1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào yêu nước chống pháp ở miền tây nghệ an từ năm 1885 đến năm 1945

88 413 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, thấy được mối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sửdân tộc, hiểu sâu sắc thêm nét đặc trưng của phong trào yêu nước chống Phápcủa đồng bào các dân tộc ít người ở miền Tâ

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử - -

Nguyễn Thị hựu

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Phong trào yêu nớc chống pháp ở miền tây nghệ an từ

năm 1885 đến năm 1945

Chuyên ngành lịch sử việt nam

vinh , 2010

Trang 2

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử - -

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Phong trào yêu nớc chống pháp ở miền tây nghệ an từ

năm 1885 đến năm 1945

Giáo viên hớng dẫn: ThS Dơng Thị Thanh Hải

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hựu

Lớp : 47 B3 - Lịch sử

vinh , năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện đề tài này,chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Sở GD&ĐT tỉnh Nghệ An, phòng GD&ĐT huyện Quỳ Châu, UBND huyện Quỳ Châu, trung tâm thư viện và ban nghiên cứu lịch sử của huyện Quỳ Châu đã giúp đỡ tôi có điều kiện tiếp cận và sưu tầm xác minh

tư liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài khoa học.

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Dương Thị Thanh Hải người đã nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành đề tài này

Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ, giáo viên khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập ở khoa và ở trường Đại học Vinh

Tuy nhiên, vì thời gian và năng lực có hạn nên chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp từ phía hội đồng khoa học và tập thể cán bộ giáo viên khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh.

Vinh, tháng 5 năm 2010

Nguyễn Thị Hựu

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ An là một trong những tỉnh lớn của nước ta Đây là vùng đất nổitiếng từ ngàn đời bởi truyền thống yêu nước bất khuất và đấu tranh kiên cườngchống áp bức, ngoại xâm Bằng chứng là nơi đây đã ghi dấu biết bao chiếncông hiển hách của nhân dân Nghệ An trong những ngày chống Tống, bìnhNguyên, diệt giặc Minh, giặc Thanh…

Kế tục truyền thống từ ngàn xưa đó, bước sang nửa sau thế kỷ XIX – khithực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì nhân dân Nghệ An đã bắt tay vàocông cuộc chuẩn bị và tiến hành đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâmlược Tại đây, phong trào yêu nước chống Pháp bùng lên mạnh mẽ, quyết liệt

đã góp phần cùng nhân dân cả nước ngăn cản quá trình bình định quân sự vàtiến hành khai thác bóc lột trên quy mô lớn của chúng, tô đậm thêm trang sửhào hùng trong sự nghiệp chống ngoại xâm của nhân dân ta nói chung và nhândân Nghệ An nói riêng

Miền Tây Nghệ An được coi là khu vực có vị trí chiến lược quan trọngtrong quá trình xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, có những đóng góp trongtiến trình lịch sử nước nhà Vùng này là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộcthiểu số Thái, Thổ, Mường, Ơđu…Trong lịch sử, đồng bào nơi đây vốn giàutruyền thống yêu nước và đấu tranh anh hùng, kiên cường, bất khuất Vì thế,khi thực dân Pháp đặt gót giầy xâm lược lên cả nước ta nói chung và lên vùngmiền Tây Nghệ An nói riêng thì phong trào chống Pháp của đồng dưới sựlãnh đạo của những thổ ty, lang đạo (Đốc Thiết, Quản Thông, Quản Thụ, QuảnBông, Lương Văn Bản, Lương Văn Cảng) đã bùng lên sôi nổi, liên tục vàmãnh mẽ Thực dân Pháp đặt chân tới đâu là ở đó đồng bào đứng lên giết giặcbảo vệ buôn làng Đây chính là một trong những nguyên nhân lý giải vì saothực dân Pháp phải mất tới 13 năm mới hoàn thành công cuộc bình định ViệtNam nói chung và miền Tây Nghệ An nói riêng Đóng góp của phong trào yêu

Trang 5

nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An đối với phong trào chung trên cả nước

là rất lớn

Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập tớiphong trào yêu nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An một cách có hệ thống

và toàn diện Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Phong trào yêu

nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An từ năm 1885 đến năm 1945 ” làm đề tài

khóa luận của mình

Về mặt khoa học, đề tài tập trung làm sáng rõ bức tranh toàn cảnh phongtrào chống Pháp, giành độc lập của đồng bào các dân tộc miền núi phía TâyNghệ An Từ đó thấy được đóng góp to lớn của đồng bào miền Tây Nghệ Antrong phong trào yêu nước chống Pháp của Nghệ An nói riêng và cả nước nóichung Đồng thời, thấy được mối quan hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sửdân tộc, hiểu sâu sắc thêm nét đặc trưng của phong trào yêu nước chống Phápcủa đồng bào các dân tộc ít người ở miền Tây Nghệ An so với đồng bào dântộc ở miền xuôi và trên cả nước

Về mặt thực tiễn, đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung tư liệulịch sử địa phương Đây sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho mỗi ngườidân xứ Nghệ nói chung và cho các đồng bào ở miền Tây Nghệ An nói riêng khimuốn tìm hiều về quá trình chiến đấu oanh liệt của cha ông nhằm giành lại nềnđộc lập từ tay thực dân Pháp Đề tài cũng góp phần quan trọng trong việc giáodục, truyền bá truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng cho các tầng lớpnhân dân, nhất là thanh thiếu niên ở miền Tây Nghệ An và làm cho đồng bàomiền Tây có thêm niềm tin, ý chí và sức mạnh để vượt lên mọi khó khăn, thửthách khắc nghiệt, vươn lên xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xứng đángvới xương máu của thế hệ cha anh đã đổ xuống trên mảnh đất này

2 Lịch sử vấn đề

Về phong trào yêu nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An trong giaiđoạn 1885-1945 đã đề cập trong một số sách, báo, tạp chí, công trình nghiêncứu dưới đây

Trang 6

Một số công trình chuyên khảo về phong trào yêu nước chống Pháp

trong giai đoạn này như: Cuốn “Chống xâm lăng”, Trần Văn Giàu, Nxb Xây dựng phát hành, Hà Nội, (1956); cuốn “Lịch sử 80 năm chống Pháp”, quyển 2, tập hạ, Trần Huy Liệu, Nxb Sử học, Viện Sử học, (1961); cuốn “Phong trào

dân tộc trong phong trào đấu tranh chống Pháp ở Việt Nam 1885 - 1918” của

PGS TS Nguyễn Ngọc Cơ, Nxb ĐH Sư phạm, (2007) và nhiều bài viết chuyênsâu của những GS đầu ngành như GS Đinh Xuân Lâm, PGS Đỗ QuangHưng…

Đặc biệt, cơ quan nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh đã xuất bản cuốn

“Lịch sử Nghệ Tĩnh” tập 1, trong đó có nhiều trang giới thiệu về phong trào yêu

nước chống Pháp của đồng bào Nghệ Tĩnh nói chung và miền Tây Nghệ An

nói riêng Bên cạnh đó còn phải kể tới một số công trình như : “Danh nhân

Nghệ Tĩnh” của Đặng Xuân Mai, Nxb Nghệ Tĩnh, (1980); “Những vấn đế lịch

sử và địa lý Nghệ Tĩnh” số 4…cũng đề cập rải rác và sơ lược về phong trào

chống Pháp của đồng bào miền Tây Nghệ An

Ngoài ra, nhiều luận án, luận văn, khoá luận có liên quan tới phong tràoyêu nước chống Pháp của đồng bào miền Tây Nghệ An như : Luận án PTS

“Nghệ Tĩnh với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trong 30 năm đầu

thế kỷ XX” của Đinh Trần Dương, ĐH KHXH&NV, Hà Nội, (2000); Luận văn

“Một số đặc điểm phát triển của phong trào chống Pháp của các dân tộc miền

núi trước khi thành lập Đảng (1858-1930)” của Đặng Ngọc Hoan, ĐH

KHXH&NV, Hà Nội, (1979); Luận văn “Phong trào yêu nước chống Pháp ở

Nghệ An nửa sau thế Kỷ XIX ” của Biện Thị Hoàng Ngọc, Vinh và khoá luận

“Tân Kỳ trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm” của Nguyễn Quang

Lợi, Vinh, (2003)…

Trong một số bài tạp chí nghiên cứu khoa học cũng đã đề cập tới phong

trào yêu nước chống Pháp của đồng bào miền Tây Nghệ An như: “Phong trào

Cần Vương ở miền núi Thanh – Nghệ - Tĩnh cuối thế kỷ XIX”, Nguyễn Văn

Khánh, tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1 (1984); “Phong trào đấu tranh vũ

Trang 7

trang chống Pháp xâm lược ở Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ XIX”, Đinh Xuân Lâm,

tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 5 (1984); “Phong trào chống thuế năm 1908 ở

Nghệ Tĩnh-quá trình phát triển và các đặc điểm”, Đinh Xuân Lâm, tạp chí

nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (2009)

Nhìn chung, các công trình trên trong một chừng mực nhất định đã nêulên những nét khái quát về lịch sử phong trào đấu tranh chống Pháp của đồngbào ở miền Tây Nghệ An từ năm 1885 đến năm 1945 với những biểu hiện vàmức độ khác nhau Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra một

số nhận xét, kết luận về hình thức, phương pháp đấu tranh, ý nghĩa của cácphong trào trên địa bàn miền Tây Nghệ An Nhưng chưa có một công trìnhnghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống, toàn diện về quá trình chuyển biếncủa phong trào yêu nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An trong giaiđoạn1885-1945 Đặc biệt là chưa làm sáng rõ nét đặc trưng, sự khác biệt giữaphong trào chống Pháp của đồng bào miền Tây Nghệ An so với miền xuôiNghệ An cũng như cả nước và sự đóng góp của đồng bào miền Tây Nghệ Anđối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của nước nhà

Vì vậy, trên cơ sở kế thừa nguồn tài liệu đã kể và dựa vào nguồn tài liệu

bổ sung, đề tài cố gắng khôi phục bức tranh toàn cảnh phong trào yêu nướcchống Pháp ở miền Tây Nghệ An giai đoạn 1885-1945 nhằm bổ sung vàonhững khoảng trống lịch sử đã nói ở trên

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Ở đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính là phongtrào yêu nước và cách mạng ở miền Tây Nghệ An trên tất cả các mặt biểu hiện.Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu sẽ có sự so sánh, đối chiếu để thấy được

sự khác biệt, nét đặc trưng của phong trào ở miền Tây Nghệ An so với vùngđồng bằng miền xuôi Nghệ An và trên cả nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về phong trào yêu nước vàcách mạng ở miền Tây Nghệ An từ năm 1885 đến năm 1945, trong đó nghiên

Trang 8

cứu rõ về sự chuyển biến từ lập trường phong kiến sang lập trường tư sản, vôsản.

