Trong điều kiện cụ thể của tỉnh Bến Tre, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII năm 2000 đã xác định thủy sản là mũi đột phá về kinh tế của tỉnh, trên cơ sở đó đã ra nhiều nghị quyế
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bến Tre là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, gồm ba cù lao kết hợp
mà thành, với diện tích tự nhiên 2321km2, trong đó có 65 km bờ biển và địa hình sông rạch chằng chịt là điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển ngành kinh tế thủy sản Trong nhiều năm qua, Tỉnh ủy Bến Tre luôn xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn nên đã có sự tập trung đầu tư phát triển và đã tạo được kết quả nhất định
Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng ta về chính sách kinh tế nhiều thành phần, định hướng XHCN, trong đó xác định thành phần KTTT cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện cụ thể của tỉnh Bến Tre, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (năm 2000) đã xác định thủy sản là mũi đột phá về kinh tế của tỉnh, trên cơ sở đó đã ra nhiều nghị quyết chuyên đề để phát triển ngành thủy sản của tỉnh, trong đó đặc biệt quan tâm về công tác tổ chức lại sản xuất trong ngành thủy sản, khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất công ty cổ phần, HTX, THT… để tác động tích cực trong phát triển kinh tế ngành Thực tế trong những năm qua KTTT trong ngành thủy sản đã có nhiều chuyển biến tốt theo xu thế phát triển khách quan trong sản xuất kinh doanh của ngành, song bên cạnh cũng còn nhiều vấn đề đặt
ra về tổ chức, cơ chế hoạt động, chính sách, con người… do ảnh hưởng tư duy, nhận thức
cũ về KTTT trong một số cán bộ và nhân dân, nên lĩnh vực KTTT trong ngành thủy sản chuyển biến chậm, đóng góp chung cho sự phát triển của ngành nói riêng và kinh tế tỉnh nhà nói chung chưa cao
Vì vậy, tôi chọn đề tài " Kinh tế tập thể trong ngành thủy sản tỉnh Bến Tre: Thực
trạng và giải pháp " làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ khoa học Kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển của tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhìn một cách khái quát, về các thành phần kinh tế, KTTT, KTHT và HTX trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta đã được nhiều nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, nhà nghiên
Trang 3cứu quan tâm ở góc độ, phạm vi, mức độ khác nhau và đã có nhiều bài viết của Trương Tấn Sang, GS Lê Xuân Tùng, GS.Lưu Văn Sùng, PGS Hoàng Việt, PGS.TS Vũ Văn Phúc, PGS.TS Nguyễn Huy Oánh, … được đăng trên báo, tạp chí; cùng với một số công trình, đề tài tiến sĩ, thạc sĩ viết về KTTT như:
- "Kinh tế hợp tác trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", năm 2001 của tiến sĩ
Nguyễn Thanh Hà
- "Những hình thức kinh tế hợp tác ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay" năm 1997,
của thạc sĩ Lê Công Đấu
- "Kinh tế hợp tác trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Thực trạng và giải pháp", năm
2003, của thạc sĩ Lê Thúy Hường
Trong ngành thuỷ sản, đã có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Minh về đề tài
"Phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế biến thủy sản xuất
khẩu", năm 1996 và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề tài công nghiệp chế biến thủy
sản của Lê Thị Đào Thanh (Kiên Giang), Lưu Vĩnh Nguyên (An Giang) hoặc đi vào thành
phần kinh tế tư nhân như luận văn "Phát huy năng lực kinh tế tư nhân trong ngành thủy
sản ở Kiên Giang" của thạc sĩ Võ Thị Xinh
Nhìn chung đã có rất nhiều công trình, bài viết, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về KTTT nhưng ở góc độ chung của nền kinh tế quốc dân hoặc trong lĩnh vực nông nghiệp chung, và cũng chưa có đề tài luận văn nào nghiên cứu về KTTT trong ngành thủy sản nói chung, trên địa bàn tỉnh Bến Tre nói riêng
Trong khuôn khổ của luận văn này, tôi muốn kế thừa những thành quả nghiên cứu từ những đề tài có liên quan trên, cùng với quá trình nghiên cứu, thực tế của bản thân từ những kết quả đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại về KTTT trong ngành thủy sản trên địa bàn tỉnh Bến Tre để đề xuất giải pháp phát triển trong thời gian tới
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Luận văn nhằm mục đích: Khẳng định rõ hơn vai trò, tính tất yếu khách quan của việc phát triển KTTT trong ngành thủy sản, đồng thời thông qua việc nghiên cứu thực trạng, tình hình KTTT trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre để đưa ra các giải pháp để tiếp
Trang 4tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT trong ngành thủy sản tỉnh Bến Tre
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Luận giải vai trò và sự cần thiết phải phát triển KTTT trong ngành thủy sản ở Bến Tre
+ Phân tích đánh giá thực trạng KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre từ năm 2000 đến nay, mặt được, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết
+ Từ thực trạng, xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp để tiếp tục phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn lấy đối tượng là KTTT trong ngành thủy sản Bến Tre từ năm 2000 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm cùng những tổng kết kinh nghiệm của Đảng về chính sách kinh tế nhiều thành phần; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài
- Về phương pháp nghiên cứu: Vận dụng những phương pháp chung của kinh tế chính trị, đó là phương pháp trừu tượng hoá khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, kết hợp lý luận với thực tiễn, đồng thời khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá vấn đề, rút ra kết luận
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận chung vào việc phân tích tình hình cụ thể trong một lĩnh vực của địa phương làm rõ vai trò của KTTT trong ngành thủy sản của tỉnh Bến Tre Trên
cơ sở đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi cho việc phát triển thế mạnh kinh tế ở địa bàn tỉnh Bến Tre
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua nghiên cứu, phân tích thực trạng tình hình, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế trong ngành thủy sản ở Bến Tre, luận văn có thể làm tài
Trang 5liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, hoạch định chính sách, chỉ đạo thực tiễn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Đồng thời có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo trong công tác giảng dạy ở Trường Chính trị tỉnh
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương,
6 tiết
Trang 61.1.1 Lý luận chung về kinh tế tập thể
Xây dựng và phát triển KTTT là một nhiệm vụ quan trọng trong đường lối xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta, được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 đã nêu: "Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất kinh doanh, được tổ chức dưới nhiều hình thức, trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi, Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả" [14, tr.143] Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định "Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân" [9, tr.96] và "kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong
đó hợp tác xã là nòng cốt" [9, tr.98] Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã cụ thể hóa quan điểm nghị quyết Đại hội IX, chỉ ra bước đi cho KTHT, HTX "cần củng cố những tổ hợp tác và hợp tác xã hiện có, tiếp tục phát triển rộng rãi kinh tế hợp tác với nhiều hình thức, quy mô, trình độ khác nhau trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn có điều kiện" [10, tr.29]
1.1.1.1 Khái niệm về kinh tế tập thể
* Về phạm trù kinh tế tập thể
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nước ta có 5 thành phần kinh tế, đó là: kinh tế nhà nước, KTHT (mà nòng cốt là các HTX), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Nghị quyết nêu "Kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề của sản xuất kinh doanh và đời sống" [8, tr.95]
Trang 7Đến Đại hội lần thứ IX, Đảng ta chủ trương giữ cách phân định các thành phần kinh
tế chủ yếu căn cứ vào tính chất sở hữu, bao gồm các thành phần kinh tế đã được Cương lĩnh Chính trị năm 1998 và Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng xác định và căn cứ vào tình hình thực tế Đảng ta xác định nước ta có 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, KTTT, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy, KTTT là một thành phần kinh tế nằm trong tổng thể cơ cấu thành phần kinh
tế ở nước ta KTTT là hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề sản xuất, kinh doanh và đời sống mà từng hộ không làm được hoặc làm không có hiệu quả KTTT với nhiều hình thức hợp tác đa dạng từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến HTX, mà nòng cốt là HTX, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể
Các thành viên KTTT bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn cùng góp vốn và góp sức, tuân thủ theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi
Căn cứ vào tính chất, mức độ gắn kết của quan hệ hợp tác, vào tính chất, trình độ pháp lý trong cơ chế điều hành các quan hệ hợp tác giữa các thành viên tham gia, vào tính chất nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động, vào tính chất mục đích của các chủ thể tham gia hợp tác mà KTTT có thể được phân chia thành nhiều hình thức, quy mô, trình độ khác nhau, từ thấp đến cao
* Các mô hình KTTT
- Hợp tác và KTHT
Hợp tác: là sự kết hợp sức lực của các cá nhân, đơn vị để tạo ra sức mạnh lớn hơn,
sức mạnh của tập thể để thực hiện những công việc mà từng cá nhân, đơn vị riêng lẻ khó thực hiện, không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả so với không hợp tác
C.Mác viết: “Cái hình thức lao động, trong đó có nhiều người làm việc theo kế hoạch bên cạnh nhau và cùng với nhau, trong một quá trình sản xuất hay trong những quá trình khác nhau nhưng gắn liền với nhau thì gọi là hợp tác” [23, tr.473]
Trang 8Hợp tác xuất phát từ nhu cầu khách quan, là hình thức tất yếu nẩy sinh trong quá trình lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con người, C.Mác đã chỉ rõ:
Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ và những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó [26, tr.552]
Mặt khác, từ khi xuất hiện, loài người đã sống thành cộng đồng, có tổ chức, nhu cầu đòi hỏi phải có sự hợp tác phối hợp hoạt động với nhau trong lao động sản xuất, trong chinh phục tự nhiên và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Khái niệm hợp tác được dùng phổ biến cho nhiều lĩnh vực xã hội loài người Còn KTHT là phạm trù hẹp hơn, chỉ phạm vi hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, là sự hợp tác tự nguyện phối hợp, hỗ trợ, giúp
đỡ nhau giữa các chủ thể kinh tế C.Mác đã chỉ ra rằng trong lao động sản xuất hợp tác lao động làm nảy sinh sức sản xuất của lao động xã hội, nó có tác dụng làm tăng năng suất lao động So với sản xuất nhỏ cá thể (riêng lẻ) hợp tác có những ưu thế là:
+ Tiết kiệm được tư liệu sản xuất
+ Kích thích thi đua, do đó nâng cao năng suất lao động
+ Tạo ra sức sản xuất mới, sức sản xuất cộng thể
+ Mở rộng hoặc thu hẹp không gian khi cần thiết
Ngoài ra, nó còn đảm bảo tính liên tục đều đặn, tính thời vụ, tính khẩn trương của quá trình sản xuất
Chính vì vậy, sự phát triển của các hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế
Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, thì nhu cầu về hợp tác lao động ngày càng tăng, mối quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ và mở rộng
Trong lao động sản xuất, các hình thức hợp tác diễn ra do nhu cầu tất yếu khách quan với nhiều loại hình, tính chất hợp tác, quan hệ hợp tác cũng được nâng dần từ thấp đến cao
Trang 9+ Hợp tác giản đơn: Là loại hình hợp tác đơn giản nhất, đã xuất hiện từ xa xưa ở
nông thôn nước ta
Trong quá trình lao động sản xuất nảy sinh nhu cầu phải có sự gắn kết nhau, thoạt đầu chỉ là những hình thức hợp tác đơn giản; diễn ra ngẫu nhiên, nhất thời như vần đổi công cho nhau như trong canh tác nông nghiệp, hợp tác với nhau để cày bừa, gieo trồng, thu hoạch nhằm đảm bảo tính mùa vụ; cùng nhau khắc phục thiên tai, sâu bệnh loại hình hợp tác này thường tồn tại dưới dạng tổ vạn vần đổi công, các chủ thể hợp tác đổi công cho nhau theo từng khâu công việc, không thường xuyên, loại hình hợp tác này không tính giá trị ngày công, họ tự nguyện thỏa thuận nhau khi có nhu cầu, không xây dựng thành văn bản quy chế hoạt động, không mang tính pháp lý
+ Tổ nghề nghiệp, tổ tương trợ kinh tế: là loại hình hợp tác giản đơn được hình
thành, phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản hiện nay, các tổ chức này được thành lập tự nguyện trên cơ sở có cùng nội dung, hình thức, mục đích kinh doanh giống nhau để nhằm trao đổi kinh nghiệm, kỹ thuật, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, và được xây dựng dựa trên cơ sở quan hệ tình cảm tự nguyện và
cơ sở tập quán, truyền thống cộng đồng Đây tuy là loại hình hợp tác giản đơn, song có tác dụng tốt trong lĩnh vực hoạt động sản xuất nông nghiệp hiện nay nói chung và trong ngành thủy sản nói riêng tồn tại dưới dạng các chi hội, câu lạc bộ nông dân như: tổ chăn nuôi (tổ nuôi cá, tổ nuôi tôm, tổ nuôi ong…), tổ làm vườn, tổ trồng trọt, tổ dịch vụ,… Các thành viên trong tổ giúp nhau trao đổi kinh nghiệm, trao đổi kỹ thuật, chăm sóc, phát hiện, phòng trừ sâu bệnh, chọn giống, giúp nhau về thông tin tiếp cận thị trường, về nhu cầu, giá cả, nơi tiêu thụ sản phẩm
+ Tổ KTHT (gọi tắt là THT)
Là loại hình KTHT giản đơn, song khác với sự hợp tác nhất thời, ngẫu nhiên (là loại hình khi không có nhu cầu, thì THT hầu như không hoạt động), mà đây là loại hình hợp tác diễn ra thường xuyên và ổn định hơn, dựa trên cơ sở phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất
Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ xã hội hóa sản xuất phát triển, nhu cầu hợp tác ngày càng tăng đòi hỏi hình thành liên kết hợp tác giữa các chủ
Trang 10thể sản xuất, một số hộ chuyên sản xuất, đảm nhiệm một khâu công việc, liên kết hợp tác với các hộ ở khâu khác trong quá trình tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh Sự liên kết trong sản xuất dần phát triển hơn, trước hết là chức năng lưu thông ở hợp tác sản xuất, dần tách ra thành một số THT đa dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như chỉ chuyên làm dịch vụ cung ứng vật tư đầu vào, chuyên chế biến, hay chuyên tiêu thụ sản phẩm Vì vậy loại hình KTHT này được hình thành gắn với nhiều tên gọi khác nhau tùy theo tính chất nghề nghiệp phạm vi hoạt động mà có tên gọi như THT tín dụng, THT nuôi cá, THT nuôi tôm,
tổ trồng và bảo vệ rừng , Đặc trưng chung của loại hình hợp tác này mang tính ổn định, thường xuyên, có cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý lãnh đạo, có quy chế hoạt động được các thành viên thảo luận dân chủ và được xây dựng thành văn bản
Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, và hợp tác
là một nhu cầu khách quan, là hình thức kinh tế mà nhờ đó các chủ thể kinh tế hộ có điều kiện phát triển Chính vì vậy, quan hệ KTHT phải được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và tính tự chủ, độc lập của các thành viên tham gia
Trong các loại hình KTHT thì hình thức THT có nội dung nguyên tắc hoạt động gần giống với HTX nhưng THT hoạt động không có điều lệ và không có tư cách pháp nhân
- Hợp tác xã:
Hợp tác xã là loại hình KTHT phát triển ở trình độ cao hơn loại hình KTHT giản đơn Trên bình diện thế giới, HTX xuất hiện trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đầu tiên là ở nước Anh vào giữa thế kỷ XIX Để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh
tế tự do cạnh tranh, những người sản xuất nhỏ cần phải hợp tác, hợp vốn với nhau với tôn chỉ, mục đích chung để nương tựa nhau chống lại sự chèn ép, bóc lột và bần cùng hóa của các nhà tư bản lớn, quá trình đó đã cho ra đời và hình thành các hình thức liên kết, hợp tác
có tổ chức của những người lao động, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi, có nhiều đóng góp vào phúc lợi của dân chúng trong nhiều nước
Liên minh HTX quốc tế ICA (International cooperative alliance) được thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh đã xây dựng và đưa ra định nghĩa về HTX và các nguyên tắc của nó để làm cơ sở cho các hoạt động của HTX Đến đại hội lần thứ 31 vào tháng 9/1995 ICA đã thông qua tuyên bố về sự xác nhận HTX, hoàn thiện định
Trang 11nghĩa, các giá trị cơ bản và các nguyên tắc đã sửa đổi của HTX nhằm hướng dẫn hoạt động của các tổ chức HTX trong giai đoạn đầu của thế kỷ XXI Theo đó “HTX là một hiệp hội
tự chủ của những người tự nguyện liên kết với nhau để đáp ứng những nguyện vọng và nhu cầu chung về kinh tế, xã hội và văn hóa của họ, hoạt động thông qua một tổ chức sở hữu chung, được quản lý và kiểm soát dân chủ bởi các xã viên” và:
Hợp tác xã dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra hợp tác xã, các xã viên hợp tác xã tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác [1]
Đối với nước ta, trong quá trình xây dựng cải tạo XHCN, phát triển KTTT mà nòng cốt là HTX là vấn đề hết sức to lớn và quan trọng đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Thời kỳ 1958 - 1980 KTHT với HTX phát triển mạnh trong phạm vi cả nước và đã có nhiều đóng góp to lớn trong xây dựng nông thôn, phát triển cộng đồng, đặc biệt trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc ta Song một thời gian dài do nhận thức chủ quan, nóng vội, bất chấp quy luật khách quan chúng ta đã đồng nhất cải tạo HTX với tập thể hóa, hợp tác hóa với HÎP T¸C X·; xây dựng các HTX không hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện mà thực hiện bằng các biện pháp hành chính, xem nhẹ các biện pháp kinh tế, coi thường các bước quá độ trung gian trong cải tạo XHCN Ở thời kỳ này, nếu có các hình thức tổ chức sản xuất ở trình độ thấp như tổ đổi công, tổ đoàn kết sản xuất, HTX bậc thấp cũng chỉ là tạm thời, xu hướng chung nhảy lên mau trình độ tập thể hóa bậc cao Chính vì vậy đã tạo nên nhiều bước thăng trầm trong lịch sử quá trình phát triển tổ chức HTX Khó khăn nhất là thời điểm nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế mới, hàng loạt HTX bị đổ vỡ Song, từ nhu cầu thực tế khách quan và quá trình thực hiện Chỉ thị 100, Nghị quyết 10 và các giải pháp hiệu quả của Chính phủ đề ra hằng năm để vực dậy khu vực KTTT, đã nảy sinh nhiều hình thức KTHT, liên kết sản xuất, song chưa được định hình về tổ chức Ở các địa phương một số HTX đã tìm tòi thử nghiệm các giải pháp thiết thực để củng cố và chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý nhằm thích ứng cơ chế mới
Trang 12Tổng kết thực tiễn, Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã đề ra nhiệm vụ phải xây dựng HTX kiểu mới - HTX cổ phần và 3/1996 Quốc hội khóa IX đã ban hành Luật HTX với những nội dung về tổ chức, quản lý, về phương thức hoạt động đối với HTX kiểm mới Theo đó, luật HTX năm 1996 đã định nghĩa:
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ, do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế, xã hội của đất nước [33, tr.5]
Qua thời gian tổ chức thực hiện, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra, tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI ngày 18 tháng 11 năm 2003 đã thông qua Luật HTX mới đã được
bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh Luật HTX năm 2003 đã định nghĩa "HTX là tổ chức KTTT
do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển KT-XH của đất nước
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật” [34, tr.8]
* Đặc trưng của mô hình kinh tế hợp tác xã
Qua các định nghĩa về HTX đã thể hiện những đặc điểm chung cơ bản của mô hình HTX kiểu mới, đó là:
Thứ nhất: HTX là tổ chức KTTT do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân góp sức,
góp vốn lập ra, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình và được bình đẳng như các thành phần kinh
tế khác
Định nghĩa đã thể hiện rõ bản chất HTX là tổ chức KTTT mang tính xã hội cao bao
gồm cả thể nhân, pháp nhân (các tổ chức KT-XH có tư cách pháp nhân), cán bộ công
