Xuất phát từ đặc điểm địa lý có tầm quan trọng về chiến lược của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, dân tộc ta luôn phải đối đầu với những kẻ thù xâm lược hùng hậu, ông cha ta chủ trương
Trang 1PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
VỀ DỰ BÁO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ
THỜI KỲ 1945 – 1946
Cán Bộ Hướng Dẫn: Sinh Viên Thực Hiện
MSSV: 6086316 Lớp: SP Lịch Sử K34
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2YZ
Kết thúc khóa học 4 năm là khép lại những ngày tháng miệt
mài trên giảng đường đại học Ở nơi đó có biết bao kỉ niệm thân
thương về ngôi trường, thầy cô, bạn bè chung lớp… Tất cả sẽ
động mãi trong tôi những kỉ niệm khó quên về một thời áo trắng
Để hoàn thành chương trình đại học và viết luận văn này, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô,
nhất là quý Thầy Cô phụ trách chuyên môn
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tấm lòng và sự tận tụy
của quý Thầy Cô ở Bộ môn Sư phạm Lịch Sử - Khoa Sư Phạm –
Trường Đại học Cần Thơ, đã nhiệt tình giúp đỡ, dạy bảo cho tôi
suốt thời gian học tập ở trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Khoa Năng Lập đã
dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và
giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng không quên ghi nhận sự đóng góp từ phía các bạn
sinh viên, nhất là các bạn lớp Sử K34, đã cung cấp cho tôi những
thông tin, những kinh nghiệm, sự chia sẽ và đóng góp rất cần thiết
cho bài viết
Cuối cùng, tôi cũng xin cảm ơn các nhà nghiên cứu, quý tác
giả, nhà biên soạn, cũng như các nhà xuất bản đã cung cấp cho tôi
một nguồn tài liệu tham khảo vô cùng phong phú đa dạng và khá
đầy đủ Điều đó rất cần thiết và là chất xúc tác quan trọng để có
được kết quả như tôi mong muốn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất
cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý
báo của quý Thầy Cô và các bạn
Cần Thơ, tháng 05 năm 2012
Lê Thị Thu Hiền
Trang 3LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
YZ
Trang 4
LỜI NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
YZ
Trang 5
MỤC LỤC
YZ
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Bố cục của Luận văn 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 11
1.1 Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 11
1.1.1 Nguồn gốc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 11
1.1.2 Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh 16
1.2 Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh 21
1.2.1 Cơ sở lý luận .21
1.2.2 Nội dung phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh 24
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH VỀ DỰ BÁO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ THỜI KỲ 1945 – 1946 27
2.1 Quá trình hình thành phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ (Từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945) 27
2.1.1 Tầm quan trọng của vấn đề thời cơ trong cách mạng giải phóng dân tộc 27
2.1.2 Hồ Chí Minh dự báo và nắm bắt thời cơ từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945) .30
2.1.3 Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ trong cách mạng tháng Tám .33
2.2 Qúa trình phát triển phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945 – 1946 .39
2.2.1 Thế sự Việt Nam sau mùa thu tháng Tám 1945 39
2.2.2 Hòa với Tưởng, giữ vững chính quyền, đối phó với thực dân Pháp ở Việt Nam 44
2.2.2.1 Cơ sở để hòa Tưởng 44
Trang 62.2.2.2 Thực hiện chủ trương hòa với Tưởng .45
2.2.2.3 Sự nhượng bộ có nguyên tắc của chính quyền cách mạng .47
2.2.3 Đàm phán hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 49
2.2.3.1 Chủ trương của ta đối với Pháp .49
2.2.3.2 Điều kiện và cơ sở để hòa Pháp .50
2.2.4 Đàm phán hiệp định sơ bộ 6/3/1946 .52
2.2.5 Nỗ lực tột bậc của Hồ Chí Minh – Tạm ước 14/09/1946 .55
CHƯƠNG 3: VÀI SUY NGẦM VỀ TƯ TƯỞNG, NGHỆ THUẬT NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH .63
3.1 Lợi ích dân tộc và vị trí của nó trong tư tưởng ngoại giao HCM .63
3.2 Tìm đồng minh, tìm bạn ngay cả trong hàng ngũ đối phương, vận dụng đại đoàn kết trong quan hệ quốc tế .69
3.3 Chính nghĩa dân tộc, thiện chí hòa bình, ý chí quyết thắng và thế tất thắng là sức mạnh của ngoại giao Hồ Chí Minh 70
3.4 Nước cờ cho thời điểm quyết định, sách lược sáng tạo có khi mạnh bạo đến hết cỡ là đỉnh điểm của nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh .71
PHẦN KẾT LUẬN: 74
PHẦN PHỤ LỤC: 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7
A PHẦN DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dân tộc, trong quá trình dựng nước và giữ nước ông cha ta đã
sử dụng ngoại giao như một phương sách đắc dụng Xuất phát từ đặc điểm địa lý
có tầm quan trọng về chiến lược của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á, dân
tộc ta luôn phải đối đầu với những kẻ thù xâm lược hùng hậu, ông cha ta chủ
trương “lấy nhu thắng cương”, “lấy chí nhân thay cường bạo”, “lấy yếu đánh
mạng, lấy ít địch nhiều” và sử dụng ngoại giao tâm công như một phương châm
trong hoạt động bang giao với các nước
Trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm ông
cha ta luôn biết nắm bắt thời cơ để đối phó linh hoạt trong ứng xử ngoại giao và
ngành ngoại giao đã trở thành một mũi tiến công, một binh chủng không thể
thiếu được cả khi vận nước thịnh lẫn lúc suy
Khi nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam, không thể không nhắc đến nhà
ngoại giao lỗi lạc, thiên tài: Chủ tịch Hồ Chí Minh Cho đến nay đã có rất nhiều
cuốn sách, bài báo, luận văn… viết về tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh
Cùng với thời gian, tầm vóc và vị trí của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ngày
càng được trình bày đậm nét và sáng tỏ trên kết quả nghiên cứu của giới sử học
cũng như trong tâm thức của nhân dân
Nghiên cứu đề tài: “Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và
nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945-1946” giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn tư
tưởng ngoại giao của Người Bởi nó cũng là một khía cạnh trong phương thức
ngoại giao với các nước lân bang, chúng ta đã từng biết đến “Dĩ bất biến ứng vạn
biến” trong ngoại giao của Người, rồi đến phương thức ngoại giao “Tâm công” –
đánh vào lòng người, trong phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh Và giờ đây
chúng ta biết đến một phương pháp mới “Dự báo và nắm bắt thời cơ” trong tư
tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Trong thời đại ông cha ta, dự báo và nắm bắt thời cơ đã trở thành một yếu
tố có trí tuệ trong cách ứng xử, đối phó với các tình huống phức tạp, đặc biệt là
trong quan hệ bang giao Vì thế việc nghiên cứu đề tài “Phương pháp ngoại giao
Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1946-1946” là hết sức cần
thiết, nó góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu ngoại giao Việt Nam
Trang 8Mặt khác trong giai đoạn này Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác- LêNin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng Do đó trên thực tế đề tài “Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự
báo và nắm bắt thời cơ thời kì 1945 - 1946” chưa được nghiên cứu hệ thống,
chuyên sâu Thực hiện đề tài này còn có ý nghĩa thời sự, góp phần nhỏ vào việc
nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
Đối với bản thân tôi, một sinh viên năm cuối ngành sư phạm lịch sử thì việc
nghiên cứu đề tài này là rất bổ ích, là một yêu cầu cần thiết cho công tác giảng
dạy sau này Từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Phương pháp
ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945-1946”
làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Chúng ta đang sống trong thời đại vinh quang của lịch sử dân tộc: thời đại
Hồ Chí Minh, thời đại của chính con người đã khai phá con đường cách mạng
Việt Nam trong thế kỷ XX, để từ tăm tối, bùn lầy vùng lên giải phóng dân tộc,
giải phóng con người và xã hội nước ta Qua những chặng đường đầy thách thức
chông gai, ngày nay hơn bao giờ hết, dân tộc ta đang đứng trước những vận hội
và khả năng mới xây dựng đất nước mười lần đẹp hơn xưa: dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tạo ra những tiền đề nhằm thực hiện những
ước vọng của chủ tịch Hồ Chí Minh: đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”
Như chúng ta biết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành người xưa nay hiếm
ở chỗ khi còn sống Người đã trở thành huyền thoại để mọi người chiêm ngưỡng,
noi theo Khi qua đời, Người còn để lại cho thế hệ chúng ta và mai sau di sản quý
báu về trí tuệ trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó khoa học
chính trị đối ngoại, ngoại giao là một trong những lĩnh vực vô cùng phong phú
Chính vì vậy, tìm hiểu về con người, sự nghiệp và tư tưởng của Người giúp
chúng ta thể hiện lòng tri ân với bậc cha ông đi trước đồng thời giúp chúng ta xác
định được nhiệm vụ của mình và tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm quý
báu gần gũi với thực tiễn Đó chính là mục tiêu nghiên cứu của đề tài này Đề tài
cũng nhằm góp phần tìm hiểu cuộc đời và các hoạt động cách mạng của lãnh tụ
Trang 9trong lịch sử Việt Nam cận đại để rồi ngày trở về Người đã áp dụng những gì học
được, thấy được, thấu hiểu được vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Khi cách
mạng tháng Tám 1945 thành công, không lâu sau đó thế nước lâm nguy vô cùng,
gian nan vô cùng, không chỉ đấu tranh trên mặt trận quân sự không là đủ, mà
ngoại giao Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn trong việc làm nên nhiều chiến thắng
khác có tiếng vang hơn trên mặt trận ngoại giao và nhiều mặt trận khác
3 Lịch sử vấn đề
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận hữu cơ trong tư tưởng
chung Hồ Chí Minh và hiện tại đã có một số công trình nghiên cứu về tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh
Trong công trình nghiên cứu về Bác Hồ với công tác ngoại giao của Học
viện quan hệ quốc tế nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật Bác đã đề cập đến
nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh như sau: “Phương pháp đánh giá, dự
báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, phân rõ bạn thù, củng cố đồng
minh, phân hóa đối tượng, tranh thủ trung gian, cô lập kẻ thù chủ yếu và nguy
hiểm nhất, quán triệt tư tưởng tiến công, vững chắc về nguyên tắc, linh hoạt về
sách lược, biết thắng từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn, đoàn kết quốc tế,
- Những tư tưởng chỉ đạo chiến lược
Nội dung Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cũng được cố Thủ tướng Phạm
