diễn Châu (Nghệ An) làm căn cứ, Nguyễn Xuân
Ôn đã chiêu mộ nghĩa binh để đánh Pháp Cuộc khởi nghĩa được đông đảonhân dân quanh vùng tham gia, trong đó có nhiều nho sỹ Hoạt động củanghĩa quân sau một thời gian đã lan ra tới tận Vinh (thủ phủ tỉnh Nghệ An),vùng lưu vực sông Cả, gây nhiều khó khăn cho quân Pháp và chính quyền nhàNguyễn tay sai, trong lúc chúng phải tập trung lực lượng đánh phá Ba Đình,
Mã Cao (Thanh Hóa) của cuộc khởi nghĩa do Đinh Công Tráng và PhạmBành làm thủ lĩnh
Sau khi căn cứ Ba Đình thất thủ (20/1/1887), nghĩa quân của NguyễnXuân Ôn có thêm lực lượng của Trần Xuân Soạn (một lực lượng kháng Pháptrong phong trào Cần Vương hoạt động ở Thanh Hóa, đã có sự liên kết vớikhởi nghĩa Ba Đình) cùng tham gia chiến đấu
Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn đánh quân Pháp nhiều trận, điểnhình là trận đánh diễn ra ở Tây Bắc thành phố Vinh (1/1887) và ở ĐôLương (4/1887)
Nguyễn Xuân Ôn bị quân Pháp bắt ngày 25/5/1887, do có kẻ phản bộitrong đội ngũ nghĩa quân Trước các thủ đoạn cưỡng ép, dụ dỗ và mua chuộc
Trang 37Phong trào Thanh Chương cũng bùng nổ rầm rộ Tại vùng Núi NguộcTrần Khắc Kiệm lập đội quân khoảng 300 người, hoạt động phối hợp với độiquân của Nguyễn Hữu Chính ở Võ Liệt còn có đội quân của Trần Văn Biềng,
Hồ Văn Phú ở Phong Thịnh (nay là Thanh Phong) cũng ra sức quấy rối địch
Từ Nghi Lộc vào Thanh Chương, phong trào nhanh chóng mở rộng raNam Đàn Nguyễn Hành sau một thời gian hoạt động ở quê nhà Nam Đànkhông mở rộng và liên kết được phong trào các huyện Cuối năm 1886 quânđịch lại bất ngờ tấn công vào căn cứ, thủ lĩnh Vương Thúc Mậu hy sinh, con
là Vương Thúc Quý tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân một thời gian rồi cũng bịgiặc bắt Những chỉ huy còn lại như Lạnh Sỹ, Heo Báu đều tìm đường ra hoạtđộng dưới ngọn cờ cứu nước của Nguyễn Xuân Ôn đang tụ nghĩa tại vùngDiễn Châu, Yên Thành
Phong trào ở Quỳnh Lưu cũng nổ ra sớm Một số sỹ phu như Phó bảngPhan Duy Phổ, cử nhân Hồ Đức Thạc, tú tài Hồ Trọng Hoán, Hồ Trọng Miên
đã lên đường Quỳ Châu để đón Hàm Nghi trên đường ra Bắc Cùng lúc này,tại Tuần (Quỳnh Tam), Phan Bá Niên cùng với Dương Quế Phổ đã mộ đượcmột đội quân khoảng 300 người Nghĩa quân hai ông đã kiểm soát vùng đồngbằng Diễn Yên Quỳnh lên đến vùng Nghĩa Đàn (Tây Bắc Nghệ An) dọc theocon đường mòn Sau đó Phan Bá Niên đã đưa quân về phối hợp chiến đấudưới ngọn cờ của Nguyễn Xuân Ôn
Vùng Anh Sơn và Con Cuông, phong trào chống Pháp cũng đã được LêDoãn Nhã nhen nhóm lên từ trước khi Pháp đặt chân tới năm 1885 Khi về đây
Trang 38
nhận chức Sơn phòng sứ, Lê Doãn Nhã đã lập được một đội quân mạnh, phầnđông là các dân tộc ít người miền núi phía tây Nghệ Tĩnh Nghĩa quân củaLang Văn Út và Lê Doãn Nhã đã phối hợp kiểm soát tuyến đường chiến lượcquan trọng (đường 7) trong những năm phong trào Cần Vương vừa bùng khởi