Trang 13chức, cả người ít vốn lẫn người nhiều vốn nhưng phải tuân theo những điều kiện nguyên tắc chặt chẽ về gia nhập, ra khỏi HTX, tổ chức quản lý HTX được quy định trong luật Mặt khác, HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện và có quyền tự chủ, bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạt động và chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các tổ chức kinh tế khác theo thỏa thuận, hợp đồng đã ký kết Định nghĩa khắc phục được tư tưởng xem HTX nặng về tổ chức xã hội và là tổ chức công
cụ của chính quyền cơ sở
Thứ hai: Trong xây dựng và phát triển phải tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của HTX:
- Tự nguyện gia nhập và ra khỏi HTX theo quy định của điều lệ HTX Các đối tượng
trên cơ sở có nhu cầu phù hợp, giác ngộ tôn chỉ, mục đích của HTX mà hoàn toàn tự nguyện giam gia và khi vì lý do nào đó muốn xin ra thì nguyện vọng của họ cũng phải được tôn trọng, tránh cưỡng bức gò ép Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo động viên được nhiệt tình của các đối tượng tham gia
- Dân chủ, bình đẳng và công khai, xã viên có quyền trong tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát HTX; những vấn đề lớn trong sản xuất, kinh doanh của HTX đều phải được đại hội xã viên thảo luận dân chủ và thông qua, các xã viên đều có quyền ngang nhau trong biểu quyết theo hình thức mỗi người một phiếu bầu; giá trị mỗi phiếu như nhau, không phụ thuộc vào mức vốn góp; đồng thời HTX phải thực hiện tốt việc công khai cho xã viên biết theo định kỳ về phương thức kế hoạch sản xuất kinh doanh, công khai tài chính, phân phối thu nhập của HTX Đây là nguyên tắc then chốt có liên quan đến sự tồn tại và phương hướng phát triển lành mạnh của HTX
- Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX là tổ chức kinh tế, hoạt động với mục đích lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên Trong thành lập và hoạt động HTX
có quyền được lựa chọn ngành, nghề sản xuất kinh doanh phù hợp mà pháp luật không cấm theo ý chí và nguyện vọng của xã viên; hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường, liên doanh liên kết với các đơn
vị thuộc mọi thành phần kinh tế, trong phân phối lợi ích và giải quyết những vấn đề có liên
Trang 14quan đến nghĩa vụ và quyền lợi, phải tuân thủ nguyên tắc cùng có lợi, hài hòa giữa xã viên
và xã viên, giữa xã viên và HTX, HTX với lợi ích cộng đồng Nguyên tắc này đã xác định
rõ được điều kiện tồn tại và phát triển của HTX ở chỗ vai trò trách nhiệm làm chủ của các
xã viên đối với HTX, chủ động trong phát huy nguồn lực, nhất là nguồn lực sẵn có trong
xã viên HTX, năng động, khôn ngoan trong tìm kiếm cơ hội kinh doanh và trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển
- Hợp tác và phát triển cộng đồng: là nguyên tắc và tiêu chí mang tính đặc trưng của HTX kiểu mới gắn kết lợi ích kinh tế của các thành viên HTX với lợi ích xã hội và phát triển cộng đồng HTX là tổ chức KTHT tự nguyện, mọi hoạt động đều nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phương châm hợp tác giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, tăng thu nhập cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các thành viên tham gia Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao vai trò, tính chất xã hội của HTX trong tác động tích cực giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần tích cực trong thực hiện chủ trương giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa xã hội, tăng cường tình làng nghĩa xóm, đoàn kết cộng đồng, đó là nhân tố quan trọng để HTX phát triển bền vững
Thứ ba: Quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối trong HTX
- Về quan hệ sở hữu, khác với mô hình HTX kiểu cũ là sở hữu tập thể về tư liệu sản
xuất, khi người nông dân vào HTX phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu vào thành tài sản chung của tập thể, sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình không được thừa nhận; còn đối với HTX kiểu mới được “dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể”
- Khi gia nhập HTX, mọi xã viên bắt buộc phải góp vốn theo quy định của điều lệ, vốn góp của xã viên là số tiền hoặc giá trị tài sản, bao gồm cả giá trị quyền sử dụng đất, quyền sở hữu các phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật và các loại giấy tờ có giá trị khác được quy ra tiền Để tạo điều kiện thuận lợi cho người không có khả năng về tài chính góp vốn, nghị định Chính phủ hướng dẫn thi hành luật quy định người tham gia có thể góp vốn bằng giá trị sức lao động được quy ra tiền Vốn góp cổ phần có thể nhiều hơn mức tối
Trang 15thiểu nhưng không được vượt quá 30% tổng vốn điều lệ của HTX Vốn góp cổ phần của
xã viên chỉ giao quyền sử dụng cho tập thể và được trả lại cho xã viên khi ra khỏi HTX
Sở hữu tập thể bao gồm tài sản chung của tập thể, thành quả lao động chung của tập thể, tài sản tập thể được cho tặng… cụ thể gồm các công trình phục vụ sản xuất, công trình phúc lợi văn hóa, xã hội, kết cấu hạ tầng phục vụ chung cho cộng đồng dân cư được xây dựng từ quỹ phát triển sản xuất, quỹ phúc lợi của HTX, các nguồn vốn do Nhà nước trợ cấp, quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước
Đối với HTX kiểu mới, tài sản riêng của cá nhân và hộ gia đình được tôn trọng, xã viên có toàn quyền sử dụng vốn, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu riêng để sản xuất kinh doanh, một thành viên có thể tham gia ở nhiều HTX nếu có nhu cầu; và nếu HTX có nhu cầu sử dụng các phương tiện sản xuất đó thì phải thuê của xã viên
- Về quan hệ tổ chức quản lý: khác với cơ chế quản lý HTX kiểu cũ, quan hệ giữa xã viên với HTX là quan hệ phụ thuộc; xã viên bị tách rời khỏi tư liệu sản xuất, trở thành lao động làm công theo sự điều hành tập trung của HTX, tập trung quyền quản lý điều hành ở Ban chủ nhiệm Đặc trưng chung của HTX kiểu mới là hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX không bao trùm toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của xã viên, mà chỉ diễn ra ở từng công đoạn, khâu công việc nhằm hỗ trợ phát huy thế mạnh của từng hộ và do đó phát huy quyền làm chủ của xã viên Xã viên trực tiếp tham gia quản lý, giám sát hoạt động HTX theo nguyên tắc quản lý dân chủ, xã viên quyết định công việc quan trọng của HTX một cách bình đẳng, không phân biệt vốn góp ít hay nhiều Bộ máy quản lý HTX được tổ chức gọn nhẹ, hiệu quả nhưng phải tách rõ chức năng quản lý với chức năng điều hành, nhưng tùy theo yêu cầu, trình độ phát triển của HTX mà có thể thành lập một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành hoặc thành lập riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành Ban quản trị HTX là bộ máy quản lý HTX do đại hội xã viên bầu trực tiếp Trường hợp HTX không tổ chức riêng bộ máy quản lý và bộ máy điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản
lý và điều hành là chủ nhiệm HTX, chủ nhiệm HTX đồng thời là trưởng ban quản trị ở trường hợp này phải là xã viên HTX và do đại hội xã viên bầu Trường hợp HTX tổ chức riêng bộ máy quản lý và điều hành thì người đứng đầu bộ máy quản lý là trưởng ban quản trị; bộ máy điều hành là Ban chủ nhiệm và người đứng đầu là chủ nhiệm HTX, ở trường
Trang 16hợp này chủ nhiệm có thể thuê người ngoài, không phải là xã viên HTX để điều hành HTX
- Về quan hệ phân phối: Trong các HTX kiểu cũ, chế độ phân phối cho xã viên HTX được tính theo giá trị ngày công lao động, nặng tính bình quân Còn đối với HTX kiểu mới, phần lãi của HTX sau khi nộp thuế và trả bù các khoản lỗ của năm trước (nếu có) phải được trích lập các qũy không chia: qũy phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và các qũy khác, sau đó mới chia lãi cho xã viên, ngoài tiền công được nhận theo số lượng và chất lượng lao động, còn được nhận lãi theo vốn góp và theo mức độ sử dụng dịch vụ của xã viên
Lợi nhuận của HTX càng cao lợi tức cổ phần theo vốn góp càng lớn là động lực khuyến khích cho xã viên hăng say làm việc và gắn bó với HTX Mặt khác, lợi nhuận HTX càng cao thì bộ phận vốn và tài sản thuộc sở hữu tập thể thông qua việc trích qũy phát triển sản xuất, quĩ dự phòng, quỹ phúc lợi càng lớn tạo được tiềm lực kinh tế của bản thân HTX và là điều kiện để HTX phát triển bền vững, phục vụ cho lợi ích của xã viên tốt hơn
Thứ tư: Tổ chức và hoạt động của HTX không bị giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa
bàn (trừ một số lĩnh vực có quy định riêng) với quy mô linh hoạt và đa dạng về hình thức, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng ngành, với nhiều trình độ phát triển từ thấp đến cao Có những HTX chỉ hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chung về một hay một số dịch
vụ đầu vào, đầu ra, chuyên ngành, dịch vụ tổng hợp đa chức năng; có HTX sản xuất kết hợp dịch vụ, HTX sản xuất kinh doanh ở mức độ hợp tác toàn diện, từ hợp tác phát triển thành các liên hiệp HTX, liên minh HTX
Thứ năm: KTTT mà nòng cốt là các HTX và kinh tế hộ tự chủ có mối quan hệ gắn bó
tác động hỗ tương, cùng nhau phát triển Nếu như trong HTX kiểu cũ, kinh tế cá thể, hộ gia đình không được chấp nhận, hoặc chỉ được coi là kinh tế phụ và bị hạn chế trong một giới hạn nhất định, thì trong HTX kiểu mới được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế
hộ Vì HTX không thủ tiêu tính tự chủ sản xuất kinh doanh của các thành viên, chỉ làm những gì mà mỗi thành viên riêng lẻ không làm được hoặc làm không hiệu quả để hỗ trợ cho các thành viên phát triển Khi kinh tế hộ càng phát triển càng cần có nhu cầu hợp tác
và KTHT phát triển tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Bởi lẽ trong nông nghiệp, hộ nông dân vừa là đơn vị kinh tế tự chủ, lại vừa là người chủ của HTX, là người tiêu dùng
Trang 17các dịch vụ đầu vào và bán sản phẩm cho HTX, do đó, kinh tế hộ càng phát triển càng tạo
ra những tiền đề kinh tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế HTX và đồng thời KTTT, kinh
tế HTX phát triển là môi trường quan trọng để hỗ trợ, bổ sung cho kinh tế hộ phát huy hết khả năng của mình trong sản xuất kinh doanh
