1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ đi sứ của ngô thì nhậm và nguyễn du

100 647 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 511,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng bộ phận thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậmđã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng nhìn chung trong hành trình thơ sứ trình trung đại Việt Nam như bài nghiên cứu Thơ đi sứ trung đại Vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ NGA

THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ THÌ NHẬM VÀ NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

VÕ THỊ NGA

THƠ ĐI SỨ CỦA NGÔ THÌ NHẬM VÀ NGUYỄN DU

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM TUẤN VŨ

NGHỆ AN - 2014

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ở Việt Nam thời trung đại, tài năng của con người trước hết vàchủ yếu là tài năng văn chương Theo quan niệm đương thời, văn chươngkhông chỉ là giá trị thẩm mỹ mà còn bao gồm cả nhiều giá trị xã hội vànhân văn Tài năng văn chương nói chung và thơ nói riêng biểu lộ năng lựcnhiều mặt của cá nhân và trực tiếp phục vụ chính sự

Trong nhiều thế kỉ của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước đây,nhiều người Việt Nam xuất chúng đã được cử đi sứ phương Bắc Cùng vớihoàn thành sứ mệnh bang giao, họ đã để lại những tập thơ hoặc những bàithơ

1.2 Đương thời, một chuyến đi sứ thực hiện trong thời gian dài,

chẳng hạn theo Ngô Thì Nhậm ghi chép trong tiểu dẫn của Hoàng hoa đồ

phả, chuyến đi của sứ bộ Tây Sơn do ông làm chánh sứ, khởi hành ngày 20

tháng 2, ngày 8 tháng 5 đến kinh đô nhà Thanh, tháng 9 về đến kinh đônước ta

Những chuyến hành trình trong thời gian dài, qua vùng không gianrộng lớn đã để lại cho các sứ thần nhiều suy nghĩ, cảm xúc khiến nhiềungười đã viết nên những bài thơ hay, làm phong phú thêm cho văn học dântộc Đây là một bộ phận trước tác rất đáng được nghiên cứu

1.3 Ngô Thì Nhậm là một tài năng văn chương, quân sự, ngoại giao

Sự nghiệp của ông gắn với triều Tây Sơn - một trong những triều đại oanh

liệt bậc nhất trong lịch sử Việt Nam thời trung đại Ông đã để lại Hoàng

hoa đồ phả, một tập thơ đi sứ quy mô, góp phần làm phong phú cho mảng

Trang 5

thơ đi sứ của nước ta và là một cứ liệu đáng tin cậy để nghiên cứu sựnghiệp văn chương của nhân vật xuất chúng này.

1.4 Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo kiệt xuất nhất của văn học ViệtNam trung đại Thật may mắn cho thơ đi sứ của Việt Nam là thi hào đóng

góp cho dòng thơ này tập Bắc hành tạp lục quy mô và đặc sắc.

Nghiên cứu thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm và của Nguyễn Du trong sựđối sánh không những thấy rõ hơn những đặc sắc riêng của từng tập thơ màcòn thấy rõ hơn những đặc điểm phổ biến của thơ đi sứ của Việt Nam xưakia

2 Lịch sử vấn đề

Đã có một số công trình nghiên cứu thơ đi sứ Việt Nam thời trung

đại: Bước đầu nghiên cứu thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức (Lê Quang Trường), Khảo cứu và nghiên cứu thơ đi sứ của Việt Nam của tác giả C.Kelley giảng viên trường Đại học Hawai, tác giả cuốn Beyond the Brond

Pllars (Đi qua những cột đồng) Thơ đi sứ trung đại Việt Nam viết về danh thắng ở Hồ Nam - Trung Hoa và trường hợp Nguyễn Trung Ngạn Những

công trình đó đã đề cập đến lịch sử tiến trình thơ đi sứ qua các thời kì vàkhẳng định sự đóng góp to lớn của mảng thơ đi sứ trong nền văn học ViệtNam

Riêng nghiên cứu về thơ của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Du đã cónhiều công trình của nhiều tác giả đề cập đến trên nhiều bình diện về cuộcđời, sự nghiệp và giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm

Với Ngô Thì Nhậm, có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến phươngdiện cuộc đời, sự nghiệp, văn chương trên phương diện là một nhà chínhtrị, nhà trí thức, nhà quân sự, một nhà bang giao kiệt xuất thời Tây Sơn Vềthơ văn của Ngô Thì Nhậm có khá nhiều công trình nhưng chủ yếu nghiên

Trang 6

cứu chung các tập thơ của ông Riêng bộ phận thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm

đã có một số nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng nhìn chung trong hành trình

thơ sứ trình trung đại Việt Nam như bài nghiên cứu Thơ đi sứ trung đại

Việt Nam viết về danh thắng ở Hồ Nam - Trung Hoa và trường hợp Nguyễn Trung Ngạn của PGS.TS Nguyễn Công Lý Bài nghiên cứu Chuyến đi đại sứ năm 1793 của Ngô Thì Nhậm của GS Lê Văn Lan in trên

báo Quân đội nhân dân Việt Nam, thứ 3, ngày 12 /3/2013 Nhưng để hiểu

sâu sắc hơn về giá trị nội dung, nghệ thuật của tập thơ sứ trình của Ngô Thì

Nhậm, chúng tôi muốn mạnh dạn nghiên cứu tập thơ Hoàng hoa đồ phả trong sự đối sánh với tập thơ Bắc hành tạp lục - một tập thơ sứ trình nổi

tiếng của Nguyễn Du, để thấy hết giá trị của các thi phẩm và sự đóng góp

có ý nghĩa to lớn trong hành trình thơ sứ trình trung đại Việt Nam đối vớinền văn học việt Nam nói chung

Công trình này nghiên cứu đặc điểm chung hoặc những đặc điểmriêng ở một số bài thơ sứ trình của Nguyễn Du, chưa lột tả hết giá trị củatập thơ đi sứ mà Nguyễn Du để lại trong chuyến đi sứ

