Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ đa dạng loài của các bộ thiên địchtrên rau họ HTT ở thành phố Vinh và vùng phụ cận Biểu đồ 3.8 So sánh mức độ đa dạng loài thiên địch trên một số loại rau khác
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
Trang 2VINH – 1.2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Đa dạng côn trùng gây hại và thiên địch của
chúng ở thành phố Vinh Và phụ cận” là hoàn toàn trung thực do chính tôi
nghiên cứu, các số liệu là qua nghiên cứu để rút ra kết luận, không lấy từ bất kỳmột đề tài nào
Sinh viên
Chu Anh Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành tới Th.S Nguyễn Thị Thanh đã tận tình hướng dẫn khoahọc và cả những bước đi ban đầu trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ khoa Nông Lâm Ngư, Tổ
bộ môn Nông học đã tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian cũng như điều kiện vậtchất, thiết bị thí nghiệm cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, cổ vũ giúp đỡ tôi hoàn thànhkhoá luận này
Vinh, tháng 01 năm 2009.
Sinh viên
Chu Anh Hùng
Trang 41.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam 51.2 Tình hình nghiên cứu về sự đa dạng sâu hại và thiên địch trên cây
rau ở thế giới và Việt Nam
8
1.3 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập
1.4 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu 12
3.1 Đa dạng loài chân khớp trên sinh quần ruộng rau ở
Trang 53.2 Thành phần côn trùng sâu hại và thiên địch của chúng trên một số
loại rau ở thành phố Vinh và phụ cận
24
3.2.4 Thành phần sâu hại và thiên địch trên một số loài rau khác 343.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đa dạng loài chân khớp trên sinh
3.3.1 Đa dạng loài chân khớp ở trại thực nghiệm Nông học 373.3.2 Đa dạng loài chân khớp Khu vực Đông Vinh 413.3.3 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến đa dạng sinh học ở vùng sản
xuất rau
44
3.3.4 Đề xuất một số biện pháp để bảo vệ, khích lệ thiên địch trên
sinh quần rau
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 741Bảng 3.13 Thiên địch trên rau họ HTT khu vực Đông Vinh 42
Trang 8Biểu đồ 3.2 So sánh mức độ đa dạng loài của các bộ thiên địch
trên rau họ HTT ở thành phố Vinh và vùng phụ cận
Biểu đồ 3.8 So sánh mức độ đa dạng loài thiên địch trên một số
loại rau khác ở thành phố Vinh và vùng phụ cận
36
Biểu đồ 3.9 So sánh mức độ đa dạng của sâu hại trên cây rau họ
HTT ở trại Nông Học
38
Biểu đồ 3.10 So sánh mức độ đa dạng loài của thiên địch trên cây
rau họ HTT ở trại Nông Học
40
Biểu đồ 3.11 So sánh mức độ đa dạng loài của các bộ côn trùng
(sâu hại) trên cây rau họ thập tự ở Đông Vinh
42
Biểu đồ 3.12 So sánh mức độ đa dạng loài thiên địch trên cây rau
họ HTT ở Đông Vinh
43
Biểu đồ 3.13 So sánh thành phần thiên địch và sâu hại rau họ HTT
giữa vùng Đông Vinh và trại Nông học
44
Biểu đồ 3.14 So sánh thành phần loài sâu hại và thiên địch ở trại
Nông học và Đông Vinh
45
MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của đề tài
Trang 9Nông nghiệp xuất hiện bắt đầu cách đây 14 - 15 ngàn năm vào thời đồ đágiữa Trước đó loài người sống chủ yếu bằng nghề săn bắn thú dại và lượm háisản phẩm của cây dại
Đến nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì sản xuất nông nghiệpcũng đã có nhiều thay đổi rõ nét như sự đa dạng về các giống cây trồng với năngsuất cao, khả năng chống chịu tốt với dịch hại, phẩm chất tương đối tốt,… sự bùđắp năng lượng cho đất, khả năng phòng trừ sâu bệnh hại tăng lên đáng kể songnhững thay đổi này cũng đã đem đến cho con người nhiều phiền toái, đáng longại là bệnh tật, ô nhiễm môi trường, sự bùng phát mật số sâu hại mà không thể
dự báo trước
Chính vì vậy mà trong những năm gần đây trên thế giới cũng như trongnước người ta đã đề cập nhiều đến sinh thái nông nghiệp, sự cần thiết phải xâydựng một nền nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường Sự phát triểncủa nông nghiệp hiện đại đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, các hệ sinh tháinông nghiệp là các hệ sinh thái chịu sự tác động của con người nhiều nhất và cónăng suất kinh tế cao nhất
Rau là nguồn thức ăn không thể thiếu được trong các bữa ăn thường ngàycủa con người Vai trò của rau xanh là nguồn cung cấp chủ yếu các Vitamin (A,
B, C, ), chất khoáng (canxi, sắt, phôt pho,…) và chất xơ cho cơ thể Ngoài rabên cạnh giá trị dinh dưõng, rất nhiều loại rau có tính dược lý cao, là những loạithảo dược quý giúp ngăn ngừa và chữa trị nhiều bệnh nan y của con người, nhất
là của trẻ em và người cao tuổi Hiện nay khi lương thực và chất đạm đã đáp ứngđược nhu cầu thì nhu cầu về rau đặc biệt là rau an toàn ngày càng đòi hỏi cao hơn
để cân bằng dinh dưỡng, kéo dài tuổi thọ
Cây rau có đặc điểm là non, mềm, nhiều nước, giàu chất dinh dưỡng nên làmôi trường rất tốt cho các loài sâu sinh sống nảy nở Sâu hại gây ra những tổnthất rất lớn trong sản xuất rau, chúng xâm nhập và gây hại từ khi hạt còn ở trongkho cho đến khi đã trưởng thành
Trang 10Ở Việt Nam theo ước tính hàng năm có tới 20% sản lượng nông sản câytrồng bị thiệt hại do sâu bệnh gây nên (Nguyễn Công Thuật, 1996) [8] Nhữngnăm trước đây trong sản xuất nông nghiệp tập trung phòng trừ sâu hại bằngbiện pháp hoá học, sau một thời gian thuốc hoá học đã biểu hiện những mặttrái trong phòng trừ dịch hại đồng thời kéo theo những hậu quả không mongmuốn như ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, gây ô nhiễm môi trường,tăng tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh họcgây ra nhiều vụ “bùng nổ” sâu hại.