Như vậy, HTX kiểu mới không tách người lao động ra khỏi tư liệu sản xuất, mà còn tạo những điều kiện để cho họ phát huy những năng lực lao động và tiềm năng của tư liệu sản xuất Khi HTX trở thành đòn bẩy để phát triển kinh tế của các chủ thể kinh tế tự chủ, thì HTX càng có
cơ sở để tồn tại, hợp tác kinh tế càng trở thành nhu cầu cần thiết của kinh tế hộ trong quá trình sản xuất kinh doanh
1.1.1.2 Vai trò của kinh tế tập thể trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Kinh tế tập thể là một hình thức tổ chức kinh tế để đưa người sản xuất từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin bằng cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học khẳng định tính tất yếu và vai trò to lớn của KTTT trong nền kinh tế quốc dân Các ông đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của hình thức KTHT là con đường để đưa nông dân đi tới CNXH Trong tác phẩm "Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức", Ph Ăng ghen cho rằng sau khi giành chính quyền: Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết phải hướng quyền sở hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể của họ vào con đường kinh doanh hợp tác, không phải bằng bạo lực mà bằng những tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội Vì theo các ông, KTHT có vai trò hết sức quan trọng, lôi cuốn đại bộ phận dân cư hoạt động trong nền kinh tế, cũng là hình thức tổ chức kinh tế mà qua đó có thể dần xóa bỏ tình trạng bóc lột, nhưng mặt khác là hình thức có hiệu quả để đảm bảo được sự kết hợp hài hòa lợi ích của những tiểu nông với lợi ích của xã hội Hợp tác hóa là con đường để lôi cuốn những người sản xuất nhỏ vào công cuộc xây dựng CNXH Ph.Ăng ghen viết:
Chúng ta… chỉ có cách là đề nghị thực hiện tập hợp các tài sản lại thành một cơ sở kinh doanh hợp tác xã khiến cho có thể xóa bỏ được dần tình trạng bóc lột công nhân làm thuê và có thể dần dần tiến hành việc cải tạo thành những ngành có những quyền lợi và nghĩa vụ như nhau trong một hợp tác xã sản xuất toàn quốc quy mô lớn [26, tr.589]
Trang 18Và, trong bức thư gởi Bêben, Ph.Ăng ghen khẳng định "trong bước quá độ lên nền kinh
tế cộng sản chủ nghĩa đầy đủ, chúng ta phải áp dụng nền sản xuất hợp tác xã coi như một giai đoạn trung gian trên quy mô rộng lớn" [25, tr.691]
Kế tục sự nghiệp của C.Mác và Ph Ăngghen, bằng phương pháp biện chứng mác-xít
và bằng hoạt động thực tiễn của mình, Lênin đã nghiên cứu và phát triển các luận điểm KTTT, KTHT mà chủ yếu là HTX trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH và vận dụng vào nước Nga Xô viết với Chính sách kinh tế mới (NEP) Trong tác phẩm "Bàn về chế độ hợp tác xã", V.I.Lênin đã chỉ rõ vai trò quan trọng của HTX "hợp tác xã là bước quá độ sang một chế độ mới bằng con đường giản đơn nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất đối với nông dân" Bởi vì, theo V.I.Lênin, HTX là cơ sở để thiết lập và củng cố khối liên minh công nông, đồng thời là tổ chức mà thông qua đó phát huy được sức mạnh của quần chúng lao động Người viết "hợp tác xã tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức hàng triệu người, sau đó toàn thể dân chúng; và tình hình ấy lại là một điều lợi rất lớn cho bước quá độ tương lai từ chủ nghĩa tư bản nhà nước lên chủ nghĩa xã hội" [20, tr.272]
- Kinh tế tập thể với nòng cốt là các HTX đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, làm cho sức sản xuất được giải phóng, các nguồn tiềm năng phục vụ sản xuất như vốn, đất đai, lao động, công nghệ được khai thác và sử dụng ngày càng hợp lý và hiệu quả
Cùng với sự giúp đỡ, kiểm soát, hướng dẫn của Nhà nước và tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, KTHT, HTX là môi trường thuận lợi để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tăng khả năng đầu tư, đổi mới thiết bị, công nghệ, làm phát triển lực lượng sản xuất, nâng hiệu quả năng suất lao động, từ đó tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lạc hậu, què quặt,
ít hiệu quả sang một cơ cấu ngày càng phù hợp xu hướng phát triển của nền sản xuất hiện đại Như vậy, có thể nói KTTT có vai trò to lớn trong tác động giúp nền kinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ lên nền đại công nghiệp cơ khí như V.I.Lênin đã khẳng định: "Chính sách hợp tác một khi thành công, sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏ phát triển và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ trong một thời hạn không nhất định - lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp" [19, tr.273]
Trang 19Kinh tế tập thể phát triển đa dạng với nhiều hình thức, cấp độ từ giản đơn đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn Thông qua các hình thức hợp tác lao động sản xuất, liên kết, liên doanh đa dạng và linh hoạt đó, người nông dân và cán bộ quản
lý có điều kiện làm quen với nếp làm ăn tập thể, nâng cao trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh trước khi tiến tới các hình thức cao hơn trong quan hệ sản xuất
- Là cầu nối cho sự phát triển, trao đổi hàng hóa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn, đồng thời là cơ sở thúc đẩy sự phân công lao động xã hội:
Kinh tế tập thể với nhiều loại hình tổ chức KTHT mà trong đó nòng cố là HTX với nhiều loại hình sản xuất, dịch vụ phát triển làm cầu nối cho sự trao đổi hàng hóa giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa Nhà nước và nông dân thuận lợi, trên cơ sở đó thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển, tác động phân bố lại dân cư, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi thế so sánh giữa các vùng Mặt khác, phân công và hợp tác là hai mặt của quá trình phát triển kinh tế; nếu phân công lao động là con đường nâng cao hiệu quả kinh tế thì hợp tác tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình phân công lao động được thực hiện Khi nghiên cứu về các loại hình HTX, V.I.Lênin khẳng định sự cần thiết đối với HTX sản xuất và HTX tiêu dùng Người định nghĩa:
Hợp tác xã tiêu dùng là sự tập hợp công nhân và nông dân, nhằm mục đích cung cấp và phân phối những sản phẩm cần thiết cho họ Hợp tác xã sản xuất là tập hợp những người tiểu nông và thợ thủ công nhằm mục đích sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm vừa nông nghiệp (chẳng hạn như rau, sản phẩm sữa và ), vừa phi nông nghiệp (sản phẩm công nghiệp đủ mọi loại, đồ bằng gỗ, bằng sắt, bằng da, ) [20, tr.301]
Chính vì vậy, với vai trò to lớn của KTTT trong nền kinh tế hàng hóa là hết sức cần thiết Người khẳng định:
Thông qua hợp tác xã là bộ máy có khả năng tiến hành trao đổi hàng hóa, đảm bảo cho các hợp tác xã những khả năng rộng rãi để tiến hành thu mua, phát triển toàn diện công nghiệp địa phương và nâng cao đời sống nhân dân nói chung… Thừa nhận lưu thông kinh tế ở địa phương thì dĩ nhiên chúng ta cần hợp tác xã [20, tr.401]
Trang 20- Vận dụng cụ thể vào cách mạng XHCN ở Việt Nam, Đảng ta cũng đã xác định thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, trong đó KTTT cùng với kinh tế nhà nước là nền tảng của nền kinh tế quốc dân Tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận rõ vai trò quan trọng và Người đã đặc biệt quan tâm đến kinh tế HTX trong việc định
ra đường lối và chỉ đạo thực tiễn cho cách mạng Việt Nam Từ năm 1927, trong tác phẩm
"Đường Kách mệnh", Bác đã dành hẳn một chương để nói về HTX, qua đó lý giải nhiều vấn đề cốt lõi, cơ bản và mang tính định hướng về kinh tế HTX Trong đó, Người viết:
"Hợp tác xã trước là lợi ích cho dân, sau là bớt sức bóp nặn của tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa" [27, tr.314] Và Người nhấn mạnh: "Nói tóm lại, hợp tác xã là rất có lợi, cho nên dân các nước làm nhiều lắm" [27, tr.317]
Người xác định trong thời kỳ quá độ "chúng ta phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội", "phải công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa", nhưng Người lại nói
"Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính" [30, tr.180] Song muốn cho nông nghiệp thịnh, phát triển đầy đủ và người nông dân giàu có, ấm no, hạnh phúc thì cần phải có HTX, con đường đó là: "nông thôn phải kinh qua 2 cuộc cách mạng: cải cách ruộng đất là một cuộc, cuộc thứ hai là từ chỗ thực hiện tổ đổi công, hợp tác xã; nông trường tập thể đến chỗ xã hội hóa nông nghiệp" [28, tr.76] Và Người cũng đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa to lớn của việc tổ chức cho người nông dân vào làm ăn tập thể nhằm để tạo nên sức mạnh tập thể, người nông dân sẽ có điều kiện thêm sức để cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất Người phân tích:
Chúng ta nhất định phải nâng cao dần đời sống của đồng bào nông dân Nhưng nếu nông dân cứ làm ăn riêng lẻ thì đời sống không thể nâng cao Muốn nâng cao đời sống thì chỉ có một cách là tổ chức nông dân làm ăn tập thể, tức là tổ chức nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp Tổ chức hợp tác xã tốt thì mới có thể tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vật chất và văn hóa của nông dân và củng cố khối liên minh công nông [30, tr.61]
Vì vậy, HTX chính là con đường đưa nông dân đi lên CNXH
Trang 21Theo quan điểm Hồ Chí Minh phát triển nông nghiệp là phải phát triển toàn diện cả nông, lâm, ngư nghiệp, trong đó cũng cần chú ý phát triển các ngành phụ bổ sung cho sự phát triển của nông nghiệp Người cũng rất chú ý việc đưa những người làm nghề thủ công vào HTX tiểu thủ công nghiệp Người viết: "đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước… khuyết khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện" [29, tr.589]
Ngoài vai trò to lớn của HTX đối với phát triển kinh tế, theo Hồ Chí Minh, HTX còn góp phần to lớn trong xây dựng tình đoàn kết xóm làng, tinh thần tương thân tương ái nhằm xây dựng cộng đồng xã hội tốt đẹp ở nông thôn
Chính vì vậy, Người đã chỉ chỉ ra "Đường lối cải tạo xã hội chủ nghĩa của Đảng ta đối với nông nghiệp là đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mầm mống
xã hội chủ nghĩa), tiến lên hợp tác xã cấp thấp (nửa xã hội chủ nghĩa) rồi tiến lên hợp tác
