1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ ngô thì nhậm thời tây sơn

111 256 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 507 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của luận văn - Bằng sự nghiên cứu có hệ thống, luận văn khẳng định Thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn là những tác phẩm tâm huyết nhất, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời sáng tác của tá

Trang 1

mục lục

Trang

mở đầu 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Phạm vi t liệu khảo sát 7

5 Phơng pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 9

Chơng 1: Nhân vật trữ tình 10

1.1 Giới thuyết về nhân vật trữ tình 10

1.1.1 Khái niệm nhân vật trữ tình 10

1.1.2 Hình tợng cái tôi 14

1.1.3 Hình tợng tác giả 15

1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn 17

1.2.1 Tác giả trực tiếp bộc lộ t tởng, cảm xúc 17

1.2.2 Nhân vật trữ tình nhập vai 23

Chơng 2: Những chủ đề chính 30

2.1 Nhận thức về thời cuộc 30

2.1.1 ý thức về tài năng và phẩm hạnh 35

2.1.2 Xác định lý tởng chính trị 47

2.2 Nhận thức và tình cảm đối với vơng triều, dân tộc, đất nớc 53

2.2.1 Tình yêu đất nớc 53

2.2.2 ý thức trách nhiệm trớc cuộc sống đơng thời 65

2.2.3 Tình cảm đối với Quang Trung 68

Trang 2

Ch¬ng 3: §Æc ®iÓm nghÖ thuËt 85

3.1 ThÓ th¬ 87

3.1.1 ThÊt ng«n b¸t có 88

3.1.2 ThÊt ng«n tø tuyÖt 89

3.1.3 Ngò ng«n 90

3.2 ChÊt liÖu 90

3.2.1 §iÓn cè Trung Hoa 91

3.2.2 §êi sèng c¸ nh©n 94

3.3 Bót ph¸p 96

3.3.1 Bót ph¸p t¶ thùc 98

3.3.2 Bót ph¸p tîng trng 100

KÕt luËn 105

Tµi liÖu tham kh¶o 107

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Văn học trung đại Việt Nam có lịch sử mười thế kỷ, có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học của dân tộc và có ý nghĩa lớn đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam Nền văn học này kết tinh nhiều thành tựu nghệ thuật với nhiều tác giả, tác phẩm tiêu biểu Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ đầu, văn học trung đại đã gắn bó máu thịt với vận mệnh đất nước và số phận con người Việt Nam Trong nền văn học này, nổi bật nhất là những tác phẩm thuộc chủ nghĩa yêu nước và thể hiện nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận con người

Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX là mười thế kỷ nhân dân ta không ngừng chiến đấu chống xâm lăng bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước Tư tưởng

yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ thơ của Đỗ Pháp Thuận, Hịch tướng sĩ

của Trần Hưng Đạo, đến thơ của Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng

Dung; từ Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi đến Văn tế nghĩa sĩ Cần

Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, thơ văn Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, …

Đặc biệt, cuối thế kỷ 18 - thời kỳ đầy biến động của đất nước đã xuất hiện một nhà trí thức lỗi lạc và là cây bút tiêu biểu của nền văn học rực rỡ thời Tây Sơn: Ngô Thì Nhậm Tác phẩm ông để lại nhiều và thuộc nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, sáng tác và lý luận văn học, triết học, sử học Văn học chiếm phần lớn nhất trong trước tác của ông Thơ văn của ông là “đỉnh cao của văn học yêu nước thời Tây Sơn “[27, 87] Vua Quang Trung đã từng đánh giá rất cao tài năng văn học của Ngô Thì Nhậm Nhà vua thấy văn chương của Ngô Thì Nhậm là loại văn chương “phải dùng để sửa sang việc đời” Người có văn chương như vậy không những làm rạng

rỡ cho nền văn học của một thời mà còn toả hào quang cho nền văn học của một dân tộc Thơ văn của Ngô Thì Nhậm là di sản quý báu Riêng về thơ,

Trang 4

ông chỉ để lại thơ chữ Hán, sáng tác chủ yếu trong hai thời kỳ: thời kỳ làm quan cho chúa Trịnh và thời kỳ phục vụ Tây Sơn, trong đó những bài sáng tác trong thời Tây Sơn chứa đựng những tư tưởng, tình cảm đẹp đẽ nhất của tác giả Di sản đó rất đáng được nghiên cứu.

1.2 Ngô Thì Nhậm là một tài năng văn võ song toàn, một trí thức Việt Nam sống trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc Đánh giá

về Ngô Thì Nhậm, trong tác phẩm nổi tiếng Chủ nghĩa Mác và văn hoá

Việt Nam, đồng chí Trường Chinh xếp ông vào hàng ngũ những thiên tài

mãi mãi là những ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm vẻ vang giống nòi Cuộc đời của thiên tài ấy cũng thật đặc biệt Ông từng có thời gian là một đại quan dưới thời chúa Trịnh, là “con tuấn mã … ngày đi ngàn dặm“ [44, 22] của chúa Trịnh, sau đó dứt khoát đi với triều đại Tây Sơn, đưa hết tài năng và tâm huyết của mình phục vụ tân triều Nghiên cứu thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn sẽ thấy được ảnh hưởng của những chuyển biến trong

tư tưởng chính trị xã hội của Ngô Thì Nhậm đối với sáng tác thơ

1.3 Trước đây, thơ Ngô Thì Nhậm chỉ mới được giới thiệu ít, việc đánh giá Ngô Thì Nhậm thường chỉ căn cứ vào một ít sự kiện của cuộc đời

ông nên không tránh khỏi những thiên lệch Thậm chí, bộ Hợp tuyển thơ

văn Việt Nam còn cho rằng Ngô Thì Nhậm “không để lại văn tập thi tập

nào” ngoài một số thơ văn ghi trong Ngô gia văn phái Hiện nay, những

sáng tác của Ngô Thì Nhậm đã được giới thiệu đầy đủ nên có thể nghiên cứu thơ của tác giả này một cách sâu rộng hơn

2 Lịch sử vấn đề

Ngô Thì Nhậm là nhân vật toàn tài của thời phong kiến ở Việt Nam nửa thế kỷ 18 Ông không chỉ là một nhà quân sự tài ba, một nhà chính trị sắc sảo, một nhà tư tưởng lớn, một nhà ngoại giao kiệt xuất mà còn là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc Thơ văn của ông làm rạng rỡ cho nền văn học Việt Nam thời phong kiến Cho tới những năm 60 của thế kỷ 20, Ngô Thì

Trang 5

Nhậm vẫn chưa được đánh giá tương xứng với những cống hiến của ông Thế rồi từ trong kho tàng văn bản Hán Nôm, giới nghiên cứu khoa học xã hội đã phát hiện ra Ngô Thì Nhậm với hàng chục tập sách và trên 600 bài thơ Di sản lớn này đã xác định vị trí xứng đáng của Ngô Thì Nhậm trong lịch sử văn học Việt Nam.

2.1 Năm 1973, nhân dịp kỷ niệm 170 năm ngày mất của Ngô Thì Nhậm, Viện Văn học đã tổ chức đợt nghiên cứu về ông Có nhiều bài viết

đăng trên Tạp chí Văn học số 4 và số 5/1973, trong đó các nhà nghiên cứu

khẳng định Ngô Thì Nhậm là một nhà thơ xuất sắc thời Tây Sơn

Tác giả Vũ Đức Phúc đã nhấn mạnh đến tinh thần dân tộc trong thơ văn Ngô Thì Nhậm viết dưới thời Tây Sơn: “Thơ văn Ngô Thì Nhậm thời

kỳ này biểu lộ một tinh thần dân tộc cao Ông tự hào được làm quan ở đất Việt Nam anh hùng, và khi sang sứ nhà Thanh, ông đã thấy rõ nhiều người nước ngoài khâm phục Việt Nam do những chiến công oanh liệt của Quang Trung, nên ông rất phấn khởi” [43, 7]

Nghiên cứu về thơ văn liên quan đến phong trào Tây Sơn, tác giả Triêu Dương viết: “Ngọn lửa cao sáng xa Phong trào Tây Sơn sáng rực cả một thời kỳ lịch sử dân tộc ta: ánh hào quang ngời ngợi của nó chiếu toả tới tận ngày nay và chắc chắn sẽ còn mãi đến nhiều đời sau Điều đáng tiếc là thơ văn thuộc phong trào đó hiện giờ vẫn chưa tìm hết” [11, 39]

2.2 Năm 1974, Ty Văn hoá thông tin Hà Tây xuất bản cuốn Ngô Thì

Nhậm, con người và sự nghiệp do Văn Tân chủ biên, với sự tham gia của

Văn Lang, Lê Sĩ Thắng, Chương Thâu, Ngọc Liễn Nhận định về cảm xúc thơ của Ngô Thì Nhậm, tác giả Ngọc Liễn viết: “Cảm xúc thơ của Ngô Thì Nhậm mở ra trên một diện đề tài khá rộng: ca ngợi đất nước tươi đẹp, hùng vĩ; ca ngợi thiên nhiên; niềm tự hào dân tộc; tình cảm đối với Quang Trung, đối với cha mẹ, vợ con, bè bạn; nỗi vất vả của người sứ thần trên đường đi làm nhiệm vụ và lòng nhớ nước, nhớ nhà; nỗi bâng khuâng hoài

Trang 6

niệm trước một ngôi đền miếu cổ; những suy nghĩ triết lý về cuộc đời ”

[48, 124]

2.3 Năm 1978, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản Tuyển tập

thơ văn Ngô Thì Nhậm (2 tập), trong đó có bài Ngô Thì Nhậm, một người trí thức chân chính của Cao Xuân Huy ở Lời giới thiệu Cao Xuân Huy

khẳng định: “Về mặt tình cảm, thì thơ của ông lại càng sâu, càng đẹp, nhất

là trong những bài ông viết về vua Quang Trung, người mà ông kính mến

và gửi gắm niềm trung tín cho đến chết” [56, 34]

2.4 Về nghiên cứu thơ Ngô Thì Nhậm, còn có thể kể đến các bài có

giá trị như: Tìm hiểu dòng văn học tiến bộ thời Tây Sơn của Lê Thước và Trương Chính; Thơ văn Ngô Thì Nhậm trong cuộc đấu tranh chống xâm

lược của giáo sư Vũ Khiêu; Ngô Thì Nhậm trong lịch sử tư tưởng Việt Nam

của Lê Sĩ Thắng Nổi bật là lời nhận xét của giáo sư Vũ Khiêu: “Có thể nói thơ văn Ngô Thì Nhậm là bức tranh tuyệt đẹp, vẽ lại cả cuộc đời của một con người đã đem hết trí tuệ và tài năng chiến đấu cho lợi ích của nhân

dân, cho đạo lý của cuộc sống, cho độc lập và vinh dự của tổ quốc.