Tìm hiểu về mảng thơ đi sứ của Nguyễn Du, chúng tôi muốnkhám phá hết giá trị trên các mặt nội dung, nghệ thuật của một tập thơ

cụ thể, để hiểu rõ hơn về con người của Nguyễn Du, hiểu rõ hơn giátrị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và có một cái nhìn nhận thấu đáo

về sự đóng góp của nhà thơ trong thơ sứ trình Việt Nam thời trung đại

Đó là một dấu ấn góp phần tạo nên diện mạo phong phú, đa chiều của

văn học Việt Nam nói chung Chính vì vậy mà tôi đã chọn tập thơ Bắc

hành tạp lục, tập thơ đi sứ nổi tiếng của Nguyển Du trong sự đối sánh

với tập thơ Hoàng hoa đồ phả của Ngô Thì Nhậm để khám phá, tìm

hiểu giá trị của tập thơ và thấy được vai trò to lớn của dòng thơ đi sứ

Trang 7

nói chung và các màu sắc riêng của tập thơ Bắc hành tạp lục Thơ đi

sứ của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du ở Bắc hành tạp lục đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến như Hai trăm năm Bắc hành tạp lục của nhà thơ Vương Trọng, Nguyễn Quan Tuấn có bài viết Trong kì đi sứ

Nguyễn Du có qua Hàng Châu không?, Nhân danh, địa danh trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du- ý nghĩa văn hóa và lịch sử…

Tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu về thơ đi sứ của Nguyễn Du và NgôThì Nhậm để hiểu hơn về cuộc đời và văn thơ của hai tác giả này, đồngthời nhìn nhận đánh giá sâu sắc hơn về những đóng góp to lớn của họ chodòng thơ đi sứ nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung

Trong bài Thơ vịnh sử, thơ đi sứ và cảm hứng yêu nước thương nòi (trong sách Khảo và luận một số tác giả - tác phẩm văn học trung đại Việt

Nam, tập II), PGS Bùi Duy Tân đã nhìn nhận sơ lược lịch sử thơ đi sứ và

có những nhận định khái quát về bộ phận thơ này: “Trong tập thơ đi sứ,không phải các tác giả chỉ đề cập mối quan hệ bang giao hoặc để vịnh vềvật và người của nước ngoài Một tỉ lệ khá cao các bài thơ trong các tập thơ

ấy đề cập tới những vấn đề của Tổ quốc Thường thì khi ở đất nước người,những tình cảm hướng về Tổ quốc lại càng thấm thía…” [50, 379] Và:

“Thơ vịnh sử… là những hiện tượng đáng chú ý của văn học dân tộc trongcác thế kỷ này Đó xét cho kỹ thì cũng là sự phát triển của thơ văn yêunước Đóng góp chủ yếu của nó là đem đến cho văn học tiếng nói tích cựccủa sĩ phu yêu nước Tiếng nói ấy là vang vọng của khí phách dân tộc,ngay trong hoàn cảnh khó khăn của thời cuộc Tiếng nói ấy đã làm phongphú thêm văn học dân tộc với niềm tự hào, với tính chiến đấu và với tinhthần nhân ái của người Việt” [50, 379]

Trang 8

Trong bài Vấn đề văn bản và tâm thế của Nguyễn Du trong Bắc

hành tạp lục đăng trên Nghiên cứu văn học số 12/2013, PGS Nguyễn Văn

Hoàn cho rằng: “Thông thường các tập thơ đi sứ đều có nhiều bài xướnghọa, chúc tụng, tặng đáp lẫn nhau, với ngôn từ công thức, khách khí

nhưng Bắc hành tạp lục - ít nhất theo văn bản truyền lại - thì hầu như

không có bộ phận thơ văn đó Có thể xem Bắc hành tạp lục là tập thơ

du ký của một thi nhân Việt Nam từng có thời gian dùi mài Nam sử, Bắc

sử, say mê Hán phú, Đường thi, nay có dịp may hiếm có được du hànhtrên đất nước Trung Hoa rộng lớn, vừa lạ vừa quen, để đối chiếu nhữngđiều đã học được trong sách vở với thực tế mắt thấy tai nghe trên đường đi.Qua những bài thơ vịnh sử, tức cảnh, người đọc còn hiểu thêm về nhà thơNguyễn Du có tri thức quảng bác, có một tâm sự sâu kín và ý thức sâu sắc

về quốc thể” [14, 26]

Cũng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 12-2013, Trần Thị Hoa Lê

có bài Cảm hứng đối thoại - phản biện trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn

Du Tác giả nghiên cứu cảm hứng đối thoại - phản biện của Nguyễn Du khi

viết về các nhân vật lịch sử Trung Hoa, viết về những vấn đề hiện thực

đương thời và viết về phụ nữ Tác giả cho rằng: “Về giọng điệu, Bắc hành

tạp lục tạo nên giọng điệu đa thanh với những cung bậc âm sắc rắn rỏi,

mạnh mẽ làm phai bớt âm điệu u hoài sầu cảm vốn đậm nét trong tác phẩm

Nguyễn Du Về bút pháp thơ, Bắc hành tạp lục đem đến sự khởi sắc thể

loại, đánh dấu thành công mới của thể cổ phong bên cạnh thể luật thi vốn

đã có thành tựu ở hai tập thơ trước Và việc ra con đường tiếp cận “cái uẩnkhúc xã hội” của nhân vật lịch sử trong khuynh hướng thơ vịnh sử thờitrung đại Việt Nam” [20; 47]

Trang 9

Tác giả Nguyễn Thị Nương đặt Bắc hành tạp lục trong dòng thơ đi

sứ để nghiên cứu và nhất là đặt tập thơ này trong hệ thống các tập thơ củathi hào xem như là phản chiếu quá trình vận động trong tư tưởng của một

nghệ sĩ lớn Tác giả nhận định: “Nếu Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp

ngâm là những bước khởi đầu thì Bắc hành tạp lục là đích đến Trên chặng

đường thơ này, thi nhân không còn chìm đắm trong nỗi đau riêng của mộtngười, một thời mà mở rộng tầm nhìn, mở rộng cõi lòng để đón nhận, chia

sẻ, suy ngẫm, lý giải mọi nỗi đau của con người [ 45, 56]

Từ điển văn học (bộ mới) nhận định về Bắc hành tạp lục: “Bắc hành tạp lục là một tập thơ sứ trình nhưng thơ thù phụng tuyệt đối không có.