xã cấp cao (xã hội chủ nghĩa)" Và Người khẳng định "Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa vững chắc thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt" [30, tr.15]
Củng cố và phát triển KTTT là quá trình phát triển lực lượng sản xuất song song với xây dựng hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN mà nền tảng là chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu, đó chính là cơ sở kinh tế vững chắc thực hiện quyền làm chủ của người lao động
Từ vị trí, vai trò quan trọng của thành phần KTTT trong nền kinh tế quốc dân, vận dụng vào điều kiện cụ thể của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; Nghị quyết Đại hội IX Đảng ta đã khẳng định mô hình tổng quát thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế (6 thành phần), "trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân" [9, tr.96]
Trên cơ sở đó, thông qua các chủ trương, Nghị quyết và bằng các công cụ chính sách
vĩ mô trong từng thời kỳ, Đảng và Nhà nước ta từng bước tạo điều kiện, cải cách đổi mới KTTT và kinh tế nhà nước phát triển vững chắc nhằm thực hiện tốt vai trò hướng dẫn thúc
Trang 22đẩy và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển phù hợp yêu cầu nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN
Những tư tưởng, quan điểm của C.Mác, Ph Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh cho thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của KTHT và HTX trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Nghiên cứu, vận dụng những tư tưởng đó nhằm phát triển KTTT trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và ngành thủy sản nói riêng ở nước ta và cụ thể trên địa bàn tỉnh Bến Tre là yêu cầu tất yếu khách quan, đúng quy luật, phù hợp quá trình phát triển KT-XH
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.1.2 Đặc điểm của kinh tế tập thể trong ngành thủy sản
Là loại hình kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp, ngành thủy sản với nhiều loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh phong phú như nuôi trồng, khai thác, đánh bắt, chế biến, tiêu thụ sản phẩm thủy sản Trong nuôi, tùy đặc điểm điều kiện tự nhiên, môi trường thổ nhưỡng (nước ngọt, mặn, lợ) mà có các đối tượng nuôi thích hợp như tôm sú, cua, nghêu, sò… ở nước lợ, mặn; tôm càng xanh, cá, ốc… nước ngọt, trong từng loại đối tượng đó cũng có hình thức nuôi khác nhau: nuôi kết hợp, nuôi quảng canh, nuôi bán công nghiệp, nuôi công nghiệp Đối với loại hình đánh bắt khai thác có hoạt động đánh bắt ở sông rạch, biển gần bờ, đánh bắt xa bờ
Tương ứng đặc điểm phong phú về các loại hình lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành thủy sản là các hoạt động dịch vụ đầu ra, đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của ngành như các dịch vụ phục vụ đầu vào cho hoạt động nuôi: con giống, thức
ăn, hoạt động dịch vụ kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh… đầu vào cho khai thác đánh bắt: phương tiện tàu thuyền, lưới, ngư cụ….; dịch vụ phục vụ đầu ra: bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Từ đặc trưng nhiều nghề trong các lĩnh vực sản xuất của ngành thủy sản xuất hiện các nhu cầu hợp tác về vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất, tìm kiếm thị trường tiêu thụ nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao hơn mà hộ, cá nhân riêng lẻ thực hiện có nhiều hạn chế Hình thức hợp tác cũng tùy theo phương thức, tính chất, nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành nghề mà có các loại hình tổ chức hợp tác đa dạng, từ thấp đến cao như hợp tác giản đơn từng vụ việc, không thường xuyên; THT mang tính chất thường xuyên, trên nhiều lĩnh vực
Trang 23hoạt động; HTX; liên doanh liên kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong từng loại hình tổ chức hợp tác có những đặc điểm như sau:
1.1.2.1 Về mô hình tổ chức
- Tổ hội nghề nghiệp: Được hình thành giữa các cá nhân, hộ gia đình có cùng mục
đích sản xuất kinh doanh như cùng nuôi tôm, cá, hải sản dưới dạng tổ hội nuôi tôm, tổ hội nuôi cá… nhằm để trao đổi kinh nghiệm, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất nuôi (trong nuôi trồng), trao đổi kỹ thuật trong các khâu của quá trình sản xuất như chọn giống, chăm sóc phòng trừ dịch bệnh tôm, cá, vật nuôi… trao đổi về thông tin thị trường, tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra với mục đích nâng cao được năng lực sản xuất, phát triển ngành nghề
Đặc điểm chung của loại hình này là các chủ thể tự nguyện thành lập khi có nhu cầu hợp tác và có thể ra khỏi hội khi không có nhu cầu Là loại hình tổ THT không hùn vốn để hoạt động nên không có ăn chia lợi nhuận Hội hoạt động không có điều lệ và không có tư cách pháp nhân, quỹ hoạt động của hội do các hội viên thỏa thuận và đóng góp
Tác dụng của loại hình tổ hội nghề nghiệp góp phần hạn chế được rủi ro; tích lũy được kinh nghiệm sản xuất, qua đó tăng được năng suất sản xuất, tăng thu nhập cho hộ nuôi thành viên
- Tổ nhóm hợp tác: Là loại hình tổ chức hợp tác giản đơn giữa một số hộ gia đình
hoặc cá nhân chỉ 3 - 5 thành viên, thường là quan hệ trong gia đình, chòm xóm, láng giềng khi có nhu cầu hợp tác để thực hiện một hoặc một vài công đoạn trong quá trình sản xuất như vần đổi công cho nhau làm ao nuôi, đắp bờ bao, thu hoạch; quan hệ hợp tác giữa chủ ngư trường với nậu vựa trong tiêu thụ sản phẩm làm ra Trong đánh bắt cũng đã hình thành các hình thức hợp tác truyền thống như hợp tác giữa chủ tàu với lao động (bạn), giữa chủ tàu với chủ tàu để tìm kiếm ngư trường, kỹ thuật, thông tin trên biển, hợp tác giữa các chủ tàu với nậu, vựa để vay vốn, cung ứng vật tư, nhiên liệu, tiêu thụ sản phẩm, hợp tác giữa chủ tàu với cơ sở chế biến Nhằm mục đích tương trợ tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo được thời vụ, kỹ thuật, đáp ứng kịp thời quy trình sản xuất, hạn chế rủi ro thiệt hại, phát triển ngành nghề trong từng hộ gia đình
Trang 24Đặc điểm chung của loại hình hợp tác này là sự hợp tác thường chỉ diễn ra nhất thời, chỉ hợp tác với nhau trong một, hai công đoạn nhất định trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm khi có nhu cầu hợp tác với nhau Loại hình hợp tác này không có hùn vốn hoạt động nên không ăn chia lợi nhuận Không có quy chế, điều lệ, hợp đồng, cũng không có tổ chức thành lập bộ máy quản lý nhất định
- Tổ KTHT (thường gọi là THT): Là loại hình hợp tác tự nguyện xuất hiện khá phổ
biến trong thời gian gần đây, do nhu cầu phát triển ngành nghề theo chiều sâu trong nền kinh tế hàng hóa phát triển đòi hỏi phương thức canh tác thay đổi theo hướng công nghiệp, hiện đại để đạt được hiệu quả sản xuất cao trên một đơn vị diện tích Trong nuôi trồng từ hình thức nuôi tự nhiên, quảng canh nay chuyển sang nuôi bán công nghiệp và công nghiệp với quy trình nuôi đảm bảo các yếu tố khoa học kỹ thuật chặt chẽ, vốn đầu tư sản xuất cao Từ tổ chức đánh bắt khai thác ven bờ với phương tiện nhỏ, lạc hậu chuyển dần sang tổ chức đánh bắt khai thác xa bờ với tàu thuyền có công suất lớn, thiết bị hiện đại đòi hỏi vốn lớn, điều kiện kỹ thuật cao trong quá trình sản xuất, nếu chỉ phạm vi hộ sản xuất khó có điều kiện thực hiện được, vì vậy xuất hiện nhu cầu hợp tác nhất là về vốn, về kỹ thuật Loại hình tổ chức KTHT có những đặc điểm:
+ So với tổ nhóm hợp tác thì loại hình KTHT có quy mô lớn hơn, mỗi THT có từ 5 đến 10 thành viên, cá biệt nhiều tổ nuôi tôm công nghiệp có đến trên 200 thành viên tham gia Do tổ chức sản xuất tập trung và mức độ gắn kết chặt chẽ trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất nên tính chất hợp tác tương đối ổn định và bền vững hơn với mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả sản xuất nhằm đảm bảo được lợi nhuận tối đa cho các thành viên trong một quy mô hợp tác, kinh doanh
+ Vốn góp cổ phần bằng tiền hoặc bằng đất đai (trong nuôi), bằng tàu thuyền, công
cụ (trong đánh bắt, khai thác) được quy ra tiền Sở hữu thuộc cá nhân các thành viên cổ đông, nhưng giao cho THT quyền sử dụng
+ Hoạt động không có điều lệ, không có tư cách pháp nhân, nhưng các tổ đều có thành lập Ban quản lý điều hành hoạt động, có thành lập ban kiểm tra kiểm soát do đại hội
cổ đông bầu ra; Các THT đều có xây dựng quy chế hoạt động và các kế hoạch ngắn hạn
Trang 25(theo vụ), hoặc dài hạn (hàng năm hoặc một hai năm theo thời gian hợp tác đã được định trước)
+ Phân phối lợi nhuận theo tỷ lệ cổ phần và công sức đã đóng góp Ngoài ra loại hình THT cũng có xây dựng được các quỹ phát triển sản xuất, quỹ khen thưởng, thực hiện nghĩa vụ với địa phương và thực hiện công trình phúc lợi xã hội nhưng tùy thuộc vào kết quả sản xuất
và tỷ lệ thực hiện các loại quỹ này do các thành viên cổ đông thỏa thuận, quyết định trong từng mùa vụ
Nhìn chung mô hình hợp tác trên địa bàn tỉnh phù hợp với trình độ sản xuất của kinh
tế hộ, là hình thức hợp tác có hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu vốn, ứng dụng khoa học
kỹ thuật phát triển ngành, cải thiện thu nhập, đời sống của các thành viên tham gia, góp phần trong giữ gìn, đảm bảo an ninh trật tự xã hội địa phương và có sự đóng góp nhất định đối với KT-XH ở địa phương Mặt khác, về hình thức tổ chức, quản lý, ăn chia, phân phối lợi nhuận chặt chẽ hơn các loại hình hợp tác giản đơn khác, đây là loại hình hợp tác có thể nâng chất để trở thành HTX
- Hợp tác xã: Cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động, bộ máy quản lý, chế độ hạch toán,
kiểm kê, kiểm soát, phân phối theo nguyên tắc HTX kiểu mới, nhưng có những đặc điểm riêng:
+ Phần nhiều HTX được thành lập trên cơ sở tài sản chung là quỹ đất bãi bồi, đầm,
ao do nhà nước quản lý được giao cho HTX sử dụng nuôi và khai thác nguồn lợi thiên nhiên Trong đánh bắt khai thác được hình thành, tập hợp từ vay vốn tín dụng ưu đãi đóng tàu khai thác hải sản xa bờ, đơn vị hợp tác cổ phần Vốn điều lệ, cổ phần do xã viên đóng góp được dùng cho vốn lưu động của quá trình tái sản xuất
+ Đặc điểm của mô hình này là có sự sản xuất tập trung, có sự phân công lao động chặt chẽ từng khâu, từng công đoạn trong quá trình sản xuất