- Về thời gian: Đề tài “Phong trào yêu nước chống Pháp ở miền Tây

Nghệ An từ năm 1885 đến năm 1945” được giới hạn nghiên cứu trong khoảng

thời gian từ năm 1885 đến 1945, tức là từ khi phong trào Cần Vương bùng nổcho tới khi cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hòa ra đời

- Về không gian : Đề tài được giới hạn nghiên cứu trên địa bàn 10 huyệnthuộc vùng miền Tây Nghệ An, bao gồm: Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu,Quế Phong, Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ và phầnmiền núi huyện Thanh Chương Trong đó chúng tôi tập trung vào những phongtrào diễn ra tiêu biểu ở một số huyện mà nó có ý nghĩa quan trọng, có ảnhhưởng mạnh mẽ đối với phong trào đấu tranh chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chínhđược sử dụng trong nghiên cứu đề tài này Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng cácphương pháp chuyên ngành, phương pháp điền dã, đối chiếu, so sánh, sử dụng

sử liệu, văn học dân gian, thơ văn yêu nước…

5 Đóng góp của đề tài

- Đề tài dựng lại bức tranh toàn cảnh về phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào miền Tây Nghệ An từ khi phong trào Cần Vương bùng nổ cho tới khi cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời

- Đề tài làm rõ nét đặc trưng trong phong trào yêu nước chống Pháp,giành độc lập dân tộc ở miền Tây Nghệ An so với phong trào trên cả nước.Đồng thời, đề tài cũng làm rõ tính chất và đóng góp của phong trào chống Phápcủa đồng bào miền núi Nghệ An trong công cuộc kháng chiến chống Pháp

- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích về lịch sử địa phương giaiđoạn 1885-1945

Trang 9

- Đề tài góp phần quan trọng trong giáo dục truyền thống yêu nước củađồng bào miền Tây Nghệ An nói riêng và nhân dân xứ Nghệ nói chung, độngviên nhân dân Nghệ An, nhất là nhân dân vùng miền Tây kế tục tinh thần quậtcường của cha ông, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN TỪ NĂM 1885 ĐẾN NĂM 1896

1.1 Khái quát về miền Tây Nghệ An ở nửa cuối thế kỷ XIX

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Nghệ An là tỉnh lớn, thuộc vùng Bắc Trung bộ nước ta, diện tích tựnhiên là 16.487,39 km2 chiếm 5% diện tích cả nước, dân số là 3.014.850 người(đến 31/12/2004) chiếm 3,7% dân số Việt Nam Đây là vùng có nhiều tiềmnăng về tài nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng đối với nước ta

Riêng khu vực miền Tây Nghệ An có diện tích 13.890 km2 chiếm 84%diện tích cả tỉnh, đây là khu vực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế,

xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước

Về vị trí , phía Bắc miền Tây Nghệ An tiếp giáp với các huyện miền núitỉnh Thanh Hóa, phía Nam tiếp giáp với các huyện miền núi tỉnh Hà Tĩnh, phíaTây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với đường biên giới dài 419,5 km,phía Đông tiếp giáp các huyện đồng bằng Nghệ An

Trong lịch sử, nơi đây được coi là vùng phên dậu của nước nhà Dướithời nhà Đinh, Tiền Lê, Nghệ An được gọi là Hoan Châu Đến năm 1030 bắtđầu gọi là châu Nghệ An Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An Bản triều Gia Longnguyên niên đặt là Nghệ An trấn Năm 1831, Minh Mạng chia trấn Nghệ Anlàm 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Sau lại sáp nhập lấy tên là An Tĩnh Thời nhàNguyễn, sau nhiều lần tổ chức sắp xếp đơn vị hành chính đã chia cả nước thành

30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên Nghệ An là 1 trong 30 tỉnh của cả nước TỉnhNghệ An gồm 5 phủ và 6 huyện, trong đó miền Tây Nghệ An có phủ Anh Sơn,Tương Dương và Quỳ Châu

Khi Pháp đặt nền thống trị lên nước ta, theo đó những đơn vị hành chínhtừng bước có sự thay đổi Pháp chia Nghệ An thành 6 phủ và 27 huyện Trong

Trang 11

đó miền Tây Nghệ An gồm phủ Quỳ Châu, Tương Dương và Anh Sơn Nhưvậy, cả triều đình Nguyễn và thực dân Pháp đều chú trọng đến vùng miền TâyNghệ An

Ngày nay, miền Tây Nghệ An là khu vực thuộc địa bàn 10 huyện củatỉnh Nghệ An, đó là: Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, ConCuông, Anh Sơn, Tương Dương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ và phần miền núi huyệnThanh Chương

*Điều kiện tự nhiên

Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa lí học thì miền Tây Nghệ

An có nhiều dãy núi chạy dọc theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, độ cao trungbình so với mặt nước biển là 800-1000m Dãy núi cao nhất là Puxailaipeng vàRuràocả nằm dọc biên giới Việt-Lào, đều được cấu tạo bởi đá xâm thực, cósườn dốc và bị các dòng chảy chia cắt dữ dội

Tuy vậy, các đèo ở khu vực này lại được cấu tạo khá thấp làm cho việc

đi lại giữa hai sườn Đông(thuộc Nghệ An) và sườn Tây(thuộc Lào) khá dễdàng, thuận tiện cho việc di chuyển cư dân trong lịch sử

Sông suối miền Tây Nghệ An chảy trong địa hình phức tạp, hướngchảy chủ yếu của các sông suối là Tây Bắc-Đông Nam Các sông chính ở đâylà: Sông Lam, sông bắt nguồn tư ngã ba Cửa Rào, chảy qua Con Cuông, AnhSơn, Đô Lương, Thanh Chương rồi đổ về Bến Thủy Sông dài hơn 200km.Sông Giăng bắt nguồn từ Đông Trường Sơn chảy qua địa phận xã Môn Sơnhuyện Con Cuông Ngoài ra, còn có sông Con, sông Hiếu và hàng trăm consuối lớn nhỏ khác Trên các sông suối có nhiều thác đẹp như khe Kèn (ConCuông), Xao Va(Quế Phong), Bản Bìa(Quỳ Hợp),Thác Đũa(Quỳ Châu)…Sôngsuối ở Nghệ An có giá trị lớn đối với việc phát triển kinh tế Đó là nguồn cungcấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt hàngngày của nhân dân, là tuyến giao thông thủy tiện lợi và Nói về sông núi nơiđây, Phan Huy Chú có câu: “ …núi cao, sông sâu, cảnh vật tươi sáng Gọi làđất có danh tiếng hơn cả Nam Châu” [9, 15]

Trang 12

Khí hậu miền Tây Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịuảnh hưởng của nhiều hệ thống thời tiết Trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt Mùanóng từ giữa tháng 4 đến hết tháng 10 dương lịch Mùa này nhiệt độ trên 25o C,

hai tháng liên tục nhiệt độ vượt quá 28oC, tháng nóng nhất là tháng 7, khi giómùa Tây Nam tràn qua dãy Trường Sơn đem theo hơi nóng, khô, làm cho nhiệt

độ tăng đột ngột, có lúc tăng lên đến 38-39-40oC Trong những ngày gió TâyNam thổi cồn cột, thổi sàn sạt, bụi tung mù, người và súc vật rất khó chịu, đấtđai khô cứng, cây cối, mùa màng, đồi núi xác xơ như bị nung đốt Sau một đợt

5 ngày, 10 ngày,…như vậy thường có những trận mưa giông làm dịu sức nóng

Về mùa mưa, ở đây thường có bão, năm ít là 1-2 cơn, năm nhiều 3-4 cơn Nhìnchung, bão thường có cường độ lớn, cùng với bão thường là những đợt lũ dữdội Thời Nguyễn, bão lụt càng xảy ra nhiều, đời sống nhân dân ở đây hết sứcvất vả, khó khăn

Khoáng sản: Bao triệu năm rồi, núi và đất ôm ấp giữ chặt những loạikhoáng sản như thiếc, vàng, sắt, mangan…và phi kim loại như than, đá, đấtsét…Trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng, còn lại trữ lượng nhỏ, chất lượngthấp

Nơi đây còn có hàng nghìn loại cây thuốc và dược liệu quý Thiên nhiênmiền Tây Nghệ An có nhiều nét đặc thù làm cho mối quan hệ xã hội của conngười trong vùng chịu ảnh hưởng, tạo nên nét riêng biệt về văn hóa mang tínhtộc người

Như vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở miền Tây Nghệ An hết sứckhắc nghiệt Điều này đã góp phần tạo nên bản lĩnh chinh phục và quyết tâmvươn lên của con người nơi đây

1.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và truyền thống đấu tranh của đồng bào miền Tây Nghệ An.

* Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội.

- Chính trị: Dưới triều Nguyễn, sau cuộc cải cách hành chính chia cả

nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên Nghệ An là một trong 30 tỉnh của

Trang 13

cả nước Tỉnh Nghệ An có 5 phủ, 6 huyện Tỉnh Nghệ An là một tỉnh lớn ở BắcTrung Kỳ, có địa thế quan trọng và dân số đông nên dưới thời Nguyễn viênquan Tổng đốc Nghệ An thường được triều đình lựa chọn kĩ càng từ những vịđại thần có uy tín và danh vọng Tổng đốc nắm quyền cai trị cả về quân sự lẫndân sự Tất cả các quan lại, binh lính người Việt trong tỉnh đều đặt dưới quyềnchỉ huy của Tổng đốc Tổng đốc có quyền bổ nhiệm, thuyên chuyển, quyếtđịnh các vấn đề nhân sự Dưới Tổng đốc có các viên quan Bố chánh, Án sát,

Đề đốc (hoặc Lãnh binh), mỗi người phụ trách một công việc Bố chánh phụtrách quản lí hộ khẩu , ruộng đất, thuế khóa, xây dựng, bảo tồn, tu tạo thànhquách, đường xá, cầu cống,… Giúp việc cho Bố chánh có các thông phán, thưlại,… Án sát chuyên công việc xét xử hình án, trong đó việc xét duyệt các hình

án do các phủ, huyện, châu trong tỉnh xét xử hoặc đệ trình lên trên Trước khi

đệ trình các bản án lên triều đình, phải đệ trình lên Tổng đốc xem xét, giảiquyết Dưới quyền án sát có viên kinh lịch và các thư lại giúp việc Đềđốc(hoặc Lãnh binh) phụ trách việc quân sự trong tỉnh, chỉ huy các lực lượngquân sự và duy trì an ninh địa phương

Từ sau năm 1884, cũng như trên cả nước, bên cạnh bộ máy cai trị Namtriều, ở Nghệ An có thêm cơ quan cai trị của thực dân Pháp là “tòa sứ”, đứngđầu “tòa sứ” là viên công sứ người Pháp, giúp việc có phó sứ (người Pháp) vàtham tá, thông phán là những nhân viên người Việt

Ở các phủ, huyện có các viên tri phủ, tri huyện người Việt nắm quyềncai trị Họ vừa làm nhiệm vụ cai trị, vừa làm nhiệm vụ xử hình án, thu thuếđinh, điền, bắt phu phen tạp dịch, giữ gìn an ninh trật tự trong vùng Giúp việccho các viên tri phủ, tri huyện là một số công chức như đề lại, thông lại Ngoài

ra còn có một số lính lệ do viên lệ mục chỉ huy, được các quan sai phái đixuống các làng bản “thi hành công vụ”

Như vây, mối quan hệ giữa hai cơ quan cai trị thực dân và phong kiến làmối quan hệ lệ thuộc Cơ quan Nam triều ở Nghệ An lúc này thực chất là bùnhìn, mọi quyền hành đều do “tòa sứ” nắm và điều phối

Trang 14

Đồng bào miền Tây Nghệ An thường sống tập trung thành từng bản,mường Mường là đơn vị hành chính cao nhất trong xã hội cổ truyền của đồngbào miền Tây Nghệ An Đứng đầu mường là chúa đất, gọi là “chẩu mường”.Tại những khu vực đông dân cư có “mường” và một chúa đất cai quản, bêndưới là các mường nhỏ Ở đây, thiết chế xã hội truyền thống được các triều đạiphong kiến khéo “lồng ghép” theo hệ thống chức dịch của mình để dễ bề quản

lí dưới hình thức là những đơn vị “kimi” Dưới mường là “bản”(mường nhỏ).Chức dịch cao nhất trong bản là tạo bản và trưởng bản Những người nắm chức

vụ này thường là những người cao tuổi, thuộc dòng họ đông người và có uy tínnhất bản, có trách nhiệm duy trì sự hòa thuận giữa các thành viên trong bản,giải quyết những vụ việc xảy ra Ngoài những chức sắc trên còn có một sốnhân vật khác làm cố vấn, giúp việc cho già làng, trưởng bản

Nhìn chung với chế độ cai trị của những thổ ty, lang đạo, phìa tạo thìnơi đây thì tổ chức bản làng còn hết sức đơn giản và sơ khai

- Kinh tế

Từ giữa thế kỉ XIX, với chính sách lạc hậu, phản động của triều đìnhNguyễn đã kìm hãm sự phát triển của đất nước Kinh tế đình đốn, xã hội lạchậu, đời sống nhân dân cơ cực Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và đặt áchcai trị lên đất nước ta, lên vùng miền Tây Nghệ An thì chúng đã thực hiệnnhiều thủ đoạn bóc lột nhân dân một cách trắng trợn Ngoài việc áp dụng nhiềuthứ thuế vô lí, hà khắc như thuế thân, thuế điền sản, thuế lâm sản…chúng còntìm cách cướp đoạt ruộng đất, nương rãy của đồng bào để lập đồn điền, phátcanh thu tô, duy trì cách bóc lột cổ truyền như bắt nhân dân phục dịch, cốngnạp, chèn ép nông dân bằng cách cho vay nặng lãi