Dưới sự lãnh đạo của anh hùng Nguyễn Huệ, Ngô Thì Nhậm đã có những cống hiến vô cùng xuất sắc trên mọi lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao Trên trận địa tư tưởng và văn hoá, ông lại lấy bút làm gươm,

chiến đấu không mệt mỏi để chống quân thù, bảo vệ đất nước” [60, 431]

2.5 Các nhà nghiên cứu rất quan tâm đến Ngô Thì Nhậm ở phương diện là một thi nhân thời Tây Sơn Trong những bài viết đó, các tác giả đều nói đến lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, lòng kính yêu và ngưỡng mộ Quang Trung được thể hiện trong thơ ông Trong bài viết của Cao Xuân

Huy, tác giả khẳng định Ngô Thì Nhậm là “một người trí thức chân chính”

[56, 9]

Trang 7

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Thời kỳ phục vụ Tây Sơn là thời kỳ có ý nghĩa nhất trong cuộc đời Ngô Thì Nhậm Từ khi ra mắt Quang Trung, được Quang Trung trọng dụng, một bước chuyển biến lớn đã diễn ra trong cuộc đời ông và đem đến cho ông nguồn cảm hứng mới Có thể nói đây là giai đoạn có ý nghĩa nhất trong cuộc đời cầm bút của ông Nghiên cứu thơ Ngô Thì Nhậm nhằm khái quát được những giá trị tư tưởng tình cảm nổi bật trong thơ viết dưới thời Tây Sơn của tác giả

3.2 Với nguồn cảm hứng mới, Ngô Thì Nhậm viết say sưa, sôi nổi Nghệ thuật viết văn, thơ của ông cũng đạt tới độ chín nhất Nghiên cứu thơ Ngô Thì Nhậm nhằm nhận thức được những đặc sắc về phương diện nghệ thuật của thơ ông viết trong thời kỳ này

3.3 Nghiên cứu Thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần giúp người đọc cảm thụ hay hơn, sâu sắc hơn về thơ Ngô Thì Nhậm, qua đó thấy được tài năng và tâm huyết, hiểu thêm về nhân cách của một người trí thức lớn trong một thời kì lịch sử đầy biến động

4 Phạm vi tư liệu khảo sát

Thơ Ngô Thì Nhậm “cũng chính là con người ông: nghiêm túc, đạo đức, nên tài hoa rất mực, chữ dùng độc đáo, ý tứ sâu xa” [56, 32] Trùm lên tất cả là lòng yêu nước thương dân, lòng tự hào dân tộc Từ ngày đi với Quang Trung, trong nguồn cảm hứng dồi dào, thơ của Ngô Thì Nhậm càng thêm tươi đẹp, biểu hiện những tư tưởng, tình cảm đẹp nhất của tác giả

Chúng tôi dựa vào văn bản trong Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 2 của

Viện nghiên cứu Hán Nôm do Lâm Giang và Nguyễn Công Việt chủ biên

Trong sách này có Ngọc đường xuân khiếu, Cúc hoa thi trận và Thu cận

dương ngôn là ba tập thơ Ngô Thì Nhậm viết dưới thời Tây Sơn.

Tập Ngọc đường xuân khiếu do Lâm Giang, Nguyễn Thị Phượng, Lê

Việt Nga và Nguyễn Huy Thức sưu tầm, dịch thuật gồm 75 bài thơ Ngô

Trang 8

Thì Nhậm sáng tác khoảng năm 1787 đến năm 1793 Một số bài đầu tập thơ viết dưới thời Lê Chiêu Thống, phần lớn là những bài viết dưới triều Tây Sơn (trên đường đi sứ trở về từ Yên Kinh đến Phú Xuân).

Tập Cúc hoa thi trận do Lâm Giang, Nguyễn Thị Phượng, Nguyễn

Huy Thức và Nguyễn Công Việt sưu tầm, dịch thuật gồm 50 bài thơ Ngô Thì Nhậm họa thơ Phan Huy Ích vào mùa thu năm 1796

Tập Thu cận dương ngôn do Lâm Giang, Nguyễn Thị Phượng và

Nguyễn Huy Thức sưu tầm, dịch thuật gồm 109 bài thơ Ngô Thì Nhậm sáng tác nhân dịp vào Phú Xuân, khoảng từ mùa thu năm 1796 đến 1799

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sự nghiệp thơ văn của Ngô Thì Nhậm để lại rất đồ sộ, riêng thơ có

tới trên 600 bài, trong đó gần một nửa ông viết dưới thời Tây Sơn Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phổ biến: thống kê, phân loại, tổng hợp, phân tích

- Để làm nổi bật được những giá trị tư tưởng tình cảm nổi bật trong thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn, chúng tôi chú trọng sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luận văn

- Bằng sự nghiên cứu có hệ thống, luận văn khẳng định Thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn là những tác phẩm tâm huyết nhất, có ý nghĩa nhất trong cuộc đời sáng tác của tác giả

- Luận văn chỉ ra những nét đặc sắc, độc đáo của nhà thơ trong việc thể hiện những tư tưởng, tình cảm đối với quê hương, đất nước, với Quang Trung và những nhận thức tiến bộ của Ngô Thì Nhậm về thời cuộc

- Luận văn khẳng định giá trị nghệ thuật của thơ Ngô Thì Nhậm thể hiện qua cách lựa chọn thể thơ, cách sử dụng chất liệu, bút pháp …

Trang 9

7 Bố cục của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Nhân vật trữ tình

Chương 2: Những chủ đề chính

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật

Trang 10

Chương 1- NHÂN VẬT TRỮ TÌNH

1.1 Giới thuyết về nhân vật trữ tình

1.1.1 Khái niệm nhân vật trữ tình

Có nhiều định nghĩa về nhân vật trữ tình Khái niệm này ra đời năm

1921, do học giả người Nga Ju.N.Tyniana nêu ra khi nghiên cứu các sáng tác của A.A.Blok, về sau thuật ngữ này được sử dụng nhiều trong nghiên cứu văn học Và cho đến nay, vấn đề nhân vật trữ tình vẫn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Nhân vật trữ tình là hình

tượng chủ thể tác giả trong loại trữ tình mà thơ là thể loại biểu hiện tập trung nhất của loại trữ tình Nhân vật trữ tình trong thơ thực ra là hình tượng nhà thơ và nhân vật trữ tình là con người “đồng dạng “ của tác giả… nhưng không nên đồng nhất đơn giản nhân vật trữ tình với tác giả, bởi vì trong thơ trữ tình, nhà thơ xuất hiện như “ người đại diện cho xã hội và cho nhân loại“, nhà thơ tự nâng mình lên một tầm khác với cái tôi đời thường

cá biệt” [18, 201].

Lại Nguyên Ân cũng tương đối thống nhất với ý kiến trên ở chỗ xem

“nhân vật trữ tình là kẻ song sinh “đồng dạng” với tác giả” Theo ông

“quan hệ nhân thân xã hội của nhà thơ một cá nhân có tiểu sử xác định với nhân vật trữ tình của anh ta cũng giống như quan hệ giữa nguyên mẫu trong đời thực với điển hình nghệ thuật” [1, 244]

Giáo trình Lý luận văn học đưa ra một cách hiểu cụ thể hơn về nhân

vật trữ tình Theo các tác giả: “ nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người Đó chính là nhân vật trữ tình” [30, 359]

Trang 11

Từ những định nghĩa trên, chúng tôi đã có cơ sở quan trọng để xác định nội hàm khái niệm nhân vật trữ tình

Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện những quan niệm, tư tưởng, tình cảm của nhà văn đối với con người và cuộc sống Tuy nhiên, mỗi loại tác phẩm có những phương thức, phương tiện biểu hiện khác nhau Ở tác phẩm tự sự, do nhu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong tính khách quan của nó, nên quan niệm của nhà văn được thể hiện gián tiếp thông qua thế giới hình tượng được xây dựng trong tác phẩm Ở kịch, bằng những đối thoại và độc thoại, tác giả thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn, xung đột Còn tác phẩm trữ tình, nhất là thơ trữ tình trực tiếp đi vào khám phá thế giới chủ quan của con người, trực tiếp thể hiện những tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ của chủ thể trữ tình Trong thơ trữ tình, hiện thực khách quan được tái hiện thông qua lăng kính cảm xúc chủ quan của nhà thơ Biêlinxki khái quát: “Thơ ca trữ tình chủ yếu là thơ ca chủ quan, bên trong, nội tại Đó là sự biểu hiện của chính bản thân nhà thơ” Và chính thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp, làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm trữ tình

Trong tác phẩm trữ tình, tác giả có thể vẽ lên những bức tranh thiên nhiên, dựng lên những sự vật, sự việc trong đời sống và cả hình tượng con người với những đường nét tạo hình độc đáo Tất cả những điều đó đều nằm trong ý đồ sáng tác của tác giả nhằm phục tùng nhiệm vụ trữ tình Nói cách khác, những bức tranh thiên nhiên, những sự vật, hiện tượng và cả những đường nét tạo hình về con người ấy chỉ đóng vai trò nguyên cớ để

thổi bùng lên cảm xúc của tác giả Độc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du là

một ví dụ Đó là câu chuyện về nàng Tiểu Thanh với một cuộc đời nhiều uẩn khúc Nàng là người tài sắc, có chồng nhưng hẩm hiu thay chỉ là vợ lẽ Tài sắc của nàng bị vợ cả ghen tuông đày đọa cho hả giận Nàng bị bắt phải

Trang 12

sống một mình trên núi Cô Sơn cạnh Tây Hồ, chẳng bao lâu đau buồn mà chết, bấy giờ nàng mới mười tám tuổi Khi nàng chết, người vợ cả chưa tắt lửa hờn ghen nên tìm lục đốt hết thơ của nàng Đó là nguyên cớ để Nguyễn

Du thể hiện tấm lòng nhân hậu, sự cảm thông sâu sắc, tình thương bao la đối với những kiếp người tài hoa bạc mệnh Từ cuộc đời Tiểu Thanh, Nguyễn Du tự vận vào mình cái án phong lưu để mà tự đau, tự thương cho mình bơ vơ, không tri âm, tri kỷ

Trong tác phẩm trữ tình, nhân vật trữ tình là một yếu tố không thể thiếu giúp tác giả tái hiện đời sống, hay nói cách khác, tác giả xây dựng nhân vật trữ tình để chuyển tải nội dung tác phẩm, chuyển tải nỗi lòng của

mình đến với người đọc “Đó là hình tượng con người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm” [30, 359] Nhân vật trữ tình được

thể hiện dưới nhiều dạng thức: anh, em, tôi, ta Có trường hợp nhân vật trữ tình không xưng danh mà chỉ tự thể hiện mình qua tâm trạng, xúc cảm Người đọc tiếp xúc trực tiếp với nhân vật trữ tình nhưng rất khó hình dung những đường nét tạo hình cụ thể của nó, bởi nhân vật trữ tình không hiện ra qua hình dáng, diện mạo, mà chủ yếu hiện lên qua những rung động nội tâm, qua sự suy ngẫm của tác giả về bản thân và đời sống

Nhân vật trữ tình không được tác giả vẽ lên bằng những đường nét tạo hình, không được phác họa một diện mạo cụ thể, nhưng qua cái nhìn, qua tâm sự của nhân vật, người đọc hình dung được chân dung của nhân vật trữ tình, điều này đã tạo ra được sự liên kết toàn bộ các yếu tố đã chi phối mạch cảm xúc trong tác phẩm