Chiến lược bảo vệ cây trồng không những cần phải đạt được lợi ích kinh tế
mà còn phải kết hợp hài hòa giữa sự an toàn về sinh thái, môi trường và sức khỏecon người, vật nuôi Đẩy mạnh việc bảo vệ các loài thiên địch, duy trì sự đa dạngcủa chúng trong hệ sinh thái nông nghiệp, tăng cường và nâng cao sự hiểu biết về
đa dạng sinh học cũng như các mối quan hệ giữa các loài thiên địch với các loàidịch hại bản địa đã và đang là một việc làm rất cần thiết Để cung cấp cơ sở khoahọc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, và an toàn cho người sản xuất và
sử dụng nông sản chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đa dạng côn trùng gây
hại và thiên địch của chúng trên cây rau ở thành phố Vinh và phụ cận”.
2 Mục đích và yêu cầu
Mục đích
Trên cơ sở điều tra thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch củachúng ở vùng trồng rau chuyên canh, sử dụng thuốc hóa học phòng trừ sâu hại vàvùng trồng rau không sử dụng thuốc từ đó đánh giá được ảnh hưởng của thuốchóa học trừ sâu đến tính đa dạng (côn trùng sâu hại và thiên địch) trên đồngruộng Đồng thời bước đầu cung cấp danh mục các loài chân khớp thiên địch trêncây rau góp phần làm cơ sở khoa học cho biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp(IPM, IPM-B), hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu việc sử dụng thuốc hóahọc trong phòng trừ sâu hại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
Yêu cầu
Trang 11- Xác định được thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch trên cây rau
ở thành phố Vinh và phụ cận
- Xác định được thành phần loài sâu hại và thiên địch trên các loại rau ởvùng phun thuốc hóa học trừ sâu và vùng không (hoặc ít) phun thuốc
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên các sinh quần trồngcác loại cây rau, đặc biệt là rau họ thập tự như: côn trùng bộ cánh vảy(Lepidoptera), bộ cánh cứng (Coleoptera), cánh đều (Homoptera), cánh thẳng(Orthoptera),
Nội dung nghiên cứu
- Thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên cây rau họhoa thập tự ở thành phố Vinh và phụ cận, xác định loài sâu hại và thiên địchchính của chúng
- Xác định các loài côn trùng gây hại và thiên địch trên một số loại rauchính (họ thập tự, họ cà, họ bầu bí, rau dền, mồng tơi, khoai lang) ở thành phốVinh và vùng phụ cận
- Xác định sự đa dạng về sâu hại và thiên địch ở các khu vực sử dụng thuốchóa học phòng trừ sâu hại và không sử dụng (hoặc sử dụng với lượng ít)
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở điều tra thành phần loài từ đó đánh giá sự đa dạng sinh học trênsinh quần ruộng rau
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa côn trùng gây hại và thiên địch của chúngtrong sinh quần nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lý dịch
Trang 12hại tổng hợp (IPM) sâu hại rau, giảm số lần phun thuốc trên mỗi vụ rau góp phầnhạn chế ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe con người và các loài thiên địch.
- Xác định sự đa dạng của sâu hại cũng như thiên địch trên các loại rau từ
đó có thể xây dựng được các hệ thống sản xuất nông nghiệp sinh thái ở khu vựcthành phố Vinh và phụ cận
Trang 13Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê của FAO (2001) toàn thế giới sản xuất được 375triệu tấn rau (năm 1998), 441 triệu tấn rau (năm 1990) và đạt 602 triệu tấn (năm2000) Lượng rau tiêu thụ bình quân đầu người là 78kg/năm Riêng châu Á sảnlượng rau hàng năm đạt 400 triệu tấn với mức tăng trưởng 3%/năm (khoảng 5triệu tấn/năm) Trong các nước đang phát triển thì Trung quốc có sản lưọng raucao nhất đạt 70 triệu tấn/năm, Ấn Độ đạt 65 triệu tấn/năm (Tạ Thu Cúc, 2000)(Trích theo Đặng Thị Uyên, 2008) [4]
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đang có những khởisắc, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,3%, trong đó sản lượng lươngthực tăng 5,8 lần, rau xanh tăng 3,8 lần… Từ một nước nông nghiệp lạc hậu,thường xuyên phải nhập khẩu, đến năm 2000 nước ta đã trở thành nước xuấtkhẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, sản xuất rau quả cũng từng bước khẳng định vịtrí quan trọng trong ngành [14]
Bảng 1.1 Diện tích và sản lượng rau của Việt NamNăm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 142001 514,6 6777,6