Con người trong tập thơ chủ yếu là con người chủ thể đối thoại với lịch sử

Và lịch sử cũng chỉ được mượn tên để ký thác những hình ảnh, tâm sự vấn

đề thời đại của nhà thơ Tính chất vịnh sử vì thế rất mờ nhạt, trái lại cá tínhsáng tạo của tác giả biểu hiện rõ và sâu Có thể nói tác giả đã sử dụng vốnsống nhiều mặt tích lũy được trong thời đại bão táp của mình để tái hiệndiện mạo của lịch sử và văn hóa Á Đông truyền thống, thông qua cảm hứngcủa cái “tôi” trí tuệ và trữ tình” [65, 104]

Về thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm, Từ điển văn học (bộ mới) nhận

định: “Cái đáng chú ý trong thơ ông là tinh thần lạc quan và ý thức tráchnhiệm đối với triều đại đương thời, là lòng tự hào dân tộc được thể hiệnmột cách khá đậm nét trong những bài thơ đi sứ” [65, 1082]

Nhìn lại sự nghiên cứu về thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn

Du có thể thấy: Sự nghiên cứu về thơ đi sứ của Nguyễn Du điều này càngphù hợp với giá trị tự thân của thơ đi sứ Nguyễn Du các nhà nghiên cứu đã

khẳng định những giá trị nổi trội của Bắc hành tạp lục, tuy đây là một tập

thơ đi sứ nhưng rất ít bài thơ giao đãi, thù tạc mà chứa chất tâm sự Chính

Trang 10

trong thời gian xa nước Nguyễn Du có tâm thế thích hợp để suy ngẫm vềđời sống về lịch sử Trung Hoa và của nước mình Nổi bật hơn hết là nhânsinh quan nhân đạo chủ nghĩa.

Sự nghiên cứu về thơ đi sứ của Ngô Thì Nhậm đã khẳng định giá trịcủa bộ phận thơ này trong trước tác của tác giả và trong dòng thơ đi sứ ViệtNam Tác giả đã phản ánh được tâm thế của con người Việt Nam, của triềuđại Tây Sơn trong khi giao thiệp với nhà Thanh và khi chứng kiến cuộcsống của người Trung Hoa đương thời

Vấn đề hầu như chưa được nghiên cứu là đối sánh thơ đi sứ của NgôThì Nhậm và Nguyễn Du Đây sẽ là trọng tâm của luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Nhận thức được giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tập

thơ Hoàng hoa đồ phả (Ngô Thì Nhậm) và Bắc hành tạp lục (Nguyễn Du).

3.2 Xác định vị trí của các tập thơ này trong sự nghiệp thơ của từngtác giả

3.3 Khẳng định những đóng góp của hai tập thơ cho thơ đi sứ củaViệt Nam thời trung đại

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu văn bản Hoàng hoa đồ phả trong Ngô Thì Nhậm: Tác

phẩm, tập II, Nxb Văn học &Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2001.

Nghiên cứu văn bản Bắc hành tạp lục trong Nguyên Du : Niên phổ

và tác phẩm do Nguyễn Thạch Giang - Trương Chính biên khảo và chú

giải, Nxb Văn hóa thông tin, 2001

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu Ngữ văn: Thống kê –phân loại, tổng hợp - phân tích và đặc biệt chú trọng phương pháp đối sánh…

Trang 11

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn có ba chương:

Chương 1: Hoàng hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục trong sự nghiệp

thơ của hai tác giả và dòng thơ đi sứ

Chương 2: Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt lớn về

nội dung của hai tập thơ

Chương 3: Những điểm tương đồng và những điểm khác biệt lớn về

hình thức của hai tập thơ

Trang 12

Chương 1

HOÀNG HOA ĐỒ PHẢ VÀ BẮC HÀNH TẠP LỤC TRONG SỰ NGHIỆP

THƠ CỦA HAI TÁC GIẢ VÀ TRONG DÒNG THƠ ĐI SỨ

1.1 Ngô Thì Nhậm và Hoàng hoa đồ phả

1.1.1 Tác giả Ngô Thì Nhậm

Ngô Thì Nhậm (còn gọi là Ngô Thời Nhiệm; 1746 -1803), tự là Hy

Doãn, hiệu là Đạt Hiên, là danh sĩ, nhà văn đời hậu Lê -Tây Sơn, người có

công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh Ngô ThìNhậm xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, ngườilàng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội

Ngô Thì Nhậm thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về

lịch sử Ông thi đỗ Giải nguyên năm 1768, rồi tiến sĩ Tam giáp năm 1775.Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê -Trịnh, đượcchúa Trịnh Sâm rất quý mến Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và TháiNguyên Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn Cha con đồng triều, nổitiếng văn chương trong thiên hạ

Sau Vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giácTrịnh Khải nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình lánh nạn

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìmkiếm quan lại của triều cũ Danh sĩ Bắc Hà đã đầu quân cho nhà Tây Sơn từtrước đó mới chỉ có Trần Văn Kỉ, Ngô Văn Sở và Đặng Tiến Đông Tuyvậy, tới thời điểm này thì cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã đổ Ngô ThìNhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch;các tiến sĩ Ninh Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan; Đoàn Nguyễn