Cũng có khi, nhân vật trữ tình hoá thân vào chính đối tượng miêu tả - một con người cụ thể, “đồng dạng” với tác giả nhưng không phải là tác giả

- để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc, tạo thành nhân vật trữ tình nhập vai Trong

Êmili, con của Tố Hữu, nhân vật trữ tình nhập vai người cha (No-man

Mo-ri-xơn) để bộc lộ tình yêu con tha thiết và châm lửa tự thiêu để phản đối

Trang 13

cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam Trong Chiếc áo xanh (Tố

Hữu), nhân vật trữ tình nhập vai anh chiến sĩ để bộc lộ tình yêu quê hương, tình yêu miền Nam, tình yêu màu xanh chiến thắng với quyết tâm chiến

đấu đến cùng để bảo vệ màu xanh yêu thương Trong Cháu bé trong nhà

lao Tân Dương (Hồ Chí Minh), nhân vật trữ tình nhập vai vào cháu bé nửa

tuổi để nói lên nỗi bất bình đối với chế độ thực dân Tưởng Giới Thạch

Nhân vật trữ tình là một kiểu nhân vật đặc biệt giúp tác giả thể hiện quan niệm, tư tưởng, tình cảm riêng của mình về con người và thế giới Chân dung của nhân vật trữ tình trong tác phẩm chủ yếu được mô tả qua cảm xúc, tâm trạng, qua sự suy ngẫm, qua những chiêm nghiệm của nhà thơ về bản thân và đời sống Vì thế, người đọc chỉ có thể hình dung ra nhân vật trữ tình thông qua cách nhìn nhận đời sống, qua giọng điệu, qua tâm trạng được bộc lộ trong tác phẩm Cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình tạo nên nội dung của tác phẩm trữ tình, bởi vậy phân tích tác phẩm trữ tình chính là phân tích cảm xúc, tâm trạng của con người bộc lộ trong đó

Nhân vật trữ tình được hình thành từ kết cấu văn bản trữ tình (bài thơ, chùm thơ, tập thơ) như một gương mặt có tính xác định của số phận cá nhân, có những dáng vẻ tâm lý riêng, những đặc điểm nội tâm riêng, đôi khi có cả những đường nét tạo hình cụ thể Những tâm trạng, cảm xúc trong tác phẩm trữ tình được bộc lộ một cách trực tiếp kiểu “tự bạch”, “tự thuật” Và những rung động, tình cảm này được nảy sinh trong những hoàn cảnh có tính cá biệt, gắn liền với những đặc điểm đời sống cá thể Trong các tác phẩm trữ tình, nhân vật trữ tình thường hiện lên dưới hai dạng thức: một là dạng tự thuật tâm trạng, hai là con người tác giả nhập vai đối tượng miêu tả để bày tỏ tâm trạng Sự bày tỏ suy ngẫm và cảm xúc một cách trực tiếp, chân thực, có độ tin cậy cao, khiến người đọc luôn tin rằng nhân vật trữ tình như một con người có thực

Trang 14

Khái niệm nhân vật trữ tình có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm

“hình tượng cái tôi” và “hình tượng tác giả” trong thơ Vì lẽ đó, không ít người nhầm lẫn, đánh đồng các khái niệm này mặc dù giữa chúng có những điểm rất khác biệt Để hiểu rõ hơn về nhân vật trữ tình, cần xem xét khái niệm này trong sự đối sánh với hai khái niệm vừa nêu

1.1.2 Hình tượng cái tôi

Cái tôi nhân cách (hay còn gọi là cái tôi của nhà thơ ) là cá tính, tính cách riêng biệt, là sự tự ý thức về bản thân Cái tôi nhân cách là yếu tố chi phối mọi hoạt động, lời nói, tư tưởng, tình cảm, thái độ của con người Khi

đi vào nghệ thuật, cái tôi nhân cách là nền tảng, là cốt lõi để tạo nên những cái riêng biệt, cái độc đáo của tác giả này so với tác giả khác Trong thơ, khi nhà thơ tạo nên được một thế giới nghệ thuật riêng, một cái nhìn riêng

về cuộc đời, gắn với một hệ thống phương thức, phương tiện biểu hiện độc đáo, lúc đó, hình tượng cái tôi trong thơ mới xuất hiện Nói cách khác, đó

là cái tôi nhân cách đã được nghệ thuật hoá và chúng ta gọi đấy là hình tượng cái tôi nghệ thuật (hay cái tôi sáng tạo) Thể hiện thành công hình tượng cái tôi nghệ thuật tức là nhà thơ đã tự khẳng định được tài năng và bản lĩnh sáng tạo của mình

Hình tượng cái tôi trong tác phẩm nghệ thuật nhằm chỉ hình tượng chủ thể trữ tình đang trực tiếp bộc lộ Đó là nhân vật giữ vị trí trung tâm trong tác phẩm thơ, mang vẻ độc đáo, riêng biệt, không lặp lại Qua cách cảm thụ đời sống, qua cái nhìn và giọng điệu, người đọc có thể hình dung

ra được hình tượng cái tôi

Xét trong mối quan hệ với nhân vật trữ tình, hình tượng cái tôi nghệ thuật nghiêng về diện mạo chung, nổi bật, độc đáo trong sáng tác, tạo nên

cá tính sáng tạo của tác giả, là biểu hiện rực rỡ của các phạm trù cái chủ quan, cái cá biệt, cái đặc thù, cái không lặp lại trong tài năng của nghệ sỹ Còn nhân vật trữ tình là hình tượng con người cụ thể đang trực tiếp bày tỏ

Trang 15

tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình trước hiện thực cuộc sống Không phải bất kì tác phẩm nào cũng có cái tôi, không phải bất kì nhà thơ nào cũng khẳng định được cá tính sáng tạo, bởi muốn khẳng định được cái tôi, khẳng định được cá tính sáng tạo thì nhà thơ phải có được cái nhìn nghệ thuật độc đáo, phải có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật mới mẻ, tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật mới trong việc biểu hiện những nội dung mới của đời sống và tư tưởng Song hình tượng nhân vật trữ tình thì ở bất kì sáng tác của nhà thơ nào, trong bất kì tác phẩm nào cũng có, bởi thơ ca là sự bộc lộ, sự tự ý thức của nhà thơ, và những tâm tư, tình cảm ấy khi đi vào trong thơ phải được gửi gắm qua nhân vật trữ tình - con người đang trực tiếp giãi bày tâm trạng.

Như vậy, nhân vật trữ tình là bộ phận nhỏ của hình tượng cái tôi nghệ thuật Nhờ nhân vật trữ tình, cái tôi được biểu hiện sinh động, sáng rõ,

cụ thể hơn Thông qua cảm xúc của nhân vật trữ tình được lặp đi lặp lại một cách bền vững và độc đáo mà tạo nên hình tượng cái tôi nghệ thuật Nói cách khác, nhân vật trữ tình chính là sự khách quan hoá hình tượng cái tôi trong thơ ca Do đó, khi đi vào nghiên cứu hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ thực chất là đi vào nghiên cứu hình tượng cái tôi nghệ thuật ở cấp

độ nhỏ lẻ, cụ thể

Tóm lại, hình tượng cái tôi nghệ thuật là hình tượng trung tâm trong tác phẩm thơ Nó chỉ những nét riêng biệt, sự độc đáo trong cá tính sáng tạo của nhà thơ Nghiên cứu nhân vật trữ tình chính là nghiên cứu hình tượng cái tôi nghệ thuật trong những kết cấu văn bản cụ thể, gắn liền với những hệ thống hình ảnh, hình tượng sinh động

1.1.3 Hình tượng tác giả

Trong bốn thành tố tạo nên chu kì một quá trình sáng tác và thưởng thức văn học (thời đại, nhà văn, tác phẩm, bạn đọc), thì nhà văn là thành tố

Trang 16

đóng vai trò quan trọng nhất Tác phẩm văn học bao giờ cũng là sản phẩm sáng tạo gắn liền với tài năng, vốn sống của nghệ sỹ.

Văn học phản ánh cuộc sống Cuộc sống bao giờ cũng đa dạng, muôn màu muôn vẻ cho nên các nhà văn phải luôn tìm cho mình một cách cảm, cách đánh giá riêng về cuộc sống Trước một hiện tượng nào đó trong đời sống, mỗi tác giả lại có một cách nhìn nhận, cách cảm thụ, cách đánh giá khác nhau Do đó, sáng tác văn chương không đơn thuần là một hoạt động phản ánh mà còn là một hoạt động sáng tạo - một sự sáng tạo mang tính cá nhân, để cuối cùng tác phẩm ra đời như là một hiện tượng thẩm mĩ mới Chính vì vậy, hơn nhiều lĩnh vực hoạt động khác, sáng tác văn học bộc lộ đặc biệt mạnh mẽ và phong phú vai trò của nhân tố chủ quan của người sáng tác, mà thơ là biểu hiện rõ nhất Những vui, buồn, niềm hân hoan, hạnh phúc, sự thất vọng, đắng cay của nhân vật trữ tình trong thơ đều được bắt nguồn từ tâm trạng, khát vọng, suy tư của tác giả ở ngoài đời

Tiếng nói trong tác phẩm chính là tiếng lòng của tác giả: Thơ anh cũng

giống lòng anh vậy, Là nghĩa thơm tho như ánh trăng, Mềm mại như lời tơ liễu rủ, Âm thầm trong áng gió băn khoăn (Hàn Mặc Tử ).

Với tư cách là người sáng tạo ra tác phẩm văn học, tác giả luôn để lại dấu ấn nhân cách trong thế giới nghệ thuật của mình “Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với bóng Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động và tâm trạng trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ” [15, 62] Trong thơ, hình tượng tác giả có mối quan hệ khăng khít với hình tượng nhân vật trữ tình Bởi thế, tiếng nói của nhân vật trữ tình trong thơ thường thống nhất với tư tưởng, tình cảm của tác giả ngoài đời Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ với tiếng cười nhạo báng đầy chua xót

trong thơ Tú Xương bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống của một nhà nho tài

cao, phận thấp, chí khí uất (Tản Đà) trong thời buổi kim tiền nhố nhăng

Trang 17

Những vần thơ đầy nhiệt huyết cách mạng của Tố Hữu gắn bó với cuộc đời của một người chiến sĩ cách mạng giàu lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc Như vậy, trong nhiều sáng tác trữ tình, hình tượng tác giả trùng khít với hình tượng nhân vật trữ tình.