(Nguồn: Bộ NN&PTNT, viện kinh tế nông nghiệp,2005)
Nhìn vào bảng 1.1 ta thấy những năm gần đây ngành rau của nước ta có
sự tăng trưởng nhanh, mạnh cả về diện tích sản xuất và sản lượng Năm 2000diện tích trồng rau cả nước là 464,6 nghìn ha và sản lượng đạt 5732,1 nghìntấn thì đến năm 2004 diện tích đã tăng lên 605,9 nghìn ha và sản lượng đạt8876,8 nghìn tấn
Ở Việt Nam tình hình sử dụng thuốc BVTV đã đến mức đáng lo ngại.Lượng thuốc sử dụng ngày càng nhiều, đặc biệt là các loài thuốc cấm, thuốckhông có trong danh mục, không rõ nguồn gốc và các loại thuốc kích thích sinhtrưởng Ở Từ Liêm, Hà Nội mỗi vụ rau phun thuốc từ 28 – 30 lần (Phạm BìnhQuyền và ctv, 1995) (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) [24]
Ngoài mặt tích cực nêu trên thì tình hình sản xuất rau thời gian qua cũng
có những mặt tiêu cực của nó Nhất là trong xu thế của một nền nông nghiệpthâm canh việc ứng dụng ồ ạt các sản phẩm hóa học không chọn lọc đã làm chosản phẩm rau xanh và môi trường canh tác có chiều hướng ngày càng gia tăng.Theo nguồn của cục BVTV thì lượng thuốc BVTV sử dụng trên diện tích canhtác ở Việt Nam trước 1990 đến 1999 qua bảng 1.2
Trang 15Bảng 1.2 Lượng thuốc sử dụng trên diện tích canh tác ở Việt Nam
(trước 1990 - 1999)
Năm Diện tíchcanh tác
(Triệu ha)
Lượng thuốcnhập (Tấn thànhphẩm)
Tổng giá trị (Triệu USD) Bình quân cho 1haTiền Tỷ lệ %
Lượngthuốc (kg ai)
Giá trị(USD)Trước
Với tình trạng sử dụng thuốc BVTV như thế này hàng năm trong nước đã xảy
ra nhiều vụ ngộ độc do ăn rau Theo thống kê của bộ y tế (2006), từ 1999 – 2004trên toàn quốc có 1.428 vụ ngộ độc với hơn 23.000 người mắc Trong đó có 361trường hợp tử vong tăng 61 trường hợp so với 5 năm trước (1994 – 1998) [20] Kết quả khảo sát việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất rau ở Đông Anh(Hà Nội) của Phạm Văn Hội và các cộng sự đã cho thấy có 83 loại thuốc được sửdụng trong việc phòng trừ sâu tơ, bọ nhảy, nhện, ruồi đục lá, sâu cuốn lá… số lầnphun trung bình là 3,55 – 7,97 lần/sào và liều lượng dùng 0,26 – 1,70 kg/sào/vụ.Điều đáng lưu ý là một số rau phổ biến như rau cải, cà chua, bắp cải, bí xanh sốlượng các loại thuốc thương phẩm được dùng từ 33 – 55 loại trong đó có 5 loại
Trang 16thuốc chính như: Tập kỳ 1.8 EC, Sherpa 25 EC, Cymerin 10 EC, Validacin 5L(dẫn theo Ngô Thị Hồng Vân, 2005) [7]
Ở Nghệ An tình hình sử dụng thuốc BVTV cũng có nhiều bất cập, thuốccấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc không có nguồn gốc xuất xứ tràn lan trên thịtrường Người dân sử dụng thuốc theo kinh nghiệm và không theo một chỉ dẫnnào cả Việc nghiên cứu thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên các loại cây trồngcòn chưa được chú ý
Theo kết quả nghiên cứu của Ngô Thị Hồng Vân (2005) cho thấy: Tại hai
xã Quỳnh Minh và Quỳnh Lương huyện Quỳnh Lưu người dân đã sử dụng 33loại thuốc BVTV để phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trên rau Các loại thuốc nàychủ yếu thuộc nhóm độc cao Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy việc sửdụng thuốc của nông dân chủ yếu theo thói quen mà không theo một chỉ dẫn nào
cả Liều lượng dùng vượt so với quy định từ 1 – 2,5 lần và số lần phun thực tếgấp 1 – 4 lần so với hướng dẫn ghi trên bao bì Ví dụ như cải xanh số lần phun là
14 – 16 lần, hành ta là 4 – 5 lần/vụ khoảng cách giữa hai lần phun từ 6 – 7 ngày,thời gian cách ly là một tuần [7]
1.2 Tình hình nghiên cứu về sự đa dạng sâu hại và thiên địch trên cây rau ở thế giới và Việt Nam
có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ Pentatomidae có 2 loài thuộc
giống Cazira và Dalpada (Trích theo Trương xuân Lam, 2004) [26].
Ở Indonesia có 2 loài chính là Plutella xylostella, Crocidolomia binotalis
(Mohammad Iman et al 1986), song Sastrosiswojo (1990) cho rằng có 5 loài sâugây hại chính Nghiên cứu của Talekar et al (1986) cho biết ở Đài Loan có 8 loài
Trang 17sâu hại chính trên rau họ HTT, riêng su hào, cải bắp, súp lơ thường bị sâu tơ pháhại mạnh nhất Philipines có 8 loài (Andreas Poelkinh, 1990) Trung Quốc có 7
loài (Liu et al.1995) Nhật Bản có 5 loài (Shirai, 1996) Ở Malaysia, Plutella
xylostella; Pieris rapae; Hellula undalis là những sâu hại quan trọng (Lim et al.