+ Đối với những HTX quy mô lớn, đảm bảo các yêu cầu về vốn, trình độ mở rộng ngành nghề lĩnh vực hoạt động, nhất là các loại hình dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất về kỹ thuật, giống, ngư cụ cho xã viên Những HTX quy mô nhỏ, không điều kiện thì HTX đại diện cho các hộ thành viên quan hệ ký hợp đồng thực hiện các công đoạn, dịch
vụ đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất
Trang 261.1.2.2 Những điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế tập thể trong ngành thủy sản
- Về hạ tầng cơ sở: Cần thiết nhất là có chính sách đất đai ổn định, quy hoạch vùng
nuôi hỗ trợ kết cấu hạ tầng, đê bao, thuỷ lợi đảm bảo nguồn nước sạch, hạn chế tình trạng
ô nhiễm trong nuôi trồng là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của các loại hình KTTT trong ngành
- Về khoa học kỹ thuật và công nghệ: Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa đòi hỏi
cần có sự đầu tư, đào tạo hỗ trợ của Nhà nước, các ngành chức năng: khoa học công nghệ môi trường, ngành thủy sản, ngân hàng,… nhất là các nhu cầu quy hoạch vùng sản xuất, vốn, cán
bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý là yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của KTTT trong ngành thủy sản
- Về vốn: Ngoài việc huy động các nguồn vốn trong dân, phải có sự hỗ trợ tích cực các
yêu cầu về vốn bằng các nguồn khác của các chương trình quốc gia, quỹ hỗ trợ vốn khu vực KTTT, vốn vay của Ngân hàng, tín dụng
- Về nguồn nhân lực: Đào tạo cán bộ các loại, nhất là cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý
cho nhu cầu phát triển KTTT trong ngành
- Tạo điều kiện và phát triển các mối liên kết kinh tế: Xây dựng các hội, liên hội
chuyên ngành tác động hỗ trợ quản lý về chất lượng kỹ thuật, đầu vào, đầu ra của sản phẩm, thông tin thị trường, tiếp thị hàng hóa nhằm làm tăng hiệu quả sản xuất của ngành thủy sản
1.2 TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ TRONG NGÀNH THỦY SẢN VÀ VAI TRÒ CỦA KINH TẾ TẬP THỂ TRONG NGÀNH THỦY SẢN
Ở TỈNH BẾN TRE
1.2.1 Vai trò của ngành thủy sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bến Tre
1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế của tỉnh
- Về đặc điểm tự nhiên:
Bến Tre là một tỉnh cù lao nằm ở phía Đông đồng bằng sông Cửu Long, với ba cù lao hợp lại là Cù Lao Minh, Cù Lao Bảo và Cù Lao An Hóa; là tỉnh nông nghiệp, có diện tích nhỏ nhưng dân số đông
Trang 27Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 232.162 ha, trong đó đất nông nghiệp 144.260 ha gồm đất trồng cây hàng năm 66.813 ha, đất trồng cây lâu năm 74.778 ha, đất nuôi trồng thủy sản 42.730 ha
Về dân số, lao động: năm 2004 dân số tỉnh Bến Tre là 1.345.637 người, số lao động 875.671 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 61,32% lao động xã hội và hộ nông nghiệp chiếm 70,6% tổng số hộ trong toàn tỉnh
Bến Tre có chiều dài bờ biển 65 km, địa bàn bị chia cắt bởi bốn con sông lớn thuộc
hệ thống sông Mê Kông chảy ra biển với tổng chiều dài 298 km (sông Cổ Chiên 81 km, Ba Lai 55 km, Hàm Luông 72 km và sông Tiền 90 km), cùng với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt (trong đó có 45 kênh chính với tổng chiều dài 383 km), mật độ phù sa bồi đắp cao, nhất là vùng ven biển Từ đặc điểm đó đã làm cho giao thông đi lại khó khăn, có ảnh hưởng đến giao lưu và đầu tư phát triển công nghiệp, nhưng lại là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Tài nguyên đất đai tỉnh Bến Tre đa dạng Hàng năm vào mùa khô, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền khoảng 3/4 diện tích trong toàn tỉnh từ 3 đến 4 tháng và có khoảng 1/2 diện tích từ lợ đến mặn quanh năm (khoảng 90.000 ha), đã hình thành nên ba vùng sinh thái rõ rệt: Vùng nước ngọt chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên, mùa khô không bị mặn hoặc độ mặn thấp hơn 20/00; vùng nước lợ chiếm khoảng 27% diện tích tự nhiên, mùa khô
độ mặn từ 20/00 đến 80/00; vùng nước mặn ở ba huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạch Phú có độ mặn từ 100/00 đến 250/00 [17]
- Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế tỉnh Bến Tre phát triển mạnh về ngành nông nghiệp, tập trung là kinh tế vườn, chủ yếu là trồng dừa (diện tích 35.206 ha, sản lượng 224 triệu trái/năm), trồng các loại cây ăn quả (diện tích 40.878 ha), trồng lúa (diện tích 36.000 ha); kinh tế thủy sản cũng phát triển mạnh (diện tích 42.371 ha) Đặc biệt từ sau năm 2000 đến nay phong trào chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phát triển, nông dân Bến Tre đã mạnh dạn chuyển đổi lúa 1 vụ năng suất thấp sang trồng cây ăn trái hoặc nuôi xen, trồng xen lúa
- tôm, ca cao xen dừa (750 ha), cây ăn trái xen dừa (4.041 ha), ngoài ra còn tận dụng mương vườn để nuôi tôm càng xanh, nuôi cá nước ngọt
Trang 28Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bến Tre được chú trọng xây dựng nhằm phục vụ chế biến nông sản, thủy sản của tỉnh, nhưng phát triển chậm, toàn tỉnh có 4 nhà máy chế biến thủy sản, 4 nhà máy chế biến sản phẩm từ dừa (một chế biến than hoạt tính, ba nhà máy chế biến cơm dừa nạo sấy), một nhà máy chế biến đường Song song đó các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống trong tỉnh cũng được khôi phục, sắp xếp lại hoạt động và không ngừng phát triển như làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa, than gáo dừa
An Thạnh (Mỏ Cày), sản xuất thảm lưới, chỉ xơ dừa, hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa (An Hiệp và Tân Thạch - huyện Châu Thành) doanh thu năm 2003 chiếm 23,81% so doanh thu toàn ngành Trong thời gian gần đây, cùng với việc sắp xếp cổ phần hóa các doanh nghiệp, tỉnh cũng đã tăng cường đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động một số nhà máy mới, công nghệ cao, giá trị sản xuất ngành công nghiệp tăng cao hơn trước (bình quân 17%/năm) nhưng cũng chỉ chiếm tỷ trọng 15,65% trong cơ cấu GDP của tỉnh
Hiện tỉnh đang tập trung đầu tư xây dựng một khu công nghiệp trên địa bàn Giao Long (huyện Châu Thành) và cụm công nghiệp An Hiệp (huyện Châu Thành) phục vụ chế biến nguyên liệu nông thủy sản thúc đẩy kinh tế tỉnh nhà phát triển
Từ điều kiện tự nhiên về đất đai, lao động và đặc biệt là có hệ sinh thái cửa sông và vùng ngập mặn là lợi thế so sánh trước mắt và lâu dài của Bến Tre, là điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh tế thủy sản toàn diện trên tất cả các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản
và dịch vụ hậu cần của ngành
Chính vì vậy Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2000) xác định cơ cấu kinh tế chung của Bến Tre là nông, ngư - công nghiệp chế biến và dịch vụ, thương mại Với vai trò, vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh (đứng thứ hai - sau nông nghiệp); ngành thủy sản cũng đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và là một trong 2 thế mạnh (kinh tế thủy sản và kinh tế vườn) để tập trung dồn sức đầu tư nhằm khai thác tiềm năng, tăng tốc phát triển KT-XH của tỉnh nhà
1.2.1.2 Vai trò ngành thủy sản trong phát triển kinh tế của tỉnh
- Đóng góp của ngành thủy sản trong GDP của tỉnh
Bảng 1.1: Cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) theo giá trị hiện hành
Đơn vị tính: %
Trang 29Năm Các ngành 2000 2001 2002 2003 2004
Nguồn: Báo cáo của Tiỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre qua các năm
Bảng 1.2: Cơ cấu tổng sản phẩm theo giá trị sản xuất (giá so sánh 1994)
Đơnvị tính: tỷ đồng
Năm Các ngành 2000 2001 2002 2003 2004
1 Nông, lâm, thủy sản 4020366 4252372 4635444 4839609 5204459
Nguồn: Báo cáo của Tỉnh uỷ và Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre qua các năm
Qua bảng 1.1 và 1.2 cho chúng ta nhận xét: cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực II và III trong GDP tăng lên, khu vực I có xu hướng giảm dần Tỷ trọng nông lâm thủy sản khu vực I giảm từ 68,06% năm 2000 đến năm 2003 chỉ còn 62,10% Trong nội bộ khu vực I cũng có sự chuyển dịch mạnh mẽ, tỷ trọng nông lâm cũng liên tục giảm, ngược lại tỷ trọng ngành thủy sản có xu hướng tăng dần qua các năm, từ 36,2% năm 2000 tăng lên 37,5% vào năm 2002 và 38,6% vào năm 2003
Riêng về giá trị tuyệt đối (giá trị sản xuất hiện hành xem phụ lục 1 - và giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994 - biểu 1) đều thể hiện đóng góp của ngành thủy sản vào GDP của tỉnh đều tăng lên qua hàng năm
Trang 30Từ sự phân tích trên cho ta thấy ngành thủy sản tỉnh Bến Tre trong những năm qua có
sự phát triển cả về lượng và chất, góp phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế chung của tỉnh
- Giải quyết lao động việc làm
Bảng 1.3: Lao động và cơ cấu lao động
trong nền kinh tế
ng 645.251 652.985 660.838 666.759 673.784
Công nghiệp-xây
Nguồn: Báo cáo của UBND tỉnh và Sở Thủy sản tỉnh Bến Tre qua các năm
Nhìn vào bảng 1.3, chúng ta thấy tương ứng với sự phát triển kinh tế và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh, số lượng lao động trong nền kinh tế tăng lên qua các năm Trong
đó, đối với nội bộ khu vực I, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp giảm từ 79,63% năm 2000 còn 76,75% năm 2002 và 74,11% năm 2004; nhưng ngược lại với sự phát triển của ngành thủy sản đã giải quyết được số lượng lớn lao động ở nông thôn, chỉ tính riêng số người hoạt động chuyên trong ngành thủy sản, tỷ lệ lao động luôn biến động tăng qua các năm: năm 1995 lao động trong ngành thủy sản chỉ chiếm 1,72% tổng số lao động của nền kinh
tế thì năm 2000 tăng lên 2,39% và đến năm 2002 là 3,88% và năm 2004 chiếm 5,99% trong tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế
Riêng trong ngành thủy sản về diện tích nuôi trồng, hình thức nuôi (nuôi công nghiệp
và bán công nghiệp); trong khai thác, số lượng tàu thuyền đánh bắt, hình thức đánh bắt
Trang 31(đánh bắt xa bờ) và kết quả sản xuất, sản lượng đạt được, giá trị sản xuất, chế biến, xuất khẩu đều có sự phát triển hàng năm, đã đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế chung của tỉnh với tốc độ tăng trưởng bình quân 8,8%/năm và GDP bình quân đầu người cũng tăng từ 4.151.000 đồng năm 2000 lên 5.375.000 đồng năm 2003 (xem phụ lục 1)