Tuy nhiên, không thể đồng nhất đơn giản con người nhà thơ ngoài đời với nhân vật trữ tình trong thơ “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu

có thật” [1, 242] Tác giả dù đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tác thơ, thì nó vẫn là yếu tố nằm ngoài hệ thống các mối liên hệ nghệ thuật Còn con người trữ tình trong thơ là một hình tượng nghệ thuật, nó đã được khái quát hoá theo quy luật của nghệ thuật nên đã khác đi rất nhiều so với con người tác giả ở ngoài đời

Trong quá trình sáng tác, tác giả luôn để lại dấu ấn của mình trong tác phẩm Song, dù đóng vai trò rất quan trọng nhưng tác giả vẫn là yếu tố nằm ngoài hệ thống các mối liên hệ nghệ thuật Hình tượng tác giả có mối quan hệ biện chứng với hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Tuy vậy, giữa chúng vẫn tồn tại một khoảng cách giữa thực tế và sự hư cấu

1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ Ngô Thì Nhậm thời Tây Sơn 1.2.1 Tác giả trực tiếp bộc lộ tư tưởng, cảm xúc

“Tự thuật” là tự kể lại một câu chuyện nào đấy về bản thân “Tự thuật tâm trạng” là một cách thức kể chuyện đặc biệt: kể chuyện tâm trạng Khi nhân vật trữ tình trong thơ là hiện thân của tác giả chính là khi tác giả đang “tự thuật tâm trạng” Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tự thuật tâm trạng mang tính nội dung, thể hiện đời sống nội tâm của tác giả Nếu hiểu theo nghĩa rộng, tự thuật tâm trạng còn là một phương thức, một cách thức trữ tình của nhà thơ

Trang 18

Phương thức tự thuật tâm trạng được sử dụng rất phổ biến trong thơ, thông qua đó, nhà thơ bộc lộ tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình đối với hiện thực khách quan “Nhân vật trữ tình trong thơ là một hình tượng khái quát Khi sáng tác trữ tình, tác giả tự nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ cho một loại người, thế hệ người”[30, 360] Vì thế, rất dễ hiểu khi ở trong thơ, người đọc luôn bắt gặp hình tượng tác giả

thường tự xưng là ta, tôi, anh, em, chúng ta, chúng tôi , và nhân vật trữ

tình lúc này vừa là một cái tôi, đồng thời cũng là một cái ta đại diện cho cộng đồng, cho nhân dân, cho dân tộc

Đọc thơ Ngô Thì Nhậm, chúng ta bắt gặp ở đây một con người sâu sắc, giàu tình cảm, một thế giới tâm hồn phong phú, nhạy bén, một tấm lòng nhiều xao động yêu thương và luôn luôn hướng vào cuộc đời, con người Trong thơ ông, nhân vật trữ tình tự thật tâm trạng tự xưng “ta” là

chủ yếu (24 bài), nhiều lúc xưng “thần” (8 bài), có lúc xưng “thi ông” (1

bài), và phần lớn nhân vật trữ tình không xưng hô, nhưng vẫn đầy ắp tâm trạng Chẳng hạn, đó là nỗi ngẩn ngơ nhớ tiếc cảnh hoà nhạc giữa triều đình vua sáng tôi hiền ngày nào (vua Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn ) khi ông đứng trên núi Thần Phù ngắm biển:

Si tưởng lâu thuyền minh cổ suý,

Tao Đàn hà nhật kiến canh ca.

(Thần Phù sơn vọng hải )

(Ngẩn ngơ nhớ buổi thuyền lầu vang lừng kèn trống,

Biết ngày nào lại thấy vần thơ xướng họa trên hội Tao Đàn)

(Đứng trên núi Thần Phù ngắm biển)

Có khi là nỗi buồn tha hương khi ông nghỉ lại ở Dinh Cầu:

Liễu dương cảnh huống tha hương địa,

Phần tử tình hoài cố quốc thiên.

(Ngụ Dinh Cầu muộn thuật)

Trang 19

(Ở nơi tha hương, vốn là cảnh liễu dương,

Trời cố quốc, là nỗi lòng phần tử )

(Thuật lại nỗi buồn khi nghỉ lại ở Dinh Cầu)

Có nhiều lúc, nhân vật trữ tình trải lòng mình cùng thiên nhiên đất trời, ngắm nhìn mây, nước, gió, hoa, trăng mà cảm thấy dường như cõi tiên rơi xuống cõi trần:

- Tá vấn tiên cung hà xứ thị,

Bồng hồ lãng uyển thử giang san.

(Đăng trình hữu cảm)

(Xin hỏi cung tiên ở đâu nhỉ?

Non sông này chính là cõi tiên)

(Cảm nghĩ lúc lên đường)

- Mạc vị Thiên Thai vô xứ mịch,

Yên Đài đáo xứ thị thần tiên.

(Bắc thành du hứng)

(Chớ bảo Thiên Thai không tìm đâu được,

Khắp chốn Yên Đài đều là cảnh thần tiên)

(Cảm hứng khi đi chơi ở Bắc thành)

Và cũng có khi con người học rộng tài cao ấy lại vô cùng khiêm tốn, luôn tự cười mình, cho rằng mình chỉ lo vui chơi, thấy mình cần phải học hỏi nhiều:

Tự hiếu đồ hi tuỳ

Quan ư cổ chi nhân

Khiểm nhiên nãi tự tri.

(Duyệt thi)

Trang 20

(Tự cười mình cứ vui chơi hoài

Xem thấy ở người xưa

Mới tự biết mình còn thiếu nhiều điều)

(Xem thơ)

Nhiều bài thơ, nhân vật trữ tình tự xưng “ngã” (ta) Đó là cái ta của

một con người có ý thức về tài năng, bản lĩnh, nhân cách, là cái ta của một tấm lòng luôn nghĩ về nhân dân, nghĩ về đất nước:

Thế đại phế, hưng thiên cổ sự,

Phong cương phân, hợp nhất chu kinh.

Khấu quan để bích phi ngô ý,

Hảo tiếu suy di trục lãng bình.

(Lãng ngâm)

(Thời thế phế, hưng là chuyện muôn thưở,

Cõi bờ chia hợp vừa tròn mười hai năm

Gõ cửa ải, ném ngọc bích không phải là ý nguyện của ta,

Nực cười thay, [ta như ] cánh bèo trôi nổi theo sóng)

(Ngâm tràn)Đây là tâm trạng của một con người đang suy ngẫm về chuyện đời, đang mang trong mình nỗi buồn về lẽ phế, hưng, chia, hợp, nỗi buồn cho thân phận bấp bênh, trôi nổi, phiêu dạt như cánh bèo

Có lúc nhân vật trữ tình cảm thấy cô đơn không xác định được phương hướng Nhà thơ suy ngẫm về lời của Mạnh Tử: “Người có đức sáng mưu khôn thường lộ ra lúc gặp nạn”[61, 160], và suy ngẫm về cuộc đời mình, thấy rằng mình đã từng lăn lội sóng gió, nếm đủ gian nguy, luôn gặp tai họa vì danh lợi hão, nhưng đức sáng mưu khôn mờ mịt vẫn hoàn

mờ mịt Con người ấy mong gặp tri âm để trở thành “gương tốt”, “vàng ròng”:

Trang 21

Thức ngã ý trung tu ngã hữu,

Huyền huyền vô thể hựu vô phương.

(Cảm hứng họa Thị Ngự công chi tác).

(Chỉ có bạn mới hiểu được ý ta

Nơi sâu kín không hình dáng, cũng không phương hướng)

(Cảm hứng họa bài thơ của ông Thị Ngự, bài 10)Cõi lòng con người ấy luôn sáng như vầng trăng, luôn giữ mình trong sạch, cứng cỏi để chống đỡ bão táp cuộc đời, giống như cây giữ lá để chống chọi với giá lạnh mùa đông Con người ấy không quản ngại gian khổ, bất chấp mọi khó khăn hiểm nguy, mong tìm được “con đường lớn”

để xác định đúng lý tưởng, để đem tài năng của mình phò vua, giúp dân, giúp nước:

Chu hành thị ngã thứ tri phương.

(Cảm hứng họa Thị Ngự công chi tác, bài 3)

(Bảo cho ta con đường lớn, để biết hướng mà đi)

(Cảm hứng họa bài thơ của ông Thị Ngự, bài 3)

Đó còn là một con người đầy ý thức, đầy trách nhiệm trước cuộc đời, một con người luôn lo toan, một con người của phận sự Vì thế, trong thơ Ngô Thì Nhậm, ta gặp không ít những bài tác giả tự xưng là “thần”, có khi

là “lão thần”, khi là “văn thần”, có lúc là “ngu thần”, “nhạn thần”, “trung

thần” Trong giờ trực ở Trai cung (cung điện để vua trai giới khi có tế lễ lớn ), nhân vật trữ tình đã tỏ rõ mình là một “thần trung”, luôn lo nghĩ cho vua, cho triều đình Nỗi niềm ấy chỉ có ánh trăng đêm thu ở điện Thiên An mới biết Không chỉ trực giờ ở Trai cung, hàng ngày, con người phận sự ấy đến trực giờ, chầu vua từ lúc sao thưa để cùng vua bàn việc triều chính Sự nhiệt tình đó cũng là một cách để báo đáp ơn vua:

Thánh Chủ lâm hiên phương nhật xuất,

Lão thần đãi lậu chính tinh hi.

(Khâm ban nhật thị Thanh Di điện cung ký).

Trang 22

(Hoàng thượng ra ngự, đúng khi mặt trời vừa mới mọc,

Bầy tôi đến trực giờ từ lúc sao thưa)

(Vâng mệnh vua ban cho vào hầu ban ngày ở

điện Thanh Di, kính ghi)

Đối với Ngô Thì Nhậm, nhà vua (Quang Trung) chính là Thái Dương, là vầng mặt trời luôn toả sáng Được theo hầu xe vua, kẻ văn thần như Ngô Thì Nhậm học tập được rất nhiều điều Nhìn nét chữ của vua, Ngô Thì Nhậm thấy mình cần phải gọt rũa thêm văn phong cho sắc sảo Được vua tin dùng, cho làm kẻ bầy tôi tâm phúc, được gần gũi để giúp đỡ vua, ông càng thêm hâm mộ vị minh chúa Con người ấy vui nhất là được thấm

ơn sâu nặng, được hưởng mưa nhuần của vua:

Tối thị từ thần chiêm ốc trọng,

Quy lai phong vịnh bút sinh hương.

( Tòng giá hạnh Thái Học thích thái)

( Vui nhất là kẻ văn thần thấm ơn sâu nặng

Lúc trở về vịnh phong cảnh, ngòi bút toả hương )

(Theo xe vua tới nhà học làm lễ Tiên sư)

Đặc biệt, có bài thơ, nhân vật trữ tình xưng là “thi ông”- một ông già

ốm yếu nhưng hồn thơ vẫn rất cường tráng:

Đa hỷ thi ông cường bất tức.