1996) Theo Bahatia et al (1995) ở vùng phía tây Bengal (Ấn Độ) 6 loài sâu hại
có mặt thường xuyên trên cây cải Ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1987 – 1990 đã ghinhận có 6 loài sâu hại chủ yếu trên cải bắp (Avci, 1994) (Trích dẫn theo Hồ ThịThu Giang, 2002) [6]
Trên cây rau họ HTT thành phần loài thiên địch của sâu hại cũng khá phongphú Tại khu vực châu Á, thành phần loài thiên địch cũng tương đối phong phú,Ooi (1986) đã phát hiện ở Malaysia 5 loài côn trùng ký sinh (kể cả nhập nội), 1loài bắt mồi, 1 loài vi sinh vật gây bệnh và 7 loài ký sinh bậc hai Philipines có 9loài ong ký sinh (Belen Morallo et al, 1992) Trung Quốc vào những năm 1978 –
1980 có 17 loài côn trùng, nhện bắt mồi và ký sinh (Lo, 1983) Ở Wuchang,Hubei (Trung Quốc) năm 1983 – 1984 đã thu thập được 50 loài thiên địch trênrau cải trong số đó có 35 loài bắt mồi và 15 loài ký sinh (Zong et al, 1986) (tríchdẫn theo Hồ Thị Thu Giang, 2002) [6]
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta các nghiên cứu về thành phần thiên địch và sâu hại trên các câytrồng nông nghiệp cũng đã xuất hiện nhiều và cho nhiều kết quả ngoài mong đợi.Khi nghiên cứu về sâu hại trên rau họ Hoa thập tự, kết quả điều tra ở cáctỉnh phía Bắc năm 1967 – 1968 và điều tra năm 1977 – 1979 ở các tỉnh phía Nam
đã phát hiện 23 loài sâu hại trong đó có 14 loài gây hại rõ rệt Ở vùng đồng bằngsông Hồng qua 3 năm điều tra 1995 – 1997, Lê Văn Trịnh (1999) đã thu được 31loài côn trùng gây hại trên rau họ thập tự Các tác giả Hồ Khắc Tín và ctv (1982);
Hồ Thu Giang (1996); Hoàng Anh Cung và ctv (1997); Lê Văn Trịnh (1999) đềucho rằng sâu tơ, rệp, sâu khoang, bọ nhảy, sâu xanh bướm trắng là những loài sâuhại chủ yếu (Trích dẫn theo Hồ Thị Thu Giang, 2002) [6]
Trang 18Cho đến nay ở Việt Nam có một số dẫn liệu công bố về thành phần thiênđịch sâu hại rau họ hoa thập tự Vũ Quang Côn và Hà Quang Hùng (1990) đã ghinhận được 3 loài ong ký sinh và 14 loài côn trùng bắt mồi thuộc bộ cánh cứng và
bộ hai cánh là thiên địch sâu hại rau vùng Hà Nội, theo báo cáo khoa học VNM
8910 – 130 giai đoạn 1990 – 1995 đã thu thập được 16 loài thiên địch trên rau ởngoại thành Hà Nội [8] Nguyễn Công Thuật (1996) đã thống kê thiên địchthường thấy trên sâu hại rau bắp cải 31 loài trong đó (21 loài côn trùng và nhệnlớn bắt mồi, 6 loài côn trùng ký sinh và nhóm vi sinh vật có 4 loài); Hồ ThuGiang (1996) đã thu được 53 loài (29 loài côn trùng bắt mồi, 18 loài nhện lớn bắtmồi và 6 loài côn trùng ký sinh); Lê Kim Oanh (1997) đã xác đinh được 37 loàithiên địch (32 loài côn trùng và nhện lớn bắt mồi, 5 loài côn trùng ký sinh); PhạmVăn Lầm (1999) đã xác định được tên khoa học 24 loài bắt mồi, 11 loài ký sinhsâu hại rau họ hoa thập tự Theo Lê Văn Trịnh (1999) có 20 loài thiên địch sâuhại rau họ hoa thập tự ở vùng đồng bằng sông Hồng (13 loài côn trùng và nhệnbắt mồi, 3 loài ong ký sinh và 4 tác nhân gây bệnh) (Trích dẫn theo Hồ Thị ThuGiang, 2002) [6]
Kết quả nghiên cứu thành phần thiên địch của sâu hại trên cây đậu đũa, đậutương và lạc (Phạm Văn Lầm, 2008) đã thu được 132 loài thiên địch của các loạisâu hại trên đậu đũa, đậu tương và lạc Chúng thuộc 6 bộ côn trùng, 2 bộ nhện, 2
bộ nấm và vi rút côn trùng Bộ cánh màng (Hymenoptera) có số loài thu thậpđược nhiều nhất (48 loài) Đứng thứ 2 về số lượng loài đã thu được là bộ cánhcứng (Coleoptera) với 31 loài Bộ nhện lớn bắt mồi (Araneida) với 25 loài đứngthứ 3 Các bộ khác còn lại có số loài đã thu được ít hơn (từ 1 đến 11 loài) Đã xácđịnh được tên khoa học cho 98 loài, trong đó số loài đã xác định được tên trêncây đậu đũa, đậu tương, lạc có tương ứng 36, 91 và 82 loài [16]
Nghiên cứu thành phần loài sâu hại nhóm cây đậu ăn quả ở phía bắc ViệtNam cho kết quả như sau: Trên các cây đậu ăn quả như đậu đũa, đậu co ve, đậutrạch,… Ở vùng Hà Nội và phụ cận, từ 1996 - 2006 đã xác định được 41 loài côntrùng và nhện nhỏ là những loài sử dụng các cây thuộc nhóm đậu ăn quả làm
Trang 19nguồn thức ăn, ít nhiều gây hại cho các cây này Đây là công bố chính thức kháđầy đủ và tương đối có hệ thống (tính đến thời điểm này) về thành phần sâu hạinhóm cây đậu ăn quả của nước ta (Phạm Văn Lầm, 2008) [17].