Nhìn chung, dưới ách cai trị thực dân - phong kiến, nền kinh tế củađồng bào miền Tây Nghệ An về cơ bản vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu,đình đốn và sa sút, chưa có sự xuất hiện của kinh tế công-thương nghiệp

Trang 15

Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì đồng bào còn chú ý tớichăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như: trâu, bò, lợn, gà… nhằm phục vụ sứckéo trong nông nghiệp và trong nghi lễ thờ cúng

Nền thủ công nghiệp như đan lát, dệt vải, làm gốm, rèn sắt…cũng đượcđồng bào chú trọng nhằm giải quyết nhu cầu trong cuộc sống và sinh hoạt màkhông mang tính chất trao đổi hàng hóa

- Xã hội

Ngay từ thời xa xưa, địa bàn miền Tây Nghệ An đã là địa bàn cư trú củađồng bào các dân tộc ít người như Thái, Thổ, Hmông, Ơđu, Trong đó, đồngbào Thái chiếm số lượng đông đảo nhất Đặc điểm phân bố dân cư ở miền TâyNghệ An đó là vùng cư trú của các dân tộc thiểu số không phân biệt rõ lãnh thổtộc người và lãnh thổ hành chính Họ sống xen kẽ, tuy có một số vùng tươngđối biệt lập nhưng không phổ biến Một số vùng tương đối tập trung ngườiThái như Qùy Hợp, Con Cuông, Tương Dương Còn người Hmông, Khơ múchủ yếu cư trú ở Kỳ Sơn Cư dân Ơđu ở Tương Dương, người Thổ ở NghĩaĐàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp Thế nhưng, xét cho cùng yếu tố cư trú xen kẽ giữa cácdân tộc là phổ biến Đồng thời, mật độ dân cư ở đây không đều, vùng thấp mật

độ dân cư cao và vùng cao mật độ dân cư thấp

Trong xã hội miền Tây Nghệ An trước khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ

có 2 giai cấp cơ bản: một là giai cấp thống trị, chiếm thiểu số trong xã hộinhưng lại nắm quyền chính trị và thế lực kinh tế Họ là những thổ ty, lang đạo,phìa tạo, chúa đất… Còn đa số đồng bào là giai cấp bị trị trong xã hội, là lựclượng chính yếu tiến hành lao động sản xuất, làm ra của cải nuôi sống xã hội vàphục vụ tầng lớp trên Dưới thời Nguyễn, mâu thuẫn giữa nhân dân với chế độcai trị ngày càng sâu sắc Đặc biệt là dưới ách cai trị của thực dân Pháp, Phápchủ trương dùng chính sách “làm cho dân ngu để dễ trị”, các hủ tục lạc hậu, tệnạn xã hội được dung dưỡng, tự do phát triển Với chính sách nô dịch, ngu dân

dã man của thực dân Pháp đã để lại hệ quả nghiêm trọng Điều này càng làmcho mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc trong xã hội miền Tây Nghệ An

Trang 16

thêm sâu sắc, gay gắt Điều đó đã đưa đến nhiều cuộc đấu tranh của dân chúngchống lại chế độ thực dân-phong kiến.

- Văn hóa- giáo dục

Về văn hóa: Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc miền Tây Nghệ

An rất phong phú đa dạng nhưng cũng rất nguyên sơ Trong đó, đồng bào rấtcoi trọng tín ngưỡng của dân tộc mình, mỗi dân tộc có một tín ngưỡng khácnhau Đồng bào dân tộc Thái thờ vật tổ của dòng họ mình, thờ thổ công, tổ tiên,Phật, trời đất…Ở miền Tây Nghệ An, đồng bào các dân tộc có nhiều lễ hội,tiêu biểu như lễ hội Hang Bua, lễ hội Xăng Khan, lễ mừng nhà mới, lễ uốngrượu cần…Đời sống văn hóa nghệ thuật của đồng bào cũng rất đặc sắc Điềunày được thể hiện rõ nét trong kho tàng văn học dân gian của các đồng bàomiền Tây Nghệ An

Về giáo dục: Dưới thời Nguyễn nền giáo dục miền Tây Nghệ An vốn dĩ

đã nghèo nàn thì đến khi thực dân Pháp xâm lược, với chính sách ngu dân, conchữ lại càng ít có cơ hội đến với đồng bào nơi đây Ví như ở vùng Mường Ham(thuộc Quỳ Hợp ngày nay) đã không hề có một trường học nào Nếu đồng bàomuốn học thì phải đi xa tới tận Phủ Bọn hoặc Nghĩa Đàn, xuống đến tận chợCưa mới học được chữ nôm, chữ nho[56,70] Theo đó, bộ phận văn thân sỹphu miền Tây nghệ An rất ít, thậm chí là gần như vắng bóng

* Truyền thống đấu tranh của đồng bào miền Tây Nghệ An

Miền Tây Nghệ An là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam Cùng vớidân tộc, đồng bào miền Tây Nghệ An đã sát cánh trên con đường đấu tranh bảo

vệ và xây dựng đất nước, góp phần làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam Mộttrong những bản sắc ấy là truyền thống chống ngoại xâm

Ngay từ thời Bắc thuộc, nhân dân miền Tây Nghệ An đã cùng nhân dân

cả nước hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó là khởi nghĩa BàTriệu, Lý Bí Dưới triều đại nhà Đường, các cuộc nổi dậy giành độc lập trongquận Giao Chỉ nổi lên liên tiếp như cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan(722),Phùng Hưng(766-792) Sau đó họ Khúc đã dựng lại nền tự chủ cho đất nước

Trang 17

Trong thời gian này, miền Cửu Chân tương đối yên tĩnh Đến năm 938 chiếnthắng Bạch Đằng Giang chính thức chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, đưa đấtnước bước vào thời kỳ độc lập tự chủ

Thời Lý, vùng miền Tây Nghệ An được đặt dưới sự cai quản trực tiếpcủa Lý Nhật Quang Tại đây, ông đã tổ chức cho nhân dân lao động sản xuất,xây dựng bản làng, đồng thời chống trả những hành động quấy rối từ phía Nam

và phía Tây

Thời nhà Trần, các vua Trần đã rất coi trọng và sớm thấy vị trí chiếnlược, quan trọng của xứ Nghệ-miền biên viễn của Tổ quốc Nhân dân miềnTây Nghệ An dưới sự lãnh đạo của vua Trần đã làm nên thắng lợi giòn giãtrong 3 lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên

Đến thế kỷ XV, trong cuộc chiến tranh chống giặc Minh xâm lược, nhà

Hồ đã nhanh chóng thất bại bởi “chính sự phiền hà”, không được lòng dân.Quân Minh xâm lược, giày xéo nước ta, tiến hành một chính sách đồng hóanham hiểm với mục đích thủ tiêu nền văn hóa Đại Việt, biến nước ta thànhquận huyện của nhà Minh Có ý kiến cho rằng, 10 năm dưới triều Minh, với sự

hà khắc, nghiệt ngã trong chính sách cai trị ấy còn hơn cả 1000 năm Bắc thuộc,bằng chứng như trong “Bình ngô đại cáo” Nguyễn Trãi đã từng ghi:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”

Hay : “Độc ác thay trúc Lam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi”

Trong bối cảnh đó, người hào trưởng Lam Sơn-Lê Lợi qua nhiều nămchuẩn bị đã chính thức phất cờ khởi nghĩa (1418)và lấy địa bàn rừng núi ThanhHóa làm căn cứ chính Nhưng sau một thời gian, nghĩa quân chuyển địa bànhoạt động sang vùng miền Tây Nghệ An Tại đây, nghĩa quân đã giành đượcnhững thắng lợi vang dội như:

“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật Miền Trà Lân trúc trẻ tro bay”

Trang 18

Để sau đó cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn thắng lợi, đất nước trở lên yên bình

Đến thế kỷ XVIII, đất nước lại đứng trước họa ngoại xâm từ 29 vạnquân Thanh Trong bối cảnh đó, người anh hùng Nguyễn Huệ đã tức tốc lênngồi hoàng đế, danh chính ngôn thuận đứng lên chiêu mộ quân sĩ tiến hànhcuộc kháng chiến chống ngoại xâm Trên chặng đường hành binh ra Bắc tiêudiệt giặc Thanh, Quang Trung có dừng ở Nghệ An để mộ thêm quân Lúc này,đồng bào ở miền Tây Nghệ An lại dốc lòng cung cấp nhân tài, vật lực giúpQuang Trung đánh bại 29 vạn quân Thanh

Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình Huế

đã từng bước đầu hàng Đêm 4 rạng 5/7/1885 phe chủ chiến đứng đầu là TônThất Thuyết đã tổ chức tấn công tòa Khâm sứ và đồn Mang Cá - mở đầu phongtrào Cần Vương Hưởng ứng phong trào Cần Vương, trên cả nước đều đã dấylên phong trào chống Pháp xâm lược Từ đây, miền Tây Nghệ An bước vàomột cuộc chiến đầy sôi động

Từ những nội dung trên cho phép chúng ta rút ra những nhận xét rằng:Miền Tây Nghệ An đã có những đóng góp to lớn, quan trọng trong tiến trìnhlịch sử của nước nhà

Như vậy, miền Tây Nghệ An-một vùng đất rộng lớn, có vị trí chiến lượcquan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngay từ rất sớm, đồng bàocác dân tộc Thái, Thổ… đã định cư, tạo nên nét văn hóa đặc sắc với ý thức dântộc cao Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, về căn bản miền Tây Nghệ Anvẫn thuộc vùng cai quản của chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo Mặc dù vậy,đồng bào miền Tây Nghệ An vẫn luôn sát cánh cùng nhân dân Nghệ An và cảnước trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 19

1.2 Phong trào yờu nước chống Phỏp ở miền Tõy Nghệ An từ năm

Rạng sáng ngày 01/09/1858, thực dân Pháp liên quân với Tây Ban Nha

nổ súng xâm lợc Đại Nam Thực dân Pháp đã lần lợt đánh chiếm từng vùnglãnh thổ của nớc ta Triều đình Huế thì từng bớc nhân nhợng, đầu hàng cục bộrồi đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, trở thành đồng minh của Pháp Với hiệp

ớc Hácmăng(1883) và Patơnốt(1884) Việt Nam đã trọn vẹn trở thành thuộc địacủa Pháp sau 26 năm tiến hành thôn tính

Về lý thuyết, Pháp đánh chiếm đợc Đại Nam một cách dễ dàng, nhngthực tế thì để thôn tính đợc từng vùng đất đai là một điều khó khăn với chúng,việc chiếm Nghệ An là một ví dụ nh vậy “Ngay từ khi tiếng súng xâm lợcNghệ An cha dứt, với con mắt thực dân của mình, tên gian thơng Giăngđuypuy

đã phát hiện thấy Nghệ An là kho gỗ quý béo bở đối với chính sách khai thácthuộc địa của t bản Pháp Ngày 20/7/1985, đại tá Sômông đợc lệnh của bộ tham

mu Pháp đa 2 đại đội lính Pháp gồm 188 tên đổ bộ lên Cửa Hội chiếm thànhNghệ An ngăn chặn bớc tiến của phong trào văn thân” 5, 17]

Cũng trong ngày 20/7/1985 Thợng viện tỉnh vụ Nghệ An Vũ Trọng Bình

đã hèn nhát dâng thành Nghệ An cho Pháp, toàn bộ đại bác trên thành Nghệ Ancũng nh vùng Dũng Quyết không một lần phát hoả To thành kiên cố tà thành kiên cố t ợng tr-

ng cho vơng quyền của dòng họ Nguyễn ở khu vực sông Lam hoàn toàn mấthết khả năng là một pháo đài quân sự Sỹ quan Pháp và lực lợng viễn chinhPháp đổ bộ từ đất cảng Cửa Hội lên vào thành Nghệ An nh đi vào chỗ khôngngời

Thực dân Pháp chiếm đợc thành Nghệ An thì dễ nhng chiếm đợc gọn cảNghệ An thì lại nằm ngoài dự kiến của chúng Ngay khi Pháp đặt chân lênthành Nghệ An thì tiếng súng chống Pháp dới danh nghĩa Cần Vơng đã vangdội khắp Nghệ An Thực dân Pháp đặt chân tới đâu là ở đó đồng bào ta đứnglên quyết tâm chống giặc giữ đất, bảo vệ buôn làng

Trong bối cảnh đó, toàn quyền Đông Dơng và các Khâm sứ Trung Kỳtiếp nối từ 1885-1896 đã kiên quyết dùng mọi thủ đoạn, mọi biện pháp để dậptắt đợc phong trào kháng chiến quyết liệt dới danh nghĩa Cần Vơng từ BìnhThuận đến đồng bằng Bắc bộ Điều đáng buồn là vơng triều Nguyễn đã bỏ rơi

Trang 20

con dân mình cha đủ lại còn đứng về phía Pháp, trở thành công cụ tay sai đắclực cùng Pháp đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta, làm cho phong tràochống Pháp trờn cả nước nói chung và Nghệ An nói riêng đi đến thất bại hoàntoàn vào năm 1896.