- Kinh tế thủy sản góp phần khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh
Như phần trên đã trình bày, ngành thủy sản đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh Bến Tre lần thứ VII nhiệm kỳ 2001-2005 đã xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và một trong hai thế mạnh (kinh tế thủy sản và kinh tế vườn) để tập trung dồn sức đầu tư nhằm khai thác tiềm năng, tăng tốc phát triển KT-XH tỉnh nhà Trong kinh tế thủy sản, nuôi thủy sản được chọn là mũi đột phá, tập trung các nguồn lực đầu tư để tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ, vì đây là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và lợi thế về môi trường tự nhiên, đất đai, lao động, thị trường, đồng thời cũng là lĩnh vực tạo ra nguồn nguyên liệu phong phú, đa dạng cho chế biến, xuất khẩu
Nhìn chung, so với một số ngành thế mạnh khác, ngành thủy sản tỉnh Bến Tre đã và đang từng bước phát huy tiềm năng, nội lực và có bước phát triển Song sự phát triển đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của mình Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, để phát triển ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre cần phải phát huy nội lực vốn có của nó, huy động tất cả các thành phần, các loại hình kinh tế cùng tham gia, trong đó cần chú trọng phát triển thành phần KTTT trong ngành thủy sản
1.2.2 Sự cần thiết phát triển kinh tế tập thể trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre
1.2.2.1 Xuất phát từ nhu cầu khách quan cần phải có sự hợp tác trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành thủy sản ở Bến Tre
Nền kinh tế tỉnh Bến Tre là nền kinh tế nông nghiệp, điểm xuất phát còn thấp, tỷ trọng khu vực I (nông, lâm, thủy sản) chiếm khá cao (năm 2000 là 68,06%, đến năm 2004 còn 60,8%), đặc điểm chung là nền sản xuất còn manh mún, phân tán do quy mô kinh tế
hộ rất nhỏ, diện tích canh tác còn thấp, bình quân 0,5 ha/hộ Chính vì vậy, hoạt động sản xuất kinh tế hộ ngành thủy sản bị kìm hãm bởi quy mô nhỏ lẻ, nhiều hộ dân có đất nhưng hạn chế về vốn, về trình độ hiểu biết nên ảnh hưởng nhiều đến phương thức sản xuất kinh doanh: trong nuôi trồng năm 2000 có 80% hộ chọn hình thức nuôi tôm quảng canh hoặc
Trang 32quảng canh cải tiến, đầu tư ít vốn nhưng hiệu quả thấp do nguồn giống tự nhiên ngày càng
ít đi, mật độ thả thêm giống thấp (nuôi quảng canh năng suất bình quân đạt 0,1 đến 0,15 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến đạt từ 0,2 đến 0,35 tấn/ha tuỳ theo mức độ thả thêm giống); trong đánh bắt khai thác ven bờ nguồn lợi ngày càng cạn kiệt nên kém hiệu quả, đòi hỏi phải có sự cải tiến về phương thức, cách thức sản xuất
Trong thực tế đã xuất hiện mô hình nuôi tôm, cá theo phương thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp mang lại năng suất và lợi nhuận cao (bình quân đạt 4 đến 5 tấn/ha) và được nhiều hộ gia đình áp dụng, nhưng trong nuôi công nghiệp và bán công nghiệp đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, kỹ thuật cao, quản lý chặt chẽ, quy mô phải tập trung và một yếu tố quan trọng là phải phát triển ổn định và bền vững, trong khi đó, điều kiện đất đai ở tỉnh Bến Tre hẹp và manh mún, nhiều hộ dân có đất nhưng không có kỹ thuật, không có vốn để đầu tư nuôi tôm công nghiệp và nếu như từng hộ dân nuôi nhỏ lẻ sẽ không quản lý được môi trường nuôi, khả năng phát sinh dịch bệnh là điều khó tránh khỏi
Trong đánh bắt, khai thác chương trình đánh bắt xa bờ được Chính Phủ, ngành chức năng khuyến khích, tạo điều kiện phát triển, cho vay vốn đóng tàu, mua sắm ngư cụ Thực tế đã tạo cho ngành bước phát triển mới, bền vững hơn Song trong hoạt động đánh bắt xa bờ phương tiện, công cụ hoạt động được hiện đại hóa cao hơn, vốn lớn, rủi ro cũng lớn hơn, hoạt động xa bờ cũng có nhiều khó khăn về kỹ thuật nhận định luồng cá, ngư trường đánh bắt để đạt hiệu quả cao, về thời gian của mỗi chuyến đánh bắt kéo dài ngày hơn, đòi hỏi kỹ thuật cao trong sơ chế bảo quản sản phẩm và nhất là yêu cầu hạn chế về rủi
ro thiên tai trên biển
Chính vì vậy, để phát triển mạnh ngành thủy sản ở Bến Tre đòi hỏi phải khuyến khích phát triển hình thức nuôi tôm, cá theo phương thức công nghiệp và tổ chức khai thác đánh bắt xa bờ Song để đạt được mục tiêu và vấn đề cốt lõi là phát triển bền vững nhất thiết cần phải tổ chức lại sản xuất để phát huy được năng lực nuôi trồng, đánh bắt, hạn chế được rủi ro thiệt hại
Xét việc cho các công ty lớn hoặc các công ty nước ngoài thuê mướn đất để sản xuất không phù hợp, bởi lẻ đất Bến Tre đa số đã giao quyền sử dụng cho dân với diện tích nhỏ, đất
Trang 33do Nhà nước quản lý không còn nhiều và không có những khu vực với diện tích lớn thích hợp cho yêu cầu nuôi trồng thủy sản
Chính vì vậy, tổ chức lại sản xuất theo hình thức hợp tác là phù hợp yêu cầu khách quan trong nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản ở tỉnh Bến Tre, nhằm để tập hợp được nguồn lực về vốn, đất đai, chuyên môn lao động cho sản xuất tập trung, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng suất sản xuất, quy hoạch thủy lợi, giải quyết môi trường, đưa ngành thủy sản phát triển bền vững Đồng thời, phát triển KTHT, HTX trong ngành thủy sản ở Bến Tre là con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất nhỏ, manh mún, hiệu quả thấp với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh
1.2.2.2 Phát triển mô hình kinh tế tập thể trong ngành thủy sản nhằm khai thác lợi thế của tỉnh có hiệu quả hơn, huy động được sức mạnh tổng hợp trong quá trình hoạt động, phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Bến Tre
Nổi bật là phát huy được tiềm năng đất đai, sử dụng hiệu quả mặt nước có thể sử dụng cho nuôi trồng thủy sản ở cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt, nhất là bãi bồi ven cửa sông, ven biển
Huy động được nguồn vốn nhàn rỗi to lớn trong dân cư phục vụ cho yêu cầu tập trung nguồn nội lực cho phát triển sản xuất, nâng cao năng lực hiệu quả sản xuất, nâng dần mức sống của người dân, phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH của tỉnh nói chung và của ngành thủy sản nói riêng
Sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động sẵn có tại địa phương, nâng dần chất lượng lao động, nắm bắt kỹ thuật, có tay nghề, trình độ cao
1.2.2.3 Phát triển kinh tế tập thể trong ngành thủy sản là yêu cầu cần thiết trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ dịch vụ đầu vào, dịch vụ phục vụ giai đoạn sản xuất và dịch vụ đầu ra
Ngành thủy sản phát triển ngày càng cao và đi vào năng suất chất lượng thì yêu cầu các dịch vụ phục vụ cho quá trình tái sản xuất ngày càng tăng cả về quy mô lẫn chất lượng Nhất là đối với việc phát triển hình thức khai thác đánh bắt xa bờ và nuôi tôm cá công nghiệp, bán công nghiệp, với yêu cầu sản xuất phải tập trung và quy trình sản xuất khoa
Trang 34học, khép kín mới đạt được hiệu quả cao Do vậy, đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ, thường xuyên và có tính ổn định trong quá trình sản xuất cũng như các dịch vụ phục vụ đầu vào, đầu ra Từ đó nảy sinh nhu cầu cần thiết phải có sự hợp tác ở trình độ cao đó là việc hình thành các THT, HTX sản xuất kết hợp dịch vụ trong ngành thủy sản
Nếu xét mối quan hệ đến toàn bộ quá trình sản xuất của ngành thủy sản có thể chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn một là toàn bộ các khâu sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho quá trình sản xuất của ngành thủy sản cùng các dịch vụ phục vụ cho ngành ở giai đoạn này như xưởng đóng tàu, sửa chữa máy móc tàu thuyền, dịch vụ cung ứng công cụ, ngư cụ phục vụ nuôi trồng đánh bắt, dịch vụ cung cấp thức ăn, thuốc trị bệnh cho tôm cá
Giai đoạn hai là toàn bộ quá trình sản xuất, cũng là khâu quyết định đến năng suất, chất lượng sản xuất của ngành thủy sản, vì vậy các loại hình dịch vụ chuyên ngành với yêu cầu kỹ thuật cao và chặt chẽ mang tính ổn định để phục vụ nhu cầu sản xuất của xã viên là hết sức cần thiết như dịch vụ sản xuất, cung cấp giống có chất lượng, sạch bệnh, dịch vụ
kỹ thuật phòng trừ bệnh cho tôm cá, dịch vụ thủy lợi với hệ thống cung cấp nước sạch và
hệ thống xử lý nước thải sau nuôi Với mô hình sản xuất tập trung, yêu cầu phát triển tại chỗ các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho giai đoạn sản xuất là cần thiết cho giai đoạn sản xuất của các THT, HTX được thuận lợi
Giai đoạn ba là giai đoạn tiếp sau của giai đoạn sản xuất với các khâu dịch vụ vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ, là giai đoạn hết sức quan trọng nhằm làm tăng giá trị của sản phẩm làm ra Đặc biệt là đối với mặt hàng thủy sản là loại hàng tươi sống, rất dễ bị giảm chất lượng theo thời gian thì các dịch vụ ở giai đoạn sau sản xuất là hết sức cần thiết Riêng đối với khai thác, đánh bắt, cả giai đoạn hai và một phần của giai đoạn ba (bảo quản) được thực hiện trên tàu, vì vậy nhu cầu hợp tác giữa các đoàn tàu đánh bắt lại càng
có vị trí hết sức quan trọng trong tìm kiếm ngư trường, phân công trong đánh bắt và phân công một số tàu chuyên đánh bắt và một số tàu luân phiên làm nhiệm vụ vận chuyển sản phẩm đánh bắt được đến nơi chế biến, tiêu thụ và cung cấp nguyên, nhiên liệu cho những tàu đang thực hiện đánh bắt trên biển
Trang 35Chính do vậy, hình thức tổ chức KTTT là yêu cầu khách quan, cần thiết cho cả quá trình sản xuất, tái sản xuất trong ngành thủy sản nhằm mang lại năng suất, hiệu quả cao và bền vững
1.2.3 Vai trò kinh tế tập thể trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre
Thứ nhất: Về kinh tế
Kinh tế tập thể với các loại hình KTHT và HTX trong ngành thủy sản được hình thành và phát triển với mô hình hợp tác của 4 nhà: nhà nông, nhà khoa học, nhà quản lý và nhà sản xuất kinh doanh đã tích cực góp phần phát huy được nội lực về tiềm năng đất đai, tăng hiệu quả sử dụng trên đơn vị diện tích mặt đất, mặt nước, nguồn lợi khai thác; huy động được nhiều nguồn vốn của các thành phần kinh tế tham gia, nhất là thu hút nguồn vốn nhàn rỗi rất lớn trong nhân dân, ngoài ra còn thu hút ngành ngân hàng mạnh dạn đầu