(Khánh vãn)

( Rất mừng cho thi ông này vẫn còn cường tráng )

(Than cho nỗi mừng)Mặc dù ốm yếu, không đi đâu xa được, chỉ nằm ở nhà làm thơ, giống như hai nàng Kiều bị khóa trong đài Đồng Tước, và có lúc chểnh mảng với văn chương như Chức Nữ đầu thu chểnh mảng trong việc dệt gấm thêu hoa Thế nhưng trong con người ấy, hồn thơ vẫn phong phú vô cùng, vẫn

đủ sức theo đuổi trận thơ cùng bạn bè trong mùa hoa cúc

Trang 23

Qua việc nhân vật trữ tình tự thuật tâm trạng, chúng ta thấy được tất

cả nỗi lòng của nhà thơ Thế nhưng, nỗi lòng ấy không chỉ được thể hiện qua việc tự thuật tâm trạng, nỗi lòng ấy chúng ta còn được thấy qua việc nhân vật trữ tình nhập vai vào đối tượng miêu tả

1.2.2 Nhân vật trữ tình nhập vai

Nhân vật trữ tình nhập vai là kiểu nhân vật do nhà thơ hoá thân

thành một nhân vật khác mà thành Tất nhiên, yếu tố nhập vai và yếu tố tự thuật tâm trạng trong tác phẩm trữ tình có mối liên hệ mật thiết Trong thơ Ngô Thì Nhậm, kiểu nhân vật trữ tình nhập vai khá nhiều, hầu hết là những bài viết về nỗi lòng của người thiếu phụ chốn khuê phòng Đó là những bài Ngô Thì Nhậm cảm hoài cho nàng công chúa Hồ Dương, có bài nhân vật trữ tình là nàng Giáng Hương, có bài là lời của nàng công chúa Huyền Trân, có bài là tâm sự của người thiếu phụ có chồng đi xa Dù tác giả nhập vai vào đối tượng nào thì chúng ta cũng thấy được một tâm hồn đồng điệu, một trái tim nhân đạo sẻ chia, một tấm lòng yêu thương đồng cảm Và cho

dù tác giả nhập vai vào đối tượng nào thì đó cũng là cách tác giả kí thác tâm sự của mình mà thôi

Hình tượng người phụ nữ trong chốn khuê phòng khá phổ biến trong

thơ Đó là người thiếu phụ có chồng đi chinh chiến trong Chinh phụ ngâm

của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, đó là cuộc sống chờ đợi mỏi mòn

đến oán hận của người cung nữ trong Cung oán ngâm của Nguyễn Gia

Thiều Trong thơ Ngô Thì Nhậm, nhân vật trữ tình đã nhập vai vào nàng

Hồ Dương, Huyền Trân, Giáng Hương để tìm sự đồng cảm

Hồ Dương công chúa là chị gái vua Hán Quang Vũ, goá chồng sớm Trong chùm thơ viết về nàng Hồ Dương, Ngô Thì Nhậm đã tỏ ra là một cây bút sắc sảo, tinh tế trong sự cảm nhận, diễn tả nỗi lòng, tình cảm, trạng thái cảm xúc của nàng Hồ Dương Đó là hình tượng người thiếu phụ với nỗi oán hận chiến tranh, với nỗi cô đơn tiếc nuối cảnh gia đình hạnh phúc ngày xưa, muốn chạy trốn khỏi thực tại Qua những bài thơ này, hình tượng

Trang 24

nàng Hồ Dương hiện lên là một con người có tâm hồn tinh tế, đa sầu, đa cảm Nàng buồn khi nghe tiếng chim quyên, tủi khi nghe tiếng ve, sầu khi nghe tiếng đàn, xúc động khi nghe tiếng chuông lúc nửa đêm, xao lòng khi nghe tiếng nước mùa thu chảy Tất cả đều là tiếng lòng, là những giọt lệ song thu của người thiếu phụ goá chồng Đọc những bài thơ về Hồ Dương,

ta gặp hồn thơ Ngô Thì Nhậm với biết bao thương cảm Qua tiếng lòng của

Hồ Dương, nhân vật trữ tình còn muốn gửi gắm những tâm sự của mình:

Mao thuỷ tầm thường nan báo lý,

Ngưỡng công thiển vịnh cánh thâm phương.

(Hí đại Hồ Dương)

(Rau khe tầm thường, khó đền ơn được mận

Mong ông chỗ nông thì lội, chỗ sâu thì đi bè)

(Đùa thay nàng Hồ Dương)

Trong bài thơ này, nhà thơ đã mượn ý trong thơ Vệ phong (Kinh

Thi): “Đầu ngã dĩ mộc lí, báo chi quỳnh cửu” (Cho ta quả mận, ta báo lại

bằng ngọc quỳnh, ngọc cửu) Thơ Bội phong, thiên Đại Nhã cũng có câu:

“Đầu ngã dĩ đào, báo chi dĩ lí” (Cho ta quả đào, ta báo lại bằng quả mận)

Đó là những câu thơ thể hiện cảnh trai gái trao duyên Ở đây, nhà thơ đã mượn ý để ám chỉ việc trao duyên giữa Hồ Dương và Tống Hoằng là

không xứng Ông cũng mượn ý trong thơ Cốc phong (Kinh Thi): “Tới chỗ

sông sâu thì đi bè, đi thuyền, tới chỗ sông nông thì ta lội, ta bơi”, qua câu chuyện của nàng Hồ Dương, nhà thơ muốn gửi lời nhắc bạn (Phan Huy Ích) phải khéo léo tuỳ thời để hành xử cho phù hợp

Có lúc nhân vật trữ tình thương xót khi nghĩ về chuyện cũ của công chúa Huyền Trân Cuộc đời của Huyền Trân là chuỗi bi kịch Nàng phải làm dâu nước Chàm, khi vua Chiêm Thành mất, nàng cũng bị hoả thiêu theo tục lệ Vua Trần sai quan Chế sứ Trần Khắc Chung đến cứu Huyền Trân, hai người buộc thuyền dưới núi Quy Sơn hơn một năm mới về Cuộc tình của nàng công chúa tài sắc với quan Chế sứ Khắc Chung bị người đời

Trang 25

lên án Nhưng với Ngô Thì Nhậm, ta thấy ở đây có sự cảm thông sâu sắc khi ông hoá thân thành công chúa Huyền Trân:

Chiêm cung trướng lý hiệp thừa long,

Kỷ phận nùng hoa xuất giá tòng.

Kính phá Lạc Xương lưu tháp ảnh,

Hoa phù Tấm Thuỷ mộc xuân dung.

(Huyền Trân di thoại)

(Trong màn ở cung chúa Chàm đã thoả nguyện ước cưỡi rồng,

Phận mình như bông hoa tươi, lấy chồng thì phải theo chồng

Gương Lạc Xương vỡ, còn lưu lại bóng tháp,

Hoa Tấm Thuỷ trôi, vẫn tràn trề vẻ xuân)

(Chuyện cũ nàng công chúa Huyền Trân)Thoả nguyện ước cưỡi rồng hay một mình làm dâu xứ người? Xa Tổ quốc, khác phong tục, lại còn phải chấp nhận tục lệ hà khắc của nước Chàm trong lúc vẻ xuân đang tràn trề Dường như nhân vật trữ tình cũng vừa trải qua một cuộc vượt biển đầy sóng gió:

Vương Cơ thân phản Thiên Trường phủ,

Chế sứ thần lao hải đạo xung.

(Huyền Trân di thoại)

(Nàng Vương Cơ đem thân về được phủ Thiên Trường,

Quan Chế sứ phải vất vả nơi hiểm nghèo đường biển)

(Chuyện cũ nàng công chúa Huyền Trân)Với cô gái Quỳnh Lâm, người đọc không còn phân biệt được đâu là tâm sự của “thiếp”, đâu là tâm sự của nhân vật trữ tình, dường như nhân vật trữ tình và “thiếp” đã hoà làm một:

- Tự tòng xa mã xuất môn triêu,

Ám điểm mai hiên thực mãn điều.

(Hý nghĩ Quỳnh Lâm nữ ký viễn)

Trang 26

(Từ buổi sáng, chàng đã xe ngựa ra đi,

Thiếp thầm đếm cây mai bên hiên, quả trĩu cành)

(Đùa làm thay cô gái ở Quỳnh Lâm gửi người đi xa)

- Hành vân bạn thiếp khuynh Tam Điệp,

Khứ mộng tuỳ quân thính Cửu Chiêu.

(Hý nghĩ Quỳnh Lâm nữ ký viễn)

(Mây bay làm bạn thiếp nhòm xuống dãy Tam Điệp

Mộng cũ theo chàng, nghe khúc nhạc Cửu Chiêu)

(Đùa làm thay cô gái ở Quỳnh Lâm gửi người đi xa)

Đó là nỗi lòng của cô gái Quỳnh Lâm gửi người đi xa: chàng đi, hồn thiếp theo mây bay ngó theo chàng trên đường qua núi Tam Điệp Chàng

đi, thiếp ở nhà đếm quả mai trĩu cành bên hiên, thuỷ chung mong chờ ngày chàng thi đậu bái tổ vinh quy Và có một điều thiếp luôn canh cánh bên lòng: đó là nỗi lo sợ chàng hái hoa thược dược để tặng người đẹp chốn kinh

đô Điều này phải chăng cũng chính là tiếng nói của nhân vật trữ tình khi nhận ra lòng người dễ dàng đổi thay trong thói đời đen bạc

Ngoài ra nhân vật trữ tình còn nhập vai vào đối tượng miêu tả trong khá nhiều bài viết về thiên nhiên nằm trong mối tương quan với tâm trạng của tác giả Có lúc nhân vật trữ tình tìm đến một thế giới riêng, xa lánh cuộc đời gió bụi, nơi đó là nước Hoa Tư trong giấc mộng của vị Hoàng Đế ngủ ngày: không có người đứng đầu, người dân không ham muốn gì hết, họ sống thuần phác hồn nhiên Nơi đó là ngoài cõi bụi hồng tha hồ thoả hứng non hồ, chỉ có đá xanh liền bãi cát trắng, nước trong gió nhẹ, cây cỏ lưng đồi, nghe tiếng chim hót như tiếng đàn, có ánh ráng chiều thay cho ánh đèn Nơi đó là cõi tiên không liên can gì đến việc thịnh suy của cuộc đời Nơi đó, nhân vật trữ tình thoả chí tiêu dao, chẳng để tâm đến vòng danh lợi

- Hồ sơn hứng bão sơ văn hạc,

Vân quán miên tàn vãn sách lư.

(Tức cảnh)

Trang 27

(Thoả hứng non hồ vừa nghe tiếng hạc,

Tỉnh giấc ở quán mây, chiều quất lưng lừa)

(Tức cảnh, bài 1)

- Bĩ thái bất quan trần hải cục,

Bạch vân thâm xứ vũ tiên gia.

(Tức cảnh)

(Việc thịnh suy, liên can gì đến cuộc đời trong bể bụi,

Nơi mây trắng sâu thẳm kia là cõi tiên)

(Tức cảnh, bài 2)

- Tiêu dao nhân tại hồng mông thế,

Cương toả hồi đầu liễu bất quan.

(Tức cảnh)

(Người tiêu dao trong cõi hồng mông,

Quay đầu lại, chẳng để tâm đến vòng danh lợi)

(Tức cảnh, bài 3)Với một người có tâm hồn tinh tế như Ngô Thì Nhậm, việc thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên là điều bình thường Đọc thơ ông, ta nhận thấy nhân vật trữ tình giống như một vị khách tiên đang du ngoạn nơi trần thế

Bài thơ Sơn đình (Đình trên núi) như một bức tranh được nhân vật trữ tình

vẽ lên bằng xúc cảm Ngôi đình sừng sững dựa vào khoảng không xanh biếc, cây nghìn tầm dệt thành bức gấm, gió thổi đưa lại hương thơm suốt bốn mùa, mây sà xuống trắng phơi sắc núi, mặt trời gần xuống thềm nhuốm

đỏ cả hoa rừng Ngắm cảnh ấy, nhân vật trữ tình thấy mình thật gắn bó với non sông:

Quan hà vạn lý đình mâu xứ,

Thắng thưởng linh nhân dật hứng nồng.

