1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đồng bào dao ở hai tỉnh bắc kạn và cao bằng trong cuộc vận động cách mạng tháng tám (1941-1945)

100 498 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, , cùng với nhân dân các dân tộc anh cùng nhân dân các dân tộc và lực lượng Nghiên cứu đ vận động Cách mạng Tháng Tám 1941-1945 sẽ góp phần làm sáng tỏ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ CHÍ TRUNG

ĐỒNG BÀO DAO Ở HAI TỈNH BẮC KẠN

VÀ CAO BẰNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1941 - 1945)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG NGỌC LA

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài Đồng bào Dao ở hai

tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám

(1941-1945) dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Ngọc La là kết quả nghiên cứu của

cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực Những chỗ sử

dụng kết quả nghiên cứu của người khác đều có trích dẫn rõ ràng Những tài

liệu không có trích dẫn là do tác giả trực tiếp sưu tầm

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Thái nguyên, tháng 8 năm 2013

Xác nhận của trưởng khoa chuyên môn Tác giả luận văn

PGS.TS Hà Thị Thu Thuỷ Lê Chí Trung

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 ……… 1

2 nghiên cứu ề 2

3 , , ……… 6

4 ………7

5 ……… 7

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN CƯ TRÖ, TỔ CHỨC LÀNG BẢN, QUAN HỆ XÃ HỘI, DÕNG HỌ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC DAO Ở HAI TỈNH BẮC KẠN VÀ CAO BẰNG 1.1 Địa bàn cư trú……… … 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên…… ……… ……… 9

1.1.2 Dân tộc Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng ……… 18

1.2 Tổ chức làng bản, quan hệ xã hội, dòng họ và truyền thống … 23

1.2.1 Tổ chức làng bản, quan hệ xã hội và dòng họ………23

1.2.2 Truyền thống yêu nước trước 1941 ……… ……… 24

Chương 2 NH , (1941-1945) 2.1 Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng……… 33

2.2 Tiếp thu ánh sáng cách mạng Đảng, chuẩn bị lực lượng 38

2.2.1 Tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng……… 38

2.2.2 Sự ra đời và phát triển khu Quang Trung ……… 52

2.2.3 Trong cuộc đấu tranh chống khủng bố ……… ……… 53

Chương 3 THAM GIA C, GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA 3.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương…… 65

Trang 4

3.2 Trong khởi nghĩa giành chính quyền từng phần……… 67

3.3 Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám……… 79

3.3.1 Thời cơ khởi nghĩa và chủ trương của Đảng………79

3.3.2 Khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh……….81

Kết luận……… 88

Tài liệu tham khảo……… 92

Phụ lục……… 97

Trang 5

1

1

Địa bàn sinh sống của người Dao ở vùng rừng núi hiểm trở, có vị trí chiến lược quan trọng, người Dao được giác ngộ lại có truyền thống đấu tranh cách mạng cho nên đây là nơi dừng chân an toàn của lực lượng cách mạng chống lại cuộc khủng bố của địch Cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang của Đảng được đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng nuôi dưỡng, bảo vệ đã vượt qua những thử thách gay go, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng được giữ vững và phát triển

Quá trình xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong đồng bào Dao

đã tạo ra điều kiện phát triển mở rộng lực lượng cách mạng chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang Trên địa bàn sinh sống của đồng bào Dao còn là nơi ra đời Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân – đội quân chủ lực của cách mạng

Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, từ địa bàn hoạt động của người Dao, khởi nghĩa giành chính quyền từng phần diễn ra sớm và rất sôi nổi ở các huyện như Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Kạn), Nguyên Bình…(Cao Bằng) Thắng lợi trong cao trào kháng Nhật cứu nước đã giải phóng và thành lập chính

Trang 6

2

quyền cách mạng ở hầu khắp vùng nông thôn, miền núi trong đó có địa bàn người Dao đã tạo thế và lực cho việc giành chính quyền trong toàn tỉnh ở Bắc Kạn và Cao Bằng tháng 8 năm 1945

Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám,

, cùng với nhân dân các dân tộc anh

cùng nhân dân các dân tộc và lực lượng

Nghiên cứu đ

vận động Cách mạng Tháng Tám (1941-1945) sẽ góp phần làm sáng tỏ truyền thống yêu nước và cách mạng của đồng bào Dao, làm phong phú thêm hình thái vận động và bài học kinh nghiệm về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, về việc sử dụng hình thức bạo lực cách mạng trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám

trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Những thập kỉ qua, , nhiều cuốn

sách, bài viết, hồi kí, tài liệu tham khảo…đề cập các vấn đề có liên quan đến

mạng Tháng Tám (1941-1945)

Năm 1977, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng xuất bản tài liệu Văn kiện

Đảng (1930-1945); Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành tác phẩm Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 Các tài liệu trên góp phần định hướng trong nghiên

cứu và làm rõ chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng trong giai đoạn 1941-1945

Trang 7

” Nxb Quân đội nhân dân , 1977 ngoài việc

đề cập toàn diện quá trình vận động cách mạng trong cả nước,

ở hai tỉnh Bắc Kạn và, một số nét khái quát về khởi nghĩa từng phần và Tổng khởi nghĩa Tháng Tám ở khu vực vùng núi phía Bắc trong đó có hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng

Năm 1972, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Khu Tự trị Việt Bắc cho

xuất bản cuốn sách: “ Khu Quang Trung trong cuộc vận động Cách mạng

tháng Tám ở Việt Bắc” Cuốn sách trình bày khá chi tiết quá trình tuyên

truyền, vận động đồng bào dân tộc Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng tham gia vào Mặt trận Việt Minh trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945 Năm 1980, trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Thái” tập 1 của Ban

nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Bắc Thái, các tác giả đã phân tích về hoạt động chuẩn bị lực lượng cho Cách mạng tháng Tám ở tỉnh Bắc Thái nói chung và Bắc Kạn nói riêng, cuốn sách cũng đã đề cập đôi nét về quá trình xây dựng phong trào Việt Minh trong vùng đồng bào Dao ở Bắc Kạn

Cuốn “Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945”, của Viện Lịch sử Đảng, nhà

xuất bản Sự thật, năm 1985 đã viết về khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương, trong đó có trình bày sơ lược diễn biến, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Bắc Kạn và Cao Bằng năm 1945

Năm 2000, Ban chấp hành Đảng bộ Bắc Kạn, phát hành cuốn “ Lịch sử

Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, tập I” do Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn (chủ biên) Phần

Trang 8

4

mở đầu cuốn sách đã khái quát về vị trí địa lí, đặc điểm dân cư, truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn nói chung và đồng bào Dao nói riêng trong quá trình xây dựng bảo vệ quê hương Trong phần thứ nhất: “Tiếp thu ánh sáng cách mạng, thành lập tổ chức Đảng, tiến lên giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945”, các tác giả đã trình bày khái quát quá trình xâm lược của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tiếp thu ánh sáng cách mạng, từng bước xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng, cơ sở Đảng, đánh dấu bước ngoặt trong phong trào cách mạng ở Bắc Kạn

Từ đây, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng vận động các vùng đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao…, tham gia Hội Cứu quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng nhanh chóng, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh Cuốn sách là nguồn tài liệu mới, để luận văn nghiên cứu kĩ hơn về Cách mạng tháng Tám ở Bắc Kạn nói chung và đồng bào Dao ở Bắc Kạn trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám (1941-1945) nói riêng

Năm 1982, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng phát hành cuốn

“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 1930-1945, Tập I” Cuốn sách trình bày

khái quát đặc điểm, địa bàn sinh sống, truyền thống cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng, trong đó có nêu khái quát về đồng bào Dao, đặc biệt là ở Nguyên Bình trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám

Ở các địa phương có các cuốn: “Lịch sử Đảng bộ huyện Na Rì

1975)”, xuất bản năm 2000; “Lịch sử Đảng bộ huyện Chợ Đồn”, Tập I

(1930-1954) xuất bản năm 1993; “Lịch sử Đảng bộ huyện Bạch Thông 1930-1945” xuất bản năm 1996; “Lịch sử Đảng bộ huyện Ba Bể 1930-1954” xuất bản năm 1998; “Lịch sử Đảng bộ huyện Nguyên Bình” do Ban Chấp hành Đảng

bộ huyện Nguyên Bình phát hành; “Lịch sử đấu tranh cách mạng Ngân Sơn

1939-1954” các cuốn sách này đã đề cập đến quá trình chuẩn bị lực lượng

Trang 9

5

cách mạng của nhân dân các dân tộc địa phương trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là quá trình xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào Dao

1941-1945

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu tập hợp các bài viết tại các

Hội thảo khoa học: Tập kỷ yếu “55 năm Quân đội nhân dân Việt Nam miền

đất khai sinh và quá trình phát triển” của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ

ban nhân dân tỉnh Cao Bằng – Bộ tư lệnh Quân khu I – Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Năm 2003, trên cơ sở tập hợp tư liệu, Viện Lịch sử quân sự Việt

Nam biên soạn cuốn “Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân”, Nxb Quân đội nhân dân, giới thiệu về sự ra đời của một trong những đội quân chủ

lực của cách mạng Việt Nam – Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân trên căn cứ địa Cao Bằng

Tiến sĩ

1945

Trong cuốn “Giáo trình lịch sử Việt Nam 1958-1945”, Nhà xuất bản

Giáo dục Việt Nam, xuất bản năm 2011, tác giả - Hà Thị Thu Thủy có đề cập tới cuộc vận động Cách mạng tháng Tám của đồng bào cả nước nói chung và của nhân dân các dân tộc Việt Bắc nói riêng

Ngoài ra, quá trình chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng,

còn được đề cập trong một số hồi kí cách mạng như: “Từ nhân dân mà ra”

của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Nxb Quân đội nhân dân, 1964; hồi ký của

Trang 10

6

Nông Văn Quang “ Con đường Nam tiến”, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1995 Các

cuốn hồi ký trên chứa đựng nhiều nội dung phong phú, trong đó có đề cập tới việc xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng , khu vận động cách mạng của đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng

đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám (1941-1945)

: “

động Cách mạng tháng Tám 1945)”

(1941-3 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng trong

Trang 11

7

Dựng lại quá trình tham gia cách mạng (vào hội Việt Minh),

cách mạng, tiến lên khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền

ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng từ năm 1941 đến năm 1945 Trên cơ sở đó, Luận văn nêu đặc điểm cuộc vận động cách mạng ở hai

tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng

4 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1930-1945

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

lượng và khởi nghĩa giành chính quyền của

Trang 12

, góp phần vào thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa

Trang 13

9

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN CƯ TRÖ, TỔ CHỨC LÀNG BẢN, QUAN HỆ

XÃ HỘI, DÕNG HỌ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC DAO Ở

HAI TỈNH BẮC KẠN VÀ CAO BẰNG 1.1 ĐỊA BÀN CƯ TRÖ

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, trong hệ toạ độ từ 210

,48 đến 220,44’ Bắc, từ 1050,26’ đến 1060,14’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang

Tỉnh có diện tích tự nhiên là 4.857,21km2

, gồm 8 đơn vị hành chính là 1 thị xã và 7 huyện: Ngân Sơn, Ba Bể, Pác Nặm, Bạch Thông, Na Rì, Chợ Đồn, Chợ Mới, với 112 xã, 6 thị trấn [27, tr.47-48]

Tỉnh Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, chủ yếu là đồi và núi cao Điểm cao nhất là đỉnh Phja Dạ - 1640m, điểm thấp nhất ở xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới – 80m, so với mực nước biển

Vào thời kì dựng nước của các Vua Hùng, vùng đất Bắc Kạn hiện nay thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ hợp thành nước Văn Lang Đây vốn là một trong những địa bàn sinh sống lâu đời của các bộ lạc người Tày cổ Các

bộ lạc này đã có thời gian cùng với thủ lĩnh của mình là Thục Phán An Dương Vương đánh bại quân Tần xâm lược, lập ra nước Âu Lạc (năm 208 – 179 TCN) trong lịch sử dân tộc

Trong quá trình phát triển, địa giới và địa danh Bắc Kạn có nhiều thay đổi quá các thời kì

Từ thế kỷ II trước công nguyên đến thế kỷ X, nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, Bắc Kạn thuộc

Trang 14

10

quận Giao Thuỷ, sang thời Đường Bắc Kạn là miền đất thuộc Châu Long sau

đó thuộc châu Võ Nga

Từ thế kỷ X trở đi đặc biệt dưới thời Lý - Trần (1010 - 1400) lần đầu tiên trên đất nước ta, hệ thống hành chính – quan chức từng bước được xác lập, củng cố và mở rộng một cách có hệ thống Nhà Lý chia cả nước thành: Lộ, Phủ, Châu Vùng đất từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, Cao Bằng gọi là phủ Phú Lương Dưới phủ là các châu, vùng đất Bắc Kạn gồm các châu: Thanh Bình (Chợ Mới), Vĩnh Thông (Bạch Thông, Ba Bể, Pác Nặm), Cảm Hoá (Ngân Sơn, Na Rì) [38-tr.17]

Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ quyền, bờ cõi theo như cũ Năm 1490, thời Hồng Đức, vùng đất Bắc Kạn được gọi là phủ Thông Hoá, thuộc trấn Thái Nguyên Phủ Thông Hoá vẫn gồm các châu như thời Lý -Trần Riêng châu Vĩnh Thông đổi thành châu Bạch Thông

Thời Lê Trung Hưng, vùng đất Bắc Kạn thuộc trấn Thái Nguyên các đơn

vị hành chính về căn bản vẫn như cũ Dưới triều vua Quang Trung cũng vậy Thời Nguyễn, năm 1831 - 1832 Minh Mạng đã tiến hành cuộc cải cách hành chính chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên, dưới tỉnh là châu - huyện, tổng, xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Thái Nguyên, gồm hai châu là Bạch Thông và Cảm Hoá

Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách xâm lược và đô hộ nước ta, chúng đánh lên các khu vực miền núi phía Bắc trong đó có Bắc Kạn Sau khi chiếm xong Bắc Kạn bằng vũ lực, thực dân Pháp chuyển sang cai trị

và bóc lột bằng việc thiết lập bộ máy chính quyền thực dân

Tháng 4 năm 1900, toàn quyền Pháp P Đume ra nghị định thành lập đơn

vị hành chính tỉnh Bắc Kạn Năm 1916 theo nghị định của Thống sứ Bắc Kì

Trang 15

11

thành lập châu Chợ Đồn Đến khi hoàn chỉnh, tỉnh Bắc Kạn bao gồm 5 châu

là Chợ Đồn, Chợ Rã, Bạch Thông, Ngân Sơn và Na Rì

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, hệ thống địa lí hành chính tỉnh Bắc Kạn về căn bản vẫn giữ nguyên như cũ, chí có một số thay đổi nhỏ

Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Hồ Chủ Tịch đã kí sác lệnh số 148/SL bãi

bỏ tên gọi phủ, châu, quận thay vào đó gọi là cấp huyện

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, địa lí hành chính tỉnh Bắc Kạn có một số lần thay đổi, điều chỉnh

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức được tái lập Các huyện Ngân Sơn, Ba Bể tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn, thành lập thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch Thông Ngày 25 tháng 8 năm 2003, chính phủ đã ban hành Nghị định thành lập huyện Pác Nặm trên cơ sở tách từ huyện Ba Bể

Như vậy, trải qua nhiều lần thay đổi, hiện nay tỉnh Bắc Kạn được chia thanh 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện và thị xã Bắc Kạn

Về địa hình, Bắc Kạn nay đậm nét đặc trưng của khu vực miền núi, đồi núi chiếm 80% diện tích toàn tỉnh Lãnh thổ Bắc Kạn nằm ở khu vực giữa hai cánh cung: Cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông và cánh cung Sông Gâm ở phía tây Cánh cung Ngân Sơn trải dài gần 100km chạy từ Nam Cao Bằng đến Đông Phú Lương (Thái Nguyên)