Văn Đồng khái quát “toàn bộ những tư tưởng của Hồ Chí Minh về hoạt động
ngoại giao, như biết đánh giá, biết dự báo tình hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực
lượng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh, cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về
nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng từng bước để đi đến thắng lợi hoàn
toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế là di sản quý báu đối với chúng
ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”[4: 161]
Trang 10Còn trong tác phẩm “Tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh” Bộ trưởng
ngoại giao Nguyễn Duy Niên cho rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh có khả năng tiên
tri tiên liệu, vận dụng phương pháp biện chứng duy vật, kết hợp triết lý của
phương Đông và của Việt Nam, để phân tích tình hình quốc tế, chính sách và các
mối quan hệ giữa các nước lớn… những dự báo đúng đắn của Người về thời cơ
trước hết là kết quả của những phán đoán và phân tích khoa học dựa trên việc
xem xét cụ thể khách quan thực tế Việt Nam và tình hình các xu thế liên quan
trên thế giới”[14: 204]
Ngoài ra trong nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh, các tác giả ít nhiều cũng đề cập đến vấn đề “dự báo và nắm bắt thời cơ”
trong phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Như vậy “Với Hồ Chí Minh việc nắm bắt thời cơ và chọn thời điểm thích
hợp cho cuộc tiến công cách mạng là một quan điểm, một chiến lược không thể
không nghiên cứu rõ ràng”
Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả mới chỉ đưa ra những đúc
rút, những ý kiến mang tính chất khái quát cao, những kết luận chung về dự báo
và nắm bắt thời cơ Do đó việc nghiên cứu đề tài: “Phương pháp ngoại giao Hồ
Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945-1946” chưa được nghiên
cứu hệ thống, chuyên sâu
Trên cơ sở kế thừa các thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, đồng
thời dựa vào một số tài liệu khác, tôi cố gắng giải quyết vấn đề khoa học đã đặt
ra
Trong khuôn khổ của một Luận văn tốt nghiệp đại học, do sự hạn chế và
khả năng nghiên cứu của bản thân, tôi chỉ đề cập đến vấn đề: “Phương pháp
ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945-1946”,
một thời kỳ lịch sử đầy biến động
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài luận văn này bao gồm những nhân tố chủ
quan và khách quan tác động đến cách mạng Việt Nam trong thời gian
1945-1946, cũng như nhãn quan cách mạng, tầm nhìn chiến lược giúp Hồ Chủ tịch có
Trang 11còn nghiên cứu về vai trò của nhà tư tưởng, nhà ngoại giao Hồ Chí Minh trong
lịch sử ngoại giao Việt Nam hiện đại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi không gian: Đề tài tâp trung làm nổi bật phương pháp
ngoại giao Hồ Chí Minh về khả năng dự báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ trong
cuộc Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945 và tình thế của chính
quyền non trẻ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải đương đầu với nhiều thử
thách khó khăn sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công
- Về phạm vi thời gian: Năm 1945-1946
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng:
- Cơ sở phương pháp luận của luận văn: Là lý luận của chủ nghĩa
Mác LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về công tác nghiên cứu khoa học
- Phương pháp nghiên cứu: Ngoài phương pháp lịch sử và phương
pháp logic là chủ yếu, trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng nhiều thao
tác nghiên cứu khác hỗ trợ như mô tả, tường thuật, giải thích… để rút ra những
nhận xét, những kết luận khoa học khách quan
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài những phần dẫn luận, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo,
phần nội dung chính của luận văn gồm ba chương sau:
Chương 1: Khái quát chung về phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Chương 2: Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời
cơ thời kỳ 1945-1946
Chương 3: Vài suy ngẫm về tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Trang 12B PHẦN NỘI DUNG Chương 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
YZ
1.1 Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
1.1.1 Nguồn gốc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - LêNin đã chỉ rõ: Mọi học thuyết tư
tưởng ra đời một mặt là sự kế thừa những tư tưởng học thuyết trước đó, mặt khác
là sự phản ánh quy luật vận động của hiện thực, đồng thời là kết quả phản ánh
nhận thức sáng tạo của một con người gắn với phẩm chất nhân cách cá nhân,
phản ánh ý chí nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc trong một thời đại
nhất định
Rõ ràng khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh nói riêng chúng ta cần phải xem xét trong mối quan hệ biện
chứng thể hiện sự kế thừa và phát triển, thể hiện sợi dây liên kết của quá khứ với
hiện tại Hay nói đúng hơn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là sản phẩm kết
hợp chủ nghĩa yêu nước, văn hóa dân tộc và truyền thống ngoại giao Việt Nam,
tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm
ngoại giao thế giới
Trên nền tảng ấy với những phẩm chất và trí tuệ được hình thành từ thời thơ
ấu tôi luyện trong quá trình lao động, học tập, đấu tranh qua các chặng đường tìm
đường cứu nước và hoạt động cách mạng đã hình thành nên nhân cách ngoại giao
Hồ Chí Minh Các tố chất căn bản đó đã được phát huy cao độ nhờ Nguyễn Ái
Quốc – Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - LêNin, thấm nhuần thế giới quan
và phương pháp luận Mác xít
Trang 13Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở Việt Nam một đất nước mà
những cư dân bản địa đầu tiên từ rất sớm đã có một triết lý sống, một triết lý
hành động trong cuộc đấu tranh chống thiên tai dịch họa Triết lý ấy được thể
hiện qua kho tàng ca dao tục ngữ lưu truyền từ đời này sang đời khác nuôi dưỡng
tâm hồn và nhân cách con người Việt Nam Trải qua chiều dài của lịch sử, triết lý
ấy, quan niệm ấy đã ngày càng được nâng dần lên với những giá trị mới, phát
triển thể hiện bản sắc dân tộc và đã tạo dựng nên một nền văn hóa chung của một
nước Việt Nam thống nhất Điều này cũng có nghĩa là: Tư tưởng Hồ Chí Minh
được hình thành dựa trên nền tảng truyền thống dân tộc, truyền thống văn hóa
Việt Nam
Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt theo quá trình lịch sử trải dài
nhiều nghìn năm của nước Việt Nam, song hành cùng với sự phát triển quốc gia
dân tộc Đó là sự kết tinh và nét tiêu biểu của truyền thống văn hóa Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là
truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn, lướt qua mọi
sự nguy hiểm, khó khăn nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước…
Truyền thống yêu nước đó không chỉ là tình cảm, một phẩm chất tinh thần
mà đã phát triển thành một chủ nghĩa - chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc
chân chính, thành dòng chủ lưu của tư tưởng Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân
tộc
Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu
nước chứ chứ phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo LêNin, tin theo Quốc
tế ba Chủ nghĩa yêu nước - hạt nhân của nền văn hóa dân tộc đã tạo dựng trên
một nền tảng vững chắc là tính cộng đồng dân tộc Tính cộng đồng chính là một
đặc điểm của nhân loại nhưng ở Việt Nam tính cộng đồng là sản phẩm mang tính
đặc thù và nổi bật của hoàn cảnh kinh tế xã hội
Môi trường thiên nhiên và xã hội đã đặt trước dân tộc ta những thử thách
cực kỳ lớn lao đòi hỏi phải có một nghị lực phi thường để có thể vượt qua tồn tại
và phát triển
Mọi người đều nhận thức rằng điều kiện đầu tiên của sự thành công là phải
gắn bó với nhau, cùng nhau sản xuất, chiến đấu, kết hợp lợi ích cá nhân với lợi
Trang 14ích cộng đồng Tính cộng đồng làm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam gắn liền
với chủ nghĩa nhân văn rộng lớn vượt qua giới hạn của một nước và là cơ sở cho
chủ nghĩa quốc tế trong thời kỳ hiện đại
Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa những truyền thống văn hóa dân tộc
tạo nền móng vững chắc cho sự đâm chồi nảy lộc, phát triển tư tưởng cách mạng
của Người Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng ngoại giao cũng được bắt
rễ từ tư tưởng văn hóa ấy
Ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng trong sự
hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoại giao truyền thống Việt Nam
là nền ngoại giao có bản sắc Đó là những đặc trưng ổn định và bền vững, có
nguồn gốc xuất xứ từ bản sắc dân tộc và văn hóa dân tộc Việt Nam Đồng thời là
kết quả của hoạt động giao lưu quốc tế của Đại Việt với các nước láng giềng, của
quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc và phục vụ công việc xây dựng đất
nước và phát triển quốc gia dân tộc
Đặc trưng ngoại giao truyền thống Việt Nam có thể gói gọn lại là: hòa hiếu,
nhu viễn, “trong đế ngoài vương” Nền ngoại giao nhu viễn xem trọng việc giữ
gìn hòa khí, khiêm nhường với các nước lớn, hữu nghị với các nước lân bang
phấn đấu cho sự thái hòa Yêu chuộng hòa bình là bản chất của ngoại giao Việt
Nam Trong khi kiên trì lập trường nguyên tắc, giữ vững độc lập, chủ quyền toàn
vẹn lãnh thổ, quốc gia Đại Việt kiên trì đường lối hòa bình trong quan hệ ngoại
giao với các nước láng giềng Hòa hiếu là tư tưởng của ngoại giao Việt Nam
Nhà sử học Phan Huy Chú đúc kết lịch sử bang giao của đất nước đã nhấn mạnh:
“Trong việc trị nước, hòa hiếu với láng giềng là việc lớn” Tinh thần ấy cũng
được Nguyễn Trãi nêu bật trong: “Phú núi Chí Linh” sau thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống quân Minh: “Nghĩ đến lễ lâu dài của nước - thả cho 10 vạn tù
binh - nối hai nước tình hòa hiếu - tắt muôn đời lửa chiến tranh
Có thể nói cùng với các thắng lợi trên mặt trận quân sự việc thực hiện nhất
quán tư tưởng hòa hiếu với các nước láng giềng đã góp phần quan trọng giúp
Việt Nam vượt qua và đã chiến thắng bọn xâm lăng từ phía Bắc và phái Nam bảo
tồn và phát triển cương vực lãnh thổ quốc gia
Ngoại giao Việt Nam thấm nhuần tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân
Trang 15lớn khi buộc phải đương đầu với những thế lực ngoại xâm hung bạo Đồng thời
nó cũng xuất phát từ tầm nhìn sâu xa trong quan hệ bang giao với các nước láng
giềng có chung biên giới được Trần Hưng Đạo nêu trong lời di chúc: “Hòa ở
trong nước thì ít dụng binh, hòa ở ngoài biên giới thì không sợ có báo động”
Trong “Binh thư yếu lược” Hưng Đạo Vương nói về việc dùng binh mà còn hàm
ý về sự thái hòa: “Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ
không có lũy, chiến ở chỗ không có trận.”
