1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế đồn điền ở nghệ an thời thuộc pháp 1897 1945

136 418 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời thuộc pháp (1897 - 1945)
Tác giả Bành Thị Thúy Hà
Người hướng dẫn PGS Hoàng Văn Lân, PGS.TS Nguyễn Trọng Văn, PGS. TS Nguyễn Cảnh Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Lịch Sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 551 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công tác điền dã tại địa phơng, tác giả cũng đợc sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của cán bộ các nông trờng đóng trên khu vực trớc kia từng là đồn điền của ngời Pháp và ngời Việt.. Cô

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trờng đại học Vinh

-*** -Bành thị thúy hà

Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời

thuộc pháp (1897 - 1945)

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Vinh2006

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời

đã trực tiếp hớng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài.

Tác giả cũng xin đợc bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học và khoa Lịch sử của Trờng Đại học Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tác giả thực hiện luận văn Đặc biệt là sự quan tâm,

sự động viên, khuyến khích của PGS.TS Nguyễn Trọng Văn trong việc nghiên cứu đề tài này.

Qua đây, tác giả cũng xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS TS Nguyễn Cảnh Minh (Khoa Lịch sử Trờng Đại học s phạm Hà Nội), các thầy, cô ở Viện sử Trung ơng đã nhiệt tình tham mu cho tác giả trong việc lựa chọn

đề tài và nghiên cứu tài liệu Tác giả cũng xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

đến các cô, chú làm việc tại th viện Quốc gia Hà Nội, trung tâm lu trữ Quốc gia I, bảo tàng Xô Viết Nghệ An, th viện Nghệ An Nhất là chú Đào Tam Tỉnh- Phó giám đốc th viện tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiện để tác giả nghiên cứu tài liệu Trong công tác điền dã tại địa phơng, tác giả cũng đợc sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của cán bộ các nông trờng đóng trên khu vực trớc kia từng là đồn điền của ngời Pháp và ngời Việt Quá trình đó, tác giả đợc gặp gỡ các lão thành cách mạng trớc kia hoạt động trong vùng có đồn điền

nh ông cụ Nguyễn Khơ (nay còn sinh sống tại Nông Trờng Đông Hiếu Nghĩa Đàn), bà cụ Nguyễn Thị Lu (nay đang sống tại Tây Hiếu) trớc đây là nhân công đồn điền Phủ Quỳ Các ông bà đã cung cấp cho tác giả những t liệu hết sức giá trị.

Trang 3

-Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bè bạn thân thiết đã luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả: Bành Thị Thuý Hà

Trang 4

Môc lôc Trang

Lêi c¶m ¬n

Më ®Çu

1.1 §iÒu kiÖn tù nhiªn, d©n c vµ lÞch sö NghÖ An 10

Trang 5

2.3 Phơng thức kinh doanh, sử dụng đất và phơng thức quản lí trong các đồn điền 70

2.3.3.3 Phơng thức quản lí tài sản trong đồn điền 88

Chơng 3: Tác động của khai thác đồn điền đến

kinh tế, xã hội Nghệ An (1897-1945)

3.1 Hệ thống đồn điền ở Nghệ An (1897-1945) 913.1.1 Số đồn điền và diện tích đồn điền đã đợc khai thác 913.1.2 Hệ thống đồn điền của ngời Pháp qua các thời kì 93

3.1.3 Hệ thống đồn điền, trại, ấp của ngời Việt thời thuộc Pháp 100

3.2 Tác động của khai thác đồn điền đến tình hình kinh tế Nghệ An 1023.2.1 Giao thông vận tải và thông tin liên lạc 102

Trang 6

3.3.1 Sự biến động về dân c và sự phân hoá giai cấp 107

3.3.3 Đời sống của công nhân đồn điền và phong trào đấu tranh của

là chiếm đoạt ruộng đất trên quy mô lớn, dới nhiều hình thức để lập đồn điền vàlàm kinh tế đồn điền

Nghệ An là một tỉnh thuộc miền Bắc Trung Kì, có diện tích tự nhiên rộnglớn, dân số tơng đối đông làm nghề lao động nông nghiệp chủ yếu, bản tínhthuần phác, cần cù chịu khó Ngoài thế lực đất đai màu mỡ nhất của tỉnh tậptrung chủ yếu ở vùng trung du Phủ Quỳ thì đất đai ở miền xuôi, vùng đồngbằng phì nhiêu do các con sông bồi đắp lợng phù sa khá lớn cũng là lợi thế đểphát triển nông nghiệp

Đất Phủ Quỳ là loại đất tốt nhất ở Đông Dơng Loại đất này đợc sử dụng

đắc lực cho việc trồng các loại cây công nghiệp nh cà phê, trẩu, cam, cao su

Từ rất sớm thực dân Pháp đã đặt chân đến vùng Phủ Quỳ để thiết lập vàkhai thác những đồn điền cà phê rộng lớn nhất tỉnh Nghệ An Vì thế, trong quátrình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi muốn nghiên cứu và trìnhbày kĩ về vấn đề kinh tế đồn điền ở vùng đất Phủ quỳ

Trang 7

Sau khi xâm chiếm và khai thác vùng đất đỏ rộng lớn ở Phủ Quỳ, thựcdân Pháp nhòm ngó tới cả những vùng đất đỏ ở miền xuôi, và những vùng đấtphù sa ở vùng đồng bằng, vùng trũng để lập những đồn điền cà phê hoặc lúa.

Theo sau những nhà canh nông ngời Pháp, những ngời Việt có thế lực vàgiàu có cũng bao chiếm đất đai mở đồn điền, lập ấp và trang trại

Công cuộc khai thác thuộc địa chủ yếu là việc lập và khai thác đồn điềncủa thực dân Pháp trong lịch sử Việt Nam, cũng nh trong lịch sử của Nghệ Anmột thời đã làm cho cuộc sống tinh thần của nhân dân nơi đây chịu áp bức nặngnề; xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc về mặt giai cấp, về đời sống văn hoá, giáodục, chính trị Nhng ít nhiều đồn điền cũng có những tác động tích cực trongkinh tế công nông nghiệp; trong đời sống vật chất của nhân dân Đông Dơngtrong đó có nhân dân Nghệ An mà không phải xuất phát từ ý muốn chủ quancủa chính quyền thực dân

Tóm lại, nghiên cứu đề tài “Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời thuộc

Pháp (1897 - 1945)” mục đích chính của chúng tôi là để làm rõ ba vấn đề sau:

1.1 Làm rõ chính sách kinh tế của thực dân Pháp trong công cuộc khaithác thuộc địa, trong đó có chính sách khai thác đất đai lập đồn điền

1.2 Trong quá trình khai thác đồn điền, thực dân Pháp đã sử dụng lao

động chính là ngời bản xứ Vì thế phơng thức kinh doanh nông nghiệp cổ truyềnvẫn là yếu tố chính nhng bên cạnh đó ngời Pháp cũng du nhập phơng thức kinhdoanh t bản của ngời Âu Đó là vấn đề chúng tôi muốn làm rõ

1.3 Bên cạnh những mặt hạn chế, việc khai thác đất đai làm kinh tế đồn

điền của thực dân Pháp ít nhiều có tác dụng đối với đời sống kinh tế của ĐôngDơng nói chung cũng nh của Nghệ An nói riêng trớc năm 1945

Ngoài những lí do ấy, việc nghiên cứu đề tài này còn giúp chúng ta hiểu

đợc cách tổ chức khai thác nông nghiệp mà hiện chúng ta vẫn đang ra sức họctập ở nhiều nớc trên thế giới Phơng thức kinh doanh ở các đồn điền thời thuộcPháp để lại một số bài học kinh nghiệm về canh tác, chăn nuôi, kinh nghiệm về

Trang 8

việc sử dụng đất đai cũng nh việc tuyển chọn cây trồng vật nuôi cho phù hợpvới điều kiện khí hậu, đất đai Cho đến nay, Phủ Quỳ vẫn là tâm điểm kinh tếcây công nghiệp của xứ Nghệ, những đồn điền xa, nay đợc thay thế bằng cácnông trờng, phơng thức kinh doanh và sử dụng đất đợc mở rộng, sự kết hợpcông nông nghiệp đã cho phép các nông trờng có thể phát triển những vùngchuyên canh cà phê, cam, mía nhng hiệu quả cha cao, năng suất còn thấp Vìthế việc nghiên cứu đề tài này càng trở nên hết sức cần thiết, có thể là một tàiliệu tham khảo cho các nông trờng cũng nh các nhà làm kinh tế trang trại t nhântrong vấn đề phơng thức kinh doanh, hình thức sản xuất theo hớng kinh tế hànghoá Từ đó thúc đẩy mạnh hơn nền kinh tế của tỉnh nhà, nhất là những cây trồng

có giá trị nh cà phê arabica, cây cam, quýt và nhiều loại cây trồng có giá trịkhác Trong việc làm kinh tế nông nghiệp, bài học kinh nghiệm lớn mà chúng tathấy rõ nhất là một khi đời sống của nhân công lao động không đợc quan tâm

đầy đủ thì hiệu quả lao động sẽ rất thấp Bởi họ là lực lợng chính quyết định sựthành bại của mọi kế hoạch kinh tế đề ra Vì vậy, muốn đạt hiệu quả kinh tếcao, làm ăn lâu dài thì các nông trờng, kể cả các nhà làm kinh tế trang trại tnhân phải thực sự quan tâm tới cuộc sống của ngời lao động

Riêng đối với chúng tôi, việc thực hiện đề tài này sẽ giúp chúng tôi cóthêm điều kiện để nghiên cứu và giảng dạy tốt phần lịch sử địa phơng dới thờithuộc Pháp Đồng thời, chúng tôi có thêm nguồn t liệu phong phú khi giảng dạyphần lịch sử cận đại của dân tộc Việt Nam

Với những lí do đó, tôi đã chọn đề tài “Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời

thuộc Pháp (1897 - 1945)” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ khoa học lịch sử của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Kinh tế đồn điền là một vấn đề đợc ngời Pháp hết sức quan tâm trong quátrình khai thác thuộc địa ở Việt Nam nói chung cũng nh ở Nghệ An nói riêng.Nhng cho đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề này

Trang 9

Dới thời thuộc địa, một số học giả khi nghiên cứu về lịch sử, địa lí, kinh

tế, xã hội của Việt Nam, cũng nh của Nghệ An đã đề cập đến vấn đề đồn điền,kinh tế nông nghiệp Tác phẩm “Kinh tế nông nghiệp ở Đông Dơng” của Yves

Henry đã thống kê tình hình sở hữu ruộng đất ở Nghệ An, việc kinh doanh càphê ở vùng Phủ Quỳ, việc sử dụng nhân công trong các đồn điền, và so sánhtiền lơng giữa các vùng

Nhiều nhất vẫn là những bài viết của các nhà canh nông của ngời Pháp:tác giả A Sallet với bài “miền Bắc Trung Kì” nghiên cứu về những sản phẩm

có nguồn gốc thực vật, F Roule nghiên cứu về “Những đồn điền ở miền Bắc Trung Kì”, F.L.W nghiên cứu về “Nhợc điểm lớn của Phủ Quỳ”, Castanhon với

các bài: “Báo cáo về việc khai hang trong vùng Phủ Quỳ , Lời chú giải về” “

việc trồng gai ở Nghệ An”, tác giả H.Cusơrutse với bài viết “Trong những vùng

đất đỏ Phủ Quỳ” đã nghiên cứu rất kĩ về các đồn điền của một chủ đồn điền lớn

ở vùng đó Tất cả những bài viết ấy đợc đăng trên các tạp chí, “Kinh tế Đông Dơng , Sự thức tỉnh kinh tế Đông D” “ ơng , Chấn h” “ ng kinh tế Đông Dơng” hay Tập san Đô thành hiếu cổ“ ” Nói chung, các bài viết của các nhà canhnông tập trung nghiên cứu về cây cà phê, cây gai, cây trẩu, các loại cây lơngthực, về việc khai hoang, về vấn đề nhân công, tiền lơng, những khó khăn trongviệc làm kinh tế đồn điền, những biện pháp để làm đồn điền Qua đó thấy rằngngời Pháp quan tâm nhiều nhất tới việc trồng cây cà phê ở vùng Phủ Quỳ thuộctỉnh Nghệ An, họ cho rằng nơi đây có loại đất tốt nhất Đông Dơng để trồng càphê Trong thực tế, ngời Pháp đã thiết lập ở đây những đồn điền rộng lớn hàngngàn ha chủ yếu trồng cà phê và việc kinh doanh cà phê thực sự có hiệu quả