Để mở rộng địa bàn hoạt động, phối hợp với phong trào ở các huyệnđồng bằng, hai ông đã tổ chức tấn công tiêu diệt đồn binh của Pháp ở vùngDừa (Anh Sơn) Chiến thắng ở đồn Dừa đã gây được tiếng vang lớn trongphong trào chống Pháp ở Nghệ Tĩnh nhất là ở các huyện miền núi Sau chiếnthắng đồn Dừa, Lê Doãn Nhã đã đưa nghĩa quân của mình về hỗ trợ chophong trào ở các huyện vùng đồng bằng, bên cạnh Nguyễn Xuân Ôn KhiNguyễn Xuân Ôn bị bắt nghĩa quân Lê Doãn Nhã vào rừng núi Hương Sơn,
để gia nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng
Ở Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong, phong trào muộn hơn so với cáchuyện dưới vùng đồng bằng, nhưng đồng bào các dân tộc ít người sống trêndọc tuyến đường từ Nghĩa Đàn lên Quế Phong vẫn nổi lên khá mạnh Nhờ sự
hỗ trợ của phong trào chống Pháp ở vùng núi Thanh Hóa (do Cầm Bá Thướcchỉ huy) lại được tiếng súng nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn ở đồng bằng cổ vũ,Lang Văn Thiết ở vùng Quỳ Châu đã lãnh đạo dân bản nổi lên chống Pháp.Cùng với nghĩa quân Lang Văn Thiết, ở vùng Mường Ngọc (nay thuộc QuếPhong) hai anh em quản Thông, quản Thụ cũng vận động dân bản ủng hộnghĩa quân của Lang Văn Thiết và Cầm Bá Thước Khi phong trào chốngPháp ở vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh và vùng núi Thanh Hóa bị địch khủng bốmạnh, phong trào của Lang Văn Thiết, quản Thông, quản Thụ ở Quỳ Châu vàQuế Phong cũng dần dần tan rã theo
2.1.2 Nghệ Tĩnh một trong những trung tâm của phong trào Cần Vương chống Pháp
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân khắp nơi hầu như trên huyệnphủ nào trong tỉnh cũng có một hay hai đội nghĩa quân nổi lên chống Phápdưới sự lãnh đạo của sỹ phu yêu nước
Trang 39
2.1.2.1 Khởi nghĩa của Lê Ninh
Ở Nghệ Tĩnh (lúc bấy giờ là Nghệ An và Hà Tĩnh) người phất cờ đầutiên là Lê Ninh - đại đồn Trung Lễ (Đông Thái - Đức Thọ) được nhanhchóng xây dựng, bao gồm trại quân, trường bắn, kho lương thực, lò rèn sảnxuất vũ khí
Ngày 15/2/1885 nghĩa quân Lê Ninh từ đại đồn Trung Lễ kéo về chiếmthành Hà Tĩnh Thắng lợi này đã trực tiếp thúc đẩy phong trào đều khắp cácnơi Tiếng súng Lê Ninh vang dội trên bờ Nam sông Lam đã động viên cổ vũphong trào trên bờ Bắc
2.1.2.2 Khởi nghĩa Phan Đình Phùng - ngọn cờ tiêu biểu của phong trào Cần Vương Nghệ Tĩnh và toàn quốc
Năm 1885, Phan Đình Phùng đã dấy binh khởi nghĩa tại căn cứ Hương
Khê (Hà Tĩnh) Đây là một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn và được tổ chứcchặt chẽ trong phong trào hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp của vuaHàm Nghi