Cánh cung Sông Gâm chảy từ núi Phja Dạ thuộc Cao Bằng theo hướng tây bắc - đông nam và phía Đông Sông Gâm xuống các huyện Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn

Bắc Kạn là khu thượng nguồn của Sông Cầu - dòng sông lớn nhất tỉnh Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn, chảy qua tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang rồi hợp với sông Thương, sông Lục Nam tạo nên hệ thống sông Thái

Trang 16

12

Bình Sông Cầu (Tả Luông) có hai nguồn nước, nguồn nước từ các sơn phận Phương Viên (Chợ Đồn) và Yên Đĩnh (châu Bạch Thông) chảy theo hướng đông nam, nguồn sơn phận xã Vi Hương và Phương Linh (huyện Cảm Hoá) chảy phía đông nam, gặp nhau ở phía Đông huyện Định Hoá (tỉnh Thái Nguyên)

Ngoài ra Bắc Kạn còn có các sông Bắc Giang (Tả Lương Thượng), Sông Năng (Tả Slo), thượng nguồn sông Đáy và nhiều suối khác Nơi đây tập trung dân cư đông đúc và là vùng lúa của tỉnh

Với địa hình núi non, sông suối đã tạo cho Bắc Kạn một bức tranh phong cảnh nên thơ:

Phja Dạ bấu lìa moóc cảnh tiên Phặc phiền phồng đáo đeng nả đán (Phja Dạ mây trắng phủ đẹp như cảnh tiên Hoa phặc phiền nở thắm đỏ trên vách đá)

Dãy Phja Bjoóc hùng vĩ, kéo dài qua các huyện Chợ Rã (nay là Ba Bể) Bạch Thông, Chợ Đồn Trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám, dãy núi Phja Bjoóc được đặt tên là “Núi cứu quốc”, Trên dãy núi này có những đỉnh cao như: đỉnh Phja Bjoóc (1600m), đỉnh Phja Iểng (1527m), đỉnh Khuổi Tàng (1359m)

Ngoài ra, Bắc Kạn còn có các núi Yên Đĩnh, Yên Hân…, xen giữa những vách đá dựng đứng là các thung lũng, chạy song song các sông suối tạo thành những đồng lúa màu mỡ

Quốc lộ 3 là con đường huyết mạch chạy dài suốt từ phía Bắc xuống phía Nam qua Thái Nguyên về Thủ đô Hà Nội và ngược lại có thể lên phía Bắc qua Cao Bằng tới biên giới Việt - Trung

Ngoài ra Bắc Kạn còn có quốc lộ 3B, Quốc lộ 279 và đường 256 Thác Giềng - Na Rì dài gần 60km, đường 257 thị xã Bắc Kạn - Chợ Đồn dài hơn

Trang 17

13

40km, đường 258 Phủ Thông - Chợ Rã dài 40km, đường 254 từ Hồ Ba Bể đi đèo so dài 70km, đường 255 Nà Duồng đi Kéo Mác (Tuyên Quang) dài 25km, đường 212 từ Hà Hiệu đi Phja Đén (Nguyên Bình - Cao Bằng) dài 28km

Hệ thống giao thông, liên huyện, liên xã đã bảo đảm phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong tỉnh đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá với khu vực trung du, đồng bằng Bắc Bộ cũng như các tỉnh miền núi phía Bắc

Với những điều kiện như vậy, Bắc Kạn rất thuận lợi về mặt quân sự, dễ dàng cho việc tổ chức chiến đấu, xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

ở khu vực vùng cao tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945

Cao Bằng là một tỉnh nằm vào vị trí phía Bắc của tổ quốc, có toạ độ từ

230,07’12” đến 220,21’21” vĩ Bắc, từ 1050,16’15” đến 1060,50’25” kinh Đông Chiều dài từ Đông sang Tây là 170 km, theo chiều Bắc Nam là 80 km Phía Nam giáp tỉnh Lạng Sơn và Bắc Kạn, phía Tây giáp Hà Giang và Tuyên Quang, có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 300km ở phía Đông và phí Bắc Cao Bằng có diện tích tự nhiên khoảng 6.700km2, dân số năm 1939 là 173.460 người sinh sống thuộc các thành phần dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa, Mông, Dao, Lô Lô… có tầm quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, quốc phòng [8, tr.11]

Địa danh Cao Bằng xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam và đã được

sử sách ghi chép lại Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đời các Hùng Vương, nước Văn Lang chia thành 15 bộ, “Cao Bằng xưa, đông bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng, tây nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn có 1 lộ 4 châu 273 làng xã Đây là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc vậy” [51, tr.50]

Trải qua các triều đại phong kiến, năm 1428 khi nhà Lê sơ thành lập, Lê Thái Tổ chia đất nước thành 5 đạo, Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo Dưới đạo là

Trang 18

14

trấn, lộ, huyện, châu và cuối cùng là xã Năm 1466 Lê Thành Tông chia cả nước thành 12 đạo Thừa Tuyên [41.tr 319] Thái Nguyên là một trong 12 đạo Thừa Tuyên Vùng đất Cao Bắc lúc đó là phủ Bắc Bình trực thuộc Thừa Tuyên Thái Nguyên

Đến năm Hồng Đức thứ 4 (1473) phủ Bắc Bình đổi tên thành phủ Cao Bằng, vẫn trực thuộc Thừa Tuyên Thái Nguyên

Năm 1677, phủ Cao Bằng tách khỏi Thái Nguyên, đặt tên riêng là trấn Cao Bằng Cao Bằng từ thời điểm đó chịu sự điều hành trực tiếp của chính quyền Trung ương (Triều đình), bình đẳng với Thái Nguyên, không lệ thuộc với Thừa Tuyên nào Trấn Cao Bằng thời điểm đó tương đương với tỉnh Cao Bằng ngày nay

Thời kỳ Pháp thuộc, sau khi chiếm được Cao Bằng (1886), thực dân Pháp thiết lập các hình thức cai trị bằng quân sự Từ năm 1888, Cao Bằng trở thành một quân khu, thực dân Pháp đã phân chia địa bàn từ Thanh Hoá trở ra Bắc thành 14 quân khu Mỗi quân khu do một sĩ quan cấp đại tá hoặc cấp tướng trực tiếp chỉ huy

Ngày 6 tháng 8 năm 1891, toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định bãi

bỏ các quân khu và cho thiết lập các Đạo quan binh Đạo quan binh là đơn vị hành chính đặc biệt do giới quân sự nắm quyền cai trị, được thành lập tại các tỉnh biên giới phía bắc

Ngày 20 tháng 8 năm 1891, toàn quyền Đông dương ra nghị định thành lập tại Bắc Kì 4 đạo quan binh: Phả Lại, Lạng Sơn, Yên Bái, Sơn La Đạo quan binh 2 Lạng Sơn đặt thủ phủ tại Cao Bằng Cao Bằng là một tiểu quân khu thuộc Đạo quan binh 2, sau đó tiểu quân khu Cao Bằng chuyển thành Đại quan binh 2 Cao Bằng, đạo lỵ đặt tại Cao Bằng với 3 tiểu quân khu là Cao Bằng, Bảo Lạc, Bắc Kạn [46, tr.34 - 35]

Trang 19

15

Là một tỉnh biên giới, Cao Bằng có một vai trò chiến lược về nhiều mặt: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá… Để chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng này, trước cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp đã mở 2 con đường về xuôi: Quốc lộ 3 từ Cao Bằng xuống Bắc Kạn qua Thái Nguyên về Hà Nội, Quốc lộ 4 từ Cao Bằng qua Lạng Sơn đến Quảng Ninh thong ra biển; từ Cao Bằng qua Lạng Sơn về Hà Nội theo đường số 1

Trong nội tỉnh có đường giao thông thuận tiện, từ tỉnh lỵ toả đi các huyện và nhiều đường liên huyện, liên xã, đặc biệt ngoài các cửa khẩu Tà Lùng (Quảng Hoà); Lý Vạn (Hạ Lang); Pò Peo (Trùng Khánh); Sóc Giang (Hà Quảng), còn có hàng trăm lối mòn thông sang Trung Quốc Đây là điều kiện thuận lợi cho việc liên lạc với quốc tế và trong việc tổ chức chiến đấu, chuẩn bị lực lượng