Nghiên cứu đề tài “Kinh tế đồn điền ở Nghệ an thời thuộc Pháp (1897

- 1945)” giúp chúng tôi hiểu rõ hơn và có cái nhìn tổng quát về đặc điểm, tính

chất của cuộc khai thác thuộc địa, việc lập đồn điền ở cả trên khắp ba Kì, cácloại cây trồng và gia súc ở các đồn điền thuộc tỉnh Nghệ An qua các tài liệu của

Trang 10

các giáo s sử học đầu ngành viết từ sau Cách mạng tháng Tám nh: “Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa” của Nguyễn Văn Khánh, Giai cấp

công nhân Việt Nam” của Trần Văn Giàu, “Tình hình ruộng đất nông nghiệp

và đời sống nông dân dới triều Nguyễn” của Trơng Hữu Quýnh, Đỗ Bang,

Đồn điền của ngời Pháp ở Bắc Kì ” của Tạ Thị Thuý, “Lịch sử Việt Nam cận

đại một số vấn đề nghiên cứu – ” do giáo s Đinh Xuân Lâm chủ biên, “Lịch sử cận đại Việt Nam”, tập 2 của Nguyễn Khánh Toàn

Dới thời thuộc địa, tỉnh Nghệ An cũng có vài tác phẩm đề cập đến vấn đềkinh tế đồn điền và những mặt liên quan đến vấn đề nông nghiệp hết sức quýgiá cho chúng ta nghiên cứu, đó là “Địa d tỉnh Nghệ An” của Đào Đăng Hy,

chuyên luận về nông nghiệp của tỉnh Nghệ An” của tác giả B.E.I Ngoài ra,

sự phối hợp của giới nghiên cứu sử học Nghệ An với các giáo s ở các trờng đạihọc cũng góp phần to lớn trong việc nghiên cứu lịch sử địa phơng, đã làm nênmột số tác phẩm có giá trị: “Lịch sử Nghệ Tĩnh”, “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ

An tập 1 (1930 - 1945) , lịch sử Đảng bộcác huyện, Lịch sử phong trào

nh phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân lao động, giành đợc thắng lợitrong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phơng

Có thể nói rằng, do điều kiện lịch sử khó khăn và phức tạp mà vấn đềkinh tế đồn điền ở Nghệ an thời thuộc địa cha đợc nghiên cứu nhiều, đầy đủ

Trang 11

Đồn điền mới chỉ đợc các xuất bản phẩm điểm qua Để có thể nghiên cứu đề tàinày đầy đủ hơn, có hệ thống hơn chúng tôi phải khai thác tài liệu từ các cuộc

điền dã ở các địa phơng, gặp gỡ những ngời lão thành cách mạng từng hoạt

động trong khu vực đồn điền, các nhân công trớc đây từng làm cu li đồn điền; từcác trung tâm lu trữ quốc gia; từ các th viện lớn, nhất là th viện tỉnh Nghệ An,rồi các bảo tàng lịch sử trong và ngoài tỉnh

3 Đối tợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tợng.

Nghiên cứu kinh tế đồn điền của ngời Pháp và ngời Việt ở Nghệ An thờithuộc Pháp

3.2 Nhiệm vụ.

Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, dân c, lịch sử Nghệ An, những cơ sở pháp

lí để lập đồn điền, các chính sách thúc đẩy để lập đồn điền Nhiệm vụ trọng tâm

là nghiên cứu quá trình thiết lập đồn điền, việc khai thác và kinh doanh trongcác đồn điền, vấn đề sử dụng nhân công lao động và tác động của việc làm kinh

tế đồn điền đến tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An thời thuộc Pháp

3.3 Phạm vi.

Phạm vi thời gian.

Từ năm 1897, sau khi thực dân Pháp cơ bản hoàn thành sự nghiệp anninh ở Việt Nam cho đến ngày Cách mạng tháng Tám bùng nổ (1945), các điềnchủ bỏ chạy, thay vào đó là sự quản lí đồn điền của chính quyền cách mạng.Các trại, ấp nhỏ của ngời Việt phải thực hiện theo các yêu cầu của cách mạng,

hệ thống đồn điền hầu nh tan rã

Phạm vi không gian.

Đồn điền của ngời Pháp đợc phân bố nhiều nhất ở vùng trung du phíaTây của tỉnh - nhất là vùng Phủ Quỳ trớc đây (nay là các huyện Nghĩa đàn, TânKì, Quỳ Hợp, Quỳ Châu), rồi các huyện Thanh Chơng, Anh Sơn ở một sốhuyện ở vùng đồng bằng nh: Quỳnh Lu, Yên Thành, Nghi Lộc, Diễn Châu, Hng

Trang 12

Nguyên, tuỳ từng điều kiện khác nhau mà số đồn điền ở mỗi huyện ít nhiềukhác nhau

Chúng tôi thống kê một số đồn điền lớn và nghiên cứu những đặc điểmchung của kinh tế đồn điền cũng nh việc kinh doanh trong các đồn điền

4 Các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu:

4.1 Các nguồn t liệu

4.1.1 T liệu thành văn.

- Các sách lịch sử, địa lí, kinh tế thời Pháp

- Các tập san kinh tế, niên giám kinh tế Đông Dơng

- Các tài liệu nghiên cứu, giáo trình sử học

- Địa chí, địa d, lịch sử Đảng bộ tỉnh và một số huyện ở Nghệ An

ợc xem một số chứng tích của ngời Pháp để lại trên khu vực trớc đây là đồn

điền Những khu vực trớc đây thiết lập đồn điền thì hiện nay hầu nh đã mọc lênnhững nông trờng quốc doanh

Trang 13

tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích các nguồn t liệu khác nhau đểchứng minh tính chân thực, chính xác của số liệu, sự kiện.

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã đi nhiều nơi trong tỉnh, đến những nơitrớc đây từng là đồn điền của ngời Pháp, ngời Việt và cha cố Cuộc điền dã chophép chúng tôi có điều kiện tìm hiểu, quan sát địa hình, gặp gỡ ghi chép lời kểcủa những ngời cao tuổi đã từng đợc chứng kiến các sự kiện diễn ra ở các đồn

điền Điều đó thực sự có ý nghĩa to lớn đối với chúng tôi trong việc lí giải nhiều

điều về việc thiết lập và khai thác kinh doanh ở các đồn điền

Việc kết hợp các phơng pháp nghiên cứu với nhau đã giúp chúng tôi tổnghợp đợc những điểm quan trọng, có cái nhìn tổng quát, sâu sắc hơn trong vấn đềkinh tế đồn điền ở Nghệ An thời thuộc Pháp Trên cơ sở khoa học đó chúng tôirút ra những nhận xét khoa học mang tính chân thực hơn

5 Đóng góp của luận văn.

Trớc hết, luận văn làm rõ quá trình thiết lập đồn điền ở Nghệ An thờithuộc Pháp, với việc tổ chức trong nông nghiệp, bên cạnh yếu tố cổ truyền làyếu tố mới thuộc kinh tế t bản

Luận văn góp phần bổ sung t liệu trong việc nghiên cứu lịch sử địa

ph-ơng, nhất là mảng kinh tế cha đợc chú trọng nhiều

Bớc đầu nghiên cứu kinh tế đồn điền ở Nghệ An với những đặc điểm của

nó sẽ góp phần cung cấp thêm t liệu cho việc nghiên cứu kinh tế đồn điền ở khuvực Bắc miền Trung

Qua việc nghiên cứu đề tài Kinh tế đồn điền ở Nghệ An thời thuộc Pháp,

sẽ góp phần nhìn nhận vấn đề kinh tế thời thuộc địa một cách khách quan hơn.Bên cạnh những hạn chế của chính sách đồn điền, việc làm kinh tế đồn điềncũng để lại những bài học kinh nghiệm trong vấn đề tổ chức và phơng phápkinh doanh Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn ít nhiều nó sẽ trởthành một nguồn tài liệu tham khảo trong việc làm kinh tế nông nghiệp củachúng ta hiện nay

Trang 14

6 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đợckết cấu trong 3 chơng:

- Chơng 1 quá trình thiết lập đồn điền của thực dân Pháp ở Nghệ An

(1897- 1945)

- Chơng 2 Hoạt động khai đồn điền ở Nghệ An (1897-1945)

- Chơng 3 Tác động của khai thác đồn điền đến kinh tế, xã hội Nghệ An(1897- 1945)

Trang 15

Nội dung Chơng 1 quá trình thiết lập đồn điền của thực dân Pháp

ở Nghệ An (1897- 1945)

1.1 Điều kiện tự nhiên, dân c và lịch sử Nghệ An.

1.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên.

1.1.1.1 Vị trí địa lí và địa hình.

Nghệ An là một tỉnh lớn, thuộc xứ Bắc của Trung Kì Phía Bắc tiếp giápvới tỉnh Thanh hoá, tỉnh Hủa Phan (Thợng Lào), phía Nam giáp với tỉnh HàTĩnh, phía Tây Nam giáp tỉnh Cam Môn (Thợng Lào), phía Tây giáp tỉnh TrấnNinh (Thợng Lào), phía Đông giáp với Biển Đông và Vịnh Bắc Kì

Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.370 km2 Địa hình phong phú và

đa dạng Núi và đồi trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn đất đai của tỉnh

Không chỉ các huyện miền núi mà các huyện đồng bằng, ven biển đều có những đồi núi xen kẽ, tuy có làm cho đồng bằng bị chia cắt, nhng đã tạo thế nông lâm kết hợp và cảnh quan đẹp mắt” [65, 10] Do cấu tạo của địa hình nh

thế nên đất đai trồng trọt cũng hết sức phong phú, nhất là vùng đất đỏ ba gian ởvùng Phủ Quỳ đợc ngời Pháp xem là “loại đất tốt nhất ở Đông Dơng” [51, 10],

rất thích hợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp nh cà phê, cao su, trẩu,cây ăn quả nhiệt đới, mía, gai Đất phù sa ven sông, ven biển tuy độ màu mỡkhông cao nhng là vùng đồng bằng thâm canh cây lợng thực nhất là cây lúa,chủ yếu ở các huyện: Yên Thành, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lu, HngNguyên, Nam Đàn

Với đặc điểm địa hình dốc, nhiều đồi núi đã tạo nên sự phân hoá phức tạpcác yếu tố tự nhiên cũng nh kinh tế xã hội của Nghệ An Nhng với vị trí địa líquan trọng, tiếp giáp với nhiều tỉnh trong nớc cũng nh nớc ngoài, Nghệ An đợc

Trang 16

xem là tỉnh có vị trí chiến lợc về quân sự và kinh tế hết sức quan trọng Nghệ

An có điều kiện để giao lu và tiếp xúc về văn hoá, chính trị, kinh tế với các tỉnhtrong nớc và nớc ngoài bằng đờng bộ, đờng thuỷ, đờng sắt và đờng hàng không

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên.

Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ở khoảng trung gian giữahai miền khí hậu miền Bắc và miền Trung của Việt Nam Với đặc điểm địa hìnhdốc, nhiều đồi núi, cấu tạo tự nhiên phức tạp cũng tạo nên những đặc điểm riêng

về khí hậu của tỉnh Nghệ An

Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có gió mùa Đông Bắc lạnh căm, rétbuốt kèm theo ma ít Từ cuối tháng t đến tháng 7 có gió phơn Tây Nam khônóng (gió Lào) Từ tháng 7 đến tháng 10 thờng có bão và ma lớn Trong nhữngtháng này ở vùng núi thờng có hạn gay gắt Riêng ở đồng bằng và vùng trung

du, từ tháng 1 đến tháng 3 có ma phùn, lợng ma tuy ít nhng có nhiều ngày manên có độ ẩm cao, giảm đợc hạn hán

Có thể nói rằng, khí hậu ở Nghệ An vô cùng khắc nghiệt nhng nhờ cónhiệt lợng và lợng ma dồi dào cùng với cấu tạo của địa hình nên nơi đây có thểphát triển nông nghiệp mà đặc thù của nó là các loại cây công nghiệp

Khác với các tỉnh khác ở Trung Kì, dãy Trờng Sơn ở Nghệ An mọc ở xa

bờ biển, nên sông ngòi có phần dài hơn các nơi khác Sông lớn nhất ở Nghệ An

có tên là sông Cái, dài 523km Sông Lam cũng là con sông lớn nhất ở Trung Kì,

nó dài gấp rỡi sông Chu và sông Mã ở Thanh Hoá

Các phụ lu ở tả ngạn là sông Con (một phần là sông Hiếu), sông Cơng,các phụ lu ở hữu ngạn là sông Giăng, sông Trai, sông Rộ, sông Bích Triều, sôngNgàn Sâu

Các sông nhỏ là sông Hoàng Mai, sông Hậu, sông Giát ở Quỳnh Lu,sông Bùng ở Diễn Châu, sông Cấm ở Nghi Lộc

Ngoài các sông còn có hệ thống kênh đào nối với các con sông với nhau,lớn nhất là kênh Nhà Lê

Trang 17

Tác động của sông ngòi khí hậu cùng với lịch sử khai phá phát triển lâudài của c dân đã tạo thành nhiều vùng địa lí tự nhiên khác nhau của tỉnh Nghệ

An nh vùng đồi núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng ven biển

Vùng đồi núi của Nghệ An chia ra thành các tiểu vùng khác nhau: vùngthợng lu sông Lam và những huyện miền núi nh Quế Phong, Con Cuông, TơngDơng, Kì Sơn, Quỳ Châu, có nhiều rừng rậm Trong đó có hầu hết các loài độngvật thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới Lâm sản có nhiều và quý hiếm.Mỗi loại có tới hàng ngàn ha Riêng Quế có nhiều ở Quỳ Châu, Quế Phong:

quế Quỳ thuộc loại tốt không kém gì quế Thanh, quế Quảng” [65, 18] Trong

rừng còn có nhiều loại dợc liệu quý hiếm nh trầm hơng, sa nhân, cánh kiến,nhựa thông, mật ong ở những khu rừng nguyên sinh Pù Mát, Pù Hoạt có cácloại thú vô cùng quý hiếm nh mang lớn, gấu, ngựa, cầy vằn, sao la, sóc bay

Từ vùng cao, đồi núi thấp dần xuống là vùng trung du trải rộng ra cácphủ huyện Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Thanh Chơng Nơi đây đất đai màu

mỡ còn hoang hoá, có hệ thống sông ngòi phong phú rất thuận lợi cho việc pháttriển các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, cây ăn quả và chăn nuôi giasúc

Trong lòng đất chứa nhiều khoáng sản nh kim loại vàng, thiếc, chì, kẽm,măng gan Về khoáng sản phi kim loại có các loại đất sét làm gạch ngói, đáhoa, đá vôi Đó là những nguyên liệu dồi dào dành cho ngành xây dựng Đặcbiệt, ở Quỳ Châu có mỏ đá quý, trong đó chủ yếu là hồng ngọc

Với những tiềm năng đó, vùng trung du miền núi không chỉ là khu vựctrọng yếu về an ninh quốc phòng mà còn có điều kiện phát triển kinh tế với quymô lớn

Vùng đồng bằng châu thổ chỉ chiếm1/5 diện tích đất đai của cả tỉnh”

[40, 11] Cũng nh các đồng bằng khác, vùng đồng bằng này toàn là phù sa củacác sông lớn trong tỉnh bồi ra mà thành

Trang 18

Với diện tích rộng lớn, chủ yếu là đồi núi, bên cạnh u thế phát triển câycông nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc lớn và gia cầm vùng đồng bằngcòn có lợi thế để phát triển cây lợng thực: lúa và các loại hoa màu, phát triểncông nghiệp dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp.

Bờ biển Nghệ An dài hơn 90km, có nhiều cửa lạch Gần các cửa biển cónhiều sinh vật phù du, tạo cho các đàn tôm cá quần tụ và sinh trởng Biển cónhiều tài nguyên khoáng sản Ven các cửa lạch có nhiều bãi lầy đầm phá có thểkhai phá làm các đầm nuôi tôm cua nớc mặn Trữ lợng các loại hải sản rất lớnnhng hàng năm mới đánh bắt đợc số lợng không nhiều, do thiếu phơng tiện ng

cụ Nơi đây có những bãi biển đẹp nổi tiếng nh Cửa Lò, Diễn Thành, hấp dẫnkhách du lịch trong nớc và nớc ngoài

Với sự đa dạng của tự nhiên, Nghệ An nh là hình ảnh thu nhỏ của ViệtNam Đất đai màu mỡ, cây trồng phong phú, nhiều loại lâm, hải sản có trữ lợnglớn, lại có nhiều loại mỏ khoáng sản quý, địa thế tiếp giáp với nhiều tỉnh trongnớc và quốc tế Nghệ An có đủ điều kiện để phát triển kinh tế trên mọi lĩnh vựccông nghiệp, nông nghiệp, ng nghiệp, và chăn nuôi gia súc lớn

1.1.2 Dân c.

Từ rất sớm, con ngời đã có mặt và sinh sống trên mảnh đất Nghệ An.Cùng với sự tiến triển của lịch sử, dân c Nghệ An ngày càng đông đúc Từ thờivăn hoá Đông Sơn c dân Nghệ An đã lên đến hàng triệu ngời với hàng trăm họtộc có nguồn gốc bản địa hoặc từ nơi khác thiên di tới Dù vậy, con ngời khi đếnsinh sống trên mảnh đất này đều chung một lòng yêu nớc, chung lng đấu cật giữgìn bản sắc văn hoá dân tộc, lao động cần cù siêng năng, dũng cảm chống mọithiên tai địch hoạ, kiên quyết chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập của

Tổ quốc

Nghệ An là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhng nhiều nhất vẫn là 3 dântộc: Việt, Thái, Mờng

Trang 19

Ngời Việt sinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng và các điểm tập trung củamiền núi Tiếng nói của họ khác hẳn giọng nói của ngời Thanh Hoá và Bắc Kì.Xã hội ngời Việt đợc tổ chức vững vàng, họ sống định c thành từng làng NgờiViệt là tộc ngời có trình độ phát triển cao, có nhiều đóng góp rất lớn trong quátrình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc.

Trong quá trình dựng nớc Nghệ An là tỉnh chứng kiến nhiều nền văn hoádiễn ra theo trình tự phát triển Theo các t liệu khảo cổ học, trên đất Việt Namcha có địa điểm văn hoá Đông Sơn nào tập trung nhiều trống đồng lớn và đẹp

nh ở làng Vạc thuộc huyện Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An Tại di chỉ Đồng Mỏmthuộc xã Diễn Thọ huyện Diễn Châu các nhà khảo cổ đã khai quật đợc 6 lòluyện sắt thời kì văn hoá Đông Sơn

Trong quá trình giữ nớc, nhiều danh nhân đất Nghệ ngời Việt đã gópphần to lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển đất nớc nh Mai Thúc Loan,Nguyễn Xí, Quang Trung - Nguyễn Huệ, Trần Tấn, Đặng Nh Mai, NguyễnXuân ôn, Lê Doãn Nhã, Phan Bội Châu một thời lẫy lừng danh tiếng tronglịch sử Đặc biệt là sang đầu thế kỷ XX, một ngời con kiệt xuất của Nghệ An đãlàm vẻ vang đất nớc khắp năm châu bốn bể, Ngời đã tìm ra chân lí độc lập tự docho dân tộc, Ngời là lãnh tụ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh

Ngời Việt ở xứ Nghệ dân phong thuần thục, có khí phách, có trọng nghĩa,

lễ độ Tính ngời rất dễ dãi nhng lại chuộng sự xa hoa đình đám Ngời Việt ởNghệ An không theo một tôn giáo nào nhất định, trừ việc thờ phụng tổ tiên.Làng nào cũng có thờ thành Hoàng Ngoài ra còn thờ những đấng thần linh vàcác bậc công thần nghĩa sĩ ngày xa Họ còn sùng bái đạo Nho: “Chính đạo nho cho tỉnh nhà sản xuất ra lắm danh tài” [40, 23].

Ngời Việt ở Nghệ An cũng nổi tiếng với các hoạt động thủ công nh dệtlụa ở Quỳnh Lu, đúc đồng ở Diễn Châu, đồ gốm ở Đô Lơng, chiếu cói ở Yên Lu(Hng Hoà, Vinh) Từ xa, các đặc sản do ngời xứ Nghệ làm ra, đã trở nên nổi

Trang 20

tiếng nh: cam Xã Đoài, hồng Nam Đàn, nhút Thanh Chơng, tơng bần Nam Đàn,nớc mắm Vạn Phần - Diễn Châu, nuôi tằm ơm tơ dệt lụa ở Quỳnh Lu, Nam

Đàn, Diễn Châu, Đô Lơng

Ngời Thái: từ xa xa, ngời Thái sống ở phía Nam sông Dơng Tử, rồi tràn

về vùng chín con sông gặp nhau tại Vân Nam Sau đó với sự thiên di của ngờiHán, ngời Tạng Miến, một bộ phận ngời Thái chuyển c xuống vùng Tây Bắc -Việt Nam Khoảng thế kỷ XIII, XIV, ngời Thái từ Tây Bắc tràn xuống lu vựcsông Mã, qua Lào hay qua Hoà Bình vào Nghệ An Ngời Thái tập trung sinhsống chủ yếu ở các huyện Quỳ Châu, Quế Phong, Khủn Tinh (Quỳ Hợp), ConCuông, Tơng Dơng

Ngời Thái chiếm cả một phần đất lớn ở phía Tây của tỉnh Nghệ An, “tổ chức thành một xã hội riêng và chia ra thành từng mán thuộc dới quyền cai trị của một đôi họ có quyền hành và thế lực trong mán” [29, 20] Họ không

biết rèn sắt, chế tạo khí cụ, mọi thứ muốn dùng phải dùng những sản vật kiếm

đợc từ rừng để mua bán, đổi chác Nhà ở của họ theo kiểu nhà sàn Tiếng nóicủa ngời Thái là một thứ tiếng nói độc vận Mỗi mán đều có tiếng nói khácnhau, nhng đôi khi pha lẫn tiếng Lào và tiếng Kinh

Ngời Mờng (ngời Thổ):

Ngời Mờng chủ yếu ở huyện Nghĩa Đàn, Tân Kì, một số xã ở Quỳ Hợp

Tổ chức xã hội của ngời Mờng theo kiểu phong kiến Dân c sinh sống chiathành từng mán độc lập Mỗi mán thuộc dới quyền cai trị của một tên thổ ty haythổ mục Ngời Mờng giống hệt ngời An nam nhng cao lớn Phong tục và y phụcgiống hệt ngời Lào Họ biết an c lạc nghiệp và khéo léo, siêng năng hơn ngờiThái Họ biết cày cấy trồng trọt các loại lúa, ngô, khoai, đậu; biết chăn tằm dệtvải, đúc súng, rèn gơm Họ chỉ thích ở nhà sàn Tiếng nói của họ giống tiếngViệt nhng có nhiều tiếng Lào và nhiều thổ âm khó hiểu Trình độ dân trí thấp, ítngời học chữ Ngời Mờng rất sùng bái quỷ thần, thờ thành hoàng, thổ thần