Phan Huy Chú nhận xét trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: “Nước
Việt Nam ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nuôi dân
dựng nước có quy mô riêng nhưng trong thì xưng đế, ngoài thì xưng vương
“Trong đế ngoài vương” là một đậc trưng nổi bật của ngoại giao truyền thống
Việt Nam Đó là sự nhún nhường để giữ độc lập Khi bị xâm lược thì kiên quyết
kháng chiến với tinh thần quyết chiến quyết thắng nhưng luôn giữ gìn hòa hiếu
Ngoại giao truyền thống Việt Nam cũng luôn thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc
Người đi sứ luôn thấu triệt phương châm “đi sứ bốn phương không làm nhục
mệnh Vua”
Tất cả những yếu tố mang tính đặc trưng riêng của truyền thống ngoại giao
Việt Nam đã được chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa Và dường như trong tư tưởng
tưởng ngoại giao của Người các yếu tố ấy luôn luôn hiển hiện vừa là nềm móng,
cội nguồn sức mạnh vừa thể hiện sự kế thừa, phát triển sáng tạo để tạo nên một
nền ngoại giao hiện đại
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
không ngừng tìm hiểu nghiên cứu các tư tưởng, học thuyết chính trị xã hội và
văn hóa thế giới Với mỗi chủ thuyết, tư tưởng, trường phái chính trị, Người chấp
nhận những kiến giải phù hợp với tâm thức văn hóa Việt Nam, lựa chọn những
yếu tố tích cực làm giàu vốn kiến thức tư tưởng của mình Sự nghiên cứu và lựa
chọn của Người xuất phát từ quan điểm thiết thực, tư tưởng gắn bó với đời, gắn
với người, không phải lý thuyết sao vời
Theo quan điểm Hồ Chí Minh:
“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”
“Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”
“Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng”
Trang 16“Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều
kiện nước ta” [19: 51]
Như vậy sự kết tinh văn hóa kim cổ Đông – Tây đã có ảnh hưởng đến văn
hóa trong ngoại giao của Người
Sẽ là một thiếu sót nếu nghiên cứu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh lại
không xét đến thế giới quan và phương pháp luận Mác xít Chủ nghĩa Mác -
LêNin làm một nguồn gốc chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh Thế giới quan và
phương pháp luận Mác xít đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá, phân tích
tổng hợp các tư tưởng đương thời cũng như hoạt động thực tiễn của mình để tìm
ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”
khi phân tích các chủ nghĩa, học thuyết, Người viết: “Bây giờ học thuyết nhiều,
chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng
nhất, là chủ nghĩa Mác - LêNin.”
Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ:
“Chúng ta giành thắng lợi do nhiều nhân tố nhưng cần phải nhấn mạnh rằng
trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - LêNin”
Tuy nhiên, việc tiếp thu chủ nghĩa Mác - LêNin của Hồ Chí Minh là cả một
quá trình gắn bó với thực tiễn, trên cơ sở yêu cầu thực tiễn Người coi việc học
tập chủ nghĩa Mác - LêNin trước hết phải nắm vững cái cốt lõi “linh hồn sống”
của nó là phương pháp biện chứng: “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác -
LêNin, học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác -
LêNin để áp dụng lập trường, quan điểm ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề
thực tế trong cách mạng của chúng ta”
Như vậy, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh - bộ phận hữu cơ trong tư tưởng
chung Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp truyền thống văn hóa Việt Nam
ngoại giao truyền thống Việt Nam, và tinh hoa văn hóa Đông - Tây dựa trên thế
giới quan và phương pháp luận Mác xít, đây cũng chính là nguồn gốc lý luận
hình thành tư tưởng của Người
Ngoài nguồn gốc lý luận còn phải đề cập đến cơ sở thực tiễn, tác động của
thực tiễn đến sự hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh LêNin đã khẳng
định: “thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý và cũng chính từ trong hoạt động của
Trang 17thành lý luận rồi lý luận ấy lại được Người vận dụng và kiểm nghiệm trong thực
tiễn Cơ sở thực tiễn góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh nói riêng, đó là thực tiễn của thời đại và thực tiễn đời
sống hoạt động của Người.”
Nguyễn Ái Quốc nêu cao quan điểm Mác xít về thực tiễn nhưng đề cao
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Người nói: “Thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - LêNin” bởi
“Thực tiễn mà không có lý luận hướng dẫn thì thành hiện thực mù quáng Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[11, t8, 496]
Quan điểm thực tiễn ấy đã được Người vận dụng hiệu quả trong hoạt động
ngoại giao của Người
Có thể nói, với Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chủ nghĩa Mác - LêNin,
phương pháp biện chứng hiệu Mác xít cùng với giá trị truyền thống văn hóa nhân
văn dân tộc và thế giới, truyền thống ngoại giao Việt Nam, những nội dung đúc
rút từ nền chính trị quốc tế, thông qua hoạt động thực tiễn phong phú đã tạo nên
nền tảng cho công cuộc cứu nước và là cội nguồn tư tưởng Hồ Chí Minh về
ngoại giao
1.1.2 Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh thuộc về tương lai, vì Hồ Chí minh đã sáng tạo ra tương lai vĩ
đại ấy Người là một người làm nên lịch sử hiện đại Người đã trở thành một nhà
kiến trúc và tạo hình của quá trình cách mạng thế giới trong thời kỳ có tính chất
bùng nổ nhất Người trở thành ngọn đèn biển soi đường đi cho tất cả các dân tộc
bị áp bức trên thế giới Có lẽ hơn bất kỳ người nào khác của thế kỷ này, đối với
dân tộc mình và đối với cả thế giới, Hồ Chí Minh là hiện thân của cách mạng
Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh luôn gắn liền với dân tộc hay nói
cách chính xác hơn “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sản sinh ra
Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính Người là người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân
dân ta, non sông ta đất nước ta” Có thể nói rằng lịch sử là lịch sử của quần
chúng song cá nhân, đặc biệt là những nhân vật nổi tiếng (chính diện hay phản
diện) có vai trò nhất định đối với lịch sử (nó thúc đẩy hay cản trở sự phát triển
của lịch sử) Sự xuất hiện của những cá nhân có khả năng, mức độ nhất định để
giải quyết những nhiệm vụ, mục tiêu của lịch sử đặt ra cho mỗi thời đại là điều
Trang 18hợp quy luật tính tất yếu của lịch sử này hoàn toàn không phủ nhận khả năng
trình độ tư duy và hoạt động của cá nhân trong việc nhận thức yêu cầu của thời
đại, hành động phù hợp với quy luật lịch sử, nguyện vọng của nhân dân Sự xuất
hiện của Hồ Chí Minh và những tư tưởng hoạt động của Người trong giai đoạn
cách mạng Việt Nam gặp những khó khăn là phù hợp với nguyện vọng và quy
luật lịch sử Những quan điểm, sự chỉ đạo sáng suốt của Người cũng như tư
tưởng ngoại giao của Người gắn liền với cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc vì tự
do và tiến bộ xã hội chính vì thế nên Huy Cận rất có lý khi cho rằng tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh bắt nguồn từ tư tưởng quán triệt của Người: giải phóng
dân tộc và giải phóng xã hội Trong nền văn minh nhân loại, bất cứ lý thuyết, học
thuyết, chủ nghĩa nào cũng nằm trong dòng chảy của tư duy nhân loại trải qua sự
kiểm nghiệm của thời gian, để kế thừa và phát huy trên tinh thần phủ định biện
chứng những thành tựu trước đó và phải gắn bó với mảnh đất hiện thực, phản ánh
sự vận động của hiện thực
Tùy theo bối cảnh lịch sử, đặc điểm của hoàn cảnh thực tiễn, môi trường
hoạt động đấu tranh và phẩm chất cá nhân của mỗi người có những cống hiến
riêng, đóng góp cho kho tàng lý luận chung và để lại dấu ấn nhất định vào sự vận
động phát triển của thời đại, của giai cấp và dân tộc
Mỗi một thời đại xã hội đều cần những anh hùng và vĩ nhân của nó, và nếu
không có những con người như thế thì thời đại sẽ tạo ra họ
Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt Nam và vô cùng
kính yêu của Đảng ta, của nhân dân và cả dân tộc Việt Nam Tư tưởng cách
mạng Hồ Chí Minh là một cống hiến quý báu vào kho tàng lịch sử cách mạng
thời đại
Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (ngày 02/09/1945) mở ra
một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do, một thời đại mới - thời đại Hồ
Chí Minh Ngoại giao Việt Nam cũng bắt đầu thời kỳ ngoại giao Hồ Chí Minh,
có thể nói ngoại giao Hồ Chí Minh là bước ngoặt lớn nhất trong lịch sử ngoại
giao Việt Nam, là sự phát triển mới của ngoại giao Việt Nam xét về cả ý nghĩa và
tầm vóc của nó
Gần 100 năm mất nước vào tay Pháp, dân tộc ta đã mất cả quyền nội trị và
Trang 19xâm lược Tinh thần quật khởi đấu tranh và tiếng nói chính nghĩa của nhân dân ta
không lọt ra ngoài, đất nước Việt Nam coi như không tồn tại trên bản đồ thế giới
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh,
cách mạng đã giành lại non sông đất nước và cũng giành lại quyền ngoại giao
cho nhân dân ta Việt Nam trở lại vị trí của mình trong cộng đồng thế giới, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, vừa khai thác được tiềm năng
của bản thân mình vừa tranh thủ được sự ủng hộ của bạn bè thế giới
Có thể nói, trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, thời đại chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ghi một dấu ấn không bao giờ phai mờ Tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí
Minh được xem là kim chỉ nam cho hoạt động ngoại giao Việt Nam từ sau Cách
mạng tháng Tám thành công cho đến nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ
Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh được cố thủ tướng Phạm Văn Đồng khái quát: “Toàn bộ những tư
tưởng của Hồ Chí Minh về hoạt động ngoại giao như biết đánh giá, dự báo tình
hình, nắm bắt thời cơ, tổ chức lực lượng, nhận rõ bạn thù, tranh thủ đồng minh,
cô lập kẻ thù chủ yếu, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, biết thắng
từng bước để tiến tới thắng lợi hoàn toàn, độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết
quốc tế là di sản quý báu đối với chúng ta trong hoạt động ngoại giao để phục vụ
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[3: 161]
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh hay nói rõ hơn là hệ thống các quan