Với hệ thống giao thông như vậy, vùng đất Cao Bằng không chỉ có ý nghĩa to lớn trong sự thông thương quốc tế, mà từ Cao Bằng theo các hướng

có thể dễ dàng tiến về vùng Trung du, đồng bằng ven biển và Hà Nội

Phía Đông, có thể men theo rừng núi mà tiến đến lân cận Hải Phòng và

đi ra biển Theo phía nam xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên, nhanh chóng tiếp cận Hà Nội Phía Tây có thể men theo rừng núi mà tiến sang Hà Giang, xuống Tuyên Quang sang Yên Bái… hoặc xuôi về Hà Đông hay liên lạc với Thanh - Nghệ “Đứng về địa thế mà luận thực là mộ nơi dụng binh hiểm yếu tiến khả

dĩ công, thoái khả dĩ thủ” Cũng chính vì những điều kiện thuận lợi như vậy nên khi về nước, Hồ Chủ Tịch đã sớm chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng căn

cứ địa, biến nơi đây thành chỗ dựa vững chắc để xây dựng lực lượng và từ đó phát triển phong trào ra toàn quốc

Địa thế Cao Bằng hiểm trở, rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đặc điểm địa hình phức tạp, đa dạng, xong có thể chia làm 3 loại địa hình chính:

Trang 20

16

Miền địa hình núi đá vôi, bao gồm hệ thống các dãy núi đá vôi chiếm khá lớn trong tỉnh, hầu hết ở các huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Quảng Uyên, Phục Hoà, Hà Quảng, Thông Nông và một số khu vực phía Bắc huyện Thạch An, đông nam Bảo Lạc, Bảo Lâm, đông bắc Nguyên Bình Núi

đá vôi tạo ra nhiều hang động, thung lũng kín đáo có tác dụng che dấu lực lượng như các hang động Bó Lình (Quảng Uyên), hay Pác Bó (Hà Quảng), thung lũng núi đá Lam Sơn (Hoà An), hay Kéo Quảng (Nguyên Bình)… Miền địa hình núi cao, phân bố chủ yếu ở các huyện miền Tây của tỉnh như Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An và một phần diện tích phía Nam huyện Hoà An Đặc biệt là hệ thống núi cao Bảo Lạc - Nguyên Bình, bao gồm nhiều dãy núi cao kéo dài từ phía tây nam huyện Bảo Lạc sang phía tây nam huyện Nguyên Bình với các đỉnh cao tiêu biểu: Ngọn núi Phja Dạ ( Bảo Lạc) cao 1980m; Phja Oắc ( Nguyên Bình) cao 1931m so với mực nước biển

Miền địa hình núi thấp, thung lũng phân bố chủ yếu ở phía đông, đông nam của tỉnh xen kẽ giữa các hệ thống núi cao là các thung lũng, núi thấp, sông suối với kích thước, hình tháu đa dạng, các thung lũng lớn như Hoà An, Nguyên Bình, Thạch An, thung lũng sông Bắc Vọng, Quây Sơn (Trùng Khánh), Cần Yên (Thông Nông)…đáng chú ý nhất là cánh đồng Hoà An được bồi đắp từ phù sa sông Bằng, cho nên cánh đồng Hoà An là vựa lúa của tỉnh Miền địa hình núi thấp, thung lũng chiếm phần diện tích nhỏ của tỉnh nhưng

có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất nông - lâm nghiệp và giao thông thuận lợi hơn các vùng khác

Về khí hậu, đặc trưng của khí hậu Cao Bằng là nhiệt đới gió mùa Cao Bằng là cửa ngõ đón gió mùa đông bắc từ Trung Quốc tràn sang vào mùa đông, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa đông nam Khí hậu Cao Bằng được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

Trang 21

17

Là tỉnh miền núi nhưng Cao Bằng có lắm suối, nhiều sông, như sông Nho Quế, sông Gâm (Bảo Lạc), sông Hiến (bắt nguồn từ miền tây huyện Thạch An), sông Quây Sơn, Bắc Vọng (Trùng Khánh), sông Dẻ Rào (Thông Nông), nhưng lớn nhất là sông Bằng Phát nguyên từ Trung Quốc, sông Bằng chảy qua Hà Quảng, đến Nước Hai hội lưu với sông Dẻ Rào và một nhánh từ Nguyên Bình đổ ra, đến thị xã Cao Bằng hợp với sông Hiến và suối Của, rồi xuôi về Quảng Hoà, qua Tà Lùng, đổ vào Trung Quốc Đây là con sông có lòng rộng và sâu, rất thuận tiện cho giao thông vận tải, Vì ở trên miền núi, nên sông suối có nhiều thác, ghềnh như thác Bản Giốc, Đầu Đẳng… là một nguồn điện năng to lớn [8, tr.12-13]

Với đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ văn của Cao Bằng cùng với sự tương tác tương hỗ các yếu tố tự nhiên, nơi đây đã hình thành nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, phân loại theo độ cao địa hình, đất đai Cao Bằng được chia ra làm 3 nhóm chính: Nhóm đất núi cao, phân bố ở độ cao 900m so với mặt nước biển, diện tích sử dụng cho nông nghiệp của nhóm đất này chỉ chiếm khoảng 5,59%, ở khu vực này là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Mông, Dao Với diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp nhỏ, hẹp như vậy cho nên đời sống của người Mông, Dao còn gặp nhiều khó khăn Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho đồng bào Mông, Dao ở khu vực này hăng hái tham gia cách mạng

Nhóm đất đồi, hình thành trên vùng đất núi thấp, chủ yếu là đồi hoặc địa hình lượn sóng nên bị chia cắt, độ dốc lớn nên làm hạn chế đến việc sử dụng đất trong sản xuất nông - lâm nghiệp, khu vực này là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Tày, Nùng, Kinh

Nhóm đất bằng thung lũng, do yếu tố địa hình chi phối nên Cao Bằng không có những cánh đồng rộng lớn, mà chỉ có những thung lũng nằm xen kẽ giữa các dãy núi hoặc long ván hẹp ven các con sông với những dải phù sa

Trang 22

Huyện Nguyên Bình là khu vực có nhiều khoáng sản, vì vậy khi thực dân Pháp chiếm Cao Bằng từ tháng 10 năm 1886, chúng đã tiến hành khai thác, vơ vét tài nguyên khoáng sản làm giàu cho chính quốc

Mỏ thiếc sa khoáng Tĩnh Túc đã được khai thác từ thời Pháp thuộc (1902), bên cạnh đó còn có vàng, bạc song trữ lượng là không nhiều

1.1.2 Dân tộc Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng

1.1.2.1 Tên gọi và nguồn gốc

Cho đến nay ở nước ta người ta vẫn gọi người Dao bằng những tên khác nhau Trong dân gian thường gọi người Dao bằng các tên gọi khác nhau như: Mán, Động, Dao, Xá…Đó chính là tên gọi của các dân tộc khác cho họ, còn người Dao lại tự nhận mình là “Kiềm miền” hay “Dìu miền” [36, tr.16] Tên gọi “Kiềm miền” tức là “Người ở rừng núi” Tên gọi nữa của đồng bào là

“Dìu miền”, phát theo âm Hán Việt: Dìu có nghĩa là Dao, miền là người, có nghĩa là “Người Dao” Tên gọi Dao được nhắc đến trong các truyện truyền

miệng, truyện cổ, các tài liệu cổ như “Qúa sơn bảng văn” của người Dao

Theo tài liệu “Người Dao ở Việt Nam”, tên Dao còn được ghi trong các thư

Trang 23

Người Dao ở Việt Nam vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, quá trình di cư của họ vào Việt Nam là cả một thời kì dài và có thể bắt đầu từ thế kỷ XIII Nhưng đến nay vẫn chưa có được những tài liệu chắc chắn để khẳng định người Dao di cư vào Việt Nam từ năm nào Dựa vào trí nhớ và một số ít những gia phả của người Dao, chúng ta chỉ có thể sơ bộ thấy rằng người Dao

di cư vào Việt Nam qua nhiều thời kì bằng nhiều đường và nhiều nhóm khác nhau [24, tr.22]