Trang 21

Ngoài ra, trên đất Nghệ An còn có một số tộc ngời khác sinh sống nh

ng-ời Khơ Mú, ngng-ời Mèo

Dân tộc Khơ Mú là tên tự gọi của họ Trớc đây ngời ta thờng gọi là XáKhum hoặc Tày Hạy (ngời Tày làm rẫy) hay Lào Thênh (ngời Lào ở lng chừngnúi) Do biến động lịch sử mà họ từ Lào qua miền núi Nghệ An vào nửa cuốithế kỷ XIX Đây là một dân tộc bị áp bức, nhng có tinh thần quật cờng khámạnh Đến Nghệ An, họ vẫn lâm vào địa vị phụ thuộc mặc dù đã trải qua mộtthời kì đấu tranh kịch liệt để tranh giành đất sống với ngời Thái

Dân tộc Mèo: là tên gọi của ngời ngoài Bắc, còn tên tự gọi của họ làH’mông Ngời Mèo đến Việt Nam cha lâu, cách đây độ 2 đến 300 năm, songvào Nghệ An thì muộn hơn, chủ yếu là sau cuộc khởi nghĩa chống triều đìnhnhà Mãn Thanh mà ta thờng gọi là phong trào “thái bình thiên quốc” Đó là mộtdân tộc thông minh, có chí Họ sống trên núi cao và c trú chủ yếu ở vùng KìSơn, Nghệ An

Ngoài các tộc ngời c trú lâu đời trên đất Nghệ An, nơi đây còn tiếp nhậnnhiều c dân của các tỉnh khác di c tới làm ăn sinh sống nh: Thanh Hoá, NinhBình, Hà Nam, Hà Tĩnh, Quảng Bình Bên cạnh đó, ở Nghệ An còn có các kiềudân ngời Trung Hoa, Nhật Bản, ấn Độ làm các nghề kinh doanh dịch vụ Thờithuộc Pháp, ngời Pháp ở trong tỉnh cũng cần phải kể đến trong dân số của NghệAn

Dù là một tỉnh có điều kiện tự nhiên phức tạp, con ngời thờng xuyên phảivật lộn với thiên tai, hơn nữa nơi đây đã từng là bãi chiến trờng trong nhiều thế

kỷ, nhiều tộc ngời khác nhau cùng sinh sống Nhng ngời Nghệ An luôn thể hiệnkhí phách anh hùng, tính tình cơng trực khảng khái, sống giản dị, yêu thơnggiống nòi sâu sắc, biết đoàn kết để vợt qua mọi gian lao thử thách, đấu tranh

đến cùng cho sự nghiệp bảo vệ nền độc lập của Tổ Quốc

Cho đến nay, sự phân bố dân c trên đất xứ Nghệ vẫn cha đồng đều, ởmiền núi dân c tha thớt, đời sống của nhân dân rất khó khăn, ngời Kinh lại tập

Trang 22

trung chủ yếu ở vùng đồng bằng và các trung tâm Sự chênh lệch về phân bốdân c cũng nh sự cách xa đời sống vật chất, tinh thần ở thành thị và nông thôn,miền núi thể hiện rõ nét đó là hạn chế lớn trong việc phát triển kinh tế mà tỉnhnhà cần chú ý.

1.1.3 Lịch sử.

1.1.3.1 Truyền thống văn hoá.

Trên mảnh đất xứ Nghệ, cách đây hàng vạn năm đã có ngời vợn c trú.Ngời nguyên thuỷ đã nhờ lao động mà tiến triển từ nền văn hoá này sang nềnvăn hoá khác tiến bộ hơn Từ thời văn hoá Đông Sơn - thời đại các vua Hùngdựng nớc Văn Lang, ngời Việt cổ đã phát triển nghề trồng trọt, chăn nuôi, làm

đồ gốm, luyện sắt, đúc đồng Những trống đồng Hê gơ loại I đợc phát hiện rấtnhiều tại Làng Vạc thuộc huyện Nghĩa Đàn, 6 lò luyện sắt đợc phát hiện tại dichỉ Mỏm thuộc xã Diễn Thọ huyện Diễn Châu chứng tỏ trình độ điêu luyện củacác nghệ nhân thời kì này

Bên cạnh đó, bao đời nay nông nghiệp là nghề chính của c dân ở đây.Dân miền núi khai thác rừng, dân miền biển có nghề chài lới và làm muối.Ngoài ra ngời dân ở đây còn có nhiều ngành nghề truyền thống nổi tiếng từ lâunh: rèn sắt ở Nho Lâm, đúc đồng Diễn Tháp, nớc mắm Vạn Phần, nuôi tằm ơmtơ dệt lụa ở Quỳnh Lu, Nam Đàn, Diễn Châu, Đô Lơng, đồ gốm ở Trù ú (Đô L-

ơng), chợ Bộng (Yên Thành), chiếu cói ở Yên Lu (Vinh) Nơi đây có nhiều đồinúi đá vôi, ngời Nghệ An đã chế tác ra các vật dụng phục vụ cho sản xuất và đờisống hàng ngày

Bằng bàn tay lao động và khéo léo, đức tính cần cù, chịu thơng chịu khó

và khối óc thông minh, ngời Nghệ An đã chinh phục tự nhiên làm ra những sảnvật ngon và quý nh cam Xã Đoài, cam Phủ Quỳ, hồng Nam Đàn

Từ miền núi đến vùng đồng bằng của tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc sinhsống Nơi đây từng chứng kiến biết bao sự kiện trọng đại của đất nớc, trongbinh đao khói lửa cũng nh trong giờ phút huy hoàng Tất cả đã hun đúc nên ở xứ

Trang 23

Nghệ một nền văn hoá với nét đặc thù riêng biệt mà độc đáo, thể hiện tấm lòngchân chất, mộc mạc thuỷ chung son sắt của ngời dân nơi này Nghệ An có mộtkho tàng văn học dân gian phong phú đa dạng Nhiều truyền thuyết cổ tích đợc

lu truyền từ đời này qua đời khác Trong đó, đa phần lên án cái ác, ca ngợi điềuthiện và suy tôn các vị anh hùng dân tộc Chuyện Trạng xứ Nghệ phản ánh tinhthần lạc quan và tính cách hóm hỉnh, thâm thuý sâu xa của ngời dân xứ này.Thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố, câu đối, mang tính hàm súc, giàu hình tợng vàngôn ngữ biểu cảm Các làn điệu dân ca sâu lắng, mênh mang, đậm đà chất trữtình

Nghệ An cũng có nhiều công trình kiến trúc cổ với kĩ thuật chạm khắctinh xảo nh đền Cờn, đền Bạch Mã, đền Chiêu Tơng, đình Hoành Sơn, đìnhTrung Cần Dấu tích của nhiều thành quách còn để lại mang ý nghĩa lịch sử nhthành Lam (Hng Nguyên), thành Nam (Con Cuông), thành Trài (Diễn Châu),thành Vinh

Vùng đất xứ Nghệ từ xa đã chịu ảnh hởng sâu sắc của nho giáo, vì thếtruyền thống cử nghiệp của Nho giáo đợc phát huy rất mạnh ở nơi đây Qua cáckì thi hội, thi đình ngày xa, Nghệ An từng đứng thứ nhất, thứ nhì về số thí sinh

đậu tiến sĩ Nghệ An có những làng học nổi tiếng trong cả nớc nh làng Quỳnh

Đôi (Quỳnh Lu), làng Hoành Sơn, làng Trung Cần (Nam Đàn) với nhiều khoabảng nổi tiếng nh: trạng nguyên Bạch Liêu, Hồ Tông Thốc, thám hoa NguyễnVăn Giao, Phan Thúc Trực, tiến sĩ Ngô Tú Hoà, nhà cải cách uyên bác và nổitiếng Nguyễn Trờng Tộ Ngoài ra, Nghệ An còn có hàng trăm ngời đậu tiến sĩ,hàng nghìn ngời đậu tú tài, làm phó bảng Chỉ riêng huyện Quỳnh Lu đã cónhiều bậc tài trí lu danh muôn thuở nh nữ sĩ Hồ Xuân Hơng, nhà sử học Hồ SĩDơng, nhà thơ kiêm ngoại giao Hồ Sĩ Đống, phó bảng Hồ Bá Ôn Nghệ An còn

có nhiều nhà giáo trứ danh nh thám hoa Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Thúc Tự vàmột tầng lớp trí thức đông đảo bình dân đi khắp nơi dạy học, đó là những ông

Trang 24

đồ Nghệ Ngoài thầy đồ còn có các ông thầy thuốc hành nghề với phơng châm

“nam dợc trị nam nhân”, lấy y đức trị bệnh cứu ngời, “lơng y nh từ mẫu”

Bên cạnh khu du lịch với thắng cảnh đẹp mê hồn nh cảng Cửa Lò, hangBua, đền Cờn, vờn quốc gia Pù Mát, Pù Hoạt, biển Diễn Thành là những ditích lịch sử với những công trình kiến trúc cổ lôi cuốn, làm xúc động lòng ngời

nh đền Thục An Dơng Vơng, khu di tích Kim Liên (quê hơng của Chủ tịch HồChí Minh kính yêu) Cùng với nhiều công trình kiến trúc kiểu phơng Tây, cácnhà thờ đạo Thiên Chúa giáo (nhiều nhất ở Xã Đoài thuộc huyện Nghi Lộc) là

hệ thống chùa, am miếu, mang dấu ấn Phật giáo rõ nét có mặt và tồn tại trênkhắp mọi địa bàn của tỉnh nhà

1.1.3.2 Truyền thống lịch sử:

Nghệ An là tỉnh có địa thế hiểm trở, núi non trùng điệp đã trở thành mộttrong những căn cứ quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.Dân Nghệ An có truyền thống yêu nớc và cách mạng rất đáng tự hào

Trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân Nghệ An đã tích cực tham gianhiều cuộc đấu tranh chống bọn thống trị ngoại bang, giành nền độc lập Năm

40 công nguyên, cuộc khởi nghĩa hai Bà Trng nổ ra ở quận Giao Chỉ dân ở CửuChân và Nhật Nam đều hởng ứng cả Trong các cuộc khởi nghĩa của Chu Đạt ởquận Cửu Chân (156 - 160), khởi nghĩa Lơng Long ở Giao Chỉ vào năm 178,cuộc khởi nghĩa Bà Triệu vào năm 248, đồng bào các dân tộc ở huyện HàmHoan (đất Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đều tích cực hởng ứng Vào năm 542,nhân dân Nghệ An đã góp một phần công lao to lớn và xứng đáng trong cuộckhởi nghĩa của Lí Nam Đế (Lí Bí) Cuộc khởi nghĩa đã giúp dân tộc ta giành tựchủ, lập nên Vơng quốc Vạn Xuân (542 - 602) Sang thế kỷ thứ VIII, Mai ThúcLoan lãnh đạo nhân dân Châu Hoan và Châu Diễn nổi dậy chống nhà Đờng(Trung Quốc) xâm lợc Từ thành Vạn An và căn cứ Sa Nam (Nam Đàn) ôngcũng nghĩa quân kéo nhau ra ái Châu (Thanh Hoá), rồi tiến quân ra Bắc đánhchiếm phủ Tống Bình (Hà Nội) giải phóng cả nớc, tự xng là Mai Hắc Đế vào

Trang 25

năm 722 Vào các thế kỷ thứ IX, X, XI, XII đất nớc ta không lúc nào vắng bóngngoại xâm, cùng với nhân dân cả nớc, nhân dân Nghệ An luôn là chỗ dựa tinhthần lớn lao chống giặc, góp sức vào sự nghiệp bảo vệ giang sơn gấm vóc củadân tộc Đến thế kỷ XIII (1285) nhân dân Nghệ An góp phần chặn đánh một h-ớng tiến công của quân Nguyên - Mông khi chúng hành quân từ Nam ra Bắc,khiến cho tớng giặc Toa Đô phải bỏ vùng đất này rút quân ra Thanh Hoá Danhtớng Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên Mông làHoàng Tá Thốn - ông đã có công chặn giặc vùng ven biển và có biệt tài lặn lâu

đục thuyền chiến của quân giặc Vào thế kỷ XV, đất Nghệ An lại một lần nữachứng kiến trận đánh giữa quân ta và quân Minh (Trung Quốc) xâm lợc Nghệ