điểm về đường lối chiến lược và sách lược đối với các vấn đề quốc tế và hoạt
động ngoại giao của Đảng đã được soi rọi trong thực tế thể hiện sự sáng tạo linh
hoạt phù hợp với từng điều kiện Điều chúng ta dễ nhận thấy là: dù đường lối,
chính sách ngoại giao của nước ta luôn có sự thay đổi, lại luôn hướng vào thực
hiện có hiệu quả mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam Đó chính là mong
muốn suốt đời của chủ tịch Hồ Chí Minh: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,
giải phóng con người “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc
lập dân chủ và giàu mạnh”
Hệ thống các quan điểm ngoại giao Hồ Chí Minh cũng chính là những vấn
đề cơ bản trong hoạt động ngoai giao Việt Nam thời hiện đại Tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh gồm những nội dung cơ bản sau:
Trang 20Thứ nhất, ngoại giao nhân dân được xem là một bước phát triển mới độc
đáo và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và hiếm thấy
trong lịch sử ngoại giao thế giới qua mỗi giai đoạn của cuộc đấu tranh, ngoại giao
nhân dân lại mang những nội dung, hình thức biểu hiện riêng Có thể nói, hoạt
động ngoại giao hiện đại của Việt Nam có sự hiện diện của nhân dân trong nước
và nhân dân thế giới Chính lòng yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do và sự
nghiệp chính nghĩa, các mục tiêu đấu tranh mà nhân dân Việt Nam phấn đấu thực
hiện trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng hòa bình là
điểm gặp gỡ và mẫu số chung để xây dựng quan hệ quốc tế của Việt Nam, để tập
hợp lực lượng quốc tế Nó phù hợp với ý thức chống cường quyền và yêu chuộng
hòa bình của nhân loại tiến bộ
Thứ hai, một chủ trương quan trọng trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
là chính sách ngoại giao mở rộng hòa hiếu với các dân tộc “thêm bạn bớt thù”
Tháng 09 năm 1947, trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ Êli Mây Si Người nói: “Việt
Nam muốn làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một
ai…” “chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao
với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền
quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ
thế giới”, phương châm mở rộng quan hệ ngoai giao đã được Đại hội lần thứ VII
của Đảng tiếp tục với tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”[3: 163]
Xuất phát điểm của tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” là lợi dụng mâu thuẫn
giữa các thế lực thù địch, phân hóa, thu hẹp, cô lập tới mức cao nhất kẻ thù của
cách mạng, đồng thời hết sức coi trọng đoàn kết mọi thế lực để nhằm tạo nên so
sánh lực lượng có lợi phục vụ cho mục tiêu cách mạng Trên thực tế ngoại giao
nước nào cũng lợi dụng mâu thuẫn các bên sao cho có lợi cho mình LêNin trong
cuốn “Bệnh ẫu trí tả khuynh” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã
nhắc nhở: Chỉ có thể đánh thắng một kẻ địch mạnh hơn bằng một sự nỗ lực hết
sức lớn và với điều kiện bắt buộc là phải lợi dụng một cách hết sức tỉ mỉ, hết sức
chăm chú, hết sức cẩn thận và khôn khéo bất cứ một “rạn nứt” bé nhỏ nào giữa
các kẻ thù…Đây là một nguyên lý của chủ nghĩa Mác LêNin, một vấn đề có ý
Trang 21Trong suốt quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã nắm vững, vận dụng và phát triển quan điểm trên của LêNin
phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể trong các giai đoạn của cách mạng
nước ta nhằm thực hiện có hiệu quả chủ trương chiến lược “thêm bạn, bớt thù”
Tư tưởng ngoại giao “thêm bạn, bớt thù” đã được chủ tịch Hồ Chí Minh vận
dụng và phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam
Thứ ba, độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác
quốc tế được xem là cốt lõi của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời
cũng là cơ sở của đường lối quốc tế, đường lối ngoại giao mới của Đảng và nhà
nước ta Tư tưởng này phản ánh mối quan hệ biện chứng - kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp giữa nội lực và sự giúp đỡ quốc tế Nội lực
chính là yếu tố quyết định độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh song không cô lập,
biệt lập đóng cửa
Về tinh thần độc lập tự chủ trong hoạt động đối ngoại chủ tịch Hồ Chí Minh
từng nhắc nhở: “Các nhà ngoại giao nước ta cần nắm cái gốc, cái điểm mấu chốt
về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chiến, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh, dựa
vào sức mình là chính, đồng thời phải ra sức tranh thủ sự đỡ của nhân dân tiến bộ
và ưa chuộng hòa bình trên thế giới”[3: 162]
Kể từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công dưới sự lãnh đạo của chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, nhà nước cách mạng non trẻ dù mới ra đời
nhưng đã từng bước thiết lập được nền móng ngoại giao vững chắc với bạn bè
quốc tế, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế đã từng
bước được Đảng ta vận dụng tài tình, hiệu quả trong những hoàn cảnh, điều kiện
lịch sử phức tạp
Thứ tư, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thế kỷ XX, chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta luôn xem ngoại giao là một mặt trận, một nhân tố tạo nên sức
mạnh tổng hợp của cách mạng Tháng 04 năm 1969, Nghị quyết Bộ chính trị
quyết định: “Ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến
lược”
Hoạt động ngoại giao nước ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước trước
đây cũng như trong lịch sử hiện nay đã phát huy vai trò tích cực và chủ động,
song sức mạnh ngoại giao tùy thuộc vào nội lực quốc gia bởi “thực lực là cái
Trang 22chiêng, ngoại giao là cái tiếng Cái chiêng có to thì cái tiếng mới lớn” và do đó
“muốn ngoại giao được thắng lợi phải biểu dương thực lực”
Trên đây là những nội dung cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
cùng với hệ thống quan điểm lý luận cách mạng, trong quá trình đấu tranh giải
phóng dân tộc, những tư tưởng ngoại giao này của Người là yếu tố không thể
thiếu góp phần đưa cách mạng đi đến bến bờ thắng lợi
Một điều chúng ta dễ nhận thấy là xuyên suốt trong tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh “điều có tính nguyên tắc là trong chính sách hằng ngày cũng như trong
thực tiễn đấu tranh dù dưới hình thức gì và trong bất cứ điều kiện nào người cách
mạng không bao giờ được quên mục đích cuối cùng” Kiên định vững vàng về
mục tiêu chiến lược, linh hoạt sáng tạo trong chỉ đạo chiến lược, nắm bắt thời cơ,
mềm dẻo khôn khéo trong biện pháp sách lược chiến lược Đó chính là những
yếu tố đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng
1.2 Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
1.2.1 Cơ sở lý luận.
Theo LêNin, chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, vì vậy chỉ có
phương pháp đúng đắn, phù hợp mới có thể thực hiện thành công các mục tiêu
chính trị Với nhiều trường hợp, phương pháp cách mạng có ý nghĩa quyết định
đối với sự thành bại của phong trào cách mạng Trong lĩnh vực ngoại giao cũng
vậy, phương pháp, phong cách và nghệ thuật trong hoạt động ngoại giao của chủ
tịch Hồ Chí Minh gắn liền với tư tưởng của Người, góp phần quan trọng vào việc
thực hiện thắng lợi đường lối quốc tế, chính sách ngoại giao do chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng đề ra
Với tầm quan trọng của phương pháp, đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh:
Không lĩnh vực nào đòi hỏi người cách mạng phát huy trí sáng tạo nhiều như lĩnh
vực phương pháp tiến hành cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết tinh cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, được
Unessco công nhận, tôn vinh là Danh nhân văn hóa, nhưng trước hết Người là
một nhà hoạt động cách mạng Mục tiêu của Người là độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước và hạnh phúc cho nhân dân Người tự học tập không ngừng và mọi tri
thức hiểu biết đều phục vụ cho mục tiêu đó Mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận
Trang 23với thực tiễn thể hiện sinh động ở tư duy, tình cảm, cách ứng xử và hành động
của Người Thực tiễn cuộc sống và tinh thần kiên trì học tập đã tạo điều kiện
thuận lợi cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan và nhân
sinh quan mới, có nhân cách riêng - nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh
Cách nghĩ, cách đi tìm đường cứu nước, cách học tập, cách sống và hoạt
động cách mạng, cách lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối cách mạng… của
Hồ chủ tịch rất tinh tế, thể hiện lòng yêu nước và yêu thương con người, trí tuệ
và bản lĩnh, tình cảm và ý chí, tài năng và ý chí tôi luyện
Từ cách tiếp cận nhân cách luận, có thể gợi mở một số vấn đề và hy vọng
có thể học tập và vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh Để trở thành
nhà ngoại giao giỏi thì cùng với ngoại ngữ còn cần rất nhiều phẩm chất khác nữa,
trong đó có nhân cách văn hóa Nhân cách của con người lại thường được bộc lộ
ở “nhừng điều nhỏ nhặt” giữa cá nhân xuất chúng với dân tộc có mối quan hệ
tương tác Từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Nguyễn Trãi đã nêu rõ
thế nước có lúc mạnh, lúc yếu, nhưng ở thời nào đất nước cũng phát sinh hào kiệt
“dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sản sinh ra Hồ chủ tịch, người
anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và
non sông đất nước ta”
Từ diện mạo của ngôn ngữ, ta thấy như phảng phất bóng dáng của Ngô
Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung… Số phận
của Người gắn với vận mệnh của dân tộc Ở đó có sự chuyển hóa biện chứng:
dân tộc hóa cá nhân theo nghĩa tinh hoa văn hóa dân tộc nói chung và ngoại giao
truyền thống nói riêng được “di truyền mã hóa” vào một cá nhân xuất chúng nào
đó mà đất nước đang cần
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển, nâng phong cách ngoại giao truyền
thống ngoại giao Việt Nam lên một tầm cao mới của thời đại, làm “vẻ vang non
sông, đất nước” “Việt Nam - Hồ Chí Minh” trở thành câu nói thân quen trong bè
bạn quốc tế Những bài học kinh nghiệm của tổ tiên trong ứng xử với các nước
láng giềng rất phong phú và quý báu, được áp dụng, được phát huy trong bối
cảnh mới Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở truyền thống thôi chưa đủ để giải quyết