1.2.2 Nhân dân miền Tây Nghệ An hởng ứng chiếu Cần Vơng

Trớc sự xâm lăng của thực dân Pháp, giai cấp phong kiến mà đại diện làtriều đình Nguyễn đã từng bớc đầu hàng rồi cam tâm làm tay sai cho giặc Tuynhiên, trong nội bộ giai cấp đã diễn ra một quá trình phân hoá Bộ phận có t t-ởng chủ chiến dần dần tách ra thành phái chủ chiến, hoạt động ngày càngmạnh, nhất là từ sau khi vua Tự Đức mất Hậu thuẫn cho các hoạt động đó làphong trào yêu nớc của quần chúng nhân dân khắp các địa phơng

Phái chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tờng đãtìm cách gây dựng thế lực chống Pháp trong triều đình Năm 1883, triều đìnhHuế kí với Pháp điều ớc Hỏcmăng Kế đó, năm 1884 triều đình lại ký với Pháphiệp ớc Patơnốt, đây chính là văn bản đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của nhànớc phong kiến Nguyễn trớc thực dân Pháp xâm lợc

Trong bối cảnh đó, Tôn Thất Thuyết đã bất chấp sự phản đối của phe chủhoà, đa Hàm Nghi-ngời có tinh thần chống Pháp lên ngôi vua Lúc này vua còn

ít tuổi (14 tuổi) cha thể cáng đáng đợc hết công việc nên thực chất quyền hànhnằm trong tay các phụ chính thuộc phái chủ chiến Tình hình đó đã khiến bọnPháp ở Huế rất phản ứng nhng cha thể làm gì đợc Nắm đợc điều này, phái chủchiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết ráo riết chuẩn bị cơ sở vật chất cho mộtcuộc kháng chiến lâu dài Các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

đợc lệnh xây dựng các đồn sơn phòng, Tôn Thất Thuyết kêu gọi những ngờiyêu nớc ở các địa phơng tích trữ binh lơng, xây dựng sơn phòng để chống Pháp.Tại miền rừng núi Quảng Trị, ông cho xây dựng căn cứ Tân Sở và đa vàng bạc,súng đạn, lơng thực của triều đình lên cất giữ ở đây Các đội quân chống Pháp

đợc thành lập và ngày đêm luyện tập võ nghệ chờ ngày giết giặc

Đêm 4 rạng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn nổ súng đánh

úp đồn Mang Cá, quân Pháp mất 4 sĩ quan và 60 tên lính Nhng do sự chuẩn bịcha đầy đủ nên khi quân Pháp phản công, quân ta bị động, thiệt hại rất lớn, TônThất Thuyết phải đa xa giá vua Hàm Nghi rời kinh thành, đi ra Quảng Trị mà từlâu ông đã chuẩn bị cơ sở

Tại đây, ngày 13/7/1885 Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghixuống chiếu Cần Vơng kêu gọi văn thân, sỹ phu cùng nhân dân cả nớc kiờnquyết đứng lên chống Pháp

Trang 21

Chiếu Cần Vơng đã làm dấy lên làn sóng chống Pháp sôi nổi trong cả

n-ớc Suốt từ Nam đến Bắc, miền xuôi, miền ngợc ở đâu cũng có phong trào ứngnghĩa của nhân dân Dới sự lãnh đạo của văn thân, sỹ phu yêu nớc, phong tràoCần Vơng kéo dài 12 năm (1885 - 1896) và đợc ghi nhận là giai đoạn đấu tranhquyết liệt, anh dũng của nhân dân ta chống lại thực dân Pháp trong lịch sử dântộc

ở vùng miền Tây Nghệ An, đồng bào các dân tộc cùng nhân dân Nghệ

An và nhân dân cả nớc hởng ứng chiếu “Cần Vơng”, một phong trào dân tộc võtrang đang âm ỉ, sục sôi đã chờ đến dịp để bùng nổ

1.2.3 Cuộc khởi nghĩa Lê Doãn Nhã

Nằm dọc theo con đờng thợng đạo đi đến đất Lào (nay là đờng 7), cáchuyện Anh Sơn, Con Cuông,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã

bị thực dân Pháp chú ý từ rất sớm Nhng ngay khi thực dân Pháp đặt chân lênvùng đất này thì Lê Doãn Nhã đã lónh đạo đồng bào tổ chức các cuộc đấu tranhchống Pháp xâm lợc và khai thác tài nguyên

Lê Doãn Nhã là ngời làng Tràng Sơn-xã Quang Trung-huyện Yên Thành.Gia đình ông nghèo nhng có truyền thống khoa bảng, ở các khoa thi TânVị(1871) ông đỗ phó bảng và đợc triều đình bổ nhiệm làm tri phủ Thái Bình

Ông nổi tiếng là vị quan liêm khiết, thơng dân Những năm mất mùa đói kém,

ông thờng đa gạo cứu đói cho dân và xin với triều đình miễn giảm thuế khoá.Sau đó, Lê Doãn Nhã đợc điều về kinh thành giữ chức Thị lang bộ lại, ôngnhiều lần dâng sớ tố cáo tội tham nhũng của bọn quan lại với Tự Đức

Thời gian này, quê hơng Nghệ An của ông thờng xuyên xảy ra mất mùa,

đời sống nhân dân khổ cực nên nạn trộm cớp hoành hành, triều đình cử ông vềvùng Tây Bắc Nghệ An giữ chức phó sơn phòng sứ cùng với chánh sơn phòng

sứ là Nguyễn Tài Tuyển để ổn định vùng biên cơng Sau khi Nguyễn Tài Tuyển

bỏ đi, ông giữ chức vụ chánh sơn phòng và bắt tay vào việc chuẩn bị lực lợngkhởi nghĩa Sơn phòng đồn Vàng( Mực Điền) đợc ông biến thành căn cứ chốngPháp Ông cho quân khai hoang tích trữ lơng thực, mua sắm vũ khí và ngày

đêm luyện tập võ nghệ Khi Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vơng, Lê Doãn Nhãlập tức hởng ứng, ông kêu gọi nhân dân các đồng bào dân tộc ít ngời ở miền núicùng tham gia Trong hàng ngũ tớng lĩnh của ông có những vị chỉ huy tài giỏingời miền núi nh Lang Văn út (Quản Bông), Lang Văn Thổ, Lang Văn Thông

Tả hữu t

ớng tá

Có quản ót, quản Bông

Có quản Sá, quản Khòng Cùng đồng tâm nh nhất” [ 24 , 160 ]

Trang 22

Trong thời gian phong trào Cần Vơng bùng nổ, Lê Doãn Nhã cùng LangVăn út phối hợp hoạt động mạnh trên tuyến đờng chiến lợc sang Lào (đờng 7).Trong đó, chiến thắng lớn nhất là trận tấn công tiêu diệt đồn binh của Pháp ởvùng Dừa (Anh Sơn) Nghĩa quân chia làm 2 mũi, một hớng lên đánh giá Namlên, một hớng từ vùng núi giá Bắc xuống đánh thọc vào đồn Dừa Nghĩa quân

sử dụng súng kíp, tên tẩm độc, giáp mác, ào ạt xông lên nh vũ bão, đánh giápmặt quân địch Trớc sức tấn công mạnh mẽ của nghĩa quân, địch không saochống cự nổi, hầu hết bị tử trận, số còn lại bỏ đồn thỏo chạy thoỏt thân ĐồnDừa bị tiêu diệt gọn, lá cờ của nghĩa quân bay phất phới trên nóc đồn Chiếnthắng đồn dừa là một chiến thắng lớn, có tiếng vang lớn trong phong trào ởNghệ An lúc đó, nhất là đối với các huyện miền núi phớa Tây Nghệ An[39, 43]

Chia quân ra mời vệ Kéo thẳng đến làng Dừa Quan tớng cả vừa ra Lính trèo thành ra rả

Khi hò khi dạ há“ ” “ ”

Sắp lệnh quân vào

Đại pháo xe lên cao Băn nhà chung nổ nát Lệnh truyền chém hét Giặc trẻ, giặc tra ” [ 24 ; 10 ]Sau chiến thắng Đồn Dừa, theo yêu cầu của phong trào chung, Lê DoãnNhã đã đa nghĩa quân của mình về hỗ trợ cho phong trào ở các huyện vùng

đồng bằng bên cạnh Nguyễn Xuân Ôn Còn Quản Bông ở lại với nghĩa quân đểbảo vệ làng bản và xây dựng thêm lực lợng ở vùng rừng núi

Cuối năm 1887, khi giặc Pháp đã bắt đợc Nguyễn Xuân Ôn và tăng cờnglực lợng kiểm soát tuyến đờng quan trọng này, phòng trào chống Pháp ở cáchuyện miền núi vùng Anh Sơn, Con Cuông… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã bị chúng điên cuồng đàn áp Thếkhông chống nổi, Quản Bông cùng một số nghĩa quân tìm đờng vào rừng núiHơng Sơn để ra nhập nghĩa quân Phan Đình Phùng nhng ông đã bị bắt ngaytrên đờng đi

Tuy bị khủng bố, nhng nhân dân các dân tộc ở các huyện Anh Sơn, ConCuông, Tơng Dơng,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã vẫn ngấm ngầm giúp đỡ nghĩa quân của NguyễnMậu(Đề Mậu) để đến năm 1889 chuyển thành “ Anh thứ ” trong 15 quân thứcủa Phan Đình Phùng

Trang 23

1.2.4 Miền Tây Nghệ An trong cuộc khởi nghĩa Nguyễn Văn Ôn

Phong trào Cần Vơng chống Pháp trong giai đoạn đầu diễn ra sôi nổi,mạnh mẽ và rộng khắp Song do mang tính tự phát, phân tán nên đã bị kẻ thùlợi dụng để đàn áp Điều này chứng tỏ phong trào Cần Vơng ở Nghệ An cầnphải nhanh chóng hợp nhất Yêu cầu đó đã khiến cho các cuộc khởi nghĩa trongquá trình phát triển phải dần quy tụ, sát nhập về một mối tạo nên một cuộc khởinghĩa lớn-khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn Kể từ đây, phong trào Cần Vơng chốngPháp ở Nghệ An có bớc phát triển mới Cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ônchính là sự quy tụ các lực lợng chống Pháp ở các phủ, huyện ở phía Bắc NghệAn

Trong lực lợng tham gia nghĩa quân, các huyện miền núi phía Tây Nghệ

An (Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã) cũng đợc giao trách nhiệm cho cácthủ lĩnh ngời dân tộc nh: Lang Văn Thiết, Lang Văn Hạnh, Lang Văn ọt, LangVăn Cáng… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã

Đặc biệt, vùng đất Tân Kỳ nằm trong khu vực trung tâm của cuộc khởinghĩa Nguyễn Xuân Ôn Qua hệ thống đồn luỹ và căn cứ địa của cuộc khởinghĩa Nguyễn Xuân Ôn ta thấy địa bàn Tân Kỳ (lèn Rùa, lèn Voi,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã) đều cócăn cứ đóng quân của nghĩa quân