(Sơn đình)

(Mắt đăm đăm nhìn nơi non sông muôn dặm,

Khiến ta đầy hứng thú, cuộc thắng thưởng này)

Trang 28

(Đình trên núi) Không ít lần nhân vật trữ tình biểu thị sự xa lánh nơi gió bụi, nhưng

ẩn chứa bên trong những bài thơ tức cảnh, ta nhận thấy một nhân vật trữ tình nặng nợ với giang sơn:

(Mấy độ mắt đăm đăm, lặng lẽ xa trông)

(Buổi sáng đi trên đường trạm)Hứng khởi với thiên nhiên, nhưng tấm lòng vẫn lo nghĩ thế sự Đó là cốt cách của vị “tiên khách” Ngô Thì Nhậm giữa cõi hồng trần

Cốt cách đó, chúng ta đã từng được thấy trong thơ Nguyễn Trãi thế

kỷ 15, kể cả thơ chữ Hán và thơ Nôm Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Trãi

miêu tả thiên nhiên với một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt qua các bài Cửa

biển Bạch Đằng, Núi Long Đại, Cửa Thần Phù Với thơ Nôm, thiên nhiên

được diễn tả càng đậm đà, đằm thắm, cụ thể và sinh động Thiên nhiên trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi gắn bó với cuộc sống hàng ngày của con người, mang hơi thở của con người Điều đáng chú ý là lòng yêu mến núi, sông, hoa, cỏ của Nguyễn Trãi gắn liền với lòng yêu nước thương dân sâu sắc Thời gian Nguyễn Trãi “an bần lạc đạo” tại Côn Sơn cũng là thời gian ông tìm về với thiên nhiên, sống cùng với thiên nhiên, bầu bạn cùng thiên

nhiên: Rùa nằm, hạc lẩn nên bầu bạn, Ủ ấp cùng ta làm cái con.

Có những bài, Nguyễn Trãi mô tả thiên nhiên, đồng thời cũng biểu

lộ tình cảm của mình Bảo kính cảnh giới số 43 là một ví dụ Nhà thơ mô tả

thiên nhiên rất sinh động, đến cuối bài, nhà thơ đã nói rõ lý tưởng của

mình: Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.

Trang 29

Xưa kia, những người có tài đức khi bất đắc ý ở hoạt động xã hội thường về ở ẩn, theo triết lý “độc thiện kì thân” (giữ cho riêng mình trong sạch).Với Nguyễn Trãi, ở ẩn thì thân nhàn mà tâm không nhàn Thơ ông chứa đựng bao nỗi ưu tư Người nặng nợ với đời, dù lánh về nơi thanh vắng đến mấy cũng khó giữ cho lòng mình thanh thản được:

Náu về quê cũ bấy nhiêu xuân

Lãng thãng chưa lìa lưới trần.

(Thuật hứng, bài số 11)

Nỗi niềm của Ngô Thì Nhậm gần với nỗi ưu tư của Nguyễn Trãi :

An mệnh lạc thiên nho giả sự,

Điểm đăng sách bút hựu ngâm thi.

(Nhàn thuật)

(Phận sự của nhà Nho là yên với mệnh, vui với đạo

Hãy đốt đèn lên tìm bút, viết lại những vần thơ)

(Thuật lại cảnh nhàn, bài 2)Sống trong cảnh nhàn, thân nhàn trong “phận sự của nhà nho”: yên với mệnh, vui với đạo Thân nhàn nhưng vẫn sẵn sàng nhập cuộc thực hiện

lý tưởng “trí quân trạch dân”, mong ước một xã hội phong kiến mẫu mực theo mô hình Nghiêu Thuấn

Dù là nhân vật trữ tình tự thuật tâm trạng, hay nhân vật trữ tình nhập vai vào đối tượng miêu tả thì chúng ta đều thấy được trọn vẹn chân dung Ngô Thì Nhậm với tinh thần, cốt cách của một nhà nho chân chính Bức chân dung đó càng đẹp hơn, có hồn hơn khi chúng ta đi sâu tìm hiểu những chủ đề chính trong thơ ông viết dưới thời Tây Sơn

Trang 30

Chương 2- NHỮNG CHỦ ĐỀ CHÍNH 2.1 Nhận thức về thời cuộc

Thời gian làm quan với vua Lê chúa Trịnh là thời gian Ngô Thì Nhậm trông thấy những thối nát của xã hội Đằng ngoài Vua Lê thực ra chỉ

là một kẻ giữ dưa cho chúa Trịnh Chúa Trịnh là bề tôi của vua Lê, nhưng lại chuyên quyền, độc đoán, giữ hết mọi quyền hành Không những thế, chúa Trịnh Sâm còn là nhân vật tiêu biểu của chế độ phong kiến ở thời kì

sa đọa, suy đốn Sâm nổi tiếng hung bạo, hoang dâm, chơi bời xa xỉ Một con người như thế mà Ngô Thì Nhậm, không còn con đường nào khác, phải đem tài năng để phục vụ Lại còn phải chung lưng với những đồng liêu tồi

tệ và phức tạp như Nguyễn Huy Bá, Trần Xuân Huy,Tạ Danh Thuỳ Trong khi đó, nhân dân đang phải chìm trong bể khổ, xã hội ngày một phức tạp, rối ren

Ở phía Nam, phong trào nông dân Tây Sơn ngày càng phát triển mạnh mẽ, khí thế hừng hực Làn sóng vì chính nghĩa đã nhấn chìm cơ nghiệp của tập đoàn vua quan phản động của triều đình Nguyễn Phúc Đại tướng Tây Sơn Nguyễn Huệ đuổi Nguyễn Phúc Ánh lang bạt long đong ngoài biển Nam (1783) cùng đạo quân nông dân của mình nghiền nát 5 vạn quân Xiêm xâm lược do tên Nguyễn Phúc Ánh rước về, trong trận tiêu diệt chiến lẫy lừng ở Rạch Gầm - Xoài Mút (Mĩ Tho - 1785) Rồi ngọn cờ đỏ nhân danh chính nghĩa dài hàng chục mét của phong trào Tây Sơn trực chỉ cõi Bắc, nhằm thẳng vào triều đình Lê - Trịnh rệu rã Chỉ trong mấy trận trúc chẻ ngói tan, Tây Sơn Nguyễn Huệ lại đánh sập luôn cơ nghiệp của tập đoàn vua quan thối nát Lê - Trịnh Trịnh Tông bị bắt, phải tự tử (1786), Lê Chiêu Thống, kế vị Hiển Tông, sang Trung Quốc cầu cứu triều đình Mãn Thanh (1788) một cách nhục nhã

Trang 31

Trong khí thế thắng lợi bừng bừng ấy, tháng 5 - 1788, Nguyễn Huệ dựng lều trận ở phía Nam kinh thành Thăng Long, ra lệnh tìm những quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh ra để xây dựng triều đại mới của Tây Sơn.

Thời gian đó, Ngô Thì Nhậm đang phải trốn tránh sự khủng bố của triều đình Lê - Trịnh ở vùng nông thôn trấn Sơn Nam:

Khuất chỉ phiêu bồng ký ngũ niên,

Kim thu thôn tự nhất tham thiền.

(Vãn thu tham thiền)

(Bấm đốt ngón tay, đã năm năm phiêu bạt,

Mùa thu này mới được tham thiền ở chùa quê)

(Tham thiền vào buổi cuối thu) Những năm phiêu bạt đó có thể gọi là đen tối trong cuộc đời Ngô Thì Nhậm Song, đó cũng là những năm bộc lộ rõ con người và bản lĩnh của ông: sắc sảo, tỉnh táo, rắn rỏi và đam mê chính sự, ngay cả vào những lúc khó khăn nhất:

Tâm thượng kinh luân nan thượng khả,

Phúc trung binh giáp kết trung tuy.

(Hạ niên quyến Phan Thụy Nham đốc thị Nghệ An)

(Chí kinh luân sẵn có bên lòng, khó ai vượt nổi,

Tài cầm quân vốn ở trong dạ, kết nối vững vàng)

(Mừng người thân đỗ cùng khoa là Phan Thụy Nham làm đốc thị Nghệ An)

Không buồn nản, vừa trốn tránh, Ngô Thì Nhậm vừa làm thơ, phú để bày tỏ chí hướng, kí thác tâm sự của mình: “ Ngọc tốt giấu kín, rồng thần lặn sâu, chẳng ai hay biết Đợi đến khi có người biết rồi thì mặc sức hoạt

động theo chí mình, xoay vần tám cực, chống đỡ chín cõi ” (Mộng Thiên

Thai phú).

Trang 32

Nỗi lòng của Ngô Thì Nhậm còn được bày tỏ trong những bài phú viết về thiên nhiên, mượn cảnh để tả tình Có khi, đó là một buổi câu cá ở

ao Đông Nhuế trước cửa chùa: “Ta xem cảnh vật rất là vui thích Gió thoảng phe phẩy, sóng gợn lăn tăn Không có gương mà sáng, chẳng phải lầu mà cao, biết rằng vật lý là hư không, hiểu rõ cơ trời nay và trước Người tắm sông Nghi kia là ai, dẫu ở nhà tranh cũng chẳng hề gì Huống

chi nước ao này trong sáng làm nguôi sự âu sầu của lòng ta” (Lâm trì phú).

Có lúc, Ngô Thì Nhậm hồi tưởng lại những kỉ niệm xưa, cảm khái trước sự thay đổi theo thời gian: “Cây sen theo người héo rụng, ao kia cỏ mọc xanh rì; lau lách um tùm lấp lối, chim yến sợ hãi bay đi Nền cũ còn đâu là cảnh phồn hoa, chỉ thấy đàn trẻ kiếm củi, chăn trâu Cảm khái phong

cảnh không như xưa, khiến lòng ta hoài cổ” (Thưởng liên đình phú).

Thế rồi, niềm khát khao mong chờ đã trở thành hiện thực Lệnh triệu vời các quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh với Ngô Thì Nhậm giống như một cơn mưa giữa sa mạc đã đem đến cho ông một nguồn sống mới Ngô Thì Nhậm là người sớm nhất tìm đến với Nguyễn Huệ:

Hữu phu tại đạo tuỳ hà cữu?

Bàng tác hàm cần kiển phỉ cung.

Khang tế đại thần phi độ ngoại,

Hiển tàng quân tử chính thời trung.

(Hạ hữu)

(Tin ở đạo mà thuận theo thì có lỗi gì?

Làm việc đều siêng, chẳng phải vì mình lận đận

Giúp dân yên vui, bậc đại thần không ngoài bổn phận,

Xuất hay xử, người quân tử phải xử đúng thời)

(Mừng bạn)Đến với vị chủ tướng mới, Ngô Thì Nhậm dốc tài năng, tâm huyết, say sưa cống hiến cho tân triều Đặc biệt trong trận thần tốc đánh tan hai

Trang 33

mươi vạn quân Thanh ở Thăng Long của Quang Trung (1789), Ngô Thì Nhậm là người đã hiến kế rút quân về Tam Điệp lập phòng tuyến đợi đại

quân của Quang Trung ra Chiến công đó đã để lại dấu ấn trong bài Khuê

tình (Tình khuê phòng):

Văn đạo thừa ân khoá Điệp Sơn.