An trở thành căn cứ địa quan trọng của nhà Hậu Lê

Cơng quốc công Nguyễn Xí (quê ở Nghi Lộc) lập đợc nhiều chiến côngoanh liệt và có vai trò quyết định trong việc trừng trị bọn phản tặc, đa Lê TThành (Lê Thánh Tông) lên làm vua, mở đầu một thời kì hng thịnh vào bậc nhấttrong lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam

Cuối năm 1778 của thế kỷ XVIII, khi ngời anh hùng áo vải Quang Trung

- Nguyễn Huệ trên đờng tiến quân ra Bắc dẹp quân Thanh (Trung Quốc) xâm

l-ợc Ông đã cùng binh sĩ dừng chân tại Nghệ An chiêu mộ thêm quân Hàng vạnngời con của xứ Nghệ đã tham gia vào cuộc tiến quân ấy, góp phần to lớn vàocác chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa của tết Kỷ Dậu (1789)

Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lợc nớc ta, nhân dân Nghệ An ngay từ

đầu đã có thái độ kiên quyết chống Pháp Nhất là khi nhà Nguyễn tỏ ra ngàycàng yếu kém, bạc nhợc lần lợt lấy đất đai của Tổ quốc dâng cho giặc thì tinhthần ấy càng thể hiện rõ “quyết tâm đánh cả triều lẫn Tây” Đó là vào năm

1874, cuộc khởi nghĩa vang dội, chống Pháp đã nổ ra tại vùng Thanh Chơng,Nam Đàn do hai vị chủ soái Trần Tấn và Đặng Nh Mai lãnh đạo Tiếp đó, khiphong trào Cần Vơng dấy lên, tại phía Bắc của tỉnh, các cuộc khởi nghĩa doNguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã đã nổ ra vào thời gian (1885 - 1889) Suốt

Trang 26

trong hơn 10 năm phong trào Cần Vơng nổ ra, nhân dân Nghệ An đã hởng ứngsôi nổi, cống hiến cả ngời và vật chất đi theo các vị chủ tớng của phong trào nhPhan Đình Phùng, Cao Thắng từ miền Hơng Khê (Hà Tĩnh) phát triển rộng raNghệ An Đầu thế kỷ XX, phong trào chống Pháp vẫn sục sôi Đáng chú ý làphong trào Đông Du do Phan Bội Châu (quê ở Nam Đàn, Nghệ An) khởi xớng.Trong thời điểm Phan Bội Châu chuẩn bị thành lập Việt Nam Quang Phục Hộithì ở Nghệ An xuất hiện một ngời con u tú - Nguyễn Tất Thành - Ngời ra đi tìm

đờng cứu nớc vào năm 1911 Quá trình tìm đờng cứu nớc của Ngời đã mở ramột chân trời mới cho cách mạng Việt Nam Từ đó, biết bao thế hệ thanh niênViệt Nam nói chung cũng nh thanh niên xứ Nghệ nói riêng, dới sự dìu dắt củaNgời đã làm nên những kì tích to lớn Một trong những kì tích vĩ đại ấy là sự ra

đời của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1930, đã lãnh đạo toàn dân tộc đi từthắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại nền độc lập vào năm 1945 và thốngnhất hoàn toàn Tổ Quốc năm 1975

Ngày nay, truyền thống yêu nớc đấu tranh cách mạng đang tiếp tục đợcphát huy Nhân dân xứ Nghệ cùng nhân dân cả nớc hàng ngày hàng giờ đấutranh với mọi thói h tật xấu, những tệ nạn xã hội do cơ chế kinh tế thị trờng đem

đến, tiếp tục nâng cao ý chí truyền thống cách mạng, phấn đấu hớng tới cuộcsống lành mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

1.2 Thực dân Pháp xâm lợc Việt Nam và chính sách bình định từ 1885 đến 1898.

1.2.1 Khái quát quá trình thực dân Pháp xâm lợc nớc ta.

Không phải đến năm 1858 thực dân Pháp mới biết đến Việt Nam mà phải

kể từ những năm cuối thế kỷ XVII: “Từ năm 1680 đến năm 1686, t bản Pháp

từ ấn độ đã dòm ngó đến Việt Nam Năm 1686, t bản Pháp đã có ý định ngăm nghe chiếm lấy đảo Côn Lôn là nơi then chốt giao thông từ Châu Âu sang

bể Trung Quốc” [69,; 12] sang thế kỷ XVIII, thông qua các giáo sĩ nhà buôn,

thực dân Pháp đã từng bớc tìm hiểu nớc ta: “Năm 1749, tàu buôn Pháp vào

Trang 27

Hội An xin thông thơng, đồng thời một tên t bản là Pierre Poivre yết kiến chúa Nguyễn Võ Vơng đề nghị giao hảo và thông thơng; khi về Pháp hắn tâu với vua Louis 15 nên mau chiếm lấy Việt Nam kẻo rồi vào tay t bản Anh” [69,

13] Đặc biệt từ nửa cuối thế kỷ XIX âm mu xâm lợc Việt Nam càng lớn hơn.Xâm lợc Việt Nam vừa phục vụ đợc lợi ích cho nền đại công nghiệp của chúngvừa trở thành bàn đạp chắc chắn để xâm chiếm các nớc Đông Dơng và một sốnớc Châu á khác

Vốn có âm mu xâm lợc nớc ta từ sớm, nên liên tục trong các năm 1856

-1857, tàu chiến Pháp nhiều lần cập bến ở cảng Đà Nẵng, có phái viên cầm quốc

th sang Việt Nam nhng bị triều đình Huế cự tuyệt không chịu tiếp, chúng đã nổsúng bắn phá các đồn luỹ, đe doạ, thị uy

Tháng 2 - 1857, giáo sĩ Húc (ngời Pháp) gửi th lên hoàng đế NapôlêôngIII về vấn đề Nam Kì, trong th có đoạn viết rằng “những ngời Anh đang dòm ngó Đà Nẵng, họ sẽ đi trớc nếu họ biết đề án đánh chiếm của ta” [36, 18] Rõ

ràng, xâm lợc thuộc địa không chỉ có Pháp mà trong giới t bản đang ra sức cạnhtranh nhau tìm kiếm thị trờng Bên cạnh Pháp, một đối thủ cổ truyền đang tăngcờng xâm chiếm Viễn Đông là t bản Anh

Tháng 7 - 1857, Napôlêông III quyết định vũ trang can thiệp vào ViệtNam T bản Pháp lấy cớ trả thù việc triều đình Huế không chịu nhận quốc thcủa Pháp đã “làm nhục quốc kì” Pháp Mặt khác, chúng còn lấy cớ bênh vực

đạo, truyền bá văn minh công giáo để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của d luậncông giáo ở Pháp và Việt Nam Song những điều đó đều có sẵn trong kịch bảnxâm lợc Việt Nam mà thực dân Pháp vạch ra từ trớc

Ngày 31 - 8 - 1858, quân Pháp dới sự chỉ huy của Giơmuy phối hợp vớiquân Tây Ban Nha do đại tá Palanca cầm đầu kéo tới cửa biển Đà Nẵng dàntrận Ngày 1 - 9 - 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha chính thức nổ súng xâmlợc Đà Nẵng mở màn cho chiến tranh xâm lợc Việt Nam Đó là thời điểm mà v-

ơng triều Nguyễn của Việt Nam đang trong thời kỳ khủng hoảng suy vong

Trang 28

Trong bối cảnh ấy, để duy trì chế độ xã hội thối nát nhằm bảo vệ đặc quyền đặclợi, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách.

Vì thế, nhà Nguyễn đã bỏ qua những cơ hội có thể tiêu diệt đợc đối

ph-ơng hoặc có thể đa đất nớc phát triển tránh đợc hoạ trở thành thuộc địa của thựcdân Pháp Điều đó thể hiện qua những hành động “kí hoà ớc” với Pháp trongkhi vẫn có đủ điều kiện để đánh Pháp (khi Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất), hoặctrớc những đề nghị canh tân đất nớc của giới sĩ phu, tiêu biểu nh đề nghị canhtân của Nguyễn Trờng Tộ, đợc coi là biện pháp hữu hiệu thì triều đình Tự Đứclại lơi là Thái độ đớn hèn cùng với quyết tâm không cao của triều Nguyễn đãlàm cho nớc Đại Nam rơi vào tay thực dân Pháp

Mục tiêu tấn công đầu tiên của thực dân Pháp là Đà Nẵng, sau đó là đánhvào Gia Định, chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì, đánh ba tỉnh miền Tây, rồi

đánh ra Bắc Kì lần thứ nhất, lần thứ 2, thực hiện chiến tranh xâm lợc trên phạm

vi cả nớc Trớc hành động xâm lợc của thực dân Pháp, nhân dân ta đã đứng lên

đánh đuổi kẻ thù nhng lại vấp phải sự kháng cự quyết liệt của triều đình nên cácphong trào nổ ra đều bị thất bại Triều Nguyễn vì quyết tâm không cao nênkhông huy động đợc sức dân đánh Pháp, ngợc lại đã đi từ nhợng bộ này đến nh-ợng bộ khác đối với kẻ thù Lần lợt các hiệp ớc đầu hàng quân giặc: đầu tiên làhiệp ớc Nhâm Tuất đợc kí kết vào tháng 5 - 1862, hiệp ớc Giáp Tuất kí kết ngày

15 3 1874, hiệp ớc Quý Mùi đợc kí ngày 25 8 1883 và cuối cùng là hiệp

-ớc Giáp Thân đợc kí ngày 6 - 10 - 1884 n-ớc ta hoàn toàn rơi vào tay kẻ thù,khép lại thời kì độc lập tự chủ trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Đất nớc mất chủ quyền, vai trò của tập đoàn phong kiến Nguyễn khôngcòn nữa nhng phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta vẫn diễn ra rấtsôi nổi, đặc biệt là phong trào Cần Vơng Vì thế, sau khi chiếm đợc nớc ta thựcdân Pháp phải mất một thời gian khá dài cho kế hoạch “bình định”, và đến cuốithế kỷ XIX kế hoạch “bình định” mới xong

1.2.2 Thực dân Pháp đánh chiếm và bình định Nghệ An:

Trang 29

Để thực hiện quá trình “bình định” thực dân Pháp tiến hành tăng cờnglực lợng vũ trang, tăng ngân sách xâm lợc, Đồng thời chúng thấy cần phải loại

bỏ phái chủ chiến trong triều, phái này một mặt cản trở chúng biến triều đìnhthành một công cụ đắc lực để sử dụng vào việc bình định và tổ chức cai trị theo

ý muốn Mặt khác sự tồn tại của phe chủ chiến trong triều thúc đẩy phong tràokháng chiến các tỉnh hoạt động sôi nổi Vì thế, chúng tăng cờng truy sát nhữngngời có thái độ kiên quyết chống Pháp trong triều mà đi đầu là Tôn ThấtThuyết

Sau khi chiếm xong kinh thành Huế, thực dân Pháp đem quân đổ bộchiếm đánh thành Quảng Trị và đa tàu chiến từ Huế ra đánh chiếm Nghệ An:

Ngày 20 - 7 - 1885, tớng Sơ- mong đem hai đại đội lính Pháp gồm 188 tên

đổ bộ lên Cửa Hội tiến vào đánh thành Nghệ An” [65, 25].