Hiện nay, những người Dao cư trú ở vùng Tây Bắc Bắc Bộ đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII và đi theo đường bộ Còn những người Dao ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ và một số tỉnh trung du bắt đầu đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ XIII cho tới đầu thế kỷ XX, họ đã đi bằng đường thuỷ là chủ yếu

Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều nhóm Dao với những tên gọi khác nhau nhưng qua các tài liệu và căn cứ vào các đặc điểm văn hoá mà nét chủ yếu là trang phục phụ nữ thì có thể xác định được người Dao ở nước ta có các nhóm sau đây

Trang 24

20

Dao Đỏ còn gọi là Dao Coóc Ngáng, Dao Đại Bản

Dao quần chẹt còn có tên là Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng hay Dụ Kùn

Dao Ô Gang còn có tên là Dao Thanh Phàn (Thanh Bản) Dao đội ván, Dao Coóc Mùn

Dao tiền còn gọi là Dao đeo tiền hay Tiểu Bản

Dao Quần Trắng, gọi là “khổ bạch” tên gọi bắt nguồn từ tục lệ đã có từ lâu trong lễ cưới là cô dâu phải mặc quần trắng

Dao Thanh y hay còn gọi là Dao chàm

Dao làn tiểu còn có tên là Dao Tuyển, Dao Áo Dài, Dao Bình đầu [24,tr.26]

Về tiếng nói thì các nhóm Dao đều có chung một thứ tiếng là tiếng Dao

Sự khác nhau về tiếng nói giữa các nhóm là không nhiều, chỉ trong một số ít

từ cơ bản là thanh điệu

Như vậy, mặc dù hiện nay người Dao ở nước ta còn có nhiều nhóm, cùng với nhiều tên gọi khác nhau Song họ có đầy đủ những yếu tố thống nhất như: ngôn ngữ, tên gọi và các đặc điểm văn hoá chung Tất cả những điều đó đều là những biểu hiện tập trung và ý thức tự giác dân tộc của họ, đồng thời còn có ý niệm rất rõ rệt vì nguồn gốc và số phận lịch sử của mình Do đó, tất

cả các nhóm Dao đều thuộc một cộng đồng người thống nhất là dân tộc Dao

1.1.2.2 Dân tộc Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng

Cũng như người Dao ở trên mọi miền đất nước, người Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng có nhiều tên gọi như: Kiềm miền, Ìu Miền, Dìu Miền…, trước đây, người Kinh thường gọi họ là người Mán, người Tày thường gọi là Cần Đông, Cần Khau (người rừng)…

Trang 25

21

Người Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng cũng có nguồn gốc là con cháu Bàn

Hồ, cùng xuất phát từ Trung Quốc nhưng việc nhập cư xảy ra tại nhiều thời điểm, theo nhiều con đường khác nhau:

Nguồn vào qua ải Thiên Mộng (Bảo Lạc) và ải Lủng Pảng (huyện Hà Quảng) chủ yếu là ngành Dao đỏ

Nguồn vào qua ải Nam Quan (Lạng Sơn) và Hoành Bồ (Quảng Ninh) chủ yếu là ngành Dao Thanh phán

Các ngành Dao về sau khi đến Việt Nam đều cư trú nhiều năm ở Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh…rồi mới đến Bắc Kạn [38, tr.169] Theo Giản chí tỉnh Bắc Kạn năm 1932, người Dao ở Bắc Kạn có 6500 người trong tổng số 53000 người đứng thứ hai sau dân tộc Tày Năm 1960, người Dao xếp thứ ba (10.813 người) sau dân tộc Tày và Kinh Năm 1997 tái lập tỉnh, dân số người Dao có 24.000 người xếp ở vị trí thứ ba [38, tr.162] Theo cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất (2009) dân số người Dao có 51.801 người, chiếm 17.6% dân số toàn tỉnh và đứng thứ hai sau dân tộc Tày Cũng theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Dao ở Cao Bằng có 51.124 người bằng 10.1% dân số toàn tỉnh

Là tỉnh miền núi, vùng cao nên thời kỳ trước những năm 60 của thế kỷ

XX, địa bàn cư trú của người Dao chủ yếu là ở các khu vực vùng núi cao thuộc huyện Ba Bể, Pác Nặm, Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới (Bắc Kạn), Thông Nông, Bảo Lạc, Quảng Uyên, Hoà An, Nguyên Bình… (Cao Bằng)

Với cuộc vận động định canh định cư, định cư vào những năm 60 của thế kỷ XX, địa bàn cư trú của người Dao được mở rộng đến một số xã vùng thấp Phạm vi canh tác lúa nước nhờ vậy được mở rộng Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội với sự phát triển nhiều mặt đã giúp Bắc Kạn và Cao Bằng hình thành những lớp cán bộ cách mạng người Dao

Trang 26

22

Cũng giống như các nhóm, ngành Dao khác trên đất nước ta, người Dao

ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng cũng có nhiều nhóm, ngành khác nhau: Nhóm Đại Bản: Nhóm này có khá nhiều chi, ngành khác nhau nên có thể chia ra các ngành

Ngành Dao Đỏ: Tập trung chủ yếu tại hai bên dãy Phja Boóc, Chợ Mới, Pác Nặm, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Chợ Đồn (Bắc Kạn), Bảo Lạc, Hà Quảng, Thông Nông (Cao Bằng)

Ngành Thanh Phán: Có các chi Dụ Kùn, Ô Gang, Èng Bò cư trú chủ yếu tại các huyện Na Rì, Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Kạn), Nguyên Bình, Quảng Uyên, Hòa An…(Cao Bằng)

Nhóm Tiểu Bản: Người Kinh gọi là Dao Tiền Nhóm này có hai chi: Áo Ngắn và Áo Dài Chi Áo Dài cư trú chủ yếu tại các huyện Ngân Sơn, Ba Bể (Bắc Kạn), Bảo Lạc, Quảng Uyên (Cao Bằng).; Chi Áo Ngắn cư trú chủ yếu tại huyện Chợ Đồn, Bạch Thông (Bắc Kạn), Nguyên Bình, Hòa An (Cao Bằng), song ngôn ngữ, phong tục tập quán cơ bản giống nhau Địa vực cư trú của nhóm này thường sát với vùng người Tày hoặc ở các thung lũng dưới chân núi, tỷ lệ các hộ làm ruộng nước nhiều hơn các nhóm khác

Nhóm Thanh - Bạch - Làn: Ở một số nơi khác, người Kinh gọi là Thanh

Y, Quần Trắng, Áo Dài… bản thân họ thường nhận là Kìm Mùn, cũng có nơi gọi là Dao Tuyển, Dao Làn Tiểu, ở Bắc Kạn gọi là Dao Sán Chí Về mặt ngôn ngữ, nhóm thuộc phương ngữ Kìm Mùn nên có nhiều điểm khác biệt với các nhóm Dao trên Nhóm này ở Bắc Kạn chỉ có ở Pác Nặm Về mặt ngôn ngữ, nhóm thuộc ngôn ngữ Kìm Mùn nên có nhiều điểm khác biệt với các nhóm Dao nêu trên

Về mặt ngôn ngữ các nhóm Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng ngoại trừ nhóm Dao Áo Dài có sự khác biệt khá lớn, còn lại các nhóm Dao đều chung một ngôn ngữ giao tiếp, có chăng chỉ là sự khác biệt chút ít và âm sắc, thanh điệu

Trang 27

23

Do sống xen kẽ với người Tày khá lâu nên trong giao tiếp nhóm Tiểu Bản có một số từ chịu ảnh hưởng của tiếng Tày Truyền thuyết dân gian kể rằng: Do nhóm Tiểu Bản đã chuyển đã chuyển cư xa nên khi ông tổ Bàn Vương sắp mất mới nhận được tin Trên đường về chịu tang, con cháu của nhóm Tiểu Bản đã phải đội khăn tang nên từ đó về sau nhóm Dao này phải đội khăn suốt đời Cũng vì quá đau xót không gặp được Bàn Vương trước khi mất nên họ khóc khản cả tiếng Ngày nay âm điệu nói của nhóm này thường trầm khàn là bởi vậy [38, tr.167]