(Nghe nói [chàng] chịu ơn vua mà vượt núi Tam Điệp)

Nhắc đến Tam Điệp là nhắc đến chiến công lẫy lừng có công rất lớn của Ngô Thì Nhậm trong đó Nhà quân sự thiên tài Ngô Thì Nhậm đã nhìn thấu ý đồ giặc Năm 1788, vì quyền lợi ích kỉ của mình, Lê Chiêu Thống đã

để một đạo quân xâm lược khổng lồ gồm hai chục vạn chiến binh và sáu chục vạn lương binh của triều đình Mãn Thanh vào nước ta Quân đội Mãn Thanh chia đường vượt biên giới tiến vào Bắc Hà cùng với sự nổi loạn của bọn quan lại cũ phản động triều Lê Trịnh Nguyễn Huệ lúc đó lại đang ở Phú Xuân (Huế), người đứng đầu chịu trách nhiệm về mọi mặt ở Bắc Hà là tướng Ngô Văn Sở lại có ý chủ quan, “thường cưỡi ngựa qua các đường phố để mua vui, tự cho rằng Bắc Hà không có việc gì khó”[40, 155] Riêng Ngô Thì Nhậm chú ý theo sát diễn biến tình hình Thấy âm mưu mở rộng đánh chiếm nước ta của nhà Thanh đã rõ, ông đến gặp Ngô Văn Sở, khẳng khái nói: “Người xưa dùng binh, gặp việc thì lo, sao ngài lại lấy việc binh làm trò chơi mà coi thường như thế? Tôi trộm nghe bọn người nước ta chạy sang bên Trung Hoa, trong đó có người định xúi họ mở mang bờ cõi, gây ra binh biến Ngài chịu sự kí thác của cõi ngoài, e rằng không khỏi một phen bạc đầu vì lo lắng.”[40, 156] Ngô Văn Sở tỉnh ngộ, cùng Ngô Thì Nhậm bàn tính việc phòng bị Quả nhiên, không bao lâu, quân xâm lược Mãn Thanh đã vượt biên giới thực hiện ý đồ đánh chiếm nước ta Trong cuộc chiến đấu với quân Mãn Thanh, các quan văn võ góp ý với Ngô Văn Sở đem quân ra đánh Riêng Ngô Thì Nhậm chủ trương đem toàn bộ quân thuỷ, quân bộ rút lui chiến lược Theo ông, đó là theo cách dùng binh của

Trang 34

cha ông “đặt sẵn quân phục ở nơi hiểm yếu, đợi chúng đến đổ ra đánh giết,

lo gì không thắng”[40, 159] Ông còn phân tích địch dùng mưu độc “diệt

Hồ lập Trần” thuở trước khiến nhiều người mắc mưu, lòng người chưa thuận thì quân cơ sẽ lộ nên ta chưa thể đánh ngay được Ngô Văn Sở đã theo ý kiến của Ngô Thì Nhậm, cho quân thuỷ chở lương thực rút về đóng

ở Biện Sơn, quân bộ rút về đóng ở dãy Tam Điệp Đầu xuân năm Kỉ Dậu, trong một chiến dịch chớp nhoáng năm ngày, đại quân của Quang Trung đã phá tan 20 vạn chiến binh và 60 vạn lương binh của nhà Thanh Trong chiến thắng trên có cống hiến quan trọng của Ngô Thì Nhậm với nước cờ Tam Điệp:

Cửu bệ trù biên trọng thị sư,

Nam hiên đặc giản xuất nam thuỳ.

Trạc chinh thắng thế tòng kim nhật,

Tiên trước phu công cáp hảo thì.

(Hạ niên quyến Phan Thụy Nham đốc thị Nghệ An)

(Triều đình lo việc biên phòng, trọng việc cầm quân,

Nhà vua đặc biệt lựa chọn người ra bờ cõi phía nam

Thế thắng trong cuộc đánh lớn, sẽ từ hôm nay,

Công to giành chước đầu tiên, đúng là một dịp tốt)

(Mừng người thân đỗ cùng khoa là Phan Thụy Nham làm đốc thị Nghệ An)

Đúng như lời nhận định của đồng chí Trường Chinh, Ngô Thì Nhậm xứng đáng là một trong những “ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam làm

vẻ vang cho giống nòi” Đọc thơ ông, chúng ta hình dung được một Ngô Thì Nhậm với tầm vóc rất cao Tầm vóc cao ấy, trước hết là con mắt nhìn đúng chỗ và hướng đi của người trí thức trong một bối cảnh lịch sử vô cùng rối ren, phức tạp, là sự tự ý thức về tài năng và phẩm hạnh của mình:

Thánh hiền mô huấn tại minh luân,

Trang 35

Dã hữu đôn thiên dã tự nhân.

Kính ái tư tâm tam cực lập,

Ty cao thử lí lưỡng nghi trần.

(Họa thân thúc công)

(Lời dạy thánh hiền, đạo luân thường sáng tỏ,

Nào dốc tâm với lẽ trời, nào bày tỏ đạo làm người

Lòng kính yêu này, có từ khi ba ngôi được lập,

Lẽ tôn ti ấy, có từ buổi trời đất hình thành)

(Họa bài thơ của chú ruột)

2.1.1 Ý thức về tài năng và phẩm hạnh

Ngô Thì Nhậm sinh ra ở làng Tả Thanh Oai, “ở phía nam, cách kinh

đô hơn một dặm” Đó là một ngôi làng trù mật, cổ kính ở ven bờ sông Nhuệ với cái tên Nôm rất mộc mạc gần gũi: làng Tó Làng có truyền thống khoa bảng, có cuộc sống cần cù, thanh đạm Phong tục của làng được chung đúc trong nền văn hoá dân gian lâu đời vùng đồng bằng Bắc bộ Ngôi làng đó đi vào thơ Ngô Thì Nhậm, đẹp như cảnh tiên:

Kim niên du thắng tích niên du,

Thu tịch, thu thiên ổn phiếm thu.

Tĩnh thuỷ nhất điều trương tố luyện,

Sơ tinh kỉ điểm ánh cô chu.

Tà dương cổ thụ kim quang xạ,

Hàn chử ngư đăng diệm ảnh phù.

(Nhuệ Giang tịch phiếm)

(“Buổi dong chơi năm nay, hơn hẳn năm xưa”,

Chiều thu, trời thu, êm êm thả con thuyền thu

Một dòng nước lặng như căng dải lụa trắng,

Mấy ánh sao thưa, dọi xuống chiếc thuyền côi

Chiều tà, nắng vàng rọi xuống chòm cổ thụ,

Trang 36

Bến lạnh, đèn chài toả sáng bồng bềnh).

(Chiều tà bơi trên sông Nhuệ)

Tả Thanh Oai còn là một vùng đất địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều nhân tài Phổ hệ họ Ngô Thì ở Thanh Oai còn ghi tên tuổi của những nhân vật liền bảy đời nối nhau đỗ đạt cao và làm quan to, trong đó không hiếm những trường hợp “huynh đệ đồng triều, phụ tử thế khoa” (anh em cùng làm quan trong một triều đình, cha con cùng thi đỗ trong một khoa thi) hoặc là danh sư với công tích dạy dỗ thành đạt được tới hàng trăm học trò là cử nhân, tiến sĩ Đời Ngô Thì Sĩ, ông và cháu cùng thi đỗ một khoa Văn túc công Ngô Tưởng Đào, em Ngô Thì Sĩ, chú Ngô Thì Nhậm, cùng làm quan một triều với anh Ngô Thì Chí, em trai Ngô Thì Nhậm, cũng làm quan một triều với anh Cụ của Ngô Thì Nhậm là Đan nhạc công Ngô Thì Chân dạy đến bốn trăm học trò, trong số này có 5 tiến sĩ và 100 cử nhân Môi trường quê hương và dòng họ rạng rỡ như thế, cùng với những khuôn mẫu của lịch sử đương thời sẽ giúp Ngô Thì Nhậm định hướng tiền đồ theo một hướng rõ ràng: học hành (để tích luỹ kiến thức) - thi cử (để đỗ đạt) - và làm quan với triều đình (để thi thố tài năng) Thuở nhỏ, Ngô Thì Nhậm học chữ với cụ nội - cụ Đan Nhạc - và bố đẻ là Ngô Thì Sĩ Đạo đức thanh cao mẫu mực của cụ Đan Nhạc, và tư tưởng hoạt động vì dân vì nước của Ngô

Thì Sĩ rất sớm nhập vào tâm hồn của Ngô Thì Nhậm Câu chuyện Ngọn

đèn vĩnh cửu của người cha chính là tấm gương về sự hiếu học đã động

viên Ngô Thì Nhậm rất nhiều trong công việc học hành: “Hồi nhỏ, Ngô Thì

Sĩ rất thích học, nhưng nhà nghèo, không được theo học đến nơi đến chốn

Sĩ chỉ đợi lúc rỗi rãi, lẻn đến đứng bên ngoài phòng giảng sách của thầy đồ

mà nghe lỏm Chú thường mượn sách của các bạn, đêm đêm ngồi đọc, chép lại Không có tiền mua dầu, Sĩ bắt chước người xưa lấy lá khô đốt để lấy ánh sáng Đặc biệt, Sĩ hay đọc dưới ánh trăng Những đêm trăng tỏ, chú thường đọc trực tiếp dưới ánh trăng vằng vặc Những buổi trăng khuyết, Sĩ

Trang 37

mang sách ra bờ ao, nghiêng theo ánh phản chiếu mà học Biết Sĩ nhà nghèo mà lại mượn sách ban đêm, một số bạn hỏi chú lấy đèn đâu mà học,

Sĩ chỉ lên mặt trăng cười đáp: Đã có ngọn đèn lớn, ngọn đèn vĩnh cửu kia”

[63, 7] Câu chuyện đó đã đi vào trong ý thức của Ngô Thì Nhậm Cũng như Ngô Thì Sĩ, Nhậm nổi tiếng thông minh hay chữ từ nhỏ Lần ấy, theo phong tục, khi con đến tuổi được đặt tên, Ngô Thì Sĩ hỏi con ưng tên gì Chú bé họ Ngô đã vòng tay thưa: “Thưa cha, con muốn nối chí cha đảm nhiệm việc lớn trong thiên hạ, con sẽ lấy tên là Nhậm” (Nhậm: nhận làm) Noi gương cha, Ngô Thì Nhậm đọc rất rộng, thích nghiên cứu và trước tác Dưới sự kèm cặp của cha, mới 16 tuổi, Ngô Thì Nhậm đã trước thuật được

một công trình về sử học, đấy là tác phẩm Việt sử toát yếu Công trình này

không những giúp Ngô Thì Nhậm trên con đường hoạt động về sau của đời mình: học lịch sử để rồi sẽ ra làm lịch sử, mà ngay từ lúc này cũng đã chứng tỏ được Ngô là người có tài năng và chí hướng