Ngay khi Nghệ An bị đánh chiếm cũng là lúc chiếu Cần Vơng lần thứnhất đợc ban bố Tại Nghệ An, nhà nho yêu nớc Nguyễn Xuân Ôn hiệu là Ngọc

Đờng, sinh ngày 10 - 5 - 1825 tại làng Quần Phơng, xã Diễn Thái, huyện DiễnChâu “không thể ngồi yên trớc cảnh giang sơn bị chìm đắm đã liên hệ với các bạn bè trong vùng chuẩn bị nghĩa dũng và lơng thực để khởi nghĩa”[9,

246] Ông đã cùng Lê Doãn Nhã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh tiến hành khởinghĩa (1885 - 1889) lập nên nhiều chiến thắng ở các huyện phía Bắc của Nghệ

An (Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lu, Yên Thành ) Cùng với những hoạt

Trang 30

động ở phía bắc của Nguyễn Xuân Ôn, Đề Niên, Lê Trọng Vinh cũng phối hợpvới nghĩa quân vùng Nghi Lộc đánh địch rất kịch liệt ở phía Nam Tuy nhiên,trong trận Cồn Voi ở Minh Thành - Yên Thành, không may Nguyễn Xuân Ôn

đã bị trọng thơng, bị quân Pháp vây bắt ngày 25 7 1887 và qua đời ngày 1

-10 - 1889 Nhng cuộc khởi nghĩa do ông khởi xớng vẫn đợc duy trì Những thủlĩnh kiên cờng của cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục lãnh đạo nhân dân cùng phốihợp với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng và Cao Thắng phát triển từ HàTĩnh trở ra, đánh Pháp Trong hơn 10 năm (1885 - 1896) phong trào Cần Vơng

ở Nghệ An của các văn thân, sĩ phu và nhân dân đã nêu cao tinh thần đấu tranhbất khuất, kiên cờng trong cuộc chống xâm lăng Tuy nhiên, với u thế về vũ khíquân sự, cho đến cuối thế kỷ XIX, ngời Pháp tuyên bố đã hoàn thành sự nghiệp

an ninh, song song với việc từng bớc thiết lập và củng cố bộ máy thống trị ởNghệ An

1.2.2.2 Về chính trị.

Nghệ An thuộc xứ Trung Kì, nghĩa là thuộc dới quyền cai trị của chínhphủ Nam Triều và chính phủ bảo hộ Pháp Bộ máy thống trị của thực dân Pháp

ở Nghệ An đợc tổ chức giống nh một số tỉnh khác của xứ bảo hộ Trung Kì

Đứng đầu tỉnh là toà sứ, đứng đầu toà sứ là một công sứ, song song vớicông sứ Pháp, thay mặt cho chính phủ Nam Triều có quan Tổng đốc An - Tĩnh

Giúp việc cho quan công sứ có quan phó sứ (giúp việc văn phòng và chủ

sự kho bạc), quan lí ở Phủ Quỳ, quan Chánh sở liêm phóng Dới toà sứ là các sởchuyên môn: sở cẩm, sở trớc bạ, lục lộ (coi việc giao thông xây dựng), đoan(đánh thuế gián thu), sở nông chính trông coi việc trồng trọt, sở lâm chính, côngchính, thơng chính, bu chính, các quan lơng y, thú y, các giám binh đồn lính,quan toà án Tây và chức việc ngời an nam

Giúp việc cho tổng đốc có các bố chánh, giữ việc tài chính coi số dân

đinh việc su thuế, điền thổ, tế tự, bảo tồn, thổ trạch Quan án sát trong coi hình

Trang 31

pháp, đốc học coi việc giáo dục, lãnh binh coi việc trật tự trị an Dới cùng cóthông phán, kinh lịch và một số thừa phái, lục sự giúp việc.

Mối quan hệ giữa hai cơ quan cai trị và phong kiến là mối quan hệ lệthuộc Mọi việc lớn hay nhỏ của cơ quan cai trị Nam Triều ở Nghệ An đều phảitrình và đợc “toà sứ” duyệt phê mới có giá trị thực hiện Điều đó chứng tỏ sự lệthuộc của nhà nớc phong kiến Nam Triều vào chính quyền thực dân Với sự tồntại hai hệ thống chính quyền này, thực dân Pháp vừa thâu tóm quyền lực vừa

đồng thời duy trì chính quyền quân chủ tạo ra bộ máy tay sai làm công cụ chochúng Trớc tình hình đó, Nghệ An có những thay đổi về mặt hành chính: “Tới năm 1896, sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng, Hà Tĩnh chỉ còn 2 phủ, 6 huyện, tỉnh Nghệ An có 5 phủ huyện Từ đó, các khu vực hành chính của Hà Tĩnh gần nh ổn định, chỉ có tỉnh Nghệ An theo từng bớc phát triển mới bởi công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp

mà trong thời kì đó có một số điều chỉnh về hành chính” [9, 285] Đó là vào

năm 1899, để nắm chắc hơn miền Tây - Nghệ An, bọn thực dân đã cho thànhlập tại Cửa Rào (Tơng Dơng) một đại lí hành chính Tiếp đó, chúng cho lập thịxã Vinh với đầy đủ các khoản ngân sách riêng Năm 1902, chúng đặt ở DiễnChâu một đại lí của công sứ Nghệ An, đến năm 1907 thấy không có lợi mới bãimiễn Để nắm chắc đồng bào các dân tộc ít ngời ở miền Tây - Nghệ An, năm

1907 chúng chia phủ Quỳ Châu thành hai đơn vị hành chính: huyện Nghĩa Đàn

và phủ Quỳ Châu Đến năm 1914, do sự mở rộng của khu vực công nghiệp, thịtrấn Bến Thuỷ đã đợc đổi thành thị xã Bến Thuỷ ngang hàng với thị xã Vinh.Năm 1917, cùng với việc đặt tuyến đờng sắt Hà Nội - Vinh - Đông Hà chúngcho lập thêm đơn vị hành chính mới là thị xã Trờng Thi tơng đơng với thị xãVinh, Bến Thuỷ Đến ngày 10 - 12 - 1927, 3 trung tâm thị xã Vinh, Bến Thuỷ,Trờng Thi đợc nhập lại thành thành phố Vinh - Bến Thuỷ

Trang 32

Cho đến năm 1936, đơn vị hành chính của Nghệ An gồm: 11 phủ huyện,trong đó có 3 phủ và 6 huyện ở trung châu và hai phủ ở thợng du và một thànhphố lớn Vinh - Bến Thuỷ

Theo bảng thống kê của Toà Khâm sứ Trung Kì thì năm 1936, dân sốtoàn tỉnh Nghệ An có 681.002 ngời, trong đó ngời Việt 650.000 ngời, ngời Thái

và ngời Mờng 30.000 ngời, các kiều dân 622 ngời, ngời Pháp 380 ngời

1.2.2.3 Về kinh tế.

Sau khi cơ bản bình định xong nớc ta, thực dân Pháp đã xác định rõ mộtphơng châm quan trọng trong khai thác thuộc địa là chiếm đoạt ruộng đất, xâydựng những đồn điền cây công nghiệp để phục vụ cho chính quốc Đây vừa làthủ đoạn vừa là mục đích cuộc khai thác của thực dân Pháp trên một đất nớcthuộc địa mà nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp

Nghệ An thuộc xứ Trung Kì, do vậy quy chế về việc nhợng đất đai đợcban hành chậm hơn các khu vực khác Cũng nh trong vấn đề chính trị, trongchính sách kinh tế ở Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, chính quyềnNam Triều ngày càng thể hiện rõ sự lệ thuộc của mình vào thực dân Pháp

Tháng 10 - 1888, vua Đồng Khánh ban hành một đạo dụ để thực thi điều

13 hiệp ớc Patơnot về quyền mua tậu đất đai của ngời Pháp Điều 1 của đạo dụnày ghi: “Các công dân Pháp và những ngời đợc ngời Pháp bảo hộ mua tậu một cách hợp thức tài sản trên lãnh thổ Bắc Kì và ở các cảng của Trung Kì sẽ

có toàn quyền sở hữu những tài sản đó theo luật pháp nớc Pháp Ngoài ra, việc mua bán tuân theo quy định của đạo dụ này sẽ đợc đặt dới sự quản lý của những quy chế đặc biệt do Toàn quyền Đông Dơng, ngời đã đợc chúng tôi

uỷ thác mọi quyền hành đặt ra” [66, 24].

Ngày 27 - 9 - 1897, vua Thành Thái hạ dụ chính thức thừa nhận quyền sởhữu cá nhân của thực dân Pháp đối với số tài sản mà chúng đã chiếm đợc dù dớihình thức nào ở Trung Kì Một ngày sau đó, ngày 28 - 9 - 1897, Toàn quyền

Đông Dơng ra nghị định chuẩn y đạo dụ này của triều Nguyễn, mở rộng diện áp

Trang 33

dụng quyền sở hữu cá nhân ruộng đất trên toàn lãnh thổ: “Những công dân Pháp và những ngời đợc Pháp bảo hộ, có đất do đợc ban tặng hoặc mua lại của những ngời có ruộng đất sẽ đợc hoàn toàn sở hữu cá nhân của họ, miễn là

họ phải tuân thủ những quy định do toàn quyền ban hành” [45, 113].

Điều khoản pháp lý trên đã mở đờng cho thực dân Pháp chiếm đoạtruộng đất của nhân dân Việt Nam nói chung cũng nh Nghệ An nói riêng Ngaysau đó, t bản thực dân Pháp và những đại địa chủ ngời Việt đã mở rộng diện tíchcanh tác ở những vùng đất hoang

Đạo dụ ngày 14 – 8 - 1898 ở Trung Kì về vấn đề “thuế thân và thuế

đinh đánh vào ngời dân từ 18 đến 60 tuổi” mà chính quyền Nam Triều đã giaocho chính quyền thực dân trực tiếp thu đã chứng tỏ sự nhợng bộ của triều đìnhngày càng lớn: “ Việc chi trả phải bằng tiền chứ không phải bằng hiện vật Lợi tức trực tiếp sẽ đợc đa vào các khoản chi tiêu cho việc cai trị của Pháp và Nam Triều, cho tuế phí triều đình” [32, 27].

Đến ngày 24 - 8 - 1898, trong một tờ thông tri, khâm sứ Trung Kì lạituyên bố: “Từ nay trên vơng quốc An nam không còn tồn tại hai chính quyền nữa mà chỉ có một chính quyền duy nhất thôi” [34, 62].

Sau những đạo dụ và nghị định trên năm 1899, quy chế ruộng đất ởTrung Kì đợc ban hành, chính quyền thuộc địa toàn quyền quản lý, sử dụng đấtthuộc quốc gia công điền công thổ, có quyền cấp nhợng cho các công dân Pháp

và những ngời đợc ngời Pháp bảo hộ

Ngày 1 - 5 - 1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữuruộng đất trong luật pháp phong kiến để dễ cớp đoạt ruộng đất của nông dân

“Đất hoang” “đất vô chủ” thực ra là đất màu mỡ của nông dân bị thực dân Pháp

đuổi đi chiếm đoạt

ở Trung Kì nói chung và Nghệ An nói riêng, ruộng đất của nghĩa quânthời Cần Vơng và văn thân, ruộng đất của nông dân đi sơ tán các nơi khác đều

bị coi là đất vô chủ và bị chiếm làm đồn điền Có thể nói, sau khi bình định

Trang 34

xong nớc ta thực dân Pháp đã tiến hành thiết lập những đồn điền thí nghiệm đầutiên trên cả ba Kì

1.3 Thực dân Pháp xây dựng cơ sở pháp lí mới cho công cuộc thiết lập và khai thác đồn điền ở Nghệ An.

1.3.1 Vấn đề xác định tính pháp lí của việc nhợng đất lập đồn điền qua các thời kì lịch sử.

Đồn điền là một quy chế có từ rất xa ở Trung Hoa thời Hán, từ thế kỷ IIsau công nguyên Đó là một tổ chức khai hoang làm ruộng của Nhà nớc điềuhành thông qua các chức văn võ chỉ huy lực lợng binh lính hoặc tù phạm hay

mộ dân tập hợp thành các đội để tiến hành canh tác Tổ chức này có thể đợcthực hiện ở nớc ta từ thời Bắc Thuộc nhng theo sử sách đồn điền đợc thi hành ởnớc ta nhiều và đều khắp từ thời Trần Trong các cuốn sách Đại Việt sử kí đều

có nói: năm 1344, nhà Trần quyết định đặt ra các chức đồn điền sứ và phó sứ ở

ty khuyến nông Công việc của đồn điền do nhà nớc điều hành sản xuất và phânphối sản phẩm, lực lợng đồn binh là binh lính, tù phạm hoặc dân mộ đợc tổchức thành các đội ở Nghệ An, thời kì này, Trấn Thủ Nguyễn Tôn Mật đãcùng với nông dân miền Tây - Nghệ An khai phá nên 70 động, sách ở miền núi