Tuấn (anh rể Nguyễn Du); Vũ Huy Tấn; Nguyễn Huy Lượng (tác giả Tụng

Trang 13

Tây Hồ phú) lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn Sử cũ viết khi được

Thì Nhậm, Nguyễn Huệ mừng mà rằng: "Thật là trời để dành ông cho tavậy", và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm thượngthư bộ Lại-chức vụ cao cấp nhất trong Lục bộ

Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạnquân Thanh kéo sang Đại Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê.Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn(Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn

Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chứcBinh bộ thượng thư Tuy làm ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là ngườichủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với Trung Hoa Ông làngười đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa

Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay vềnghiên cứu Phật học

Sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan HuyÍch, Nguyễn Thế Lịch và một số viên quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằngroi tại Văn Miếu năm 1803 Nhưng do trước đó có mâu thuẫn Đặng TrầnThường cho người tẩm thuốc vào roi Sau trận đánh đòn, về nhà, Ngô ThìNhậm chết

1.1.2 Chuyến đi sứ năm 1793 của Ngô Thì Nhậm

Sứ bộ nước Việt do Ngô Thì Nhậm làm Chánh sứ, khởi hành từThăng Long lên biên giới, ngày 20 tháng Hai, mùa xuân năm Quý Sửu(tức: tháng Ba năm 1793) Ngày 27 tháng ấy, qua cửa ải Ngày 8 thángNăm, mùa hạ, tới Yên Kinh Ở kinh đô nhà Thanh 12 ngày, đến ngày 20tháng Năm thì lên đường về nước Tháng Chín, mùa thu năm Quý Sửu, về

đến kinh đô nước nhà - trong lời tiểu dẫn của bộ sách Hoàng hoa đồ phả,

Trang 14

(tức sách có kèm bản đồ về cuộc đi sứ năm Quý Sửu, 1793), Ngô ThìNhậm đã viết về thời gian của lịch trình, và từng chặng đường đi sứ củamình, rất cụ thể, rành mạch, là như vậy Và còn có thêm cả những kiểmđiểm cặn kẽ, chi tiết về không gian của chuyến đi nữa: “Đã đi qua các đất(xưa) của những nước: Việt, Sở, Tống, Nguỵ, Trịnh, Triệu, Yên Tính rađường đi dài tới một vạn hai nghìn ba trăm dặm Khi về đường còn dài hơn,

đi cả ngày lẫn đêm không nghỉ, chẳng giống như cái thung dung đề thơ ởKim Lãng, Xích Bích của lần đi”

Nhiệm vụ của sứ bộ Ngô Thì Nhậm trong chuyến đi này là báo tangvua Quang Trung vừa đột ngột từ trần ngày 29 tháng Bảy nhuận, nămNhâm Tý (1792) và cầu phong cho vua trẻ Cảnh Thịnh kế vị Đích chínhcủa việc tác động ngoại giao là vị đại lão hoàng đế Càn Long của triều đìnhYên Kinh

Biết rõ Chánh sứ Ngô Thì Nhậm là văn thần số một của nước Việtthời bấy giờ, đồng thời là người chủ trì cuộc bang giao của nước Nam vớiphương Bắc trong suốt thời gian vừa qua, đặc biệt: chính là người đã dựng

“nước cờ Tam Điệp” giúp Quang Trung đại thắng 29 vạn quân Thanh xâmlược, đầu xuân năm Kỷ Dậu (1789), nên hoàng đế Càn Long và cả triềuđình nhà Thanh đều tỏ ra hết sức trọng thị Sứ bộ được “dự yến, xem hýkịch, ban thưởng những vật quý báu, mỗi ngày được đưa các thực phẩm balần, suốt tuần luôn có yến tiệc, ca nhạc Hoàng đế Càn Long thân làm thơ,

viết văn vào thiếp hoa, ban cho” - trong tài liệu Viện minh viên thị yến kỷ

sự đã có câu như vậy.

Còn các mục đích của cuộc đi sứ đều đã đạt được Hoàng đế CànLong đọc xong tờ “biểu” báo tang Quang Trung đã ngự bút phê hai chữ

“Đáng tiếc”! Lại còn giao cho sứ bộ Ngô Thì Nhậm một tấm lụa quý, mỏng

Trang 15

và trong suốt - đặc sản của người Mãn Thanh, gọi là “đại cát đạt”, cùng banghìn lạng bạc để rồi sẽ về làm chay cho Quang Trung Và, khi được NgôThì Nhậm kể cho biết chuyện (tưởng tượng) rằng vua Quang Trung, trướckhi từ trần, còn dặn dò quần thần là phải luôn luôn tôn kính thiên triều,hoàng đế Càn Long đã tỏ ra rất hài lòng, thân chọn hai chữ “Trung Thần”,đặt tên “thuỵ” cho Quang Trung!

Việc cầu phong cho vua trẻ Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, cònthuận lợi hơn nữa Bỏ qua các thủ tục nghiêm cẩn, hoàng đế Càn Long đãxuống đặc chiếu, phong ngay tước “Quốc vương” cho Quang Toản, với lý

do trước đã có phong cho làm “Thế tử” rồi!