các mối quan hệ bang giao phức tạp hơn, đa dạng, đa phương đa tầng trong thời
kỳ hiện đại chính phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng
Trang 24góp phần tạo nên những thành công rực rỡ về đối ngoại của nhân dân ta trong thế
kỷ XX
Trong mỗi phong trào chính trị - xã hội cần có một ngọn cờ, một lãnh tụ
Giữa cá nhân xuất chúng và thời đại có mối quan hệ mật thiết Trước Hồ Chí
Minh đã có Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh ra nước ngoài tìm đường cứu nước
nhưng không thành Khác với các vị tiền bối, Hồ Chí Minh đã sớm bắt được nhịp
và hơi thở của thời đại - thời đại cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc khi chủ
nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Trong 30 năm sống và
hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Người đã đi qua 28 nước thuộc bốn châu: Á,
Âu, Phi, Mĩ La Tinh, làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống, hoạt động cách
mạng đa dạng và phong phú, tiếp xúc với nhiều tầng lớp người khác nhau, nhiều
nền văn hóa khác nhau, Người am hiểu sâu sắc con người và nền chính trị của
nhiều nước lớn trên thế giới như: Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức… Vốn tri
thức sâu rộng và sự tôi luyện trong thực tiễn hoạt động quốc tế là những nhân tố
quan trọng tạo nên tầm vóc và phong cách Hồ Chí Minh
Tương tác giữa vĩ nhân với thời đại bao gồm hai phương diện chính: thời
đại đặt ra những vấn đề mới và đồng thời cũng xuất hiện những điều kiện mới để
nhân loại thực hiện những ước mơ, khát vọng của mình Mặt khác thời đại lịch sử
cũng chính do con người tạo ra Vai trò quan trọng của vĩ nhân là sớm nhận biết
cái tất yếu và biết tổ chức quần chúng hành động theo quy luật khách quan
Như vậy, mối quan hệ biện chứng giữa Hồ Chí Minh với thời đại trước hết
được thực hiện thông qua hoạt động quốc tế lâu dài và gian khổ Hoạt động cách
mạng của Người cũng chính là cầu nối giữa dân tộc với quốc tế Người đã nâng
những giá trị truyền thống dân tộc lên tầm cao mới nhờ hấp thụ những tinh hoa
của thời đại, đồng thời sáng tạo nên những giá trị mới, kết hợp với nhau tạo thành
hệ chuẩn mực giá trị định hướng cho hoạt động cách mạng nói chung và phương
pháp cùng phong cách ngoại giao nói riêng
Nhân cách thể hiện các giá trị văn hóa, từ truyền thống dân tộc “Thương
người như thể thương thân”, Người đặt tới tình yêu thương nhân loại cần lao và
chủ nghĩa nhân văn quốc tế Chính vì vậy mà Người đã mong muốn “Làm bạn
với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”
Trang 251.2.2 Nội dung phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Phương pháp là lý luận được diễn dịch ra ngôn ngữ của thực tiễn, là sự phù
hợp giữa hoạt động chủ quan có hướng đích cuả con người với quy luật khách
quan của đối tượng LêNin nhấn mạnh: “Những người Mác xít chắc chắn là chỉ
mượn của học thuyết Mác những phương pháp quý báu mà nếu không có thì
không thể hiểu được những quan hệ xã hội” Có nhiều quan niệm khác nhau về
phương pháp, nhưng có một cách chung nhất, có thể xem phương pháp là toàn bộ
những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các
quy luật tồn tại và vận động của đối tượng đã được nhận thức, để định hướng và
điều chỉnh hoạt động nhân thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người,
nhằm tác động vào đối tượng, khách thể để thực hiện mục đích đã định
Vấn đề không chỉ là chân lý mà điều quan trọng là con đường dẫn đến chân
lý và thực hiện chân lý Phương pháp đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong hoạt
động ngoại giao là thế giới không ngừng biến đổi, không ngừng vận động cần
phải có những cách thức đánh giá, nhận định dự báo tình hình thế giới một cách
khoa học, năng động Sự thay đổi của tình hình đòi hỏi phải có phương pháp
mới, LêNin nhấn mạnh: “Không thể giải quyết công việc hôm nay bằng phương
pháp của ngày hôm qua” Mặt khác, do đối tác của ngoại giao đa dạng và phức
tạp, cần có sự linh hoạt, chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn phương pháp
cho phù hợp với từng đối tượng
Nội dung phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh bao gồm:
Thứ nhất, dự báo thời cơ và nắm bắt thời cơ: trong quá trình hoạch định
đường lối cách mạng nói chung và đường lối quốc tế cùng chính sách đối ngoại
nói riêng, việc dự báo và nắm bắt thời cơ, vận nước có tầm quan trọng đặc biệt
Năm 1947, khi giới thiệu 13 chương tôn tử binh pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh đã
rút ra một kết luận: “Muốn thành công thì phải biết trước mọi việc”
Chủ tịch Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán, tiên liệu Vận dụng phương
pháp biện chứng duy vật, kết hợp triết lý của phương Đông và của Việt Nam để
phân tích tình hình quốc tế, chính sách và mối quan hệ giữa các nước lớn, Người
đã nhận thức được những đặc điểm và xu thế của thời đại, đưa ra nhiều nhận định
đúng đắn về các xu hướng phát triển, dự báo chính xác về khả năng, thời điểm
Trang 26xảy ra chiến tranh, khả năng và chiều hướng phát triển của cách mạng trên thế
giới và về những bước ngoặt của cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh có khả năng dự cảm vượt thời gian, nhưng Người không phải
là một nhà tiên tri thần bí Những dự báo đúng đắn của Người về thời cơ trước
hết là những kết quả của phán đoán và phân tích khoa học dựa trên việc xem xét
cụ thể, khách quan thực tế Việt Nam và tình hình, các xu thế liên quan trên thế
giới Đó còn là kết quả của tinh thần tiến công
Thứ hai, phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn có phương pháp ngoại
giao “Tâm công” “Tâm công” - đánh vào lòng người - là một trong những
phương pháp đặc sắc của ngoại giao truyền thống Việt Nam Tâm công là thu
phục lòng người bằng chính nghĩa, chinh phục bằng nhân tình, thuyết phục bằng
lẽ phải và đạo lý Tâm công dùng trong binh vận để làm nhụt nhuệ khí của địch,
gây hoang mang trong hàng ngũ đối phương, kết hợp với thắng lợi trên chiến
trường buộc địch phải nghị hòa và rút quân về nước
Theo Hồ Chí Minh, bên cạnh thiên thời địa lợi, có tướng giỏi theo đúng
phép dụng binh, quân đội mạnh, nhân dân đông của cải vật chât nhiều, điều quan
trọng thiết yếu là “Được lòng dân”, được nhân dân tin cậy, còn cần phải có
những biện pháp tác động vào hàng ngũ đối phương: chia rẽ được nội bộ và quấy
rối quân địch, làm cho địch “kiêu ngạo” sơ hở không đề phòng, “rối óc”, “mệt
nhọc”… Mặt khác được nhấn mạnh: “Ngoại giao ai thuận lợi hơn thì thắng”
Kết hợp truyền thống với hiện đại chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng
tạo và đưa “ngoại giao tâm công” của ông cha lên một tầm cao mới trong cuộc
đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước Cơ sở của “tâm công” là bản
tính hướng thiện của mỗi con người và sự chia sẻ các giá trị nhân văn chung của
nhân dân tiến bộ thế giới “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều
thì dân nào cũng giống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”
Trong quá trình tìm đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc từ lòng yêu nước
thương nòi đã đến với nhân loại bằng “tình hữu ái vô sản” vì suy cho cùng trên
thế giới chỉ có hai giống người: “giống người bóc lột” và “giống người bị bóc
lột” Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mang tính nhân văn sâu sắc gắn liền với tinh
thân quốc tế trong sáng
Trang 27Chính sự tương đồng về tình cảm, tâm lý, yêu hòa bình và hữu nghị, lẽ phải
và đạo lý của nhân loại tiến bộ, cùng với tinh thần quốc tế chân chính là cơ sở để
chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện “ngoại giao tâm công” nhằm khơi dậy và tăng
cường tình đoàn kết, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân các nước, các
tổ chức, các lực lượng, của nhân sĩ và nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý
trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa và công cuộc xây dựng đất nước
của nhân dân ta
Với vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa, tâm lý, ngôn ngữ và phong tục tập
quán của nhiều dân tộc ở phương Đông và phương Tây, Hồ Chí Minh đã tìm
được những cách xử thế hợp lòng người, hợp từng hoàn cảnh, đối tượng cụ thể
trong quan hệ đa dạng với nhiều đối tượng
Thứ ba, thật thiếu sót khi không nói đến phương pháp ngoại giao Hồ Chí
Minh mà chúng ta không nói đến phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” - lấy cái không thể thay đổi để ứng phó
với muôn sự thay đổi - là một phương pháp bắt nguồn từ triết lý phương Đông
được ông cha ta vận dụng hiệu quả trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước
lâu dài Nó phù hợp với đặc tính “thích ứng” của dân tộc ta vì thế trong lịch sử
phát triển của dân tộc ta đã được nhiều nhà chính trị quân sự lỗi lạc vận dụng
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - là phương pháp giữ vững mục tiêu cuối cùng,
linh hoạt sáng tạo trong sách lược đối ngoại còn thể hiện tư tưởng biết thắng từng
bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn của chủ tịch Hồ Chí Minh
Theo đồng chí Lê Duẩn: Biết thắng từng bước cho đúng có nghĩa là ở mỗi
thời kỳ nhất định hay mỗi tình thế nhất định biết đề ra được mục tiêu cụ thể sát
hợp nhất, biết dựa theo quy luật khách quan mà điều khiển cuộc đấu tranh thế
nào để thực hiện mục tiêu đó với mức thắng lợi tối đa mở đường cho cách mạng
tiến lên những bước mới cao hơn, tạo ra triển vọng chắc chắn nhất cho thắng lợi
cuối cùng
Như vậy, dù với phương pháp ngoại giao nào thì chủ tịch Hồ Chí Minh
cũng đều dựa vào tình hình cụ thể trong mỗi giai đoạn cơ bản của cách mạng,
chiến lược cách mạng không thay đổi còn chỉ đạo chiến lược vận dụng sách lược
thì phải linh hoạt Để từ đó Hồ Chí Minh đưa ra những phương pháp phù hợp với
từng đối tượng, từng hoàn cảnh để đảm bảo thắng lợi cho cách mạng nước ta
Trang 28Chương 2:
PHƯƠNG PHÁP NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH VỀ DỰ BÁO VÀ NẮM
BẮT THỜI CƠ THỜI KỲ 1945 – 1946
YZ
2.1 Quá trình hình thành phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự
báo và nắm bắt thời cơ (Từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng tháng Tám năm
1945)
2.2.1 Tầm quan trọng của vấn đề thời cơ trong cách mạng giải phóng dân
tộc.