tư vốn vào khu nuôi tôm công nghiệp tập trung, tạo nguồn vốn lưu động khá lớn cho THT nuôi công nghiệp mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần quan trọng cho việc phát triển nghề nuôi thủy sản là khâu đột phá trong mũi nhọn kinh tế của tỉnh
Kinh tế tập thể trong lĩnh vực thủy sản hình thành và phát triển giúp cho việc thực hiện quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản được thuận lợi và hoàn chỉnh hơn, giảm dần tình trạng nuôi tự phát trong dân dể làm phát sinh dịch bệnh, hiệu quả sản xuất kém Nâng cao được năng lực quản lý, áp dụng tốt quy trình kỹ thuật nhằm bảo vệ môi trường nuôi, hạn chế dịch bệnh lây lan Việc hình thành các THT nuôi tôm công nghiệp tập trung thu hút được nhiều kỹ sư trong và ngoài tỉnh tham gia và với sự điều hành trực tiếp của cán bộ
kỹ thuật; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi thủy sản được tập trung hơn; qua đó đào tạo được đội ngũ công nhân có kỹ thuật, lành nghề, góp phần quan trọng cho phát triển nuôi thủy sản Hoạt động khai thác thủy sản theo hình thức THT cũng huy động được sức mạnh tổng hợp trong quá trình hoạt động, thời gian bám biển được dài ngày, hạn chế được rủi ro, đem lại hiệu quả cao cho các thành viên THT
Kinh tế tập thể trong ngành thủy sản phát triển cũng tạo điều kiện cho các ngành nghề khác cùng phát triển, nhất là ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, xây dựng, chế biến, thương mại và các loại hình dịch vụ con giống, thức ăn, thuốc trị bệnh, hóa chất,
Trang 36đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, cung cấp ngư cụ , phát triển các làng nghề ở nông thôn
Tổ hợp tác, HTX còn là cầu nối giữa nông dân, hộ tiểu thương với nhà nước, tiếp cận khoa học kỹ thuật, thực hiện tốt định hướng phát triển của nhà nước về phát triển kinh tế Qua đó cho thấy sự phát triển của các hình thức hợp tác, HTX trong ngành thủy sản đã góp phần tích cực trong quá trình thúc đẩy chuyển giao khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh; mở mang, phát triển ngành nghề và góp phần không nhỏ trong chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong nội bộ ngành thủy sản, trong khu vực I và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương
vụ xã hội Qua đó đời sống nhân dân được thay đổi và nâng cao, an ninh trật tự xã hội ổn định hơn
- Việc hình thành các THT thông qua hoạt động xóa đói giảm nghèo của các tổ chức chính trị xã hội, các thành viên THT được vay vốn ngân hàng để sản xuất, góp phần cải thiện cuộc sống và giảm tình trạng cho vay nặng lãi trong nhân dân
- Kinh tế tập thể trong ngành thủy sản phát triển còn thể hiện vai trò tích cực trong đóng góp thực hiện các công trình phúc lợi công cộng, tham gia thực hiện các chính sách xã hội: xóa đói giảm nghèo, đóng góp xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương cho gia đình chính sách, gia đình nghèo tại địa phương
Trang 37- Ngoài ra KTTT còn góp phần nâng cao dân trí, xây dựng tình đoàn kết xóm làng, tinh thần tương thân tương ái, xây dựng tính cộng đồng xã hội tốt đẹp ở nông thôn, là nhân
tố quan trọng nhằm ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng tại địa phương
Kết luận Chương 1
Trong hệ thống lý luận, cũng như trong hoạt động thực tiễn khoa học các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng vào điều kiện ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn khẳng định xây dựng và phát triển KTTT với các hình thức hợp tác đa dạng, trong đó HTX là nòng cốt là tất yếu khách quan của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, đưa nền sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn XHCN Với vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng của nó, trong điều kiện hiện nay xây dựng và từng bước hoàn thiện các loại hình KTTT còn là tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN, với mô hình KTHT và HTX kiểu mới đang và sẽ là mô hình
cơ bản để giải quyết vấn đề kinh tế gắn với các vấn đề xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn
Chính vì vậy, trong suốt quá trình xây dựng CNXH ở nước ta, nhất là trong thời kỳ đổi mới Đảng ta luôn chú trọng xây dụng phát triển KTTT với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà trong đó HTX là nòng cốt, để trên cơ sở đó kinh tế nhà nước cùng với KTTT ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Nghị quyết số 13-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã cụ thể hóa quan điểm Nghị quyết Đại hội IX, chỉ ra bước đi cho KTTT là "cần củng cố những tổ hợp tác và hợp tác xã hiện có, tiếp tục phát triển rộng rãi kinh tế hợp tác với nhiều hình thức, quy mô trình độ khác nhau trong các ngành, lĩnh vực, địa bàn có điều kiện" [10, tr.29] Đối với tỉnh Bến Tre có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế thủy sản, trong nhiều năm qua Tỉnh ủy đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, trong đó nuôi trồng thủy sản được chọn là khâu đột phá nên đã tập trung các nguồn lực đầu tư và đã tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ lĩnh vực hoạt động thủy sản nhất là nghề nuôi, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh Song nhìn chung sự phát triển chưa thật bền vững, chưa tương xứng với sự đầu tư và yêu cầu đặt ra
Trang 38Do vậy, việc tổ chức lại sản xuất, củng cố nâng chất lượng các THT, HTX và tạo điều kiện hơn nữa cho các loại hình KTTT thủy sản ở Bến Tre ra đời, phát triển và phát huy tác dụng là yêu cầu vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài ở Bến Tre Muốn vậy, cần có nghiên cứu khoa học tình hình thực trạng, đề ra giải pháp, phương thức tổ chức phù hợp với từng đối tác, chủ thể hợp tác khác nhau, đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển KT-XH của tỉnh và nâng cuộc sống đa dạng của người dân sản xuất, kinh doanh ngành thủy sản ở Bến Tre
Trang 39Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA KINH TẾ TẬP THỂ TRONG
NGÀNH THỦY SẢN Ở TỈNH BẾN TRE
2.1 KINH TẾ TẬP THỂ TRONG NGÀNH THỦY SẢN Ở BẾN TRE
2.1.1 Tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của kinh tế tập thể trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre trong những năm qua
2.1.1.1 Kinh tế thủy sản ở tỉnh Bến Tre
Bến Tre có điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế thủy sản, thiên nhiên đã hình thành hệ sinh thái cù lao sông biển rất thích hợp cho hoạt động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến thủy hải sản theo hình thức đa dạng, đa canh trên cả 3 vùng sinh thái nước mặn, lợ, ngọt Đây cũng chính là lợi thế so sánh với các vật nuôi, cây trồng khác Do vậy, từ nhiều năm qua Tỉnh ủy Bến Tre đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh và chọn khâu nuôi trồng là khâu đột phá, tập trung đầu tư phát triển và đã đạt chuyển biến tích cực cả trong nuôi trồng, đánh bắt, chế biến hải sản với các thành phần kinh tế tham gia
- Nghề nuôi thủy sản được phục hồi và phát triển ở cả 3 vùng sinh thái Đã hình thành
các vùng nuôi tôm hàng hóa phục vụ xuất khẩu ở các huyện ven biển Hoạt động nuôi chủ yếu do từng hộ đảm nhiệm Năm 1995 diện tích nuôi là 26.100 ha hầu hết là nuôi tôm sú quảng canh Năm 2000 nâng diện tích nuôi thủy sản tăng lên 29.253 ha, trong đó 80% nuôi quảng canh, giai đoạn này đã bắt đầu phát triển hình thức nuôi công nghiệp và bán công nghiệp với diện tích là 253 ha Đến cuối năm 2004 nghề nuôi thủy sản phát triển mạnh với tổng diện tích 41.114 ha, hình thức nuôi công nghiệp, bán công nghiệp cũng được lựa chọn với 5.328 ha (đạt 16,9% trên tổng diện tích nuôi thủy sản), trong khi hình thức nuôi quảng canh chỉ còn 55,4% trên tổng diện tích nuôi
- Nghề khai thác đánh bắt thủy hải sản
+ Năm 1990 toàn tỉnh có 1.336 tàu, tổng công suất tàu 22.237 cv (mã lực), bình quân công suất 17cv/tàu
+ Năm 1995 toàn tỉnh có 1.746 tàu, tổng công suất 71.091 cv, bình quân 41 cv/tàu
Trang 40+ Năm 2000 có 1.931 tàu, tổng công suất 142.849 cv, bình quân 74 cv/tàu tàu có công suất lớn hơn 125 cv có thể khai thác xa bờ là 413 chiếc
Đặc biệt, được sự hỗ trợ về vốn ưu đãi của Chính Phủ trong chương trình đánh bắt hải sản xa bờ và chương trình khắc phục hậu quả cơn bão số 5, chính sách ưu đãi đầu tư đối với lĩnh vực đánh bắt hải sản xa bờ của UBND tỉnh Bến Tre, ngư dân đã mạnh dạn đầu
tư đóng và cải hoán tàu có công suất lớn hoạt động xa bờ, trang bị máy móc hiện đại Đến năm 2004, toàn tỉnh có 3.347 tàu, tổng công suất 209.449 cv, bình quân 109 cv tàu Trong
đó có 1372 tàu đánh bắt ở biển với tổng công suất 194.938 cv (bình quân 142 cv/tàu) Có
629 chiếc đánh bắt xa bờ tổng công suất 149.324 cv, bình quân 237 cv/tàu
- Chế biến, tiêu thụ
+ Chế biến xuất khẩu: toàn tỉnh có 6 nhà máy chế biến xuất khẩu với tổng công suất 24.500 tấn/năm, trong đó có 2 nhà máy đông lạnh xuất khẩu đạt chuẩn xuất khẩu sang thị trường châu Âu, năm 2004 xây dựng và đưa vào sử dụng thêm một nhà máy chế biến thủy sản hiện đại với công suất 6.000 tấn/năm Song, xuất khẩu hàng hoá thủy sản chỉ là hàng đông lạnh, sơ chế, chưa có sản xuất hàng đã qua chế biến (hàng giá trị gia tăng và hàng phối chế có gốc thủy sản)
Ngoài ra, nguồn nguyên liệu thủy hải sản của Bến Tre còn được các nhà máy chế biến thủy hải sản tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng đến tận nơi thu mua
+ Chế biến, tiêu thụ nội địa
Trong lĩnh vực chế biến và tiêu thụ thủy sản nội địa các cơ sở tư nhân và cá thể chiếm ưu thế, tuy nhiên phần lớn chỉ sản xuất dạng gia đình, quy mô nhỏ lẻ ở những bến
cá, cảng cá, thủy sản tiêu thụ nội địa chủ yếu dưới dạng tươi sống, nước mắm, mắm và các loại thủy sản khô, chế biến theo kỹ thuật thủ công Hiện đã xây dựng được làng nghề chế biến các sản phẩm khô các loại ở Bình Thắng (Huyện Bình Đại)
Toàn tỉnh hiện có 2 nhà máy chế biến bột cá tại huyện Bình Đại và Ba Tri với công suất 16.500 tấn/năm và 01 nhà máy chế biến khô cá Bò, 01 nhà máy chế biến nghêu và 01
xí nghiệp quốc doanh chế biến hải sản nhưng chỉ còn sản xuất nước mắm với công suất 1,5 triệu lít năm cùng với các cơ sở tư nhân sản xuất được khoảng 4,5 triệu lít/năm
- Dịch vụ hậu cần ngành thủy sản