Đây chỉ là truyền thuyết dân gian nhằm giải thích một vài hiện tượng về ngôn ngữ, trang phục nhưng nó cũng cho biết các nhóm Dao đã sớm cư trú phân tán dẫn đến sự khác biệt dần về âm sắc, thanh điệu trong quá trình giao tiếp, để từ đó hình thành các phương ngữ

1.2 TỔ CHỨC LÀNG BẢN, QUAN HỆ XÃ HỘI, DÕNG HỌ, TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG

1.2.1 Tổ chức làng bản, quan hệ xã hội và dòng họ

Người Dao ở Bắc Kạn cũng như Cao Bằng về tổ chức xã hội trước năm

1960, họ sống biệt lập theo từng làng bản, riêng nhóm Dao tiền, Sán Chí sinh sống ở địa bàn tương đối thấp gần làng bản của người Tày, Nùng…, có quan

hệ gần gũi với các dân tộc người Tày, Nùng trong sản xuất, sinh hoạt xã hội,

họ dùng tiếng Tày trong giao tiếp với các dân tộc Tày, Nùng

Các nhóm Dao khác, nhất là Dao Đại bản (Dao đỏ) sống ở triền núi cao, nhưng họ lại có quan hệ gần gũi với người Hoa, trước đây, những người lớn tuổi (người già) thường dùng tiếng Quan hỏa giao tiếp với người Hoa

Nhìn chung các làng bản cua người Dao sống tương tự như như các dân tộc Tày, Nùng sống quần cư theo huyết thống Mỗi bản thường chỉ có vài hộ, mật độ cư dân thưa thớt

Trang 28

24

Người Dao giữ quan hệ họ hàng rất bền chặt, đến 5 – 7 đời, dù địa bàn sinh sống cách xa nhau di bộ tới hàng ngày đường hoặc xa hơn nữa, họ vẫn đi lại thăm nhau

Theo Quá sơn bảng văn của người Dao thì tổ tiên của họ có 12 họ chính

là: Bàn, Trần, Hoàng, Lý, Đặng, Chu, Triệu, Hồ, Trịnh, Phượng, Lôi và Tưởng, mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm riêng để phân biệt thứ bậc các thế

hệ Cho nên qua tên họ và đệm, người Dao dễ dàng nhận ra những người anh

em của mình dù ở khác huyện, thậm chí khác tỉnh

Tương tự như người Tày, Nùng, người Dao hay kết bạn đồng niên (cùng tuổi) coi nhau như anh em ruột thịt

1.2.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng trước 1941

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, Bắc Kạn và Cao Bằng được coi là

“miền quan yếu” ở phía Bắc Từ rất sớm các thế hệ cư dân trên những vùng đất này luôn phải đối phó với các thế lực xâm lược bên ngoài để bảo vệ quê hương đất nước Chính vì vậy, nhân dân các dân tộc Bắc Kạn và Cao Bằng đã sớm tôi luyện, xây dựng cho mình bản lĩnh kiên cường, bất khuất trước họa ngoại xâm và những bất công của xã hội

Mặc dù có mặt ở Việt Nam không sớm so với các anh em dân tộc khác, nhưng đồng bào Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng đã có những đóng góp to lớn trong cuộc hoà nhập, gìn giữ bản sắc văn hoá, truyền thống yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam

Sau khi bắt nhà Nguyễn kí hai bản Hiệp ước bất bình đẳng: Hác Măng (1883) và Patơnốt (1884) thực dân Pháp đã cơ bản đặt ách thống trị trên đất nước ta

Để mở rộng khu vực chiếm đóng, thực dân Pháp từng bước đánh chiếm các tỉnh khu vực phía Bắc (trong đó có Bắc Kạn, Cao Bằng) Tuy nhiên

Trang 29

25

chúng đã vấp phải tinh thần yêu nước mạnh mẽ, sôi nổi, liên tục của mọi tầng lớp nhân dân kéo dài từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX Tiêu biểu như: Phong trào khởi nghĩa do Mã Sình Long (Mã Mang) chỉ huy, có sự tham gia đông đảo của người Dao đã đánh địch nhiều trận, gây cho chúng nhiều thiệt hại Ngày 10 tháng 1 năm 1897, nghĩa quân phục kích một đoàn vận tải của địch từ thị xã Thái Nguyên ngược sông Cầu lên Chợ Mới, thu toàn bộ vũ khí và hàng hoá của chúng Trong nửa đầu năm 1897, lực lượng của nghĩa quân phát triển tới 300 người, liên tục đánh địch ở phía Bắc thị trấn Chợ Mới [4, tr.28]

Cũng trong khoảng thời gian này tại Cao Bằng, năm 1889, Phù Nhị dân tộc Dao đã tập hợp một số người Dao yêu nước đã tập kích đánh thực dân Pháp ở thị trấn Nguyên Bình.[35, tr.102]

Mặc dù các phong tráo đấu tranh của nhân dân các dân tộc ở Bắc Kạn và Cao Bằng nói chung và của đồng bào Dao nói riêng đều diễn ra hết sức quyết liệt, anh dũng

Trong thời kỳ Pháp thuộc, đồng bào Dao ở Bắc Kạn và một số nơi vùng cao tỉnh Cao Bằng đã chịu ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân cùng bè lũ tay sai, đồng bào vô cùng cực nhục, tối tăm và ngày càng bị bần cùng, đói rách

Thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy thống trị chia để trị, ngoài bộ máy cai trị chung, chúng còn đặt thêm ngạch chức dịch người Dao Ở châu có chức quản chiểu, ở tổng có chức chánh mán, ở xã có chức động trưởng Thủ đoạn này hết sức thâm độc, nhằm lừa gạt nhân dân, gây nên sự nghi kị giữa các dân tộc, lại tạo ra nhiều tên tay sai cam tâm làm nô lệ cho chúng Chúng phân biệt đối xử giữa bọn chức dịch của từng dân tộc Trong từng cấp, về hình thức thì ngang quyền, nhưng thực tế, bọn chức dịch là người Dao vẫn bị chúng chèn

ép, khinh miệt Sự hiềm khích dân tộc nảy nở trong tầng lớp lý dịch, càng làm

Trang 30

26

cho mâu thuẫn dân tộc ngày thêm sâu sắc Ngoài ra chúng còn tuyên truyền tư tưởng dân tộc lớn, miệt thị dân tộc ít người Lý trưởng người Tày bắt người Dao phải đến nhà phục dịch trong các ngày giỗ tết, ma chay, cưới xin Người Dao muốn làm nương thì phải nộp tiền cho bọn lý trưởng, nếu không bọn chúng sẽ báo lên quan trên

Đồng bào Dao ở đây phải chịu chế độ thuế khoá, phu phen, tạp dịch nặng nề và bất công Các thứ thuế: Thuế đinh, thuế rượu, và các khoản phụ thu, lạm bổ khác, nặng nhất là thuế đinh

Trong lúc giá một con trâu trung bình là 10 đồng (tiền Đông Dương) thực dân Pháp quy định mỗi người đàn ông từ 18 đến 60 tuổi mỗi năm phải nộp một xuất thuế đinh là 2đ20 (đó là chưa kể tiền phụ thu lạm bổ) quá tuổi

mà không có tiền nộp để khai lão miễn thuế, người dân vẫn phải nộp đủ suất thuế Do đó, có người đã quá cố, nhưng con cháu vẫn phải nộp xuất đinh của người đã khuất [7 ,tr.7]

Đối với đồng bào Dao chủ yếu làm nghề nương rẫy để sinh sống, thực dân Pháp tính theo đầu người hoặc theo số lượng thóc giống để đánh thuế Bình quân mỗi người phải đóng 0đ20 thuế nương rẫy, bất cứ già hay trẻ Vào những dịp bắt phu thu thuế, bọn tổng lý, kỳ hào và mán mục tìm mọi cách để