1.2.3 Ở Nghệ An
Khu vực tỉnh Nghệ An đã có một số nghiên cứu về thành phần loài thiênđịch (BMAT, KS) trên nhiều đối tượng cây trồng như: Nguyễn Thị Thanh(2002) nghiên cứu về BMAT sâu hại lạc ở Nghệ An đã xác định được 88 loài côntrùng thuộc 38 họ của 10 bộ, trong đó có 35 loài gây hại và 53 loài chân khớp ănthịt, ký sinh [11] Nguyễn Thị Hiếu (2004) ký sinh của sâu non bộ cánh phấn hạilạc ở Diễn Châu, Nghi Lộc - Nghệ An đã xác định được trên sinh quần ruộng lạcsâu non sâu khoang có 8 loài côn trùng ký sinh, 6 loài ong ký sinh (bộ
Hymenoptera) và 2 loài ruồi ký sinh (bộ Diptera) Loài Microplitis prodeniae và
Microplitis litis sp Là loài phổ biến, có vai trò quan trọng trong hạn chế số lượng
sâu khoang trên ruộng lạc [9] Nguyễn Thị Thu Hường (2004), Chân khớp ănthịt, ký sinh sâu non bộ cánh phấn hại vừng tại huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An cóthành phần loài chân khớp ăn thịt có 26 loài thuộc 16 họ của 6 bộ, trong đó bộnhện (Araneida) có số loài và số họ nhiều nhất (11 loài, 8 họ) (45,45%), bộ cánhcứng (Coleoptera) có 9 loài, 3 họ (18,18%) ; Bộ cánh nửa (Hemiptera) có 2 loài,
bộ chuồn chuồn (Odonata) có 3 loài Có 11 loài côn trùng ký sinh sâu non sâu hạivừng bộ cánh phấn thuộc 7 họ của 2 bộ [12]
Kết quả điều tra sâu hại lúa và ong kí sinh của chúng ở Vinh Tân, NghiPhú, TP Vinh vụ hè thu 2004 (Tô Thị Yến, 2005) Thành phần sâu hại lúa thuộc
bộ cánh phấn (Lepidoptera) bao gồm 19 loài [18]
Trần Thị Diệu Thu (2003) điều tra nghiên cứu côn trùng cánh cứng(Coleoptera) trên đồng ruộng Hưng Dũng thành phố Vinh tỉnh Nghệ An vụ đôngxuân 2003 Kết quả cho thấy trên đồng ruộng Hưng Dũng có15 loài côn trùngcánh cứng thuộc 11 giống , 3 họ cánh cứng ăn thịt trên đồng ruộng Trong đó có
8 loài lần đầu tiên ghi nhận trên đồng ruộng Nghệ An [23]
Trang 201.3 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết
Từ tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã trình bày ở phầntrên, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu trong thời gian trước mới chỉ tập trungnghiên cứu thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên từngđối tượng cây trồng cụ thể, chưa có những nghiên cứu liên quan đến vùng sinhthái Riêng đối với cây rau thì các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở các vùng phíaBắc và phía Nam, lý do có lẽ là vì tổng diện tích trồng rau và năng suất rau ở 2vùng này cao hơn so với khu vực Miền Trung
Các nghiên cứu về thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch củachúng ở Nghệ An trên các cây lương thực (cây lúa) cây công nghiệp (lạc, vừng,
…) đã cho thấy sự phong phú về thành phần loài thiên địch của sâu hại trên cácsinh quần nông nghiệp Tuy nhiên các nghiên cứu về thành phần loài sâu hại vàthiên địch của chúng trên cây rau chưa có Chính vì vậy tôi đã tiến hành thựchiện nghiên cứu đề tài “Đa dạng côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trêncây rau ở thành phố Vinh và phụ cận”
Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề sau:
- Điều tra thành phần loài côn trùng gây hại và thiên địch của chúng ở thànhphố Vinh và phụ cận
- Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến đa dạng sinh học(côn trùng gây hại và thiên địch) trên sinh quần ruộng rau
1.4 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên của Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ 18o35’– 19o30’ vĩ độ bắc và 103o52’ – 105o42’ kinh độ đông với tổng diện tích tự nhiên
1637068 ha (bằng 1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Địa hình Nghệ An có thể chia ra 3 vùng cảnh quan, đây là đặc điểm chiphối đến mọi hoạt động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp của Nghệ An Vùngnúi cao (chiếm 77% diện tích), vùng gò đồi (13%), vùng đồng bằng chỉ chiếm
Trang 2110% diện tích Đồng bằng phù sa gồm các dải đồng bằng Vinh, Quỳnh Lưu, YênThành, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Vùng đất cátven biển Quỳnh Lưu - Diễn Châu, Nghi Lộc – Hưng Nguyên.
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản lànóng ẩm mưa nhiều theo mùa Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình120-140 Kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 - 24oC, độ ẩm khôngkhí là 85%, lượng mưa trung bình cả năm từ 1600 – 2000 mm (Lê Văn Phương,1982) (Trích theo Trịnh Thị Thanh, 2007) [25]
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.923.647 người(tính đến 21/12/2000), mật độ dân số trung bình toàn tỉnh khoảng 180 người/Km2 Dân cư phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10%diện tích nhưng tập trung đến 80% dân số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diệntích nhưng chỉ có 20% dân số
Ngoài ra, sự thay đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc đầu tư phân hóa học,thuốc trừ sâu, thủy lợi tưới tiêu,… đặc biệt từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đãchuyển đổi mùa vụ, coi vụ hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm,…
đó là những tác động không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng, trước hết là sâu hại
và thiên địch của chúng (Trích theo Trịnh Thị Thanh, 2007) [25]
Trang 22Chương 2.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Dịch hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp
Các hệ sinh thái tự nhiên đều có khả năng tự điều chỉnh riêng Đó là khảnăng tự lập lại cân bằng, cân bằng giữa các quần thể trong hệ sinh thái (vật ăn thịt
- vật mồi, vật ký sinh - vật chủ), cân bằng các vòng tuần hoàn vật chất và dòngnăng lượng giữa các thành phần của hệ sinh thái Sự cân bằng này cũng có nghĩa
là sự cân bằng giữa các vật sản xuất, vật tiêu thụ và vật phân hủy Sự cân bằngnày còn được gọi là sự cân bằng sinh thái Nhờ có sự điều chỉnh này mà các hệsinh thái tự nhiên giữ được sự ổn định mỗi khi chịu tác động của các nhân tốngoại cảnh
Hệ sinh thái là một hệ thống sống có khả năng tự điều chỉnh Đó là khảnăng tự lập lại cân bằng giữa các quần thể sinh vật sống cùng nhau như vật ănthịt con mồi v.v… và đó chính là cơ sở tạo nên cân bằng sinh thái Tuy nhiên,khả năng tự lập lại cân bằng của hệ sinh thái là có giới hạn Con người đôi khi vìmuốn thu lợi nhuận kinh tế cao đã làm cản trở khả năng tự điều chỉnh của hệ sinhthái, dẫn tới mất cân bằng sinh thái, gây suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môitrường Muốn quản lý tốt các hệ sinh thái thì nguyên lý cơ bản cần tuân thủ đó làgiữ cho các hệ sinh thái này không nằm ngoài khả năng tự điều chỉnh của nó.Nói về tác hại của một loài sinh vật nào đó, thực ra là xét dưới góc độ lợi íchcủa nó đối với con người Trong tự nhiên không có loài sinh vật gây hại cũngkhông có loài sinh vật nào hoàn toàn có lợi Thực ra, mỗi loài sinh vật đều có một
vị trí nhất định trong tự nhiên, chúng thực hiện những chức năng riêng trong chutrình chuyển hóa vật chất của tự nhiên
Sản xuất
Trang 23Như vậy “Sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh
vật nào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ nhất định của mỗi hệ sinh thái” Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau vừa là yếu tố hạn
chế nhau trong mỗi chuỗi dinh dưỡng của chu trình tuần hoàn vật chất (HàQuang Hùng, 1998) [5]
Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật
Tính ổn định và năng suất quần thể của một loài được xác định bởi rất nhiều yếu
tố, một phần các yếu tố đó là cấu trúc của quần xã sinh vật (Watt, 1976) Cấu trúccủa quần xã sinh vật bẩm độ gồm 3 nhóm yếu tố:
a Mạng lưới dinh dưỡng trong quần xã (thể hiện quan hệ dinh dưỡng trongquần xã sinh vật)
b Sự phân bố không gian của sinh vật
c Sự đa dạng của quần xã
Trang 24Cũng như các hệ sinh thái khác trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn luôn tồntại mối quan hệ về mặt dinh dưỡng và đó là mối quan hệ tất yếu trong quần xãsinh vật cũng như hệ sinh thái, mỗi loài sinh vật thường là thức ăn là điều kiệntồn tại cho mỗi loài sinh vật khác Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật làquan hệ phụ thuộc lẫn nhau vô cùng phức tạp, nhưng có quy luật, đặc biệt làquan hệ dinh dưỡng (Thể hiện qua chuỗi và lưới thức ăn).