Vậy là Chánh sứ Ngô Thì Nhậm đã hoàn thành sứ mệnh một cách vẻvang Nhưng còn vẻ vang hơn nữa, là những gì mà họ Ngô đã nghĩ, đã làm,

ở trong và bên lề cuộc hành trình đi sứ vạn dặm của mình, ở tuổi bấy giờ là

bốn mươi bảy Tất cả đều được phản ánh vào trong Hoàng hoa đồ phả- một

trong những trước tác quan trọng nhất, giữa kho tàng sách vở đồ sộ mà NgôThì Nhậm đã để lại cho hậu thế, trong suốt cuộc đời- từ năm 16 tuổi đếnnăm 57 tuổi - đi học, đi thi, làm quan qua hai triều Lê - Trịnh và Tây Sơncủa mình

1.1.3 Tập thơ Hoàng Hoa đồ phả

1.1.3.1 Vị trí tập thơ Hoàng hoa đồ phả trong sự nghiệp thơ văn của

Ngô Thì Nhậm

Nói đến Ngô Thì Nhậm, ta nghĩ ngay đó là một nhà chính trị, quân sự,ngoại giao Ông còn là một tác gia lớn trong tùng thư Ngô Gia Văn Phái vàmột trong những tác gia tiêu biểu của triều đại Tây Sơn Ông đỗ tiến sỹ vàlàm quan dưới triều Lê - Trịnh, và sau đó ra làm quan dưới triều Tây Sơn.Những sáng tác của ông hiện còn lại khá lớn, khoảng 20 tác phẩm, trong đó

Trang 16

có 5 tác phẩm viết dưới thời Lê - Trịnh: Bút hải tùng đàm, Thủy vân nhàn

vịnh, Kim mã hành dư, Cúc hoa thi trận Có khoảng năm tác phẩm viết

dưới triều Tây Sơn: Cúc hoa thi thận, Thu cận dương ôn Tập thơ Hoàng

hoa đồ phả - một tập thơ sứ trình được viết khi tác giả làm quan dưới triều

Tây Sơn Tập thơ Hoàng hoa đồ phả đã đóng góp lớn cho dòng thơ đi sứ

trung đại Việt Nam và có giá trị nổi bật trong sự nghiệp sáng tác thơ văn của

Ngô Thì Nhậm Hoàng hoa đồ phả vừa vẽ đường đi sứ từ Lạng Sơn đến

Yên Kinh, vừa có thơ vịnh dưới mỗi cung đường hay thành quách, trạmdịch Tập thơ không chỉ đóng góp trong sự nghiệp thơ văn của Ngô ThìNhậm về mặt số lượng, mà còn khẳng định giá trị nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm trong sự nghiệp văn chương đóng góp cho nền văn học nướcnhà Tập thơ sáng tác trong thời gian đi sứ, nhưng thấm đẫm chất trữ tình.Tác giả không ghi chép mọi việc một cách cứng nhắc dưới con mắt của mộtnhà chánh sứ Mọi chất liệu được thẩm thấu qua lăng kính chủ quan của tácgiả nhưng không phải thiếu độ tin cậy, mà nó trở thành một cứ liệu quantrọng trong dòng thơ đi sứ thời trung đại Tập thơ như một tập nhật ký hànhtrình và nhật ký tâm hồn, nó thực sự có tâm hồn thi sỹ đã tự khắc họa bứcchân dung chân thực, sinh động khiến độc giả không chỉ biết đến một người

mà còn biết đến một thời, không chỉ xúc cảm, ngẫm nghĩ về những vấn đềcủa cuộc sống đương thời mà còn bị ám ảnh về nhiều phương diện của kiếpnhân sinh Có thể có nhiều tập thơ khác của Ngô Thì Nhậm có giá trị hơn

nữa, nhưng tập thơ Hoàng hoa đồ phả đã chứng tỏ phần nào vị trí riêng

trong bộ phận trước tác của ông, đồng thời nó còn chứng tỏ vị trí không thểthay thế của các nhà thơ - sứ thần cùng những thi phẩm của họ trong hànhtrình thơ đi sứ nói riêng và lịch sử thơ ca Việt Nam thời trung đại nói chung

Trang 17

1.1.3.2 Xuất xứ tập thơ Hoàng hoa đồ phả

Hoàng hoa đồ phả, tập thơ Ngô Thì Nhậm viết trong thời gian ông

làm chánh sứ, sang kinh đô nhà Thanh Tập thơ Hoàng hoa đồ phả là tập

thơ vừa vẽ đường đi sứ từ Lạng Sơn đến Yên Kinh, vừa có thơ vịnh dướimỗi cung đường hay thành quách, trạm dịch cùng bản bản đồ đường đi.Như vậy, loạt bài làm khi đi sứ trở về không thể ghi chung vào đây, vì NgôThì Nhậm không thể không vẽ đường về Chắc hẳn một số bài sáng tác trênđường về đã đã được chép trong tập riêng

Tập thơ có 95 bài, trong đó có 87 bài theo thể thất ngôn bát cúĐường luật, số còn lại gồm các thể bài luật, trường đoản cú và thơ ba câu.Khi nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu dựa trên bản phiên âm và bản dịch

trong: Ngô Thì Nhậm Tác phẩm, tập 2, Nxb Văn học - Trung tâm nghiên

cứu quốc học, 2001

Người đời sau đọc sách Hoàng hoa đồ phả đều thấy rõ: trong hơn vài

vạn dặm đường đi sứ của mình, Ngô Thì Nhậm đã rất có ý thức và cáchthức để có thể đến được tất cả những nơi trên đất nước Trung Hoa mênhmông mà từ xưa cho đến lúc bấy giờ mọi người chỉ mới biết được qua vănchương và sử sách: sông Tiêu Tương, hồ Động Đình, núi Côn Lôn, thành

Lệ Giang, ải Vũ Thắng, bến Hoàng Hà , rồi nữa, là: đài Đồng Tước, lầuHoàng Hạc, mộ Chiêu Quân, đền Nhạc Phi Để cho ở đó, làm ra và lưulại, trước hết là những áng thơ đẹp mượt mà của một thời phát triển vượtbậc tài năng thi ca của mình

1.1.4.2 Khái quát nội dung tập thơ Hoàng hoa đồ phả

Hoàng hoa đồ phả là tập thơ sứ trình nổi tiếng của Ngô Thì

Nhậm đồng thời đóng góp to lớn cho dòng thơ sứ trình nói chung Tậpthơ đã ghi chép lại một cách tỉ mỉ về những điều mắt thấy tai nghe trên