ở Quỳnh Lu, ông Nghè Hồ Sĩ Dơng đã cùng nhân dân trong vùng lập nên cáclàng Nh Bá, Thọ Vực, Mỹ Hoà, Nhân Huống

Dới thời Minh đô hộ, đồn điền cũng đợc thiết lập nhiều ở Nghệ An và

đều là các đồn điền do binh lính canh tác, các lính đồn điền phải nạp tô rấtnặng Sang thời Lê, vấn đề đồn điền cũng đợc Vơng triều hết sức quan tâm Nhờ

đó các làng, các điền trang đợc lập nên khá nhiều ở vùng đất Nghệ An NguyễnHội là ngời có công khai phá vùng cửa xá lập nên làng Hải Xá, nay là ThợngXá (huyện Nghi Lộc) Nguyễn Xí - con của Nguyễn Hội, là một anh hùng cócông trong cuộc kháng chiến chống Minh, đợc nhà Lê cấp đất dọc bờ biển Cửa

Lò ngày nay Nguyễn Xí lập nên rất nhiều làng nhờ kết quả lao động của một số

tù binh ngời Chăm Con trai của Nguyễn Xí là Nguyễn S Hồi đợc ban cấp các

Trang 35

vùng biển Cây Bàng lập nên các làng Vạn Lộc, Tân Lộc (nay là xã Nghi Tânhuyện Nghi Lộc) ở phía Nam huyện Nghi Lộc có bà Vơng Mẫu Phạm ThịDung (mẹ vú của vua Trần Nhân Tông) khi trở về địa phơng đã khai khẩn điềntrang ở vùng Nghi Thái, Đức Thịnh Bên cạnh các làng xã do nông dân khaihoang lập nên hoặc do kết quả chiêu dân lập ấp của các dòng họ, quan lại, quýtộc, đại địa chủ lớn ở địa phơng những nhà giàu ở các tỉnh khác di c vào khaikhẩn rồi chiếm làm của t Vùng Chín Nam huyện Nam Đàn trớc đây do Lí NhậtQuang - con trai thứ 8 của vua Lí Thái Tổ khai phá lập thành trang trại… Đến

đầu thời nhà Lê, Nguyễn Nhâm Mỗ - quê ở Thanh Hoá đợc phong tớc quậncông và đợc phép khai khẩn đất hoang Nguyễn Nhâm Mỗ đã đa họ hàng, gianhân vào Nghệ An cùng nhân dân địa phơng khai khẩn độc đất Kim Đôi, KimSa Làng Trung Cần do đó đợc mở rộng thêm

Năm 1481, Lê Thánh Tông chủ trơng lập đồn điền nhằm mục đích: cốt

đổ hết sức vào việc làm ruộng rộng nguồn tích trữ cho Nhà nớc Nhờ đó 43 sở

đồn điền đợc thành lập phần lớn tập trung ở phía Nam Nghệ An có 2 sở:

Đồn điền Anh Sơn vùng Tây Nam Anh Sơn giáp Con Cuông ngày nay

Đồn điền Diễn Châu nằm ở trung tâm huyện

ở các sở đồn điền, nhà nớc cử quan lại về phụ trách Tình hình nôngnghiệp đến thế kỷ XV đang trên đà phát triển nhờ những chính sách của Nhà n-

ớc trong đó có chính sách đồn điền thì những biến đổi về chính trị lớn diễn ratrực tiếp trên địa bàn Nghệ An kéo dài suốt 3 thế kỷ 16, 17, 18 đã phá hoại khảnăng vơn lên của địa phơng Trong chiến tranh Trịnh - Nguyễn, chiến tranhphong kiến Đàng Trong - Đàng Ngoài, Nghệ An là chiến trờng chính của 2 thếlực phong kiến đối địch, do đó ruộng đất bị bỏ hoang nhiều, nhân dân phiêu tánkhắp nơi, làng xóm bị tàn phá Đến thời Nguyễn, ở Nghệ An chính quyền đãthực hiện bằng nhiều hình thức để duy trì và tiếp tục phát triển các đồn điền cũ.Nhà Nguyễn có đề ra các chính sách khai hoang và kêu gọi nhân dân về vớiruộng đồng, nhng trong thực tế ý đồ đó cha thực hiện đợc nh ý vì ruộng đất của

Trang 36

dân xiêu tán ở các trấn vẫn bị địa chủ chiếm canh, che dấu lẫn nhau khiến dânxiêu tán sinh lòng ngờ vực nhiều ngời cha dám về.

Nhìn chung, trong suốt thời kì quân chủ, trong các đồn điền, nhà nớcphong kiến Việt Nam đã sử dụng phơng thức sản xuất cổ truyền “con trâu là

đầu cơ nghiệp”, lực lợng sản xuất trong đồn điền là những binh lính hoặc tùphạm của triều đình, cây trồng chủ yếu trong các đồn điền vẫn là cây lúa và cácloại cây hoa màu Những yếu tố: thuỷ lợi, phân, giống, sức kéo của trâu bò lànhững yếu tố hết sức quan trọng để phát triển kinh tế nông nghiệp, ngoài ra cònphải kể đến những nông cụ thô sơ cổ truyền nh cuốc, liềm, cày, bừa

Nhng khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, mục tiêu căn bản là biến ViệtNam thành thuộc địa phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc: “Khai thác những vùng lãnh thổ rộng lớn mà chúng ta chiếm đợc thiết lập ở đó những đồn điền phát triển sức sản xuất của thuộc địa và bằng chính con đờng phát triển thơng mại với chính quốc” [30, 77] Thực dân Pháp đã tiến hành khai thác đồn điền

bằng phơng pháp lao động cổ truyền của ngời bản xứ kết hợp với yếu tố t bảnlàm cho diện mạo kinh tế đồn điền cũng nh mọi cơ chế khác trong đồn điềnkhác xa rất nhiều

Trớc khi tiến hành làm kinh tế đồn điền, ngời Pháp đã ban hành nhiềuvăn bản pháp lí mới để hợp pháp hoá quá trình chuyển nhợng đất lập đồn điền

1.3.2 Quy chế mới về việc cấp nhợng đất đai của thực dân Pháp thi hành ở Nghệ An.

Phơng thức sử dụng và chuyển nhợng ruộng đất cũng nh các điều kiệnnhợng lại và khai thác đồn điền từ trớc cho đến năm 1913 đợc qui định bằngnhững văn bản địa phơng riêng cho mỗi xứ thuộc Đông Dơng Để có sự thốngnhất về di nhợng đất đai giữa các khu vực, nhằm đẩy nhanh tốc độ khai thácthuộc địa trên lĩnh vực nông nghiệp với quy mô lớn, từ năm 1913 trở đi thựcdân Pháp đã loại bỏ những quy định cũ, ban hành văn bản mới áp dụng thốngnhất trên toàn xứ Đông Dơng về việc di nhợng đất đai và khai thác đồn điền

Trang 37

Nghệ An thuộc xứ Đông Dơng phải tuân theo những văn bản pháp lí mới đó củachính quyền thực dân.

Trớc hết là nghị định ngày 27 tháng 12 năm 1913 Nghị định này nêu

lên nguyên tắc qui định chung đầu tiên cho toàn xứ Đông Dơng, qui định việcchuyển nhợng ruộng đất công Quy định chính của văn bản nói trên đã phânbiệt giữa hai loại đất:

Thứ nhất: đất thành phố, nằm trong phạm vi các trung tâm, chỉ chuyểnbán với giá cao bằng con đờng đấu thầu

Thứ hai: cấp phát đất nông thôn, theo đơn xin công khai, trả tiền hoặckhông trả tiền, trên 1000 ha do ông Toàn quyền quyết định, dới con số đó thì docác ông thủ trởng chính quyền địa phơng quyết định

Việc cấp phát đồn điền có trả tiền, bằng cách đấu thầu không có giới hạn,cùng một ngời có thể xin nhiều khu đất Lúc đầu trả ngay một nửa, còn lại mộtnửa thì trả theo hai thời hạn dài bằng nhau, từ năm này sang năm sau

Việc cấp phát đồn điền không phải trả tiền là trờng hợp đặc biệt, mức tối

đa cấp phát là 300 ha Lần cấp phát thứ hai chỉ có thể thực hiện nếu nh đã khaithác đợc 4/5 số đất đợc cấp lần đầu và chỉ cấp lần hai này mà thôi

Ngời đợc cấp phát, không trả tiền hay trả tiền, lúc đầu chỉ đợc cấp tạmthời, chỉ sau khi đợc công nhận chính thức là đã thực tế khai thác thì mới đợccấp chính thức, và lúc này trở đi thì mới chịu thuế

Việc khai thác phải tiến hành theo thời hạn qui định trong điều lệ đấuthầu đối với trờng hợp cấp phát có trả tiền, và trong năm năm đối với trờng hợpcấp phát không trả tiền Nếu không khai thác thì có thể bị xoá bỏ toàn bộ haymột phần cấp phát và hoàn trả lại tiền của số đất trả về chính phủ, có khấu trừ1/10 để bồi thờng

Nghị định này quy định về quyền hạn của Toàn quyền, thống đốc thống

sứ, khâm sứ về cấp đất và nó đã đợc các nhà t bản thực dân lợi dụng triệt đểchiếm đoạt ruộng đất của nông dân một cách tàn nhẫn

Trang 38

Nhng do sự đấu tranh mạnh mẽ của nông dân và trớc tình hình có đơn xincấp phát đồn điền năm 1925 lên tới 50.000 ha, nghị định năm 1913 đợc bổ sung

để quy định thống nhất những thể lệ của địa phơng còn thiếu sót

Có thể nói, nghị định năm 1913 là một văn bản nguyên tắc, đã thi hànhtrên một phạm vi rộng rãi, do đó thể lệ quy định của các địa phơng đã phát triểntheo chiều hớng khác nhau, nảy sinh ra mâu thuẫn Vì thế, một nghị định mới ra

đời: nghị định ngày 19/9/1926 bổ sung cho nghị định năm 1913 T tởng chủ

đạo của văn bản mới là nh sau:

Xứ thuộc địa, chủ nhân trên đất đai của mình, có nhiệm vụ chỉ cấp pháttrong chừng mực và điều kiện thoả mãn tối đa lợi ích chung Vì vậy chínhquyền phải dành quyền cho ngời bản xứ đợc sử dụng đất đai cần thiết cho nhucầu hiện tại và tơng lai của họ, bảo đảm duy trì các khu rừng núi cần thiết chochế độ thuỷ văn bình thờng, bảo hộ cho bản thân các hãng kinh doanh bằngcách chỉ mở cho họ những vùng thuận lợi cho công cuộc khai thác thuộc địa.Nhằm mục đích đó, văn bản dự trù kế hoạch điều tra nghiên cứu đất đai trong

xứ Đây là kế hoạch đầu tiên để đi vào khai thác thuộc địa

Xứ thuộc địa phải rút ra một khoản thu hoạch hợp lý từ những việc cấpphát này, vì vậy phải cấp phát theo trờng hợp có trả tiền Ngời ta bỏ những hìnhthức thơng lợng hữu nghị, vì nó thờng gây trở ngại và làm cho chính quyền bịnghi ngờ, song là đối với các công việc kinh doanh đặc biệt, do tầm quan trọnghoặc do tính chất vì lợi ích công cộng của họ; hai là ngời yêu cầu đầu tiên thì cóquyền u tiên tăng giá mua Nh vậy là thừa nhận cho ngời đó hởng quyền lợiphát hiện đất

Chính quyền có quyền bác bỏ những ngời yêu cầu mà không có sự đảmbảo cần thiết Nh vậy, ngời làm đơn phải để chính quyền nghiên cứu đồng ý, vàphải bỏ chứng minh là mình có vốn cần thiết để khai thác đất đợc cấp phát, địnhngạch đợc quy định tuỳ theo các xứ và tuỳ theo tính chất của công việc kinh

Trang 39

doanh Nh vậy là đã đặt ra nguyên tắc về khả năng tài chính để xác định cho cácvăn bản về sau này.