Mối quan hệ dinh dưỡng
Một tập hợp các sinh vật cùng sống trong một vùng hoặc sinh cảnh xác địnhđược hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, liên hệ với nhau do những đặctrưng chung về sinh thái học mà các thành phần cấu thành quần xã (quần thể, các
cá thể) không có Sự tập hợp này không phải là một con số cộng đơn thuần màgiữa các loài đó có mối quan hệ rất chặt chẽ, trước hết là mối quan hệ về dinhdưỡng và nơi ở Quan hệ này có thể là tương hỗ hoặc đối địch, cạnh tranh…Trong quần xã, các loài có quan hệ mật thiết với nhau, mối quan hệ đó thểhiện rõ nét nhất ở quan hệ dinh dưỡng vì mọi thành viên của quần xã đều thamgia vào một trong ba pha của vòng tuần hoàn vật chất: pha sản xuất, pha tiêu thụ,
và phân hủy Cái kết gắn sinh vật với nhau là dây chuyền dinh dưỡng, mỗi loài làmột mắt xích của dây chuyền dinh dưỡng ấy, mối quan hệ giữa các mắt xích thức
ăn rất phức tạp, nó ảnh hưởng đến tương quan số lượng của nhau Chỉ một mắtxích thay đổi thì toàn bộ chuỗi, thậm chí toàn bộ mạng lưới thức ăn bị thay đổitheo Các chuỗi thức ăn đều là tạm thời và không bền vững như mọi mối quan hệsinh học khác
Biến động số lượng côn trùng
Trên cơ sở xem xét hàng loạt dẫn liệu về sự biến đổi số lượng và các dạng
cơ chế điều hoà số lượng, Viktorov (1967) đã tổng hợp khái quát thành sơ đồchung của biến động số lượng côn trùng Một trong những đặc trưng của quầnthể là mật độ cá thể trong quần thể được xác định bởi sự tương quan giữa các quátrình bổ sung thêm và giảm bớt số lượng cá thể Tất cả là các yếu tố gây biếnđộng đều tác động đến quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ tử
Trang 25vong của quần thể và sự di cư của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà trước hết làđiều kiện thời tiết, khí hậu tác động đến côn trùng một cách trực tiếp hoặc giántiếp thông qua thức ăn, thiên địch Sự điều hoà thông qua các mối quan hệ tácđộng qua lại đó đã phản ánh ảnh hưởng của mật độ lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong
và di cư, trong đó tồn tại mối quan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tích cực củathiên địch và đặc điểm của thức ăn Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảonhững thay đổi đền bù cho sự bổ sung và giảm bớt số lượng cá thể của quần thể.Chính sự tác động thuận nghịch đó đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trongmật độ quần thể (Hà Quang Hùng, 1998) [5]
Số lượng của côn trùng đặc biệt là các loài sâu hại thường có sự dao động
từ thế hệ này sang thế hệ khác Số lượng lần sau gia tăng có khi đến hàng trămlần và kéo dài một thời gian rồi lại đột ngột giảm xuống đến mức thấp nhất, duytrì ở mức độ đó trong một thời gian Sự sinh sản hàng loạt của các loài sâu hạiphần lớn không tiếp diễn theo tiến trình thiên nhiên Quá trình biến đổi xảy ra dotác động của các yếu tố môi trường, chủ yếu là các yếu tố thời tiết, khí hậu vàmối quan hệ vật ăn thịt - vật mồi
Ở côn trùng ăn thịt, sự điều chỉnh số lượng quần thể quan trọng là sự cạnhtranh trong loài Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau thường xuất hiện trong quần thể chủyếu do thiếu thức ăn Sự tác động đó dẫn đến sự ổn định không bền vững của sốlượng quần thể
Vai trò quan trọng của vật ăn thịt được coi là yếu tố điều hoà số lượng côntrùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng và phảnứng chức năng
Hiện nay có hàng loạt dẫn liệu thực tế xác nhận khả năng điều hoà của các
cơ chế điều hoà ở các mức độ khác nhau của quần thể Cơ chế đó được thực hiệnliên tục kế tiếp nhau tham gia tác động khi mật dộ quần thể được điều hoà vượt
ra khỏi giới hạn hoạt động của yếu tố điều hoà trước đó
Trang 26Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệtương hỗ giữa cây trồng - sâu hại - thiên địch trong hệ sinh thái nông nghiệp, cácnguyên tắc sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp.