Thời và thời cơ được khái lược trong trí tuệ Việt Nam từ thời xa xưa như
một nhân tố vô cùng quan trọng trong triết lý hành động
Từ thời đại ông cha ta, thời cơ đã trở thành một yếu tố có tính trí tuệ trong
cách ứng phó, đối phó các tình huống, hoàn cảnh sự kiện phức tạp, đặc biệt là
trong quan hệ bang giao (quan hệ với các nước láng giềng) mà thường thì họ lớn
mạnh hơn mình
Thời thế, nếu nhận thức được đúng, sẽ trở thành một trong ba nhân tố tạo ra
sức mạnh thắng lợi: “Thiên thời, đại lợi, nhân hòa” Điều đó phải chăng có thể
hiểu là: nếu ở một thời điểm thiên nhiên thích hợp, thuận lợi nào đó, tại một
không gian thuận tiện đã hội tụ đầy đủ tiềm năng vật chất và tinh thần, con người
đã biết chung sức, biết hòa hợp, đoàn kết gắn bó với nhau thì có thể biến yếu
thành mạnh, có thể khắc phục được mọi trở lực để tiến tới giành được thắng lợi
Nhà quân sự Nguyễn Trãi cũng như nhiều nhà chiến lược khác của Đại Việt
đã nhận thức rõ giá trị của vấn đề thời cơ trong chiến lược chống quân xâm lược
ngoại bang Khi tình thế chuyển biến có lợi cho ta, ông đã dùng “tâm công”,
đánh vào tâm lý, ý chí của kẻ thù trước khi đánh vào thành trì của chúng, buộc
đối phương phải chấp nhận lui quân để cầu hòa với ta Và mỗi khi thời cơ cho
phép, Nguyễn Trãi chỉ rằng: “thời cơ, thời cơ, chớ nên bỏ lỡ” (trích trong Quân
trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi)
Trang 29“Nó đã sợ chết, ham sống, phải thành khẩn cầu hòa
Ta để cho giặc toàn quân, mà dân ta đừng nghỉ Chẳng những là mưu kế thật sâu xa
Mà cũng thật cổ kim chưa hề thấy
Xã tắc từ đây vững yên Giang sơn từ đây đổi mới Càn khôn hết bỉ lại thái Nhật nguyệt hết mờ lại trong
Mở rộng nền thái bình muôn thuở Rửa sạch điều hổ thẹn nghìn thu”
(Trích: Quân trung từ mệnh tập) Qua đó chúng ta thấy thời và thời cơ là giây phút quan trọng như thế nào
trong kế sách bảo vệ an ninh bờ cõi đất nước và thái bình yên vui cho trăm họ
Bên cạnh đó Nguyễn Trãi cũng rất kiên quyết với những ai không biết sử
dụng đúng thời cơ, để lầm thời lỡ vận: “Ai trước thời, giết không tha, ai sau thời,
giết không tha” (Trích: Quân trung từ mệnh tập)
Qua đây chúng ta cần nhận thấy rằng, từ thời xa xưa cha ông ta đã coi trọng
thời cơ như thế nào rồi phải không?
Còn trong thời đại chúng ta ngày nay, con người đã có rất nhiều khái niệm
về Thời và thời cơ, với nhiều ý niệm khác nhau
Đi theo cách hiểu thông thường thì thời có hướng chỉ ra hoàn cảnh thuận lợi
đến trong một không gian và ở trong một thời gian nhất định để con người tiến
hành một công việc nào đó có thể được xem là đem lại kết quả cao nhất
Thời đại ngày nay ngành dự báo chính trị xã hội đã có một bước phát triển
trở thành một ngành khoa học có khả năng tính toán khá chuẩn xác về một thời
điểm của quá trình phát triển chính trị xã hội Nêu lên được những triển vọng về
kinh tế và dân số, phân bố dân cư học vấn, về chính sách đối nội và đối ngoại, về
phát triển quân sự, lực lượng vũ trang đặc biệt là vấn đề quan hệ quốc tế cũng
như những mặt phát triển khác trong đời sống kinh tế xã hội Hệ quả chung của
ngành khoa học sự báo xã hội là tìm thấy thời điểm của những vấn đề phát sinh
trong nền chính trị xã hội, trong cộng đồng cư dân và trong mối quan hệ giữa các
quốc gia dân tộc với nhau Cụ thể hóa những khái niệm về dự báo xã hội, đặc
Trang 30biệt là trong vấn đề dự báo thời cơ, thì nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
đều cho rằng thời cơ là biểu thị của mối quan hệ giữa ba nhân tố: thế - thời và
lực Các mối quan hệ và sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố này tạo ra thời cơ
hành động thành công Hiểu theo một cách khác thì thời cơ là lúc tập trung cao
độ nhất những mâu thuẫn và khó khăn của đối phương và cũng là dịp hội tụ đầy
đủ nhất có thể có những thuận lợi đối với ta
Tuy nhiên, vẫn còn một cách khác để có thể tiếp cận sát hợp hơn với nội
dung của vấn đề dự báo và nắm bắt thời cơ trong phương pháp quan hệ quốc tế
đối ngoại của Hồ Chí Minh Như chúng ta đã biết, trong quan hệ chính trị nói
chung và đặc biệt là chính trị đối ngoại nói riêng là một nghệ thuật về các khả
năng Vì vậy mà vấn đề thời cơ, quá trình phát hiện và nắm bắt thời cơ phải
chăng là một bộ phận của nghệ thuật này?
Để thấy đúng được thời cơ, tạo ra bước chuyển biến chiến lược trong “nội
chính hay ngoại giao” thì trước hết phải xuất phát từ việc đánh giá chuẩn xác các
khả năng khác nhau trong quá trình phát triển thời cuộc và từ đó rành lọc để chủ
động chọn được khả năng thích hợp, thấy được chính xác thời điểm mà khả năng
thuận lợi đó, từ đó sẽ trở thành hiện thực để kịp chuẩn bị lực lượng thúc đẩy, đón
nhận, và sử dụng nó
Cách khái lược về thời cơ như trên có thể cung cấp cho chúng ta cái nhìn rõ
hơn, có tính định hướng hơn để từ đó làm cơ sở để tiếp cận với nhận thức về thời
cuộc, nắm bắt dự báo thời cơ trong phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh
Còn theo cựu Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Duy Niên thì nhận định: “Thời
cơ có thể do các nhân tố trong nước tạo ra, hoặc do điều kiện quốc tế đưa lại
Nắm được thời cơ thì kết hợp được các nhân tố chủ quan và khách quan, nội lực
và ngoại lực Nghệ thuật lãnh đạo cách mạng đòi hỏi phải dự đoán đúng thời cơ
để chuẩn bị lực lượng nắm bắt và tận dụng thời cơ”
Còn Phan Chu Trinh đã tổng kết con đường và phương pháp cách mạng của
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có đặc điểm khác các sĩ phu yêu nước khác
chính là ở chỗ “đãi thời”, biết cân nhắc, biết sàng lọc, suy ngẫm thấu đáo về thời
thế qua đó mà sớm nhận biết sự thay đổi cơ bản của thời cuộc và tìm đúng hiền
triết giải phóng dân tộc, cũng như nhận rõ các khả năng mới của thời đại và của
Trang 31thời cơ lúc đó có thể biến động cách mạng ở các cộng đồng quốc gia khu vực
cũng như ở nước ta về trên thế giới
Tóm lại, từ những khái niệm về Thời, thời cơ, thì chủ tịch Hồ Chí Minh là
người nắm bắt được một cách thấu đáo, thần thái, để từ đó mà biết cách nhìn
nhận, nhanh nhạy với thời cuộc tạo ra thời cơ cho cách mạng nước ta Và việc dự
báo và nắm bắt thời cơ trong phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh được sử
dụng một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của
cách mạng Việt Nam Trên cơ sở đó đưa cách mạng Việt Nam đi đến gặt hái
thắng lợi từng bước và tiến đến thắng lợi hoàn toàn
Dự báo và nắm bắt thời cơ trong phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh nói
riêng và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nói chung là một trong những yếu tố
cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh Mà tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao cùng
với lý luận của Đảng trên các lĩnh vực quốc tế và đối ngoại hợp thành một chỉnh
thể Tư tưởng Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho hành động quốc tế và ngoại giao,
nhà nước, trí tuệ của Đảng, hoạt động thực tiễn phong phú và sáng tạo của Đảng
và của nhân dân ta làm giàu thêm tư tưởng Hồ Chí Minh
Việc nghiên cứu và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như phương háp,
phong cách và nghệ thuật Hồ Chí Minh về ngoại giao là một công việc quan
trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngọai
của Đảng và nhà nước Việt Nam để tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Đảng cộng sản Việt Nam, tháng 04 năm 2001
2.1.2 Hồ Chí Minh dự báo và nắm bắt thời cơ từ đầu thế kỷ XX đến Cách
mạng tháng Tám năm 1945)
Thế kỷ XX đánh dấu bước phát triển lớn của trí tuệ quan hệ quốc tế Việt
Nam mà chủ tịch Hồ Chí Minh bằng hoạt động thực tiễn để trí tuệ của mình là
người tiêu biểu nhất
Lịch sử đã ghi nhận những cống hiến to lớn của Người “anh hùng giải
phóng dân tộc” – Hồ Chí Minh về những tài tiên đoán tài tình các bước phát triển
của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Biết nắm bắt thời cuộc một cách
nhanh nhạy, chính xác nhất Trong quá trình hoạt động thực tiễn chủ tịch Hồ Chí
Minh đã coi việc quan sát, phân tích và nhận thức đúng những diễn biến quốc tế,
Trang 32khu vực là một trong những nhân tố quan trọng để quyết định đề ra những chiến
lược cho cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh là một trong số rất ít các nhà lãnh đạo cách mạng quốc gia
thấy rất sớm khả năng liên hiệp hành động giữa các quốc gia thuộc địa với nhau
và giữa phong trào cách mạng thuộc địa với phong trào cộng sản và phong trào
công nhân quốc tế Điều này sẽ tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn để lật đổ, làm suy
yếu hệ thống chủ nghĩa đế quốc cường quyền bóc lột và hệ thống chủ nghĩa thực
dân áp bức thống trị toàn cầu
Năm 1920, cũng như hàng ngàn người đã tiếp cận được với dự thảo Luận
cương của LêNin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhận thức sâu sắc và cho “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường
giải phóng chúng ta[13: t10: 127]
Từ những năm 20 trở đi Người hoạt động không biết mệt mỏi trong Hội
liên hiệp thuộc địa và phong trào cộng sản công nhân quốc tế, cố gắng thúc đẩy
khả năng liên hiệp hành động này sớm trở thành sức mạnh hiện thực
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã từng thấy khả năng cách mạng giải
phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành được thắng lợi trước cách mạng vô sản
của chính quốc và bằng cách ấy nó sẽ tác động mạnh mẽ đến cách mạng vô sản ở
chính quốc Với lý luận đầy sáng tạo đó, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã góp
phần “phá xiềng xích” ràng buộc cách mạng thuộc địa với cách mạng chính quốc,
tạo ra thời cơ cho quá trình tự giải phóng của các dân tộc thuộc địa bằng tinh thần
tự lực tự cường, không phụ thuộc vào diễn biến cách mạng ở chính quốc