ăn hối lộ, ăn bớt, ăn chặn của cải của nhân dân

Chế độ phu phen, tạp dịch của thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai cũng hết sức nặng nề Để đảm bảo đường xá, xây đồn bốt cho chúng, thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai đã huy động biết bao công sức của nhân dân khu vực này Những người dân đi phu không những phải tự túc lương thực, làm không công cho chúng mà còn bị bọn cai, ký đánh đập, chửi mắng thậm tệ

Ngoài chính sách thuế khoá và phu phen nặng nề, thực dân Pháp còn thi hành chính sách nô dịch vô cùng thâm độc, chúng duy trì và khuyến khích các

Trang 31

Ngoài ra, chúng dùng bọn chức dịch dân tộc này bắt đi phu, thu tiền thuế dân tộc khác, huy động binh lính, mật thám dân tộc này đi đàn áp phong trào cách mạng dân tộc khác

Như vậy, có thể khẳng định những thủ đoạn nham hiểm trên của thực dân Pháp, nhằm phá vỡ truyền thống đoàn kết của nhân dân các dân tộc, phá

vỡ mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng ta, nhằm đánh lạc hướng phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc

Do bị áp bức bóc lột nặng nề nhân dân các dân tộc ở Bắc Kạn và Cao Bằng liên tục nổi dậy đấu tranh Tiêu biểu:

Nhân dân các dân tộc ở Lũng Vai (Na Rì) nay thuộc hai xã Tân Sơn và Cao Sơn (Bạch Thông) đã nổi dậy chống chính sách sưu cao, thuế nặng của bọn đế quốc phong kiến

Tháng 10 năm 1914 tại thị xã, các tù nhân yêu nước phối hợp với lính khố xanh có tinh thần yêu nước do Lí Thảo Long chỉ huy đã nội dậy phá nhà lao Nghĩa quân tiến về phía Na Rì để lập căn cứ chống Pháp

Cũng trong thời gian này, năm 1914 nhân dân ở nhiều địa phương trong tỉnh cũng đã đoàn kết đứng lên đấu tranh chống áp bức bóc lột của bọn đế quốc tay sai và một số cuộc đấu tranh ở Thượng Ân, Cốc Đán (huyện Ngân Sơn), đây là khu vực có nhiều đồng bào Dao sinh sống

Trang 32

Đầu năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra một bước ngặt vĩ đại trong lịch sử phát triển cách mạng Việt Nam Từ đây, phong trào giải phóng dân tộc nước ta đã có bộ tham mưu của giai cấp tiên phong lãnh đạo Đây là một trong những nhân tố cơ bản, có tính chất quyết định cho cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi cuối cùng

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời trong lúc phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ngày càng phát triển sâu rộng trong cả nước Trước tình hình đó, Đảng đã kịp thời tổ chức và lãnh đạo một phong trào cách mạng rộng lớn trong cả nước, đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh Bắc Kạn và Cao Bằng là những nơi bị thực dân Pháp kiểm soát chặt chẽ, nên việc tuyên truyền gây dựng cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng trong buổi đầu gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của phong trào cách mạng 1930 - 1931, các phong trào đấu tranh cách mạng ở hai tỉnh vẫn tiếp tục phát triển

Tại Bắc Kạn, những năm 1930 - 1934, ở châu Bạch Thông diễn ra phong trào chống thuế Nhân dân các dân tộc trong hai tổng Hà Vị và Nông Thượng,

đã đưa kiện bọn quan lại địa phương lên tận phủ Toàn quyền

Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc) Trên cơ sở đánh giá tình hình quốc tế cũng như trong nước, Đại hội đã đưa ra những nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn trước mắt

Trang 33

29

Trong những năm 1936 - 1939 phong trào dân chủ phát triển mạnh trong

cả nước, lôi cuốn hàng chục triệu đồng bào tham gia, với nhiều hình thức đấu tranh phong phú Mặc dù chưa gây dựng cơ sở cách mạng ở Bắc Kạn, nhưng ảnh hưởng của phong trào dân chủ cũng lan rộng tới đồng bào các dân tộc nơi đây Nhiều tờ báo, như tờ “Tin tức”, “Bạn dân”, “Dân chúng”…được phổ biến trong quần chúng ở Bạch Thông, Chợ Rã, thị xã Bắc Kạn Các tờ báo này đã

tố cáo, vạch trần chế độ thuộc địa và bộ mặt của chế độ phong kiến Nhờ vậy,

ý thức về con đường đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc trong tỉnh được nâng cao

Tại Cao Bằng từ 1930 - 1935, trong khi phong trào cách mạng cả nước tạm thời lắng xuống do khủng bố dã man của kẻ thù thì riêng Cao Bằng, phong trào cách mạng và cơ sở Đảng tiếp tục phát triển, nhiều chi bộ Đảng mới được thành lập: Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Cao Bằng là Chi bộ Nặm Lìn (4-1930), ở Hòa An, Chi bộ xã Phúc Tăng huyện Hoà An (tháng 6/1930), Chi bộ mỏ thiếc Tĩnh Túc huyện Nguyên Bình và chi bộ xã Xuân Phách huyện Hoà An (tháng 10/1930), chi bộ xã Sóc Hà huyện Hà Quảng (2/1932), chi bộ xã Vân Trình huyện Thạch An (2/1933) và chi bộ xã Minh Tâm huyện Nguyên Bình (11/1935)

Song song với việc phát triển các cơ sở Đảng, công tác tổ chức của Đảng cũng được kiện toàn Tháng 7 - 1933 Ban lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương công nhận Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng do đồng chí Hoàng Như (tức Hoàng Văn Nọn) làm Bí thư Các Châu uỷ đã được thành lập ở Hoà

An (1933), Hà Quảng (1935) [8, tr.40 - 41]

Trải qua 5 năm tổ chức và xây dựng, Đảng bộ Cao Bằng đã có những bước trưởng thành Trong thời gian này Đảng bộ đã thu hút được đông đảo quần chúng các dân tộc trong tỉnh tham gia cách mạng, uy tín của Đảng càng

Trang 34

Một trong những nét nổi bật ở Cao Bằng trong giai đoạn này là nắm vững chủ trương hoạt động công khai của Đảng trong cuộc vận động dân chủ

1936 - 1939 và tác dụng của báo chí tiến bộ trong công cuộc đấu tranh chống phát xít và bọn phản động ở thuộc địa, chống chiến tranh đế quốc, Đảng bộ Cao Bằng đã tổ chức nhiều đại lý sách báo tiến bộ ở các khu vực đông dân cư như thị xã Cao Bằng, Quảng Uyên, Trùng Khánh…Các tờ báo tiến bộ bằng tiếng Pháp như tờ Lao động (Le Travail)…Một trong những nội dung của tờ báo này là vạch rõ những thủ đoạn áp bức bóc lột rất thâm độc của bọn đế quốc, phong kiến, giác ngộ quần chúng và thu hút họ vào cuộc đấu tranh vì tự

do, dân chủ, cơm áo, hoà bình

Riêng Đảng bộ Cao Bằng cũng xuất bản hai tờ báo: Tờ Lao Động và Chuông Giải Phóng có tác dụng rất lớn trong việc tuyên truyền, giác ngộ, hướng dẫn quần chúng đấu tranh.[8, tr 63]

Nhờ những chủ trương đúng đắn của Đảng, sự hoạt động tích cực của Đảng bộ nên ở Cao Bằng đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng, đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ

Cuối năm 1936 đầu năm 1937, ở Thông Nông (Hà Quảng) dưới sự lãnh đạo của Châu uỷ, đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao… đã kí vào đơn giảm

Trang 35

Ngày 1 tháng 5 năm 1938, gần 400 đồng bào Mông, Dao thuộc các châu Hòa An, Nguyên Bình, được sự chỉ đạo trực tiếp cuả Tỉnh ủy Cao Bằng đã kí vào đơn đòi giảm thuế, chống bắt phu

Trong thời kì này, Đảng bộ Cao Bằng cũng chú ý đến công tác binh vận, đẩy mạnh hoạt động bí mật nhằm mở rộng và củng cố các cơ sở đảng, các tổ chức quần chúng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh toàn diện hơn, rộng lớn và quyết liệt hơn trong phạm vi toàn tỉnh