Sau một thời gian chuẩn bị lực lợng, về căn cứ địa, từ giữa những năm

1886, nghĩa quân bắt đầu mở những cuộc tấn công lớn, những trận đánh lớn.Trong những trận đánh này có sự đóng góp về sức ngời, sức của của nhân dâncác huyện trong phạm vi hoạt động của nghĩa quân, trong đó có một số huyệnmiền núi phía Tây Nghệ An( Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã)

Ngoài việc đóng góp sức ngời, sức của, căn cứ địa cho việc duy trì hoạt

động của nghĩa quân Nguyễn Xuân Ôn và tham gia vào các trận đánh tấn côngbọn Pháp xâm lợc thì trong thời gian này, dới ảnh hởng của nghĩa quân, đồngbào miền Tây Nghệ An(Tân Kỳ, Anh Sơn,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã) còn tự mình đứng lên đấu tranhnhằm thoát khỏi ách kìm kẹp của thực dân Pháp và tay sai phong kiến ở đây.Phong trào tự vùng lên đấu tranh này không đợc ghi chép trong một thứ tài liệu,sách vở lịch sử nào m theo nội dung tài liệu còn tồn tại trong dân gian nhà thành kiên cố t cácbài vè, các vở chèo, tuồng… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã cho ta thấy điều đó [37, 25]

Tuy nhiên, do những lí do chủ quan cũng nh khách quan nên các cuộcnổi dậy đó đều thất bại, cũng nh sự thất bại của phong trào Cần Vơng ở NghệAn

Trang 24

Trong những ngày tàn cuộc của phong trào Cần Vơng, một số lãnh tụ đãdựa vào địa thế hiểm yếu của vùng miền Tây Nghệ An (nh Tân Kỳ) để tạm lánh càn quét của thực dân Pháp mà nuôi dỡng lực lợng

Sau khi Nguyễn Xuân Ôn bị bắt (1887), Trần Quang Diệm đã chuyểncăn cứ khởi nghĩa lên đóng tại ngọn Phợng Kỳ thuộc dãy lèn Rỏi (Tân Kỳ).Trần Quang Diệm bấy giờ đợc vua Hàm Nghi phong Nghệ An bố Chánh sứ,Nghệ An tán tợng quân vụ lãnh đạo Nghệ An quân thứ Ông đã cùng với đềCốc, đề Kiều và một số nghĩa quân chặt tre nứa, bức tranh, lợp trại để tính kếlâu dài Bà con địa phơng Tân Kỳ đã giúp đỡ nghĩa quân về lơng thực, khí giớimột cách rất nhiệt tình Nhng năm 1891, Trần Quang Diệm bị Bố chánh Nghệ

An họ Phạm-một bạn đồng luân của ông mu sát Chủ tớng bị bắt nhng nghĩaquân vẫn chiến đấu kiên cờng dới ngọn cờ của Phan Đình Phùng cho đến nhữngngày cuối cùng của phong trào Cần Vơng Gần đây, trong các hoạt động thuộcdãy lèn Rỏi, thỉnh thoảng bà con nơi đây vẫn còn tìm thấy một số gơm giáo rỉnát Qua hình dạng và kích thớc cho thấy đó là những vũ khí của nghĩa quânCần Vơng

Tại khe Mài thuộc địa phận xã Nghĩa Bình huyện Tân Kỳ ngày nay, saukhi Nguyễn Xuân Ôn bị thực dân Pháp cầm tù, Phan Bá Niên đã đa nghĩa quâncủa mình từ căn cứ Quỳnh Lu vợt qua dãy Bờ Bồ về đây vừa xây dựng sàohuyệt, vừa củng cố lực lợng Ông muốn dựa vào hệ thống núi rừng Tân Kỳ,Nghĩa Đàn và phía Tây Quỳnh Lu để tính kế lâu dài Cũng nh Trần QuangDiệm, sau khi đóng quân tại đây, nghĩa quân của Phan Bá Niên đợc bà con địaphơng hết lòng ủng hộ, vì vậy lực lợng của nghĩa quân đã bắt đầu khôi phục lại,Phan Bá Niên cùng đề đốc Lê Trọng Vinh đã chiêu dụng thêm một số nghĩabinh, lập lại cơ ngũ Khi nghe tin cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (ở HàTĩnh) đang trên đà phát triển, ông đã tìm cách liên lạc và đem toàn bộ lực lợngcủa mình đặt dới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng, đợc Phan Đình Phùng đặtlàm Diễn thứ - một trong 15 quân thứ của Phan Đình Phùng Trong quân thứnày có sự tham gia đông đảo của ngời dân ở Tân Kỳ Họ đã chiến đấu dới cờkhởi nghĩa của Phan Đình Phùng cho mãi đến khi phong trào Cần Vơng tắt hẳn

1.2.5 Khởi nghĩa Đốc Thiết-ngọn cờ tiêu biểu của phong trào Cần

V-ơng chống Pháp ở miền Tây Nghệ An

ở các huyện miền núi dọc tuyến đờng 48, phong trào đấu tranh chốngPháp nổ ra dù muộn hơn ở đồng bằng song lại rất mạnh mẽ và quyết liệt Cáchuyện Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quế Phong các tù trởng đã tập hợp nghĩa quân,luyện tập võ nghệ, chuẩn bị đánh Pháp, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởinghĩa do Đốc binh Lang Văn Thiết tổ chức và lãnh đạo

Trang 25

* Tập hợp lực lợng.

Lang Văn Thiết sinh năm 1860, ngời làng Gia Hội, thuộc tổng Đồng Lạc(nay là xã Châu Hội-huyện Quỳ Châu) ông có ngời em gái là vợ kế của CầmBá Thớc-thủ lĩnh nghĩa quân Cần Vơng ở vùng rừng núi Thanh Hoá Về saugiữa hai ngời đã có sự liên minh khá vững chắc trong phong trào chống Pháp ởmiền núi Thanh-Nghệ Tĩnh và là cơ sở cho quân thứ Thanh Hoá trong cuộckhởi nghĩa về sau của Phan Đình Phùng Lang Văn Hạnh cũng là ngời huyệnQuỳ Châu, ông cùng với Đốc Thiết chiêu tập nghĩa quân đứng dậy chống Pháp.Sau một thời gian ngắn, nghĩa quân đã lên tới 300 ngời.chia thành 6 đội, mỗi

đội do một tớng giỏi phụ trách:

 Vùng Kẻ Khum - Gia Hội do Đội Hón chỉ huy

 Vùng Kẻ Ninh - Đồng Lạc do Đội Dơng phụ trách

 Vùng Bản Xăng - Tiên Bính do Cai Cù phụ trách

 Vùng Thanh Nga - Gia Hội do Cai Ba phụ trách

 Vùng Thờng Xuân - Thanh Hoá do Đội Dũng phụ trách [26 ,50 ]

* Các cuộc đấu tranh tiêu biểu.

Đốc Thiết cho xây dựng các căn cứ dọc theo sông Hiếu để tổ chức ngănchặn giữ thuyền bè của bọn thổ ty, lang đạo chở sản phẩm trong vùng cống nạpcho thực dân Pháp Lực lợng đóng ở Bù Cằm, Phà Đài đợc đặt dới sự chỉ huycủa Đốc Hạnh Phần lớn số quân (3 đội) đóng ở căn cứ Đò Ham do chính ĐốcThiết trực tiếp chỉ huy Cùng với Đốc Thiết, Đốc Hạnh thì trong bộ chỉ huy củanghĩa quân còn có: Quản Thông(Lang Văn Ọt) và Quản Thụ(Lang Văn Thụ) là

2 ngời dày rạn kinh nghiệm và đã từng nhiều lần lâm trận trong thời kỳ đánh

đuổi giặc Xá

Năm 1887, Đốc Thiết chủ động tổ chức nhiều toán quân nhỏ, trang bịgọn nhẹ, xuôi thuyền xuống Nghĩa Đàn đánh trận tập kích Có lần bị giặc vây,

ông bỏ thuyền lặn xuống sông Hiếu rồi trốn thoát Đốc Thiết còn cho Quản Thụ

đóng giả ngời ăn xin luồn vào nơi đóng quân của Pháp rồi tổ chức các trận đánhtập kích Một lần biết quân Pháp mở cuộc hành quân lên mạn Tây Phủ Quỳ,Quản Thụ nhận đóng vai chỉ đờng cho Pháp và đa chúng vào cạm bẫy đã giăngsẵn Do chủ động địa hình nên nghĩa quân Đốc Thiết đã thắng lớn, thu 33 súngkíp, nhiều đạn dợc và quân trang

Do tích cực hoạt động về phiá đồng bằng, Đốc Thiết đã bắt mối liên lạc

đợc với Đề Niên, Đề Vinh… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đãlà những tớng giỏi trong phong trào Nguyễn Xuân

Trang 26

Ôn Vào tháng 7-1890, Đốc Thiết cùng Đề Niên, Đề Vinh và lực lợng lớn nghĩaquân đánh trận tập kích vào phủ đờng phủ Quỳ Châu Kết quả là nghĩa quân đãgiành thắng lợi, tri phủ Sầm Văn Hào suýt chết trong trận này.

Trong một cuộc tấn công khác lên vùng Lâm La (một tổng thuộc PhủQuỳ cũ, nay thuộc huyện Nghĩa Đàn), Đốc Thiết bố trí lực lợng của đội Nhiêuphản công và tiêu diệt đợc 2 sĩ quan Pháp ở làng Hiếu Nghĩa (Nghĩa Hng-Nghĩa Đàn) quân hàng phủ cũng bị quân của Quản Thông phục kích, cai Nham

và một số lính khố xanh bị tiêu diệt

Thấy không thể tiêu diệt và thuyết phục nổi tinh thần chống Pháp của

Đốc Thiết, Sầm Văn Hào một mặt hợp tác dựa vào quân Pháp, mặt khác muachuộc hàng ngũ những ngời lãnh đạo nghĩa quân của Đốc Thiết Loá mắt trớcvàng bạc và chức tớc mà Sầm Văn Hào hứa cho, Lang Văn Hạnh-một đốc binhtrong hàng ngũ nghĩa quân đã trở mặt phản bội lại phong trào

Trong hoàn cảnh phong trào kháng chiến ở các nơi đang dần dần bị tanrã, vị trí Đò Ham-nơi nghĩ quân Đốc Thiết đóng giữ dễ bị cô lập, nhất là khinghĩa quân có chủ trơng khai thông con đờng từ Nghĩa Đàn qua Thanh Hoá Vìthế, cuối năm 1890 Đốc Thiết quyết định đa lực lợng về Thanh Nga để phối hợphoạt động với Cầm Bá Thớc

Đốc Thiết chuyển dời lực lợng, tri phủ Sầm Văn Hào phái 12 binh línhhàng phủ đuổi theo nhng đã bị nghĩa quân Đốc Thiết đánh cho tan tành ĐốcThiết cho xây dựng đồn trại ở làng Thanh Nga, bổ sung quân cho Đội Dũng

đóng ở Nà Cà(Thờng Xuân-Thanh Hoá), cử Lữ Văn Ba và Hà Văn Ơn dựng các

đồn lẻ ở Sằng Kho(Thanh Hoá) tiếp tục chiến đấu

Năm 1891, quân Pháp mở cuộc tấn công nhằm nhổ sạch căn cứ của CầmBá Thớc ở Trịnh Vạn Rút kinh nghiệm trận ở suối Tật năm trớc, lần này ĐốcThiết chủ động cho quân về phục kích chặn đánh Pháp từ Nghĩa Đàn lên, đỡ

đòn phía Nam cho Cầm Bá Thớc và bảo vệ cơ sở Thanh Nga Nhng do lực lợngchênh lệch, nghĩa quân Đốc Thiết bị tổn thất lớn, phải rút về cố thủ ở làngThanh Nga