Trang 18

đất phương Bắc Với chức trách của một bang giao, Ngô Thì Nhậmhoàn thành trọng trách được giao Đi sứ là dịp tác giả gửi vào thiênnhiên nỗi niềm ưu tư nặng trĩu về nỗi đau mất đi thủ lĩnh, mất ngườitri ngộ Tác giả ghi lại những điều mắt thấy tai nghe nhưng mấu chốt

để bộc lộ xúc cảm của mình Cùng chuyến đi sứ này, Ngô Thì Nhậmdường như đang cảm nhận thấy dư âm của Quang Trung trên đấtphương Bắc Triều đại Quang Trung thuộc số những triều đại vẻ vangbậc nhất của lịch sử Việt Nam thời trung đại bởi tuy tồn tại không dàilâu nhưng triều đại này đã tạo nên những kỳ tích kinh thiên động địatrong cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Tầm thước của thờiđại đó được phản ánh ít nhiều trong tâm thế của sứ thần Ngô ThìNhậm

1.2 Nguyễn Du và Bắc hành tạp lục

1.2.1 Tác giả Nguyển Du

Nguyễn Du (1765 -1820) tên tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, hiệuHồng Sơn lạp hộ, là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở ViệtNam Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của Việt Nam, Ông được UNESCOtôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới

Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tạiThăng Long Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấnSơn Nam (thuộc Hà Tây và nay thuộc Hà Nội) sau di cư vào xã Nghi Xuân,huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh)

Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng TiênĐiền về thời Lê mạt Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làmquan Đến thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708 -1775), đậu Nhị giáp tiến

sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới

Trang 19

triều Lê Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhànghiên cứu sử học Ông Nghiễm có tám vợ và 21 người con trai Người contrưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tớichức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng,nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm), người con thứ hai

là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây Nguyễn Duđứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là Chiêu Bảy

Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740 -1778), con gái một ngườithuộc hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ KinhBắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻhơn chồng 32 tuổi Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống nàykéo dài không quá mười năm Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồcôi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ làNguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi)

Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du 15 tuổi thì xảy ra Vụ mật án Canh Tý:Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng

là Trịnh Tông Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam Đến khiTrịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại vàTham tụng Quân lính khác phe (sử gọi là kiêu binh) không phục, kéo đếnphá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em làNguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu

đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngả

Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ Tam trường (tú tài), sau đókhông rõ vì lẽ gì không đi thi nữa Trước đây, một võ quan họ Hà (không

rõ tên) ở Thái Nguyên, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi Vì thế,

Trang 20

khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ởThái Nguyên Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà

Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đãkéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếmĐại Việt Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793)nhưng không kịp, đành trở về quê vợ , quê ở Quỳnh Côi Thái Bình, sốngnhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?)

Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An Năm 1796, nghe tin ở GiaĐịnh, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vàotheo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn dotướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng Trở về Tiên Điền (HàTĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khichúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ông được gọi ra làmquan cho nhà Nguyễn

Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộcKhoái Châu, Hưng Yên) Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín(Hà Tây, nay thuộc Hà Nội)

Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc

Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ

Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Năm1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình

Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ điTrung Quốc

Sau khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du

Trang 21

lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thìmất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúcbấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9năm 1820

1.2.2 Chuyến đi sứ 1813 - 1814 của Nguyễn Du

Theo dõi các cuộc Bắc sứ từ thời Trần đến thời Nguyễn, trong cuốn

Thơ đi sứ các nhà nghiên cứu phác ra con đường đi sứ thông thường của

các sứ thần như sau: “Sứ bộ vượt Nhị Hà, lần lượt qua những trạm dịch đểđến Nam Quan Binh lính mở cửa ải, đốt pháo mừng sức đi bộ và từ đó sứ

đi bộ sẽ đến Nam Kinh, rồi qua Hà Nam, qua Động Đình, Hán Khẩu… Lúc

đi ngựa, lúc đi thuyền để tới Yên Kinh”

Cũng từ trục đường chính ấy và từ nhật kí hành trình tâm trạng mà

Nguyễn Du ghi lại trong Bắc hành tạp lục, Đào Duy Anh mô tả một cách

cặn kẽ hành trình Bắc sứ của Nguyễn Du từ lúc khởi hành đến lúc trở lạitận cửa ngõ nước Việt như sau: Nguyễn Du khởi hành từ Huế, đi quaThăng Long, qua Nam Quan mà sang Trung Quốc, theo sông Minh Giang

và sông Tà Minh Giang mà đến Ngô Châu, ngược sông Quế Giang mà đếnQuế Lâm, nhờ kênh Hưng An mà sang sông Tương, xuôi sông Tương mà

đi suốt tinh Hồ Nam, qua Tương Đàm và Tương Âm, vào hồ Động Đình,rồi đến Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc Từ đây có lẽ sứ đi bộ theo đường bộ mà qua

Võ Thắng Quan để vào Hà Nam, qua Tín Dương, Yến Thành, Hứa Xương

mà đến Khai Phong và vượt sông Hoàng Hà, qua Triều Ca, Nghiệp Thànhtrên sông Chương Hà, qua Hàm Đan kinh đô nước Triệu xưa, qua sôngDịch mà vào địa phận nước Yên xưa để đến Bắc Kinh Từ Vũ Hán, đường

bộ của Nguyễn Du khi về theo đường cũ ở khoảng Nam và Bắc sôngHoàng Hà mới trải qua đói kém và loạn lạc, sứ đi bộ phải chuyển sang đi