Ngô Thì Nhậm là người rất có ý thức về tài năng và phẩm hạnh của mình Với Ngô, học không phải để học, mà học để chuẩn bị tài năng thực hiện chí lớn Ngô đã chọn cho mình cái tên tự là Hy Doãn Nếu “Nhậm” là

“nhận làm” thì “Hy” là “noi theo”, và “Doãn”- chính là Y Doãn: một Đại công thần của nhà Thương, mà các nhà Nho trước đây vẫn lấy làm mẫu mực cho những bầy tôi có tài phò vua giúp nước, đảm nhận những việc lớn lao trong thiên hạ Y Doãn là người đã giúp một tay đắc lực cho Thành Thang làm công việc “cách mạng”, đạp đổ chế độ cường bạo của vua Kiệt, thay vào đó bằng một chế độ tốt đẹp hơn

Con đường “Nhận làm theo ông Y Doãn” là động lực thúc đẩy Ngô Thì Nhậm không ngừng học hỏi để hoàn thiện mình, để kiên trì theo đuổi chí hướng và trau dồi tài năng Xuất thân từ một dòng họ văn võ toàn tài cho nên Ngô Thì Nhậm được thừa hưởng tinh hoa, tinh tuý của tổ tiên để lại Chính người cha Ngô Thì Sĩ đã có ảnh hưởng khá lớn đến tài năng,

Trang 38

nhân cách và phẩm hạnh của Ngô Thì Nhậm Ngô Thì Sĩ là người có tài nhưng chậm đường công danh, đi thi nhiều lần mà vẫn chưa đỗ đạt, gia tư

vì thế mà nghèo Mặc dù nghèo đói đeo đuổi Ngô Thì Sĩ đến năm 38 tuổi, nhưng Ngô Thì Sĩ vẫn luôn là một con người mực thước, chín chắn, lạc quan, tin đời Tinh thần, khí chất đó đã được ông truyền lại cho Ngô Thì Nhậm trong cảnh nghèo Chính người cha là tấm gương sáng cho Ngô Thì Nhậm noi theo Cảnh vinh quy bái tổ của Ngô Thì Sĩ là hình ảnh Ngô Thì Nhậm không bao giờ quên được: được ban cả voi ngựa và quân lính để rước về làng, lại còn được kèm cả bài thơ vua ban cho - ân huệ vượt hẳn thói thường - Và ân huệ này hẳn là càng khuyến khích Ngô Thì Nhậm mau tiến trên con đường hoạt động của mình Thế rồi, sự việc trọng đại trong cuộc đời Ngô Thì Nhậm đã đến vào năm 1775 Năm ấy, 29 tuổi, Ngô thi đậu tiến sĩ Tấm gương sáng của người cha, mong muốn noi theo Y Doãn, cùng với ý chí, quyết tâm phấn đấu của mình, Ngô Thì Nhậm đã trở thành một tài năng lịch lãm của thời đại Tài năng, đức độ và phẩm hạnh của ông nổi tiếng đến mức khiến cho Quang Trung, trong đợt ra Bắc Hà lần thứ 2, lần đầu tiên gặp ông đã phát biểu: “Có lẽ đó là ý trời để dành người tài cho

ta dùng” [40, 107] Ngô Thì Nhậm đã không phụ lòng tin cậy của Quang Trung - vị lãnh tụ vĩ đại đã tạo điều kiện cho ông phát huy toàn bộ tài năng, tâm huyết, trí tuệ để phục vụ đắc lực cho dân cho nước Tài năng đó được thể hiện rất rõ trong những bài thơ ông viết dưới thời Tây Sơn Đọc thơ thời kì này của ông, chúng ta thấy được ông không những là một nhà thơ xuất sắc mà còn là một nhà ngoại giao lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba

Về tài quân sự của Ngô Thì Nhậm, còn phải kể đến thời kì ông phục

vụ Trịnh Sâm Những tờ khải về tình hình biên giới, biên phòng của ông

đã được Sâm đặc biệt chú ý, khen là “tài học không ở dưới người” Trong việc đánh Hoàng Văn Đồng, ông cũng được tuyên dương là “đánh giặc giỏi” Cái giỏi của ông không chỉ là giỏi cầm quân, định kế công đồn, phá

Trang 39

luỹ, mà còn ở chỗ ông rất tinh tế, nhận định đúng tình hình, và đề ra phương pháp đúng để thu lấy phần thắng lợi Hoàng Văn Đồng chống lại triều đình bằng cách lừa phỉnh và ép buộc nhân dân theo hắn Ngoài ra, Đồng còn liên kết với phỉ nước ngoài, đưa chúng về tàn hại dân Ngô Thì Nhậm phân biệt rõ đâu là giặc, đâu là dân bị lừa bịp, cưỡng ép Chúa Trịnh

ra lệnh cho ông đem quân đến đâu là chiến thắng đến đó Ông đã lấy lý lẽ giảng giải cho dân vùng căn cứ của Hoàng Văn Đồng hiểu rõ âm mưu của giặc Lấy công tác chính trị làm đầu để tiễu phỉ là một tư tưởng rất hiện đại

về quân sự Chính với tài năng quân sự xuất sắc như vậy, khi đến với Quang Trung, Ngô Thì Nhậm đã được vua Quang Trung phong làm Binh

bộ Thượng thư Lòng tin cậy của Quang Trung đối với Ngô Thì Nhậm đã

mở ra một giai đoạn mới, quan trọng nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của ông, giúp ông đem hết tài năng và tâm huyết của mình phục vụ cho tân triều một cách hiệu quả Cống hiến quân sự quan trọng của Ngô Thì Nhậm

là “nước cờ Tam Điệp”, giúp Quang Trung đánh đại bại đại quân Mãn Thanh gồm 29 vạn quân trong trận đánh năm Kỷ Dậu (1789) Tài năng

quân sự đó còn để lại dấu ấn trong bài Tặng quan Trung thư Kỷ Thiện hầu

tịnh ngữ Trong lời dẫn, Ngô Thì Nhậm viết:

Tư giả:

Bảo ly chấn chính; cổn tú ngôn tuyền.

Chiêm túy biểu ư thừa minh; tấu phong thi ư ôn thất.

Hoàng phát hy triều thị thức, tuân nghi tiền tịch chi mật hồi; thạc lỗ tân quốc cụ chiêm, hề khánh cao sơn chi kiều ngưỡng.

(Tặng quan Trung thư Kỷ Thiện hầu tịnh ngữ)

(Ngày nay:

Sửa sang chính sự, áo gấm trở về

Xem tờ biểu tươi sáng ở điện Thừa Minh; tâu bài thơ phong nhã ở phòng Ôn Thất

Trang 40

Râu tóc vàng, làm cho triều thịnh phải kính, thân mật hầu trước chiếu thật nên; công trạng lớn khiến cho nước mới đều trông, nghển kiễng ngắm non cao đâu hết).

(Tặng quan trung thư Kỷ Thiện hầu kèm lời dẫn)Qua lời dẫn, ta thấy hiện lên một Ngô Thì Nhậm thật đẹp, thật rực

rỡ, oai phong, đó là một người anh hùng đã đem lại công trạng lớn cho đất nước:

Phong ư xuân lệnh nhật ư đông,

Hàm cảm thường tồn chí ái trung.

Tuân lật uy nghi Kỳ thượng trúc,

Kiên cương khí vũ tuế hàn tùng.

Thuỳ thân hợp đáng lai nguyên lão,

Miễn trụ chân như ức lệnh công.

Giáng khuyết vân cao Thiều Hộ nhĩ,

Liễu doanh y ước Thái Thanh chung

(Tặng quan Trung thư Kỷ Thiện hầu tịnh ngữ)

(Gió mùa xuân và mặt trời mùa đông,

Đều cảm thấy vẫn còn mãi niềm yêu thương rất mực

Như trúc bờ sông Kỳ, uy nghi kính cẩn,

Tựa thông trong mùa lạnh, tư thế kiên cường

Rủ đai áo, vừa đúng đến với bậc nguyên lão,

Bỏ mũ trụ, thật sự nhớ tới ông nhà

Cửa son, mây thì cao, mà tiếng nhạc Thiều Hộ thì gần,

Trại doanh liễu, chuông lầu Thái Thanh phảng phất)

(Tặng quan trung thư Kỷ Thiện hầu kèm lời dẫn)Bài thơ mang âm hưởng chiến trận, biểu hiện khí phách của người anh hùng - vị tướng tài ba Ngô Thì Nhậm: uy nghi như trúc bờ sông Kỳ, kiên cường tựa thông trong mùa lạnh Bài thơ như một sự hồi tưởng về

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (biên soạn), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
4. Phan Văn Các, Từ điển từ Hán Việt, Nxb Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ Hán Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
6. Phạm Tú Châu, Hoàng Lê nhất thống chí - văn bản, tác giả và nhân vật, Nxb Khoa học xã hội,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Lê nhất thống chí - văn bản, tác giả và nhân vật
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
7. Phạm Tú Châu, Nhà thơ Kinh Bắc Trần Danh Án và Ngô Thì Nhậm, Tạp chí văn học số 2/1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Kinh Bắc Trần Danh Án và Ngô Thì Nhậm
8. Trương Chính, Thử so sánh văn học Đàng Trong và văn học Đàng Ngoài, Tạp chí văn học số 4/1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử so sánh văn học Đàng Trong và văn học Đàng Ngoài
9. Phan Trần Chúc, Việt Nam sử học (triều Tây Sơn, phần Nguyễn Huệ ), Nxb Văn hoá Thông tin, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử học
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
10. Cao Chư, Nguyễn Đình Chiểu - Trương Định, duyên kì ngộ giữa bậc trí thức và đấng anh hùng, Báo Giáo dục và Thời đại ngày 24 tháng 2 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chiểu - Trương Định, duyên kì ngộ giữa bậc trí thức và đấng anh hùng
11. Triêu Dương, Đi tìm thơ văn liên quan đến phong trào Tây Sơn, Tạp chí văn học số 4/1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm thơ văn liên quan đến phong trào Tây Sơn
12. Biện Minh Điền, Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu văn học số 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam
13. Biện Minh Điền, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyễn, Nxb Đại học Quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyễn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
14. Hà Minh Đức (chủ biên ), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Giai thoại Văn học Việt Nam, Chết vì câu đối, Nxb Văn học, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chết vì câu đối
Nhà XB: Nxb Văn học
17. Lam Giang - Nguyễn Quang Trứ, Vua Quang Trung, Nxb Thanh Niên, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Quang Trung
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
18. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên ), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long (Phan Ngọc dịch ), Nxb Văn học,1997 20. Nguyễn Văn Hoàn, Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, Tạp chí văn học số 4/1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn tâm điêu long" (Phan Ngọc dịch ), Nxb Văn học,1997 20. Nguyễn Văn Hoàn, "Phong trào khởi nghĩa nông dân và văn học Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Văn học
21. Nguyễn Phạm Hùng, Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX ), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam "(từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX ")
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
26. Đặng Thanh Lê - Hoàng Hữu Yên - Phạm Luận, Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX ), Nxb Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
27. Mai Quốc Liên (chủ biên), Ngô Thì Nhậm, tác phẩm, quyển 1, Nxb Văn học, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm, tác phẩm
Nhà XB: Nxb Văn học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w