Trong tình thế bị địch vây hãm, Đốc Thiết vợt Bù Quế định sang hợp lựcvới Cầm Bá Thớc Nhng Cầm Bá Thớc lúc này cũng đang lâm vào tình trạng bịPháp truy đuổi Trở lại Thanh Nga, Đốc Thiết phải chống lại đội quân của hàngphủ do sự phản bội của Lang Văn Hạnh và Hiệp La đang kéo tới Lần nàytrong đêm, Lang Văn Hạnh dẫn quân Pháp tới bủa vây, bí mật tiến vào nơi ĐốcThiết ở Vừa nghe tiếng động, Đốc Thiết ra cầu thang để quan sát, lập tức Hiệp

La nổ súng, Đốc Thiết bị thơng ở nách chỉ kịp chạy vào trong nhà lấy thanh

g-ơm rồi tụt xuống gầm nhà Nhng ông lại bị 1 tên lính (tên là Quyên) bất ngờ

Trang 27

đâm một nhát gơm ở phía sau, “máu tuôn ra nh ma rào tháng bảy ”, Đốc Thiết

hy sinh (1897) [29, 89]

Sau cái chết của Đốc Thiết, phong trào chống Pháp ở miền Tây Nghệ Ancũng lắng xuống nhanh chóng Quản Thông, Quản Thụ và những tớng lĩnhcùng hợp tác với Đốc Thiết tiếp tục hoạt động thêm một thời gian nữa rồi bịgiặc vây và tan rã

Khởi nghĩa Đốc Thiế, trớc hết là sự tiêu biểu cho phong trào chống thựcdân Pháp xâm lợc của đồng bào miền núi Nghệ An trong những năm cuối thế kỉXIX Từ lúc khởi xớng phong trào(1885) cho đến lúc hy sinh, tuy gặp rất nhiềukhó khăn nhng không lúc nào nghĩa quân nản chí Hoạt động của nghĩa quân đãgây ra cho thực dân Pháp không ít tổn thất, choáng váng Đốc Thiết là đại diệncho những đồng bào ít ngời vùng núi Nghệ An yêu nớc căm thù giặc, đã vợtqua giới hạn tầm nhìn giai cấp và dòng họ để đạt tới tầm nhìn cao hơn, thấy rõ

- Nếu nh lãnh đạo phong trào yêu nớc chống Pháp ở miền xuôi là các vănthân sỹ phu thì ở miền núi phía Tây Nghệ An lại là các thổ ty, lang đạo,… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã yêunớc, những ngời có uy tín và khả năng tập hợp lực lợng của các tầng lớp nhân

Trang 28

dân vào công cuộc chống thực dân Pháp xâm lợc Đó là Đốc binh Lang VănThiết ở vùng phủ Quỳ Châu, hay Lang Văn út, Lang Văn Thổ và Lang VănThông ở vùng Anh Sơn, Con Cuông; Quản Thông (Lang Văn ọt), Quản Thụ(Lang Văn Thụ) ở vùng Quế Phong … với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đãdo sức mạnh và uy tín của mình trong xãhội nên khi họ phát động khởi nghĩa đã đợc đông đảo mọi tầng lớp, mọi tộcngời tin tởng đi theo Ngoài ra, ở miền Tây Nghệ An còn có cả một bộ phận lựclợng không tham gia lãnh đạo đồng bào đấu tranh nhng lại hởng ứng, ủng hộphong trào chống Pháp ở miền xuôi một cỏch mạnh mẽ.

- Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân miền Tây Nghệ An giai

đoạn cuối thế kỷ XIX có sự tham gia đông đảo của đồng bào các dân tộc,phong trào phát triển liên tục và mạnh mẽ nhng nhìn chung còn mang tính tựphát, vì thế không tránh khỏi những hạn chế

- Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân miền Tây Nghệ An cuốithế kỷ XIX còn phân tán, thiếu sự chỉ huy thống nhất nờn phong trào chốngPhỏp ở đõy dự diễn ra mạnh mẽ, rầm rộ, phát triển rộng khắp và kéo dài bền bỉnhng cuối cùng vẫn không tránh khỏi thất bại

1.3.2 Nguyên nhân thất bại

Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân miền Tây Nghệ An cuốithế kỷ XIX dự diễn ra sụi nổi, mạnh mẽ và liờn tục nhưng cuối cựng phong trào

bị thất bại Nói về nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nớc chống Phápcuối thế kỷ XIX, trên khắp đất nớc ta nói chung và miền Tây Nghệ An nóiriêng đã có rất nhiều cách giải thích Nhìn một cách khách quan, họ đều chorằng:

- Phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân các dân tộc ở miền TâyNghệ An cuối thế kỷ XIX và mở rộng hơn là phong trào trên phạm vi cả nớc nổ

ra là một cuộc đối đầu không cân sức giữa một bên là quân đội viễn chinh nhànghề có kỹ thuật quân sự cao, thủ đoạn xảo quyệt và một bên là các đội du kích

có nhiều hạn chế về trang bị và nghệ thuật tác chiến Đây là nguyên nhân cơbản dẫn đến kết quả thất bại

- Do đờng lối chiến tranh, sự phối hợp tác chiến cha tốt, chưa cú sự liờnkết chặt chẽ giữa các căn cứ và các cuộc khởi nghĩa trong phong trào

- Do thiếu một bộ chỉ huy thống nhất, lãnh tụ thiên tài có khả năng quy

tụ, thống nhất, lãnh đạo đồng bào đánh giặc

Những nguyên nhân thất bại trên đây thực sự xác đáng, nhng vấn đề ởchỗ chúng tôi muốn trình bày những nguyên nhân cụ thể, thiết thực dẫn đến kết

Trang 29

quả thất bại của phong trào yêu nớc chống Pháp ở miền Tây Nghệ An cuối thế

kỷ XIX, đó chính là:

Thứ nhất: Thực dân Pháp đã thành công trong âm mu, chính sách chia rẽ

khối đoàn kết các dân tộc miền Tây Nghệ An, dùng chính sách dùng ngời dântộc trị ngời dân tộc Bên cạch đó, triều đình Đồng Khánh đã truy kích các lãnh

tụ chống Pháp là phản nghịch, ai ủng hộ, che dấu nghĩa quân là tội nặng Đạo

dụ tháng 4-1896 của Đồng Khánh quy định: Làng nào che dấu 1 nghĩa binh thì

lý trởng phải nạp 500 quan tiền, chánh tổng phạt 25 quan Nếu che dấu 5 nghĩabinh thì lý trởng bị tịch thu toàn bộ tài sản, chánh và phó tổng bị tịch thu mộtnửa số sản điền Nếu ẩn dấu 10 nghĩ binh trở lên thì lý trởng và các chán -phótổng ở đó bị tịch thu tài sản [48, 101]

Thứ hai : Cuộc khởi nghĩa có quy mô, đợc đông đảo các dân tộc tham gia

nhng lại dùng đờng lối đánh chiến tuyến cố định là một sai lầm trong điều kiệnnghĩa quân đợc trang bị thiếu thốn về vũ khí, thực dân Pháp thì mạnh, muốnchiến thắng đợc phải dựa vào dân Nhng dùng đờng lối cố thủ, đóng kín thì sẽkhiến cho nghĩa quân bị cô lập Do đó chỉ cần bao vây, thực dân Pháp cũng cóthể khiến cho nghĩa quân thiếu lơng thực, ốm đau và không thể cố thủ lâu dài

đợc

Thứ ba : Do phong trào Cần Vơng ở vùng đồng bằng và trung du nhanh

chúng thất bại cho nờn thực dõn Phỏp càng cú điều kiện để tập trung lực lượngtiến hành đàn ỏp, truy quột phong trào đấu tranh của đồng bào nơi đõy

1.3.3 ý nghĩa lịch sử.

-Đối với miền Tõy Nghệ An: Phong trào đấu tranh của đồng bào miềnTõy Nghệ An (1885-1896) tuy thất bại nhng không vì thế mà thực dân Phápbình định ngay đợc miền Tây Nghệ An cũng nh diệt trừ đợc ý chí đấu tranhtrong con em đồng bào các dân tộc ở miền Tây Nghệ An

Phong trào tuy thất bại nhng đã thể hiện ý chớ, tinh thần đấu tranh kiờncường, bất khuất của đồng bào cỏc dõn tộc nơi đõy khi đứng trước hoạ ngoạixõm

-Đối với thực dõn Phỏp: Phong trào đấu tranh của đồng bào miền Tõynghệ An(1885-1896) đó gúp phần ngăn chặn bước chõn xõm lược và bỡnh địnhcủa thực dõn Phỏp, đến nỗi thực dõn Phỏp phải thừa nhận rằng: “Chúng ta

Trang 30

không hiểu Việt Nam là một dân tộc kiên cờng gắn bó với lịch sử riêng củamình, với những thể chế riêng của mình Chúng ta biết rằng Việt Nam cha baogiờ khuất phục trớc kẻ xâm lợc Tình trạng của chúng ta thật là khủng khiếp vìchúng ta phải đơng đầu với một dân tộc thống nhất mà ý thức dân tộc không hềsuy chuyển”.[48,103]

-Đối với dõn tộc: Nhỡn lại lịch sử đấu tranh chống thực dõn Phỏp củađồng bào miềm Tõy Nghệ An(1885-1945), ta thấy phong trào chống Phỏp ởnơi đõy khụng hề cú sự đứt quóng, giỏn đoạn mà diễn ra gần như liờn tục, cỏitrước tạo đà cho cỏi sau để phỏt triển Phong trào vừa mang những nột đặctrưng riờng của địa phương, đồng thời mang những điểm chung của phong trào

cả nước Điều đú làm cho phong trào yờu nước chống Phỏp của dõn tộc thời kỡnày thờm phong phỳ và đa dạng Phong trào ở miền Tõy Nghệ An diễn ra liờntục mạnh mẽ đó gúp phần tạo ra một mắt xớch quan trọng, tạo bề rộng và chiềusõu kết nối phong trào cả nước

Trang 31

Ch¬ng 2 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP Ở MIỀN TÂY NGHỆ AN TỪ NĂM 1897 ĐẾN NĂM 1930

2.1 Phong trào yêu nước chống Pháp ở miền Tây Nghệ An từ năm

1897 đến năm 1918

2.1.1 Những điều kiện lịch sử mới ở miền Tây Nghệ An đầu thế kỉ XX

Mục đích cuối cùng của chiến tranh thực dân là tìm kiếm thị trường vàkhai thác thuộc đia Thực dân Pháp sớm nhìn thấy miền Tây Nghệ An là vùngđất giàu tài nguyên, đông dân công, giao thông thủy bộ đều thuận lợi, lại giápLào…cho nên ngay sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược và bình định ViệtNam, thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào cuộc khai thác thuộc địa ở miền TâyNghệ An cũng như trên cả nước với quy mô lớn Điều này đã làm biến đổi sâusắc tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ở miền Tây Nghệ An Cụ thể là:

* Chính trị

Dưới triều Nguyễn, Nghệ An là một tỉnh lớn, đứng đầu tỉnh là viên quanTổng đốc, giúp việc cho Tổng đốc là bố chánh (phụ trách thuế má, ruộng đất,dân số), án sát (trông coi hình pháp ), đô đốc (coi việc giáo dục) và lãn binh(coi việc trật tự tri an) Bên dưới có thông phán, kinh lịch và một số thừa phái,lục sự giúp việc

Khi thực dân Pháp áp đặt nền thống trị thì chúng đặt “tòa sứ” bên cạnh

cơ quan cai trị Nam triều Đứng đầu tòa sứ là viên Công sứ, bên dưới là phó sứ(đều là người Pháp) Dưới “tòa sứ” là các sở chuyên môn: Lục bộ, Kiểm lâm,

Y tế, Thú y, Nông chính Nhưng đáng chú ý nhất là sở Mật thám và trại Giámbinh, đây là hai cơ quan thường xuyên theo dõi vã trấn áp nhân dân trong vùng.Mối quan hệ giữa 2 cơ quan cai trị thực dân và phong kiến là mối quan hệ lệthuộc Mọi việc lớn nhỏ, cơ quan cai trị Nam triều ở Nghệ An đều phải trình vàđược “tòa sứ” duyệt mới có giá trị thực hiện Cơ quan Nam triều trong thờigian này thực chất là bù nhìn, mọi quyền hành trong tỉnh đều do tòa sứ nắm và