Trang 22

đường phía đông mà theo đường tương đương với đoạn đầu của đường xelửa Tân Phố, qua phía tây Thái Sơn mà đến Khúc Phụ (quê của Khổng Tử)

và Trân huyện (quê của Mạnh Tử) và tỉnh Giang Tô mà đến Từ Châu vàNam Kinh Có lẽ bấy giờ lưu vực sông hoàn đang bị đói kém nên sứ bộkhông từ Nam Kinh đi thẳng xuống An Huy mà phải từ Nam Kinh đi theođường bộ xuống Chiết Giang, qua Tổ Sơn mà đến Hàng Châu, rồi từ HàngChâu lại theo đường bộ sang An Huy, qua đầm Đào Hoa ở Kinh huyện, rồivượt lên phía bắc sông Trường Giang mà qua núi Tiềm Sơn vào tỉnh HồBắc mà địa đầu là núi Hoàng Mai, rồi đến Vũ Hán Từ đấy sứ bộ lại theođường sông cũ mà qua các tỉnh Hà Nam và Quảng Tây để bước vào NamQuan Những mong tường minh từng bước chân của Nguyễn Du cùng sứ

bộ, Nguyễn Văn Hoàn đã men theo từng mốc ngày tháng cụ thể được ghichép để tìm ra lộ trình chuyến Bắc hành của Nguyễn Du như sau:

6/2 Quý Dậu: đi qua cửa Nam Quan

8/4: đến Ninh Minh Châu

2/5: đến thành phủ Ngô Châu

5/6: đến Quế Lâm, tỉnh lị Quảng Tây

18/7: từ Toàn Châu đến Trường Sa, tỉnh lị Hồ Nam

27/7: đến địa phận huyện Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc

30/7: đến Vũ Xương, tỉnh lị Hồ Bắc

9/8: từ Hán Khẩu ra đi

22/8: đi khỏi địa phận huyện An Dương, tỉnh Hà Nam

21/9: đến trạm Từ Châu, tỉnh Trực Lệ, sau đó qua Bảo Định để lênBắc Kinh

4/10: tới Bắc Kinh

24/10: từ Bắc Kinh khởi hành về nước

Trang 23

2/11: về đến châu thành Cảnh Châu thuộc tỉnh Trực Lệ sau đó quaĐức Châu, tỉnh Sơn Đông, rồi đi qua tỉnh An Huy mà xuống Hồ Bắc

11/12: đến Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc

25/12: từ huyện Gia Ngư tỉnh Hồ Bắc đi đến huyện Lâm Tương tỉnh

Hồ Nam

30/1 Giáp Tuất: đến huyện Kì Dương tỉnh Hồ Nam

12/2: đến Toàn Châu tỉnh Quảng Tây

4/2 nhuận: đến Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây

29/3: về qua Nam Quan

Chúng ta có thể hình dung rõ hơn về lộ trình của sứ bộ qua “bản đồchỉ đường đi của sứ bộ Nguyễn Du năm 1813 - 1814”

1.2.3 Tập thơ Bắc hành tạp lục

1 2.3.1 Vị trí của Bắc hành tạp lục trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du

Gần đây, mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du mới được sự quan tâmđúng mức của độc giả và giới nghiên cứu Thậm chí mảng thơ chữ Hán củaNguyễn Du còn được một vài nhà nghiên cứu đánh giá một cách ưu ái:

“Truyện Kiều thực ra là tác phẩm “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn

thơ chữ Hán mới đích là sáng tác, nên xem nó là phát ngôn viên chính thứccủa Nguyễn Du (…) Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chươngnghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ

và độc đáo trong nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũngđộc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”

Cùng cảm hứng với Mai Quốc Liên, Nguyễn Kim Hưng cũng đưa ra

nhận xét đáng chú ý Nếu Truyện Kiều và Văn chiêu hồn là những công

trình nghệ thuật cho thấy những hiểu biết bậc thầy của Nguyễn Du về nỗikhổ niềm vui của cả một thế giới diễn ra quanh mình thì thơ chữ Hán lại

Trang 24

cho thấy một cách trực diện sự khám phá tài tình của Nguyễn Du về cáithế giới sâu thẳm ẩn náu trong bản thân ông Cùng là những kiệt tác,

Truyện Kiều và Văn chiêu hồn là tấm gương đa diện của muôn vàn tâm

trạng khác nhau trong hiện thực cuộc đời mà nhà thơ sống; Trái lại, thơ chữHán là tấm gương đa diện của cái “tôi” trữ tình giàu bản sắc của chínhNguyễn Du”

Đọc kĩ, đọc sâu thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng ta sẽ nhận ra điều

mà Đào Duy Anh đã nhận định: “Chính thơ chữ Hán chứa đựng bónghình, đời sống, nét mặt, mái tóc, dấu chân, tâm tình, suy nghĩ củaNguyễn Du”, đó “không phải là tiểu thuyết, là kịch nữa, mà thuần làtâm tình bản thân, Nguyễn Du đã để con người của mình trong thơ”.Tương tự, Thanh Lãng cũng nhận thấy: “Thơ văn chữ Hán Nguyễn Dumới tố cáo thực chất quái gở của cuộc đời ông Ông hầu như là ngườiduy nhất không nói cái người khác đó, hay sẽ nói và cũng không nóibằng ngôn ngữ giống người khác”

Nguyễn Huệ Chi nhận định: “Khác với Truyện Kiều, một cuốn tiểu thuyết trọn vẹn và Văn chiêu hồn một bài văn tế thay lời nhà Phật kêu gọi

chúng sinh, thơ chữ Hán Nguyễn Du chủ yếu là những vần thơ tâm tình

Truyện Kiều và Văn chiêu hồn nếu có bao hàm tâm sự của Nguyễn Du

cũng phải thông qua số phận khách quan của các nhân vật chính - nhữnghình tượng nghệ thuật kết tinh từ cuộc sống Thơ chữ Hán Nguyễn Du, tráilại, khắc họa hình ảnh trữ tình của chính Nguyễn Du, một hình ảnh rất

“động” trước mọi biến cố của cuộc đời” [5]