Kiểm nghiệm của lịch sử một lần nữa xác định dự đoán thiên tài của
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về khả năng vươn dậy của các nước nhỏ vốn là
thuộc địa, đấu tranh cho nền độc lập tự do cho mình nửa cuối thế kỷ XX
Bên cạnh đó Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn là người đi đầu trong
việc dự báo sớm khả năng về cuộc cách mạng bùng nổ trên thế giới và trong khu
vực
Đối với Châu Á – Thái Bình Dương, Người đã sớm chỉ ra sự bùng nổ tất
yếu của cách mạng giải phóng dân tộc Tháng 05 năm 1921, trong bài viết thứ hai
về Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đã đưa ra một kết luận quan trọng: “…hàng
Trang 33tiện của bọn thực dân lòng tham không đáy” và “họ sẽ hình thành một lực lượng
khổng lồ”[13: t1: 36]
Đặt vấn đề Châu Á – Thái Bình Dương trong sự vận động của các mâu
thuẫn và trong đấu tranh giữa các xu hướng đối lập trong quan hệ quốc tế, năm
1924, trong bài viết Đông Dương và Thái Bình Dương, Người cho rằng: “Thái
Bình Dương và các thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương, tương lai có thể trở
thành một lò lửa của chiến tranh thế giới mới”[13: t1: 214]
Đúng mười bảy năm sau, điều tiên đoán của Người đã trở thành hiện thực,
các nước ở Châu Á – Thái Bình Dương sau chiến tranh thế giới đã cơ bản hoàn
thành công cuộc giải phóng và ngày nay đang biến thành “một lực lượng khổng
lồ”
Không chỉ dự báo sớm khả năng bùng nổ của cách mạng trên thế giới và
khu vực, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn nhận thức đúng nguy cơ chiến
tranh thế giới thứ hai bùng nổ
Trên cơ sở nắm chắc những diễn biễn của những mâu thuẫn chủ yếu trong
quan hệ giữa các nước lớn, tình hình phát triển về kinh tế, chính trị trong giai
đoạn khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa (1929 - 1933), tháng 09 năm 1930,
sau khi phân tích tình hình Châu Á và Đông Dương, Người đã cảnh báo, tình
huống các nước lớn “chuẩn bị một cuộc chiến tranh đế quốc trên Thái Bình
Dương”[13: t3: 50]
Cho đến những năm 40, khi cuộc chiến tranh thế giới bùng nổ và nắm chắc
những diễn biến của cuộc chiến tranh ấy, Người đã sớm có những nhận định kịp
thời, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua được những giờ phút
cam go nhất Đồng thời vừa lợi dụng được những diễn biến của tình hình quốc tế
để có được những chính sách kịp thời cho tình hình cách mạng Việt Nam Người
đã dự báo đúng đắn nhiều dự kiện, cũng trong năm 1924, trong bài Đông Dương
và Thái Bình Dương, Người đã cho rằng: “thế nào rồi cũng có ngày nước Nga
Cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản”[13: t1: 243] Và dự đoán này của
Người cũng hoàn toàn chính xác Vì đúng 17 năm sau phát xít Đức tấn công Liên
Xô (11/06/1942)
Không chỉ dự đoán thiên tài về các sự kiện sắp xảy ra mà Người còn mô
phỏng cuộc chiến tranh như là “cơn lốc đang làm thay đổi số phận hàng trăm
Trang 34triệu con người” mà kết cục là cách mạng ở nhiều nước sẽ thành công, nước Nga
và lực lượng trong Đồng minh dân chủ giành được thắng lợi Nguyễn Ái Quốc
chẳng những đã sớm xác định khả năng bùng nổ của chiến tranh đế quốc mà còn
khái quát đúng quy mô, chiều hướng phát triển cũng như những bước ngoặt và hệ
quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai
Từ những dự báo thiên tài về tình hình thế giới, thời cuộc của cách mạng
Việt Nam, từng bước Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn cho chúng ta thấy khả
năng cách mạng Việt Nam bùng nổ và giành được nhiều thắng lợi lớn Điều này
nằm trong sự dự báo và nắm bắt thời cơ của phương pháp ngoại giao Hồ Chí
Minh
Ý nghĩa thực tiễn đối với cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương là
sự chỉ đạo cách mạng của Đảng không bị bất ngờ, không thụ động đối phó với
chiến tranh đế quốc mà luôn luôn chủ động, sáng tạo và kịp thời
2.1.3 Hồ Chí Minh về dự báo và nắm bắt thời cơ trong cách mạng tháng
Tám
Trong suốt cuộc đời hoạt động cứu nước của mình, điểm nổi bật ở Nguyễn
Ái Quốc – Hồ Chí Minh khác với các sĩ phu yêu nước và cách mạng đương thời
là đã sáng tạo ra con đường cách mạng Việt Nam phù hợp với thời đại, thấy đúng
khả năng, chọn đúng thời cơ để giành thắng lợi
Đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh phong trào yêu nước cách mạng lâm vào
thời kỳ khó khăn bế tắc, cùng với việc thấy rõ sự bùng nổ cách mạng ở Việt Nam
và Đông Dương … Người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào
thét và sẽ bùng nổ một cách ghê sớm khi thời cơ đến”[13: t1: 28]
Với niềm tin có trí tuệ đó, trong tác phẩm “Đường Kách Mệnh” Người đã
sáng tạo ra con đường giải phóng dân tộc lầm than đi theo định hướng mới: “gắn
sự nghiệp vì độc lập tự do của dân tộc với xu thế thời đại, trước mắt là đưa cách
mạng nước ta hòa nhập cùng trao lưu và xu thế biến đổi của cách mạng thế giới
Phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng các
dân tộc bị áp bức toàn cầu Người nhấn mạnh: “Cách mạng An Nam cũng là một
bộ phận trong cách mạng thế giới”[17: t1: 301] Với định hướng đó Nguyễn Ái Quốc
đã tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp cách mạng nước nhà và đưa cách mạng
Trang 35hệ quốc tế Việt Nam, gắn dân tộc với xu thế thời đại (không phải gắn với một
quốc gia, một thế lực chính trị nhất định ở bên ngoài) Điều đó còn có ý nghĩa
khoa học thực tiễn lớn lao vì đã giúp cách mạng nước ta tiếp cận nhanh chóng
với những biến đổi của đời sống khoa học chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội toàn
cầu trong những thập kỷ kế tiếp cho đến hôm nay
Trong nhiều trường hợp cụ thể, Người đã tiên đoán chính xác thời cơ
chuyển mình của cách mạng Việt Nam vươn tới giành thắng lợi quyết định thông
qua sự phân tích khoa học về đặc điểm xu thế phát triển tình hình thế giới, về
những mâu thuẫn và sự vận động của nó, thấy rõ những nhân tố thúc đẩy thời và
thế của cách mạng nước ta Nguyễn Ái Quốc và những người lãnh đạo của Đảng
ta đã nhận định chính xác về thời cơ cách mạng giải phóng dân tộc thành công ở
nước ta
Năm 1941, quân phiệt Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ quân sự Mĩ,
mở đầu chiến tranh Thái Bình Dương, Nguyễn Ái Quốc đã dự đoán sớm muộn
Nhật Bản cũng sẽ vào Đông Dương hất cẳng Pháp, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trong
lúc Nhật và Pháp đang hợp tác chặt chẽ, Việt Minh đoán trước rằng chúng sẽ
phản nhau, mà Nhật phản Pháp mồng 09 tháng 03 năm 1945 Lịch sử đã chứng
minh nhận định đó là hoàn toàn đúng và đó chính là thời cơ của cách mạng Việt
Nam
Nhật Bản nhảy vào Đông Dương lần lượt dùng mọi hình thức chính trị,
quân sự… để buộc Pháp từng bước nhượng bộ và cuối cùng dâng tặng Đông
Dương cho Nhật Rõ ràng là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nắm được một
cách tài tình về vấn đề thời cơ cho cách mạng Việt Nam Vậy thì tại sao Người
lại có thể dự báo tài tình chính xác đến như vậy? Lý giải là ở chỗ: Người nắm
chắc phương pháp lý luận biện chứng Mác – LêNin Có kiến thức sâu rộng uyên
thâm về thế giới và cách mạng nước ta, nắm được quy luật vận động của sự vật
và vì Người có sự nhạy bén chính trị, Người thường phê phán kiểu áp đặt theo ý
định có sẵn đối với nhận thức thời cơ Người dặn: “Chớ đem chủ quan của mình
thay thế cho thực tế” Có thể khẳng định rằng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
là người Việt Nam đầu tiên, là một trong số ít những nhà cách mạng của các dân
tộc thuộc địa sớm thấy được tác động tương hỗ của những biến động ở chính
quốc với tình hình thuộc địa và ngược lại Bởi lẽ rằng Người luôn đặt các sự kiện
Trang 36và những vấn đề nảy sinh trong từng quốc gia dân tộc và trong quan hệ quốc tế
vào trong dòng chảy của thời cuộc, và làm rõ mối quan hệ biện chứng có sự
tương tác qua lại giữa các sự kiện và những diễn biến khác nhau của thời cuộc”
Khi Pháp thua trận, từ Pác Bó (tháng 06 năm 1941) Người đã đưa ra nhận định:
“Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng
không thể cứu bọn thống trị Pháp ở nước ta”[13: t3: 197]
Như vậy, xuất phát từ việc nắm chắc phương pháp luận biện chứng
Mác-LêNin, có tầm quan sát và hiểu biết rất rộng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh từ
chỗ nhận thấy được thời cơ, rồi đến thấy rõ được tiền đồ của cách mạng, đã đề ra
những chiến lược và sách lược đúng đắn Từ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ
VI (tháng 11 năm 1939) đến Hội nghị VIII (tháng 05 năm 1941), Đảng ta mà
đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược,
hay nói một cách chính xác hơn, Hội nghị Trung ương VIII đã hoàn chỉnh việc
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, Hội nghị đã dự đoán, sau khi Pháp thất bại
nhanh chóng, Mĩ phải vào cuộc, thúc đẩy Đức quay sang đánh Liên Xô, Ý, Đức
một mặt xâm chiếm các nước yếu kém ở Trung Âu và vùng Ban Căng, một mặt
sẽ chuẩn bị lực lượng để đánh Liên Xô và tiến hành cuộc ngoại giao để bắt buộc
các nước đi theo mình để tiến đánh các nước xã hội chủ nghĩa cuộc chiến tranh
này gây ra nhiều tai họa cho nhân loại song nó “sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ
nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”[13: t3: 411] Đây là một dự
đoán chính xác 100%, hàng loạt các nước dân chủ nhân dân ra đời ở Châu Âu,
Châu Á, làm cho chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước hình thành hệ
thống thế giới
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII vạch ra những chính sách cụ thể,
sát hợp nhằm giải quyết mục tiêu cao nhất của cách mạng lúc này là “độc lập dân
tộc” Đây chính là việc trở về với sự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn
đề dân tộc và vấn đề giai cấp, kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, được
Nguyễn Ái Quốc khởi thảo từ năm 1930