Trang 32

điều phối Tình cảnh ấy được đồng bào xứ Nghệ mỉa mai khái quát là “dân một

cổ hai tròng”, là số phận “trên dao dưới thớt” [2, 284 ]

Năm 1889, tại Cửa Rào (Tương Dương) và sau đó là tại Bến Dinh (QuỳHợp ngày nay), chúng lập mỗi nơi một trụ sở đại lí hành chính để khống chếmiền Tây Nam và Tây Bắc Nghệ An Đến năm 1907, để nắm chắc chắn đồngbào các dân tộc ít người ở miền Tây Nghệ An, thực dân Pháp đã chia phủ QuỳChâu thành 2 đơn vị hành chính: huyện Nghĩa Đàn và phủ Quỳ Châu Đứngđầu huyện Nghĩa Đàn là một viên chức người Việt Đứng đầu phủ Quỳ Châu làmột viên chức người địa phương Bên cạnh viên tri phủ còn có một đại lý Công

sứ Nghệ An để giám sát trực tiếp mọi mặt [ 2, 286 ]

Ở các tổng, thôn, bản có các chức cai, Phó tổng, Hương lý, Thổ ty, Langđạo được duy trì, tăng ng để trông coi công việc

Chế độ phong kiến ra sức cản trở sự ra đời của chế độ tư bản, chế độ phongkiến không được xóa bỏ mà được nuôi dưỡng nhằm trói buộc nhân dân ta vàovòng nô lệ Một phương thức bóc lột mới-phương thức bóc lột thực dân tư bảnchủ nghĩa được kết hợp chặt chẽ với phương thức bóc lột phong kiến hòng duytrì lâu dài chế độ thực dân Mọi quyền tự do của nhân dân đều bị cấm đoán, kẻđịch luôn lợi dụng sự khác biệt về phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa,tín ngưỡng của các dân tộc miền Tây Nghệ An để kích động tâm lý kì thị dântộc, gây nên những mâu thuẫn giữa đồng bào các dân tộc đông người(ngườiThái) với các dân tộc ít người Từ đó lôi kéo họ xa rời con đường yêu nướcchân chính

Trang 33

thờm nền nụng nghiệp vốn dĩ nghốo nàn ở đõy Cụng cuộc “bỡnh định hơn

10 năm của chỳng đối với phong trào “Cần Vương” đó làm phiờu bạt nhiềunhõn lực, phỏ trụi nhiều làng mạc, ruộng vườn, trõu bũ, và cụng cụ sảnxuất”.[2 , 287]

Thủ đoạn chiếm đoạt ruộng đất của bọn thực dõn phong kiến cũng muụnhỡnh muụn vẻ Ruộng đất của đồng bào bao đời cha truyền con nối và ruộng đấtcụng đều bị chỳng cướp đoạt, đua nhau chiếm gọn Một số ớt ruộng đất xấuchỳng dành vào việc cỳng tế Người nụng dõn cày rẽ trờn ruộng đất này phảichịu thuế thay cho chỳng Ở Thanh Chương, từ năm 1920 tờn Sapahơ baochiếm cả một vựng rộng lớn ở Lạc Sơn (thuộc xó Nhuận Trạch) hay như một sốhuyện Nghĩa Đàn và vựng Phủ Quỳ Phỏp cũng tỡm cỏch chiếm đoạt đất đai đểlập đồn điền Cỏc đồn điền này chủ yếu trồng cà phờ, lỳa, ngoài ra cũn trồngngụ, khoai, vừng, chố đậu [7, 21-22 ]… với kho tàng tài nguyên lâm sản phong phú đã

Với bản chất gian ỏc xấu xa, bọn địa chủ người Việt cũng như ngườiPhỏp ở miền Tõy Nghệ An đó nghĩ ra nhiều mỏnh khúe, thủ đoạn búc lột vừaxảo quyệt vừa trắng trợn Người nụng dõn vất vả quanh năm trờn đồng ruộngnhưng đến vụ thu hoạch, vào những năm mựa màng thất bỏt họ phải nộp chochủ một nửa số thúc làm ra, ngược lại vào những năm được mựa chỳng bắtnụng dõn chia đụi ruộng lỳa, bụng để chỳng gặt Ngoài thuế mỏ nặng nề thựcdõn Phỏp cũn bày trũ “lạc quyờn”, “quốc trỏi” để vơ vột đến kiệt quệ của cảitrong dõn chỳng Chỉ riờng trong đợt quốc trỏi năm 1917-1918 chỳng đó lấycủa dõn Nghệ An tới 505.744 Frăng Lợi dụng cỏc kỡ sưu thuế,“quốc trỏi”,“lạcquyờn” bọn nha lại, tổng lý cũng dựng mọi thủ đoạn để phụ thu, lạm bổ, cướpđoạt ruộng đất, tài sản của người nụng dõn Ruộng đất bị cướp đoạt gần hết vàsưu cao thuế nặng nờn đa số nụng dõn miền Tõy Nghệ An sống trong cảnh xỏc

xơ, tiờu điều Nền kinh tế nụng nghiệp ở đõy trong thời gian này khụng thể nàonhớch lờn được [2, 287]

-Cụng nghiệp: Vựng miền Tõy Nghệ An dự khụng cú những trung tõmcụng nghiệp, nhà mỏy, xớ nghiệp, nhưng trong thời gian này Phỏp đó cho thăm

Trang 34

dò một số mỏ ở nơi đây, song xét thấy vốn đầu tư ban đầu quá lớn nên giaiđoạn này chưa triển khai kế koạch hoạt động Dù vậy ở một số nơi như vùngphủ Quỳ Châu cũng đã có một số hoạt động khai thác lâm sản và khoáng sản.

- Thương nghiệp: Nền kinh tế thương nghiệp ở miền Tây Nghệ An tronggiai đoạn này có nhiều khởi sắc so với trước kia Nếu như ở vùng thành phố,thị xã bọn thương nhân ngoại quốc lũng đoạn, độc quyền thì ở vùng nông thôn,miền núi các chợ đã giữ một vai trò lớn trong việc cung cấp, trao đổi các mặthành thiết yếu cho đồng bào Hầu hết các phủ huyện ở miền Tây Nghệ An đều

có chợ, tuy số chợ ít hơn vùng đồng bằng miền xuôi nhưng vẫn đảm bảo nhucầu trao đổi, buôn bán thường xuyên cho người lao động [2, 297]

Bọn thương nhân nước ngoài thường tìm cách thu vét các nguồn lâm thổsản ở đây để xuất cảng Đặc biêt, cao su trở thành nguồn hàng chiến lược có lợinhuận cao nhất đố với chúng Hội SIFA độc quyền kinh doanh về diêm và gỗ

“Công ty lâm nghiệp thương mại Trung kỳ” và “Công ty Lào” chung bao thầucác hành xuất khẩu, vải sợi, da trâu bò và các loại gia cầm [2, 296]

- Giao thông vận tải: Thực dân Pháp đã cho mở mang một số tuyếnđường giao thông, song mục đích của chúng không nhằm phục vụ đời sống củađồng bào miền Tây Nghệ An mà phục vụ cho công cuộc khai thác tài nguyên

và đàn áp phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc nơi đây

* Văn hóa - xã hội

-Văn hóa: Đời sống chính trị ngột ngạt, đời sống vật chất cực khổ, đờisống văn hóa, giáo dục của đồng bào miền Tây cũng vô cùng lạc hậu Ở ThanhChương, cả huyện chỉ có một trường Pháp - Việt ở Rộ và các trường sơ đẳngtiểu học ở Bích Thị, Đại Định, Đại Ngạn với 250 học sinh [7, 26] Ở một sốhuyện khác tình hình văn hóa giáo dục còn kém hơn nhiều, như cả phủ AnhSơn chỉ có một trường tiểu học, các tổng chỉ mới có bậc ấu học Các làng ởvùng Thịnh Sơn (thuộc huyện Đô Lương ngày nay) chỉ có dăm ba người họcbậc tiểu học và vài người vươn tới mức cao đẳng tiểu học, không có tú tài.[7, 26]

Trang 35

Với chính sách giáo dục nô dịch của bọn thực dân, nền giáo dục ở miềnTây Nghệ An trong những năm đầu thế kỉ XX rất lạc hậu Trường lớp có ít, nộidung thi cử khó khăn, những kiến thức mà học sinh thu nhận được rất nghèonàn và vụn vặt, mang nặng tính chất duy tâm thần bí, xuyên tạc sự thật lịch sử

để phục vụ cho chính sách nô dịch của thực dân

Trong xã hội các loại tệ nạn như rượu chè, cờ bạc, thuốc phiện, gái điếmđược dung dưỡng và tự do phát triển Thực dân Pháp còn thi hành chính sách kìthị dân tộc, khơi dậy mâu thuẫn dân tộc hòng làm suy yếu sức mạnh đoàn kếtcủa đồng bào miền Tây Nghệ An

- Xã hội: Do ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất do tưbản Pháp tiến hành ở miền Tây Nghệ An đã làm cho cơ cấu xã hội cổ truyền ởđây bước đầu có sự phân hóa Nông dân và chủ đất phong kiến la hai giai cấp

cỏ bản trong xã hội Người nông dân ngày càng bị bần cùng hóa Họ là nạnnhân của sự áp bức, nhũng nhiễu của bọn cường hào, họ chịu đựng nhiều nhấtnhững hậu quả của chính sách bóc lột kinh tế và đàn áp chính trị của thực dânPháp Cuộc sống của họ vô cùng khó khăn, chật vật

Địa chủ phong kiến thì ngày càng giàu có bởi sự cấu kết với thực dânPháp và đã nhanh chóng ngoi lên đia vị thống tri xã hội Tiêu biểu có Đốc Pháp

ở Nghĩa Đàn, Hàm Minh ở Anh Sơn…[2 , 307]

Bên cạnh đó, trong thời gian này ở miền Tây Nghệ An đã có sự xuấthiện của đội nhân công làm thuê nhưng với số lượng không nhiều Họ chính lànhững người nông dân bị phá sản đi làm phu đài trong các công trường đường

đá hoặc ở một số đồn điền, đời sống của họ vẫn gắn chặt với người nông dân

Trong xã hội miền Tây Nghệ An giai đoạn này có sự xuất hiện tầng lớptiếu tư sản Họ là những thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ, tiểu chủ, họcsinh, công chức….Tầng lớp này cũng bị bạc đãi, bị phá sản và thất nghiệp nênnhìn chung họ có gần gũi với nông dân và có mâu thuẫn với thực dân phongkiến Bởi vậy, khi có phong trào cách mạng, họ hăng hái tham gia Tuy nhiên,đội ngũ tiểu tư sản ở miền Tây Nghẹ An là rất mỏng, nếu so sánh tiểu tư sản ở

Trang 36

miền Tây nghệ An với tiểu tư sản ở vùng miền xuôi thì rõ ràng sự khác biệtkhông chỉ ở số lượng mà cả chất lượng Điều này cũng là một nguyên nhân lígiải vì sao phong trào đấu tranh của đồng bào miền Tây Nghệ An từ đầu thế kỷ

XX không bằng phong trào ở miền xuôi

Do nền kinh tế thương nghiệp ở miền Tây nghệ An không phát triển nên

sự xuất hiện cũng như vai trò của tầng lớp tư sản trong xã hội miền Tây Nghệ

An rất mờ nhạt

Như vậy,đời sống chính trị ngột ngạt, đời sống kinh tế, văn hóa nghèonàn, lạc hậu, đồng bào miền Tây Nghệ An sống cuộc đời nô lệ cực khổ, mâuthuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp phong kiến phản động và thực dânPháp xâm lược ngày càng gay gắt Đồng bào ước ao có cuộc cách mạng xã hộinhằm lật đổ chế độ cũ, giành lại quyền ấm no, hạnh phúc

2.1.2 Nhân dân miền Tây Nghệ An hưởng ứng phong trào Đông Du, phong trào chống thuế Trung Kỳ.

Đầu thế kỉ XX, lịch sử thế giới bước sang giai đoạn mới đánh dấu bằng 2

sự kiện: Châu Á thức tỉnh và bước đầu cuộc đấu tranh giành chính quyền củagiai cấp vô sản đầu tiên tiến châu Âu Ở Việt Nam, những năm đầu thế kỉ XX

đã xuất hiện một trào lưu tư tưởng tiến bộ, theo đó là sự ra đời của con đườngcứu nước, giải khóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản, nổi bật là xuhướng bạo động của Phan Bội Châu và cải cách của Phan Châu Trinh Theokhuynh hướng cứu nước mới này, nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra, tiêu biểu nhưphong trào: Đông du, Đông Kinh nghĩa thục, phong trào chống thuế ởTrungKỳ…Trong bối cảnh đó, đồng bào miền Tây Nghệ An cũng đã bắt nhịp vớiphong trào chung diễn ra trên cả nước Cụ thể như sau:

*Đồng bào miền Tây Nghệ An hưởng ứng phong trào Đông Du

Tháng 05-1904 Phan Bội Châu và những đồng chí của ông đã lập ra một

tổ chức cứu nước theo kiểu hội kín, sau này là Duy Tân hội để nhằm mục đíchđánh Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc Hội chủ trương xuất dương cầu ngoạiviện Theo đó, phong trào đưa học sinh về phía Đông qua nước Nhật học tập,

Trang 37

cầu viện đã được đề xướng gọi là phong trào Đông du.