Phan Đình Phùng sinh năm Đinh Mùi (1847), quê làng Đông Thái (ĐứcThọ - Hà Tĩnh) trong một gia đình nhà nho có dòng dõi khoa bảng Cha là cụPhan Đình Tuyển, đậu phó bảng năm Giáp Thìn (1844) dưới thời vua ThiệuTrị Từng giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên, sau đó ra Bắc làm Tán lý quân vụdẹp giặc ở Lam Sơn và tử trận Mẹ cũng xuất thân từ gia đình quan lại, sinhđược năm người con, cụ Phan là người con thứ tư
Trong tập đoàn chỉ huy cuộc khởi nghĩa Hương Khê, ngoài chủ tướngPhan Đình Phùng, chúng ta phải kể ngay đến Cao Thắng Cũng như ĐinhCông Tráng ở Ba Đình, Cao Thắng chỉ là một người giang hồ hảo hán, khôngphải xuất thân trong làng khoa bảng, nhưng chỉ huy quân sự rất tài tình, làmột trụ cột của nghĩa quân Hương Khê Trong những năm Phan Đình Phùng
ra Bắc, Cao Thắng xây dựng cơ sở nghĩa quân và điều khiển chiến đấu KhiPhan trở về thì tổ chức nghĩa quân đã có nề nếp rồi
Trang 40
Địa bàn hoạt động của nghĩa quân lúc bấy giờ, chủ yếu là vùng HươngKhê, nhưng còn lan rộng ra cả bốn tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình vàThanh Hóa Khu Ngàn Trươi, nơi đóng đại bản doanh của nghĩa quân, có dãynúi Vụ Quang quanh co hiểm trở, có những đường độc đạo thông ra dãy núiĐại Hàm, ra tỉnh Hà Tĩnh, thông sang Lào và sang Xiêm Dựa vào thế hiểmtrở núi rừng và một điều kiện không thể thiếu được là sức ủng hộ của nhândân địa phương, nghĩa quân đã kéo dài cuộc kháng chiến được hơn 10 năm(1885 - 1896)
Về tổ chức, nghĩa quân có một quy mô đường hoàng theo kiểu mộtquân đội chính quy Suốt dải núi rừng Nghệ - Tĩnh - Bình -Thanh, nghĩa quânchia ra làm 15 quân thứ (nơi đóng quân) Quân thứ ở hạt nào thì lấy tên ở hạt
đó Ví dụ: Quân thứ ở Hương Khê thì gọi là Khê thứ, Quảng Bình thì gọi làBình thứ Mỗi quân thứ do một tướng chịu trách nhiệm chỉ huy Mỗi quânthứ tùy theo tầm quan trọng mà đóng quân nhiều hay ít Trung bình mỗi quânthứ có từ 100 đến 500 người Riêng đại đồn Vụ Quang có từ 500 trở lên Đạibản doanh từ Vụ Quang đến Quỳnh Khê, Trí Khê đều có những đồn trại liêntiếp Vị trí đồn trại đều dựa theo thế núi và gần sông ngòi, khe suối để tiệnchiến đấu và chuyển vận tiếp tế Trang phục của nghĩa quân đều theo mộtkiểu giống nhau Biên chế và tổ chức theo như trên đã nói lên lực lượng tươngđối hùng hậu của nghĩa quân đặt trên cơ sở nhân dân
Chiến lược của nghĩa quân Hương Khê, nói chung là dựa vào thiênnhiên và công sự phòng thủ để chống nhau với giặc Nhưng nghĩa quân cũngkhông phải chỉ thủ hiểm một chỗ, mà còn phân tán đi các nơi tập kích các đồn
lẻ và chặn đường giao thông tiếp tế của giặc Một thành tích trong việc chếtạo khí giới của nghĩa quân là bằng những dụng cụ thô sơ, đã chế ra đượcnhững khẩu súng theo kiểu 1874 của Pháp Trong những cuộc chiến đấu,nghĩa quân đã được quá nửa số người dùng súng do mình chế tạo ra Hơn 10năm chiến đấu, nghĩa quân đã bám sát giặc và đánh giặc không ngừng Đặc