Cũng chính trong Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã có
một quyết định có tính chất bước ngoặt: kịp thời chủ trương chuyển hướng chiến
lược cách mạng, từ làm cách mạng Tư sản dân quyền dần chuyển sang giai đoạn
Trang 37nghị quyết định: “Chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân
dân ta trong giai đoạn hiện tại”[13: t1: 373]
Có thể khẳng định, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn này
thể hiện một nhãn quan chính trị sắc bén, một sự phân tích khoa học, chính xác
bối cảnh cụ thể và xu thế phát triển của tình hình thế giới, trong nước Dự kiến về
thời cuộc, thời cơ nói chung, đồng thời Người cũng vì những đột biến có thể xuất
hiện mà lịch sử đã chứng minh, đó là những dự kiến đúng Người đã kịp thời
phát hiện mâu thuẫn nội bộ Đồng Minh trong mối quan hệ khá phức tạp giữa
Đồng Minh với Pháp về vấn đề Đông Dương, Việt Nam, khai thác quan hệ đó có
lợi cho cách mạng Việt Nam Cách nhìn trên thể hiện Người đã nhận thức, vận
dụng tư tưởng LêNin biết lợi dụng chiến tranh đế quốc để tiến hành “nội chiến
cách mạng” hoặc “khởi nghĩa giành chính quyền” về tay nhân dân
Năm 1942, khi chiến tranh thế giới đang ở đỉnh cao Tháng 2 năm 1942,
trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta” Hồ Chí Minh đã khẳng định mốc lịch sử:
“Việt Nam độc lập:1945” Đây chính là đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh
trong việc nhận thức thời cơ và tiền đồ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ này
Sinh thời Xtalin có nói rằng: “Trong mỗi trận đánh thời cơ chỉ đến duy nhất
một lần, trận đánh ấy sẽ thắng hay thua, điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào người
cầm đầu có nắm bắt đúng thời cơ hay không Tháng 08 năm 1945, Việt Nam toàn
thắng, điều đó chứng tỏ rằng, Hồ Chí Minh trong vai trò là chủ tịch lâm thời và là
người đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhanh chóng
dự báo, kịp thời đón lấy thời cơ và giành được thời cơ”
Tháng 10 năm 1944, khi thời cơ cách mạng giành chính quyền đang đến,
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào toàn quốc phải kịp thời
đón thời cơ, không được chậm trễ Người viết: “Phe xâm lược gần đến ngày bị
tiêu diệt, các Đồng minh quốc tế sắp tranh được thắng lợi cuối cùng, thời cơ cho
dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc một năm rưỡi nữa Thời cơ rất
gấp ta phải làm nhanh Do nắm rất chắc các diễn biến của tình hình quốc tế, tình
hình trong nước, đánh giá đúng so sánh lực lượng, phân tích chính xác diễn biến
của cuộc đấu tranh, Hồ Chí Minh với tầm tư duy biện chứng, khoa học, với sự
nhạy bén về chính trị đã đưa ra những tiên đoán, dự báo chính xác về tình hình và
Trang 38thời cơ để từ đó đưa ra những biện pháp chuẩn bị cho thời cơ Nắm bắt đúng thời
cơ là vấn đề có ý nghĩa quyết định trong giành thắng lợi
Phải biết dừng khi thời cơ đến, song phải nhanh chóng vượt lên nắm bắt kịp
thời cơ khi thời cơ đã tới Khi chính quyền Pháp - Nhật còn mạnh, Pháp - Nhật
chưa bắn nhau mà thời cơ chưa đến, tình hình chưa chín muồi, nếu ta Tổng khởi
nghĩa sớm sẽ thất bại
Và đúng như dự đoán của Hồ Chí Minh, ngay đêm mồng 09 tháng 03 năm
1945 Nhật hất cẳng Pháp và nắm quyền thống trị ở Đông Dương Hội nghị Trung
ương mở rộng của Đảng cộng sản Đông Dương đã nhận xét tình hình và định
sách lược mới Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của
Ban thường vụ đề ra ngày 12 tháng 03 năm 1945 đã được coi là một chỉ thị lịch
sử Theo nhận xét của chỉ thị thì Nhật - Pháp bắn nhau là một điều đã tính được
từ trước Một trong những nguyên nhân mà Pháp thất bại là vì Pháp đã không
thống nhất hoạt động với lực lượng chống Nhật của nhân dân Đông Dương
Cuộc đảo chính diễn ra làm cho tình hình khủng hoảng sâu sắc và vấn đề
đặt ra lúc này là điều kiện khởi nghĩa đã thật chín muồi hay chưa? Sự nhạy bén
và chính xác của Đảng ta lúc này là rất cần thiết, sự phân tích, sự đánh giá tình
hình một cách đúng đắn trong thời điểm quyết định cũng hết sức quan trọng
Theo nhận xét của chỉ thị thì mặc dù tình hình chính trị đã bất ổn nhưng
thời cơ vẫn chưa đến Thời cơ duy nhất mà theo quan niệm của các nhà lãnh đạo
Đảng ta lúc này là quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật Bản chỉ thị
còn nhấn mạnh rằng: không phải lúc quân Đồng minh vừa đổ bộ đã phát động
khởi nghĩa ngay mà còn phải đợi khi quân Đồng minh đã bám chắc được và tiến
lên, Nhật phải kéo ra mặt trận ngăn cản Đồng minh để mặt sau tương đối sơ hở
thì lúc đó mới phát động Tổng khởi nghĩa Lệnh phát động Tổng khởi nghĩa một
khi được phát ra thì các nơi đều nổi dậy Phá hoại các đường giao thông, các cơ
sở quân sự của Nhật và giành thắng lợi cuối cùng Và lúc này lợi dụng sự có mặt
của quân Đồng minh, chúng ta chuẩn bị cả thế và lực để chuẩn bị cho cuộc Tổng
khởi nghĩa giành chính quyền Chính vì nhận thấy mặc dù Nhật đảo chính, lật đổ
Pháp, cách mạng Việt Nam chỉ còn lại một kẻ thù duy nhất là phát xít Nhật,
nhưng thời cơ vẫn chưa chín muồi, Hồ Chí Minh và Đảng ta đã quyết định phát
Trang 39chuyển sang Tổng khởi nghĩa một khi có đủ điều kiện Ngày 13 tháng 08, phát
xít Nhật đầu hàng không điều kiện các nước Đồng Minh, bọn tay sai của Nhật ở
Đông Dương rệu rã, hoang mang như rắn mất đầu Trong khi đó, quân Đồng
minh lại chưa kịp kéo vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật Thời cơ ngàn
năm có một đã đến Nhận rõ thời cơ đã chín muồi, nhận thấy việc Tổng khởi
nghĩa giành chính quyền có thể diễn ra thuận lợi Trong khoảnh khắc lịch sử
hàng ngàn năm của dân tộc, với tư cách là một chủ tịch lâm thời, Hồ Chí Minh đã
gửi thư cho đồng bào toàn quốc, phát động Tổng khởi nghĩa: “…giờ quyết định
cho vận mệnh dân tộc đã tới Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà
tự giải phóng cho ta”, “nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến
bước giành chính quyền độc lập, chúng ta không thể chậm trễ”, “Tiến lên! Tiến
lên! Dưới lá cờ Việt Minh đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”
Người cũng nhận định: “lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu,
dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc
lập” Từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 08 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã diễn
ra rầm rộ khắp nơi, cách mạng tháng Tám thành công - Đó là một sự kiện vĩ đại
trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đánh dấu
sựu phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới trong sự
phát triển lịch sử dân tộc: kỷ nguyên giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội
Cách mạng tháng Tám đã nổ ra rầm rộ, lôi cuốn toàn nhân dân tham gia
Việt Nam giành được độc lập sau hơn 80 năm làm thân trâu ngựa Sự kiện này đã
làm biến động thế giới, khiến cho bọn đế quốc Anh, Pháp, Mĩ, Tưởng “choáng
váng” Chúng không thể ngờ được một dân tộc nhỏ yếu như Việt Nam, hơn 80
năm bị bóc lột cùng kiệt bởi thực dân Pháp, bốn năm bị đàn áp khủng bố bởi phát
xít Nhật đã không những không bị kiệt quệ mà ngược lại còn mạnh mẽ và có tinh
thần quật khởi như vậy
Cách mạng tháng Tám nổ ra và giành được thắng lợi trên phạm vi cả nước
trong điều kiện một dân tộc thuộc địa nhỏ yếu bị phong tỏa của chiến tranh đế
quốc và phải đối phó với nhiều thế lực hùng mạnh, về cơ bản nó vẫn diễn ra như
kịch bản về vấn đề thời cơ cách mạng thắng lợi mà Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Trang 40Minh đã soạn thảo bốn năm về trước, với công phu dàn dựng của Đảng và lực
lượng cách mạng quần chúng trong mặt trận Việt Minh
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám là thắng lợi của những chiến lược,
sách lược tài tình của Đảng cộng sản Đông Dương mà đứng đầu là chủ tịch Hồ
Chí Minh Có thể khẳng định ngoại giao nắm bắt thời cơ của Người đã được sử
dụng một cách linh hoạt trong cuộc Tổng khởi nghĩa Nhờ kịp nắm bắt thời cơ và
chuẩn bị tốt thực lực cách mạng Đảng ta và Hồ Chí Minh đã phát động Tổng
khởi nghĩa và giành chính quyền trong cả nước Khi thực lực của các nước lớn
Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật theo thỏa thuận quốc tế thì chính quyền
cách mạng đã đứng ở vị trí chủ nhân để đón tiếp và giao thiệp với họ
Năm 1945 thời cơ ngàn năm có một mới đến với cách mạng Việt Nam, thời
cơ đến chỉ trong vòng hai tuần lễ, lúc mà phát xít Nhật vừa đầu hàng, quân Đồng
minh chưa kịp kéo vào, quyền lực ở Đông Dương còn trống rỗng, nhân dân ta
náo nức chuẩn bị hành động Nhân tố bên trong và bên ngoài trở nên thuận lợi
cho cách mạng thành công trong khoảnh khắc lịch sử Đánh giá một trong các
nguyên nhân thành công của cách mạng tháng Tám, chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đúc kết thành chữ khéo: “Trước ngày cách mạng tháng Tám, chúng ta chưa có
chính quyền, chưa có quân đội chính quy, mặt trận dân tộc còn nhỏ hẹp và bí
mật Nghĩa là sức ta rất thiếu thốn Nhưng vì ta khéo lợi dụng điều kiện quốc tế
bên ngoài và ta khéo đoàn kết và khéo Tổng động viên trong nước cho nên ta đã
đổi thế yếu thành thế mạnh, đã thắng ba kẻ địch, đã đưa cách mạng đến thắng lợi
Độc lập đến thành công”
Và chúng ta thấy rằng, việc nắm bắt đúng tình hình diễn biến trên thế giới,
khu vực và trong nước, sẽ tạo nên được những thời cơ cho sự thắng lợi của cách
mạng Và chủ tịch Hồ Chí Minh là một điển hình trong việc dự báo và nắm bắt
thời cơ một cách thần thái mọi sự kiện, đã tạo ra thời cơ lớn cho cách mạng Việt
Nam, đưa cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng
2.2 Quá trình phát triển phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh về dự
báo và nắm bắt thời cơ thời kỳ 1945 – 1946
2.2.1 Thế sự Việt Nam sau mùa thu tháng Tám 1945
Ngày 02 tháng 09 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), chủ tịch Hồ