Hưởng ứng phong trào, bao thanh niên Việt Nam đã cất hết sách vở vănchương nghề cử tử, rời bỏ làng mạc quê hương, bất chấp hàng rào mật thám vàlính tráng, bất chấp thiếu thốn nguy nan…để qua nước ngoài du học, để tìmhiểu nâng cao dân trí, khai dân khí, cùng các nghề kĩ xảo để trù liệu việc đánhTây Lớp thanh niên miền Tây Nghệ An cũng không nằm ngoài xu thế chungcủa cả nước

Hưởng ứng phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, thanh niên Nghệ

An đã hăm hở tham gia phong trào Trước sau ở xứ Nghệ có gần 100 thanhniên tham gia xuất dương, tiêu biểu có Đặng Thái Thân và Ngô Đức Kế…

Ở miền Tây Nghệ An đã in đậm dấu chân của các lãnh tụ phong tràoĐông Du, nhiều con em đồng bào miền Tây Nghệ An đã hòa nhập vào phongtrào yêu nước mới-phong trào xuất dương tìm đường cứu nước Nhiều người

đã từ giã gia đình ra đi như cụ Hoàng Văn Vĩnh, cụ Nguyễn Biên Cân, cụNguyễn Khắc Yên (xã Lạng Sơn), cụ Phạm Thái Ất (Chương Xuân) huyệnAnh Sơn

Ở Tân Kỳ, có một số thanh niên tiến bộ như: Phan Huynh (con trai cụPhan Bội Châu), Võ Nguyên Hiến đã lên vùng Nghĩa Đàn, Tân Kỳ để vậnđộng bà con địa phương tham gia các tổ chức yêu nước và cách mạng

Phong trào xuất dương ở vùng Nghệ Tĩnh mà cụ thể ở vùng miền TâyNghệ An thì ngoài con đường Đông Du sang Nhật còn sang cả Xiêm, TrungQuốc Đặc biệt là từ sau tháng 9-1908 Pháp-Nhật câu kết, các học sinh Đông

du bị trục xuất khỏi Nhật thì các du học sinh đã chuyển hoạt động sang TrungQuốc

Hưởng ứng phong trào Đông Du còn có cả những hoạt động yêu nướccủa một số giáo dân ở vùng miền Tây Nghệ An Các linh mục đã vận động một

số thanh niên công giáo xuất dương Khuyến khích các giáo dân lập những hội

để tiện cho việc hoạt động

Trang 38

Ngoài “Đông du” để duy tân đất nước, các sĩ phu còn “nã súng” tấn côngvào chế độ khoa cử nhằm: đả kích thi cử, lối học “chi”, “hô”, “giả”, “dã”, tuyêntruyền học các môn tự nhiên thì mới theo đòi bốn biển năm châu, chú trọng sửhọc nước nhà, đề cao anh hùng dân tộc để thức tỉnh tinh thần dân tộc của đồngbào, cổ vũ, nâng cao dân trí, dân khí và chấn hưng thực nghiệp nước nhà.

Song nếu đem so sánh mức độ tham gia phong trao Đông du của đồngbào miền Tây Nghê An so với vùng đồng bằng miền xuôi Nghệ An, Hà Tĩnh,Thanh Hóa cũng như so với cả nước thì rõ ràng hoạt động của phong trào Đông

Du ở vùng miền Tây Nghệ An còn mờ nhạt Nguyên nhân là vì đây là vùngmiền núi, trình độ dân trí của đồng bào thấp, lực lượng đứng ra đón nhậnkhuynh hướng cứu nước mới này rất hạn chế, đồng bào ít có cơ hội tiếp thunhững tân thư, tân văn, những luồng tư tưởng mới và tiến bộ

*Đồng bào miền Tây Nghệ An hưởng ứng phong trào chống thuế Trung Kỳ.

Trong khi phong trào Đông du dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu đangphát triển thì năm 1908 một số sĩ phu đã phát động phong trào đòi miễn giảmsưu thuế cho nông dân để chống lại ách bóc lột hà khắc của bọn thưc dân

Phong trào chống thuế nổ ra trước tiên ở Quảng Nam-Quảng Ngãi rồiảnh hưởng ra các tỉnh khác ở miền Trung Kỳ, trong đó có vùng miền Tây NghệAn

Vào tháng Giêng năm 1908, phong trào chống thuế bùng nổ ở huyện ĐạiLộc (Quảng Nam-Đà Nẵng) Lúc đầu phong trào chỉ là một cuộc biểu tình ônhòa của nhân dân, nhằm phản đối bọn cường hào ăn tiền trong việc phân bổngười đi xây đắp con đường dải đá từ huyện lên tỉnh Đến tháng 3 năm ấyphong trào thực sự hình thành với hàng loạt các cuộc biểu tình lớn lần đầu tiên

có trong lịch sử cách mạng hiện đại Việt Nam Quần chúng đã bao vây các phủhuyện, các tòa sứ…đưa yêu sách, chất vấn, thậm chí trừng trị cả bọn tay saigian ác, xô xát với binh lính địch Có nơi, có lúc đã thấp thoáng hình thái bạođộng cướp chính quyền.Từ Quảng Nam phong trào chống thuế lan xuống

Trang 39

Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, ngược ra Bắc, phong trào tới Quảng Bình,Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa vào tháng 5-1908.

Ở Nghệ An, các sĩ phu yêu nước và nhân dân đã nhanh chóng tiếp thuảnh hưởng của phong trào chống thuế ở Quảng Nam-Quảng Ngãi và đã đứnglên đấu tranh đòi giảm sưu thuế Phong trào đã lôi cuốn khá đông người thamgia Tầng lớp sĩ phu yêu nước vừa là những người lãnh đạo phong trào, vừa lànhững nòng cốt của các cuộc biểu tình kéo lên tỉnh, lên huyện cùng nông dân.Trong đó, người lãnh đạo chủ chốt của phong trào chống thuế trong toàn tỉnh làChu Trạc (Yên Thành, Nghệ An)

Chu Trạc sinh năm 1846 ở xóm Mương, xã Hoa Thành, huyện YênThành, tỉnh Nghệ An Sau khi các phong trào kháng chiến của Nguyễn Xuân

Ôn, Phan Đình Phùng bị đàn áp, nhiều thủ lĩnh còn lại của phong trào CầnVương đã liên hệ với ông để mưu việc cứu nước

Nghe tin phong trào chống thuế ở Quảng Nam bùng nổ, ông tập hợp cácđồng chí tâm huyết để cùng nhau bàn kế hoạch hoạt động Dưới ánh sáng tưtưởng bạo động của các đồng chí trong phái Ám Xã của hội Đông Du và rútkinh nghiệm trong phong trào Hà Tĩnh, Chu Trạc thấy không thể đấu tranhbằng vũ lực Quán triệt tư tưởng đó, ông đã liên hệ với một binh lính tin cậy ởđồn Rạng tên là Cửu Long (huyện Thanh Chương) và chuẩn bị tiền bạc chomột số đồng chí ra nước ngoài mua sắm vũ khí trước khi khởi sự

Chuẩn bị xong xuôi Chu Trạc cho bí mật làm lễ tế cờ ra quân Trongbuổi lễ ông đã thống thiết đọc lời hiệu triệu: “Ai là khách anh hùng xin hãychung lưng đấu cật, nước mất còn chi ở những phút ni” [2, 325]

Sau đó Chu Trạc chia các đồng chí của mình ra hai nhóm Một nhóm doPhan Văn Chớ (nho Chiến) chỉ huy khoảng 30 người vượt biên giới sang Xiêmmua vũ khí Một nhóm do Chu Trạc lãnh đạo ở lại xây dựng hậu cứ, chờ cósúng về là ra quân đánh chiếm các phủ huyện rồi kéo về Vinh Số nghĩa quânPhan Văn Chớ chỉ huy đã cải trang làm người đi rừng để vượt biên giớiLào-Việt qua Xiêm Nhưng đi được nửa đường thì có người trong đoàn vì

Trang 40

không hy sinh được quyền lợi của cá nhân đã gây khó khăn làm vỡ kế hoạch đimua súng của cả đoàn.

Trong khi đó, bộ phận ở nhà do Chu Trạc chỉ huy vì thiếu cảnh giác nên

để kẻ xấu lọt vào dò biết kế hoạch đi báo cho Pháp Nhờ được báo tin kịp thời,Chu Trạc đã phân tán tài liệu, lực lượng trước, khi quân Pháp xông vào nhà,chúng chỉ thấy có cày cuốc và sách vở Tuy vậy chúng vẫn bắt ông và một sốngười phải về Vinh ngay trong đêm đó Âm mưu lợi dụng phong trào nổi lênchống thuế của nông dân để làm một cuộc bạo động vũ trang của Chu Trạc vàcác đồng chí đã bị thất bại, những người lãnh đạo bị bắt, phong trào nhân dân

bị khủng bố dữ dội và quân thù cũng cảnh giác hơn

Kế hoạch cướp trại lính và phá ngục lần đầu tiên của nghĩa quân khôngthành vì các cuộc biểu tình chống thuế đã không thể tiến tới tỉnh lị như dự liệu

và cũng có thể vì Chu Trạc sau khi bị phát hiện thì bọn thực dân Pháp càngtăng cường đàn áp phong trào, hơn nữa chúng đã khá chủ động trong việc này.Trong khi đó các sĩ phu Duy Tân hội có lẽ lại chưa có dịp làm quen với mộtkhái niệm mới về khởi nghĩa vũ trang có sự kết hợp giữa hai lực lượng chínhtrị-quân sự

Hưởng ứng phong trào, một cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc Thái

đã âm thầm chuẩn bị và sắp nổ ra ở vùng Khủn Tinh cũ, mà cụ thể là ở bảnTổng Lôi

Bản Tổng Lôi thuộc chòm Lê Lợi, xã Khủn Tinh (nay là ChâuCường-Quỳ Hợp) Đây là khu vực có vị trí gần 3 huyện Tương Dương, ConCuông và Tân Kỳ Trong bản Tổng Lôi có 9 gia đình người Thái sinh sốngbằng nghề phát rẫy, trồng màu, thu nhặt lâm sản và chăn nuôi Đời sống của họrất chật vật Trong số đó có gia đình ông Lương Văn Bản và Lương Văn Cảng

là nghèo khó hơn cả Khi Pháp đặt ách đô hộ lên đất nước ta, nạn thuế má, phuphen đè nặng trên đầu, trên cổ họ Đã thế tên Đại lý đóng ở Nghĩa Hưng-NghĩaĐàn và tên đồn trưởng đồn Quỳ Châu lại luôn bắt họ phải cống nộp lâm sảnquý Không có hoặc chậm là chúng đánh đập và giam cầm rất dã man

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê số lợng công nhân ở các  đồn  điền đất đỏ ở miền Tây Nghệ An - Phong trào yêu nước chống pháp ở miền tây nghệ an từ năm 1885 đến năm 1945
Bảng th ống kê số lợng công nhân ở các đồn điền đất đỏ ở miền Tây Nghệ An (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w