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Trong những năm gần đây nền nông nghiệp nước ta đang có những khởisắc, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,3%, trong đó sản lượng lươngthực tăng 5,8 lần, rau xanh tăng 3,8 lần,… Từ một nước nông nghiệp lạc hậu,thường xuyên phải nhập khẩu, đến năm 2000 nước ta đã trở thành nước xuấtkhẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, sản xuất rau quả cũng từng bước khẳng định vịtrí quan trọng trong ngành Tuy nhiên, với tình trạng sử dụng thuốc BVTV khôngkiểm soát được, hàng năm trong nước đã xảy ra nhiều vụ ngộ độc do ăn rau [14].Theo thống kê của bộ y tế (2006), từ năm 1999 đến năm 2004 trên toàn quốc có1.428 vụ ngộ độc với hơn 23.000 bệnh nhân Trong đó có 361 trường hợp tửvong tăng 61 trường hợp so với 5 năm trước (1994 – 1998) [20]
Ở nước ta hiện nay, tình hình sử dụng thuốc BVTV đã đến mức đáng longại Lượng thuốc sử dụng ngày càng nhiều, đặc biệt là các loài thuốc cấm, thuốckhông có trong danh mục, không rõ nguồn gốc và các loại thuốc kích thích sinhtrưởng Ở Từ Liêm, Hà Nội mỗi vụ rau phun thuốc từ 28 – 30 lần (Phạm BìnhQuyền và ctv, 1995) (dẫn theo Trần Văn Quyền, 2008) [24]
Ở Nghệ An tình hình sử dụng thuốc BVTV cũng có nhiều bất cập, thuốccấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc không có nguồn gốc xuất xứ đang có mặt phổbiến trên thị trường Người dân sử dụng thuốc không theo một chỉ dẫn nào cả,liều lượng dùng vượt so với quy định từ 1 – 2,5 lần và số lần phun thực tế gấp 1 –
4 lần so với hướng dẫn ghi trên bao bì Ví dụ như cải xanh số lần phun là 14 – 16lần, hành ta là 4 – 5 lần/vụ khoảng cách giữa hai lần phun từ 6 – 7 ngày, thờigian cách ly là một tuần [7]
Nghệ An đã có một số nghiên cứu về thành phần loài thiên địch (BMAT,KS) trên nhiều đối tượng cây trồng như: Trần Ngọc Lân (2000, 2005,…) nghiêncứu về kí sinh, BMAT của sâu hại lúa, sâu hại lạc, sâu hại vừng ở Nghệ An
Trang 27Nguyễn Thị Thanh (2002) nghiên cứu về BMAT sâu hại lạc ở Nghệ An NguyễnThị Hiếu (2004) nghiên cứu về kí sinh sâu hại lạc ở Nghệ An,… Kết quả nghiêncứu đã khẳng định các loài thiên địch hoàn toàn có khả năng điều hòa số lượngsâu hại cây trồng nông nghiệp.
Từ những thực tiễn trong sản xuất, nghiên cứu trên rau đó thì cần phải cónhững biện pháp để hạn chế và dần thay đổi phương thức canh tác, đặc biệt làvấn nạn sử dụng thuốc hóa học như hiện nay Một trong những biện pháp đó làtìm ra một phương thức sản xuất mới với những chiến lược BVTV hiệu quả hơnnhưng không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường
Việc tiến hành điều tra, đánh giá mức độ đa dạng côn trùng gây hại và thiên địch của chúng trên cây rau ở các sinh quần trồng rau là rất cần thiết Đó là những
bước đi đầu tiên làm cơ sở cho các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại ít sử dụngđến thuốc hóa học BVTV
2.1.3 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết 1 Thành phần loài côn trùng sâu hại và thiên địch trên rau ở
thành phố Vinh và phụ cận khá phong phú
Giả thuyết 2 Tại các vùng trồng rau thâm canh do sử dụng thuốc BVTVnhiều sẽ có thành phần loài côn trùng sâu hại và thiên địch kém phong phú so vớivùng khác, ít hoặc không sử dụng thuốc hóa học trong BVTV
Giả thuyết 3 Tại các vùng có sự đa dạng loài thực vật cao thì thành phầnloài côn trùng gây hại và thiên địch của nó ở đó phong phú
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 đến tháng 12/2008.
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bảo vệ thực vật, tổ bộmôn Nông Học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường đại học Vinh
+ Thu thập mẫu vật, điều tra sâu hại và thiên địch trên các sinh quần trồngrau ở thành phố Vinh, Nghi Lộc, Nam Đàn, Hưng Nguyên
Trang 282.3 Vật liệu nghiên cứu
- Các ruộng rau điều tra và thu thập mẫu sâu hại và thiên địch tại thành phốVinh, Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
- Cồn 70o, các hộp kín và các ống nghiệm có nắp để lưu mẫu vật
- Giấy bóng thấm, Bút chì
- Ống nghiệm
- Giấy A4
- Kính lúp, kính hiển vi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập mẫu vật
Tiến hành thu thập mẫu vào thời điểm nhất định trong ngày từ 5h30-8h30
và từ 16h30-19h Thu thập tất cả các loại sâu hại và thiên địch xuất hiện trên cácruộng rau (đang phát triển hay đã thu hoạch), ở các bờ mương, bờ ruộng gần sinhquần trồng rau Mỗi loài thu bắt 3-5 cá thể, cố định mẫu bằng cồn 70o, tất cả cácloài thu được trên những loại rau khác nhau được bảo quản trong những hộp khácnhau và được ghi chép đầy đủ để xử lý
Điều tra mật độ sâu hại và thiên địch trên rau cải vào buổi sáng từ 5h30- 7h
và cứ 5 ngày một lần Thu theo nguyên tắc 5 điểm chéo góc trên mỗi ruộng rau
2.4.2 Xử lý bảo quản mẫu vật
Các mẫu vật được bảo quản và xử lý theo quy định xử lý côn trùng Mẫuvật được lưu giữ theo phương pháp giữ mẫu vật bằng cồn 70o
Mẫu vật được bảo quản trong ống nghiệm có ghi số ký hiệu (Etyket) baogồm: - Số ký hiệu mẫu
- Địa điểm và Thời gian thu mẫu
- Phương pháp thu mẫu
Việc bảo quản mẫu được tiến hành cẩn thận trong phòng thí nghiệm
2.4.3 Phương pháp định loại
* Tài liệu định loại
Trang 29Việc định loại dựa vào tài liệu của Barion et al (1994); Anfrienes (1929,1935); Habu (1967); Hoàng Đức Nhuận (1982-1993); Li yong xi atall (1988).