Tại Bắc Kạn, mặc dù trước năm 1942, Bắc Kạn chưa có cơ sở cách mạng, nhưng do chịu ảnh hưởng của các tỉnh lân cận, trong cuộc vận động dân chủ (1936-1939) nhân dân các dân tộc Bắc Kạn trong đó có một bộ phận người Dao đã hăng hái tham gia cuộc đấu tranh chống đi phu làm đường Bắc Kạn – Chợ Đồn, Bắc Kạn – Chợ Rã

Nhìn chung, cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 đã lôi cuốn được đông đảo các dân tộc trên địa bàn hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng tham gia Cuộc vận động này đã có tác dụng lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cũng như mở rộng ảnh hưởng của cách mạng đối với đồng bào trong cả nước nói chung và nhân dân các dân tộc anh em hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng nói riêng

Trang 36

32

TIỂU KẾT

Hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng là địa bàn sinh sống quan trọng của người Dao Các nhóm người Dao từ Trung Quốc vào Việt Nam, đến hai tỉnh này, cách ngày nay khoảng 300 năm

Bắc Kạn và Cao Bằng là hai tỉnh có vị trí quan trọng về chính trị và quân sự trong vùng Việt Bắc, vùng đất giàu truyền thống cách mạng Trải qua quá trình phát triển lâu đời của lịch sử dân tộc Việt Nam, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã vun đắp nên những giá trị truyền thống quý báu, đó là tinh thần đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương, đất nước Dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc, phong kiến và bọn tay sai, đời sống nhân dân đồng bào Dao ở tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại càng trở nên tiêu điều Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng, thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào cách mạng diễn ra trên địa bàn người Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng Ở tỉnh Cao Bằng, cơ sở Đảng và phong trào cách mạng được xây dựng từ năm 1930, trải qua các thời kì cách mạng từ năm 1930 đến năm 1939 đã tác động mạnh đến đồng bào Dao Trong phong trào dân chủ (1936-1939) ở Cao Bằng đã lôi cuốn đồng bào Dao tham gia các cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ

Từ khi có ánh sáng cách mạng Đảng soi rọi (1942) đồng bào Dao ở tỉnh Bắc Kạn cùng đồng bào Dao ở tỉnh Cao Bằng đã nêu cao quyết tâm trong công cuộc xây dựng và phát triển lực lượng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1941 – 1945

Trang 37

33

CHƯƠNG II TIẾP THU ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG ĐẢNG, CHUẨN BỊ LỰC LƯỢNG CHO KHỞI NGHĨA VŨ TRANG (1941-1945)

2.1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG

Tháng 9 năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đế quốc Pháp tham chiến Chính phủ Đalađiê thi hành một loạt biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ trong nước và phong trào cách mạng ở các thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ, Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật

Ngày 28 tháng 9 năm 1939, toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng cộng

sản Đông Dương ta ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội Ái hữu, Nghiệp

đoàn và tịch thu tài sản của tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo, nhà sản xuất,

cấm hội họp và tụ tập đông người

Ngày 4 tháng 1 năm 1940, toàn quyền Catơru (Catroux) tuyên bố:

“Chúng ta đánh toàn diện và mau chóng vào các tổ chức cộng sản, trong cuộc đấu tranh, phải tiêu diệt cộng sản thì Đông Dương mới được yên ổn và trung thành với Pháp Chúng ta không có quyền không thắng” Bộ máy đàn

áp được tăng cường, lệnh thiết quân lệnh được công bố

Chính phủ Pháp đã phát xít hoá bộ máy chính quyền, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng cộng sản Đông Dương Hàng nghìn cuộc khám xét bắt giữ bất ngờ diễn ra khắp

nơi Chúng ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách “kinh tế chỉ

huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của phục vụ cho cuộc chiến

tranh đế quốc Hơn 7 vạn thanh niên Việt Nam bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn Chính sách phản động của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và tay sai ngày càng trở nên gay gắt

Trang 38

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ không lâu, ngày 29 tháng 9 năm 1939, Trung ương Đảng gửi thêm thông cáo cho các cấp Đảng Thông

cáo nêu rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải

bách nhất của cách mạng Đông Dương “Bước đường sinh tồn của các dân

tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập” [21, tr.536] Vì vậy, tất cả mọi vấn đề cách

mạng kể cả vấn đề ruộng đất cũng phải nhằm mục đích ấy mà giải quyết

Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” phải tạm gác lại và thay bằng các khẩu

hiệu chống địa tô cao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của đế quốc

và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc đem chia cho dân cày nghèo

Để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, tập hợp các giai cấp, tầng lớp và cá nhân yêu nước ở Đông Dương đánh đổ đế quốc Pháp và bè lũ tay sai, giành độc lập cho dân tộc

Trang 39

35

Hội nghị chủ trương đem khẩu hiệu thành lập “Chính phủ Liên bang

Cộng hoà dân chủ Đông Dương ” thay cho khẩu hiệu thành lập “Chính phủ công nông”, chuẩn bị những điều kiện tiến tới làm cuộc bạo động cách mạng

để giải phóng dân tộc, xây dựng Đảng vững mạnh đủ sức gánh vác nhiệm vụ lịch sử nặng nề trước thời cuộc mới Hội nghị lần 6 tháng 11 năm 1939 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng và mở ra một thời kỳ đấu tranh mới, thời kỳ trực tiếp xúc tiến chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân

Tháng 6 năm 1940, phát xít Đức đánh chiếm nước Pháp Nhân có cơ hội

đó, tháng 9 năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương, thực dân Pháp từng bước nhượng bộ và đầu hàng Nhật, nhân dân Việt Nam rơi vào

tình cảnh “Một cổ hai tròng”

Tháng 11 năm 1940, Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) Tham dự hội nghị có Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là chuẩn bị

gánh lấy sứ mệnh thiêng liêng: “Lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông

Dương võ trang bạo động giành lấy chính quyền tự do, độc lập” [22, tr.58]

Hội nghị quyết định duy trì và củng cố Đội du kích Bắc Sơn và đình chỉ chủ trương phát động khởi nghĩa ở Nam Kì

Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1940 đến tháng 1 năm 1941 các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì và binh biến Đô Lương liên tiếp nổ ra trên

cả ba miền Bắc, Trung, Nam Những cuộc khởi nghĩa này gây ảnh hưởng rộng lớn trên toàn quốc, là những đòn tiến công trực hiện vào nền thống trị

của thực dân Pháp ở nước ta Đó là “Những tiếng súng báo hiệu cho cuộc

khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương” [22, tr.109]

Trang 40

36

Đến năm 1941, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ngày càng ác liệt ở mặt trận Châu Âu Ở mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương, Nhật mở rộng chiến tranh ra các nước khu vực Tại Đông Dương chúng câu kết với thực dân Pháp ra sức vơ vét, bóc lột sức người, sức của của nhân dân ta cung cấp cho cuộc chiến tranh của chúng và chống lại phong trào cách mạng nước ta

Đúng lúc nước ta đang ở trong tình trạng “nước sôi lửa bỏng” sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 1 năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam

Trên cơ sở kết quả công tác thí điểm việc xây dựng Mặt trận Việt Minh,

từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Người đã triệu tập và chỉ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng) Tham dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, cùng một số đại biểu của Xứ uỷ Bắc Kì, Trung Kì và đại biểu của tổ chức Đảng hoạt động ở nước ngoài

Hội nghị nhận định Chiến tranh thế giới ngày càng lan rộng, phát xít Đức chuẩn bị tấn công Liên Xô và chiến tranh ở khu vực Thái Bình Dương sẽ bùng nổ Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc bị suy yếu, Liên Xô nhất định thắng và phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển nhanh chóng Cách mạng nhiều nước sẽ thành công và một loạt nước xã hội chủ nghĩa sẽ ra đời Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị của các giai cấp, tầng lớp, Hội nghị nêu rõ ở nước ta mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải giải quyết cấp bách là mâu

thuẫn giữa dân tộc ta và bọn đế quốc, Phát xít Pháp - Nhật “Cần phải thay đổi

chiến lược Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông Dương… ”

Ngày đăng: 21/11/2014, 01:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w