Xứ thuộc địa bao giờ cũng nhợng lại theo một giá phải chăng, giúp đỡthật sự cho các hoạt động kinh doanh; chính quyền góp phần vào công cuộckhai thác bằng phơng tiện trang bị kinh tế cho xứ này Vì vậy chính quyền phânchia lợi nhuận với các hãng kinh doanh là điều hợp lý Văn bản năm 1926 có ý

định bớc đầu thực hiện nguyên tắc đó bằng cách lập ra một thứ thuế đánh 2%vào giá trị của sản phẩm nguyên vẹn Thật ra, các hoạt động khai thác nhỏ vàtrung bình đợc khuyến khích và đợc miễn không thi hành các biện pháp đó, và

có quyền đợc cấp phát các đồn điền không phải trả tiền cho tới 300 héc ta

Đặc biệt, về các hoạt động kinh doanh lớn, việc áp dụng các biện pháp

nh vậy đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều vấn đề thuộc phạm vi kĩ thuật tài chính,chính trị, phải điều hoà quyền lợi giữa các địa phơng Để giải quyết vấn đề này,ngời ta có lập ra một Tiểu ban trung ơng khai thác thuộc địa gồm có các thủ tr-ởng các cơ quan toàn Đông Dơng có liên quan và các đại biểu đợc bầu của giớinông nghiệp ngời bản xứ Các xứ thuộc Đông Dơng cũng đợc yêu cầu thành lậpcác tiểu ban địa phơng dựa trên những cơ sở nh vậy

Việc chiếm đoạt ruộng đất để kinh doanh đã đem lại những món lợi lớn,

do vậy nhiều nhà t bản tranh chấp nhau Điều đó đã dẫn tới sự can thiệp củaTổng thống Pháp bằng sắc luật ngày 14/11/1928 - một sắc luật mới về đi nh- ợng ruộng đất và khai thác đồn điền lại đợc ban hành.

Chủ trơng chung:

Sắc luật này duy trì sự phân biệt đợc xác định trong nghị định chung27/12/1913 giữa loại đất thành phố và đất nông thôn phụ thuộc vào tài sản tnhân; chủ trơng này nhằm mục đích duy nhất là qui định việc cấp phát hoặc chothuê đất nông thôn, còn việc cấp phát đất thành phố thì vẫn quy định bằng cácnghị định chung và nghị định địa phơng và do Hội đồng chính phủ phê chuẩn

Trang 40

Cấp phát có trả tiền là quy định đối với nông thôn, cấp phát không trảtiền chỉ là trờng hợp cá biệt, nhằm khuyến khích hoạt động khai thác thuộc địanhỏ và của ngời Pháp hay ngời bản xứ và hạn chế ở mức tối đa là 300 hécta.

Đối với mỗi xứ thuộc Đông Dơng, sắc luật quy định thiết lập chơng trìnhkhai thác thuộc địa cho từng tỉnh và từng vùng lớn Những chơng trình kế hoạchnày xác định lãnh thổ dành lại cho ngời bản xứ, các phạm vi mỏ cho hoạt độngkhai thác thuộc địa và những phạm vi khép đóng, những khu đất dành cho việcgây lại rừng Chơng trình này cũng quy định phạm vi các khu đất, do giá trị đất

đai, do vị trí địa hình hoặc do có công trình tu bổ kinh tế mang tính chất quantrọng thì sẽ cấp phát theo từng con đờng đấu thầu công khai sau khi ớc lợng giátrị qua cơ quan kĩ thuật

Những chơng trình đó đợc xây dựng sau khi xin ý kiến của Tiểu ban khaithác thuộc địa thành lập bên cạnh ông Toàn quyền và các ông thủ trởng chínhquyền địa phơng, thành phần 1/3 là các nhà thực dân Pháp và bản xứ, 2/3 là đạibiểu của chính quyền Toàn quyền Đông Dơng và các cơ quan hữu quan, và bắtbuộc phải xin ý kiến về tất cả mọi vấn đề quan hệ tới chế độ và việc cấp phát

đồn điền

Những điều kiện để cấp phát đồn điền:

Chỉ có những ngời công dân Pháp, có quốc tịch Pháp hay là ngời dân bảo

hộ của Pháp thì mới đợc cấp phát đồn điền Các công ty phải có trụ sở đặt trênlãnh thổ Pháp hoặc đất bảo hộ của Pháp, đa số hội viên cũng nh các quản trịviên và giám đốc, các thành viên của hội đồng quản trị hoặc ban giám đốc, ngờihợp tác đều phải là công dân Pháp, ngời có quốc tịch Pháp hay là ngời dân bảo

hộ của Pháp, nếu không thì không đợc

đất cấp phát đồn điền, dù không phải trả tiền bao giờ cũng chỉ cấp pháttạm thời, nó chỉ trở thành chính thức khi nào việc khai thác theo thể lệ quy địnhtrong văn bản điều lệ đã đợc chính thức công nhận

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Jean - Pierre Aumuphin (1994), Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ởĐông Dơng (1859 - 1938). Ngời dịch: Đinh Xuân Lâm, Ngô Thị Chính, Hồ Song, Phạm Quang Trung, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở"Đông Dơng (1859 - 1938
Tác giả: Jean - Pierre Aumuphin
Năm: 1994
2. Ban chấp hành (BCH) Đảng bộ huyện Đô Lơng (1991), Lịch sử Đảng bộ ĐôLơng sơ thảo - tập 1 (1930 - 1963), Xởng in báo Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đô"Lơng
Tác giả: Ban chấp hành (BCH) Đảng bộ huyện Đô Lơng
Năm: 1991
3. BCH Đảng bộ huyện Nam Đàn (1990), Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Nam Đàn sơ thảo, tập 1 (1930 - 1954), Nhà xuất bản (NXB) Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản ViệtNam huyện Nam Đàn sơ thảo
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Nam Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản (NXB) NghệTĩnh
Năm: 1990
4. BCH Đảng bộ Nông trờng Đông Hiếu (1991), 35 năm nông trờng quốc doanh Đông Hiếu, Xởng in Tiến bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 35 năm nông trờng quốcdoanh Đông Hiếu
Tác giả: BCH Đảng bộ Nông trờng Đông Hiếu
Năm: 1991
5. BCH Đảng bộ huyện Nghi Lộc (1991), Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc, Xí nghiệp in Nghệ an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Nghi Lộc
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Nghi Lộc
Năm: 1991
6. BCH Đảng bộ huyện Quỳnh Lu (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Quỳnh Lu (1930 - 2000), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quúnh Lu(1930 - 2000
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Quỳnh Lu
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
7. BCH Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Quỳnh Lu (1990), Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: QuỳnhLu huyện địa đầu xứ Nghệ
Tác giả: BCH Đảng bộ, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Quỳnh Lu
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1990
8. BCH Đảng bộ huyện Thanh Chơng (2005), Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng (1930 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện ThanhChơng (1930 - 1975)
Tác giả: BCH Đảng bộ huyện Thanh Chơng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
9. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh (1984), Lịch Sử Nghệ Tĩnh, tập 1, NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch Sử Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1984
10. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh (1981), Xô viết Nghệ Tĩnh, NXB Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xô viết Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXBSự thật Hà Nội
Năm: 1981
11. B.E.I (1930), "Chuyên luận về nông nghiệp tỉnh Nghệ An”, Tập san chấn h- ng kinh tế Đông Dơng, bộ B từ trang 842 đến 874b. Phạm Mạnh Phan (dịch), tài liệu lu trữ tại kho Địa chí, th viện Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên luận về nông nghiệp tỉnh Nghệ An
Tác giả: B.E.I
Năm: 1930
12. H. Le Breton (2005), An - Tĩnh cổ lục, NXB Nghệ An - Trung tâm văn hoángôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: An - Tĩnh cổ lục
Tác giả: H. Le Breton
Nhà XB: NXB Nghệ An - Trung tâm văn hoángôn ngữ Đông Tây
Năm: 2005
13. J. Brévíe (1937), Bài diễn văn của quan Đông Pháp toàn quyền địa thầnđọc ngày 2/6/1937 về dịp khánh thành công cuộc dẫn thuỷ nhập điền ở miền Bắc Nghệ An, tài liệu lu trữ tại th viện tỉnh Nghệ An. Kí hiệu NA 350 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài diễn văn của quan Đông Pháp toàn quyền địa thần"đọc ngày 2/6/1937 về dịp khánh thành công cuộc dẫn thuỷ nhập điền ởmiền Bắc Nghệ An
Tác giả: J. Brévíe
Năm: 1937
14. Roland Bulateau (1925) - Bùi Đình Thiện (dịch), Tỉnh Hà Tĩnh (La Provin de Ha Tinh), Tài liệu do ông Thái Kim Đỉnh - Sở văn hoá Hà Tĩnh, cung cÊp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tỉnh Hà Tĩnh (La Provinde Ha Tinh)
15. Castanhon (1930), “Lời chú giải về việc trồng gai ở Nghệ An”, Tập san chấn hng kinh tế Đông Dơng. Phạm Mạnh Phan (dịch), lu trữ tại th viện tỉnh Nghệ An, kí hiệu NA 348 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời chú giải về việc trồng gai ở Nghệ An
Tác giả: Castanhon
Năm: 1930
16. Castanhon (1930), "Báo cáo về việc khai hoang ở vùng Phủ Quỳ", Tập san chấn hng kinh tế Đông Dơng. Phạm Mạnh Phan (dịch), tài liệu lu trữ tại th viện tỉnh Nghệ An, kí hiệu NA 348 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về việc khai hoang ở vùng Phủ Quỳ
Tác giả: Castanhon
Năm: 1930
17. Vũ Cận (1962), Phủ Quỳ miền đất đỏ, Nhà máy in Tiến Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Quỳ miền đất đỏ
Tác giả: Vũ Cận
Năm: 1962
18. Cờlôđiông (1928), “ Nỗi cơ cực của vùng Phủ Quỳ ”, Tập san chấn hng kinh tế Đông Dơng, (số 558) ra ngày 26 - 2. Phạm Mạnh Phan (dịch), lu trữ tại th viện Nghệ An, kí hiệu NA 395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi cơ cực của vùng Phủ Quỳ
Tác giả: Cờlôđiông
Năm: 1928
19. Nguyễn Thị Phơng Chi (1996), “Vài nhận xét về tình hình điền trang thời Trần”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về tình hình điền trang thờiTrần
Tác giả: Nguyễn Thị Phơng Chi
Năm: 1996
20. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Khoa họcxã hội
Năm: 1992

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Danh mục diện tích trồng cà phê ở các tỉnh Trung Kì - Kinh tế đồn điền ở nghệ an thời thuộc pháp 1897   1945
Bảng 3 Danh mục diện tích trồng cà phê ở các tỉnh Trung Kì (Trang 86)
Bảng 4: Giá cà phê sau khi đợc chở ra tận các bến cảng (tính theo đồng tiền Đông Dơng). - Kinh tế đồn điền ở nghệ an thời thuộc pháp 1897   1945
Bảng 4 Giá cà phê sau khi đợc chở ra tận các bến cảng (tính theo đồng tiền Đông Dơng) (Trang 87)
Bảng 5: diện tích ruộng đất thực dân Pháp đã chiếm đoạt ở các tỉnh Trung - Kinh tế đồn điền ở nghệ an thời thuộc pháp 1897   1945
Bảng 5 diện tích ruộng đất thực dân Pháp đã chiếm đoạt ở các tỉnh Trung (Trang 94)
Bảng 6: Số đồn điền và diện tích đồn điền của ngời Pháp (1910 - 1945). - Kinh tế đồn điền ở nghệ an thời thuộc pháp 1897   1945
Bảng 6 Số đồn điền và diện tích đồn điền của ngời Pháp (1910 - 1945) (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w