* Nguyên tắc định loại
Nguyên tắc định loại được tiến hành theo Mayr , 1974
Tất cả cá thể côn trùng được thu thập trên cùng một sinh cảnh, một thờiđiểm gọi là một mẫu
Quá trình định loại mẫu vật được tiến hành như sau:
1 Từ mẫu thu được phân chia các cá thể thành các Phenol (Phenol là tậphợp các cá thể thu trên cùng 1 địa điểm trong một lần thu mẫu có hình thái giốngnhau) Mỗi lần có thể có nhiều Phenol khác nhau về giới tính, giai đoạn sinhtrưởng,
2 Từ các Phenol đã được phân chia lấy các cá thể trưởng thành điển hình,
sử dụng khoá định loại để xác định đơn vị phân loại của mẫu vật, hệ thống cácthang bậc phân loại: Lớp - bộ - họ - giống - loài
3 Kiểm tra các đặc điểm hình thái của mẫu vật đã được định loại đến loàivới đặc điểm mô tả trong tài liệu, trong hình vẽ tài liệu tra cứu
4 Kiểm tra sự phân bố của các loài, nếu vùng phân bố của loài xác địnhkhác nhiều với vùng phân bố đã mô tả trong tài liệu thì phải xác định lại
5 Kiểm định mẫu vật nhờ các chuyên gia để tránh sự sai sót trong quá trìnhđịnh loại
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
- Thành phần loài sâu hại và thiên địch trên các loại rau ở thành phố Vinh
Trang 30Trong đó : - p : Số lần thu mẫu có loài nghiên cứu
Trang 31Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đa dạng loài chân khớp trên sinh quần ruộng rau ở thành phố Vinh và phụ cận
Trong thời gian từ tháng 2 – 12/2008, đã tiến hành điều tra, thu thập thànhphần loài sâu hại và thiên địch của chúng có mặt trên các sinh quần rau ở thànhphố Vinh và vùng phụ cận Kết quả thu được 53 loài thuộc 10 bộ, 28 họ Trong
đó có 20 loài côn trùng gây hại trên rau và 33 loài thiên địch của chúng trên cácsinh quần ruộng rau
Bảng 3.1 Đa dạng loài chân khớp trên sinh quần ruộng rau
gây hại
Số loài cóích
1 đến 4 loài Trong số 20 loài gây hại thì bộ cánh vảy (Lepidoptera) chiếm phầnlớn (8 loài), tiếp theo là bộ cánh cứng (Coleoptera) có 5 loài, còn lại thuộc về các
bộ khác Đối với các loài có ích, bộ nhện lớn (Araneida) và bộ cánh cứng(Coleoptera) có số loài xuất hiện nhiều nhất (25 loài của cả 2 bộ) Điều đó chothấy bộ nhện lớn (Araneida) và bộ cánh cứng (Coleoptera) thường xuyên xuất
Trang 32hiện và có vai trò to lớn trong việc điều hòa số lượng sâu hại trên các sinh quầntrồng rau ở thành phố Vinh và phụ cận.
3.2 Thành phần côn trùng sâu hại và thiên địch của chúng trên một số loại rau ở thành phố Vinh và phụ cận
3.2.1 Rau họ hoa thập tự (Cruciferae)
3.2.2.1 Thành phần loài sâu hại rau
Bảng 3.2 Sâu hại trên rau họ HTT ở thành phố Vinh và vùng phụ cận
1 Oxya velox Fabr. Châu chấu lúa +
2 Atractomorpha chinensis I Boviar. Cào cào nhỏ +
3 Quilta sp. Châu chấu lúa nhọn
5 Nezara viridula L. Bọ xít xanh +
6 Cletas trigonus Thumb Bọ xít gai vai dài +
7 Peris rapae L. Sâu xanh bướm trắng +++
8 Spodoptera litura Fabr. Sâu khoang ++
9 Helicoverpa armigera Hub. Sâu xanh ++
12 Brevicoryne brasicae Linne. Rệp xám hại cải ++
Đã điều tra, thu bắt được 12 loài sâu hại thuộc 5 bộ, 7 họ côn trùng trên rau
họ hoa thập tự ở thành phố Vinh và phụ cận Các loài sâu hại thường xuất hiện ở mức trung bình và thấp Tần số bắt gặp ở mức cao chỉ thấy ở loài bọ nhảy
Trang 33(Phyllotreta vittata F.) và SXBT (Peris rapae L.) Sâu hại xuất hiện ở mức trung bình cũng chỉ có 3 loài là sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh
(Helicoverpa armigera Hub.) và rệp xám hại cải (Brevicoryne brasicae Linne.)
Các loài còn lại xuất hiện ở mức thấp
Biểu đồ 3.1 So sánh mức độ đa dạng loài sâu hại trên rau thập tự ở thành phố
Vinh và vùng phụ cận
Từ biểu đồ ta thấy sâu hại trên rau thập tự ở thành phố Vinh và vùng phụcận thì bộ cánh vảy (Lepidoptera) có sự đa dạng loài cao nhất chiếm 42% tổng sốloài thu được Tiếp đến bộ cánh thẳng (Orthoptera) ở mức 25% Thứ tiếp là bộcánh nửa (Hemiptera) ở mức 17% Bộ cánh cứng (Coleoptera) và bộ cánh giống(Homoptera) kém đa dạng nhất chỉ ở mức 8%
3.2.2.2 Thành phần loài thiên địch
Đã thu được 22 loài thiên địch thuộc 4 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn Bộcánh cứng (Coleoptera) có số lượng loài nhiều nhất (10 loài) Bộ nhện lớn(Araneida) thu được 8 loài Các bộ còn lại thu được số loài ít hơn từ 1 – 2 loài