Trong các nhận xét, đánh giá trên, có một hiển ngôn rành rành rằng

Truyện Kiều và Văn chiêu hồn luôn là một đối trọng, một vế để đem so

sánh, đối chiếu với ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du với tổng số hơn hai

Trang 25

trăm bài thơ Và cuối cùng, cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của Nguyễn

Du đều được khẳng định về mặt giá trị nội dung, tư tưởng nghệ thuật, tâmhồn ông cũng được nhìn nhận và hiểu một cách thấu đáo từ nhiều góc độcủa tác phẩm

Vấn đề đặt ra là: Tại sao Nguyễn Du thành công đến vậy trong loạihình thơ chữ Nôm nhưng ông không sáng tác nhiều, mà lại tỏ ra thích thúthơ chữ Hán hơn? Phải chăng, trong thời đại Nguyễn Du, thơ chữ Nôm bịcoi là loại “bình dân”, không “xứng tầm” với vị Tòng nhị phẩm Tham tri

bộ lễ? Hay chỉ đơn giản là do Nguyễn Du muốn “thử bút” vì sở trường củamình? Hay là, như sự lý giải của Mai Quốc Liên, “vào thời Nguyễn Du,Hán học cực thịnh, Nguyễn Du làm thơ, trút tâm huyết, tài năng vào đó là

lẽ thường” Hay do đặc thù của chữ Nôm không đủ độ sâu lẫn bề rộng để

“tải” hết những chất chứa tâm sự của con người “ưu thời mẫn thế” này? Mỗi tâm trạng sẽ tìm cho mình một cách thể hiện, một môi trườngphát triển tối ưu nhất Có lẽ, hiểu tâm trạng của mình hơn ai hết, Nguyễn

Du đã tìm được cho nó mảnh đất sống màu mỡ nhất để nó có thể sinhtrưởng, phát triển, từ đó Nguyễn Du có thể giãi bày một cách trọn vẹn tâmtrạng bời bời của mình Và có thể, cũng nhờ đó, như hổ phách lưu giữ cáchóa thạch hàng ngàn vạn năm, thơ chữ Hán Nguyễn Du lưu giữ cho hậu thếgần như trọn vẹn tâm tư tình cảm thật, sâu kín của ông mà văn thơ chữNôm không làm nổi Khó có thể phủ định rằng “Thơ chữ Hán Nguyễn Du

là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thế kỉ”

Khi đã xác lập được vị trí của thơ chữ Hán trong sự nghiệp thơ ca

Nguyễn Du chúng ta có thể định vị rõ hơn địa vị của tập Bắc hành tạp lục

trong các mối tương quan trên, mà mới chỉ dừng lại ở một vài nhận định về

một số vấn đề của tập thơ Bắc hành tạp lục là tập thơ đặc sắc nhất trong

Trang 26

thơ chữ Hán Nguyễn Du nói riêng và trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du nói

chung Đồng thời, Bắc hành tạp lục còn là bằng chứng khả kiến nhất về nỗi

ưu thời mẫn thế trong tâm hồn con người (con người ông quan lẫn conngười nhà thơ) vốn rất nhạy cảm của Nguyễn Du

1.2.3.2 Xuất xứ tập thơ Bắc hành tạp lục

Đứng bên cạnh đất nước Trung Hoa rộng lớn và hùng cường, dù tựgiác hay buộc phải tự giác, các triều đại phong kiến nước Việt thường tựnhận một cách nhún nhường, là thân phận bề dưới của “mẫu quốc” TrungHoa (dẫu có không ít vần thơ hào sáng vút lên khẳng định sự tự tôn củamột dân tộc nhỏ bé mà quật cường này) Hoàn cảnh và tâm lý thời đại ấykhiến cho triều đình nước Nam phải thường xuyên tuế cống “thiên triều”Trung Hoa, như một nghĩa vụ lẫn niềm vinh dự, để gây dựng và gìn giữmối giao hảo, cũng như tìm được sự “che chở” của thiên triều Chính vìthế, trải từ thời Trần đến thời Nguyễn đó có không ít những sứ thần nhàViệt phải được làm những chuyến “Bắc hành” để “báo cáo” tình hình trongnước và tạ ơn mẫu quốc Và kết quả là: Về mặt lịch sử, chúng ta ai cũng đãrõ; Về mặt văn học và văn hóa, “có đến 60 người đi sứ làm thơ với hàngtrăm thi tập, ngót vạn bài thơ”

Đầu năm 1013, khi đó 48 tuổi, Nguyễn Du được thăng Cần chánh điệnđịa học sĩ rồi được đi sứ Trung Quốc Tiếp nối trọng trách của các vị sứthần tiền bối, Nguyễn Du cũng “tay cầm tiết ngọc, hai vai nặng trĩu sứmệnh của nước nhà” dẫn đầu đoàn sứ bộ “Bắc hành” từ đầu tháng Hai đến

giữa tháng Chạp năm Quý Dậu (1813) Sách Thực lục đời Thanh Nhân

Tôn, quyển 276 chép: “Năm Quý Dậu tháng Mười, ngày mồng một niênhiệu Gia Khánh thứ mười tám, vua nước Việt Nam là Phúc Ánh sai sứ sangbiểu cống phương vật Đã ân thưởng và ban yến như thường lệ”

Trang 27

Trong chuyến đi dài này, Nguyễn Du không chỉ thực hiện tốt vai trò

“con người ông quan’ của mình, mà “con người nhà thơ” của ông cũng

được phát tiết thành tập thơ chữ Hán đặc sắc Bắc hành tạp lục.

1.2.3.3 Khái quát nội dung tập thơ Bắc hành tạp lục

Bắc hành tạp lục (ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc) là

tập thơ bao gồm 131 bài thơ bằng chữ Hán Nguyễn Du sáng tác trongkhoảng thời gian ông dẫn đầu đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Trung Quốc từđầu năm Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814 Đây là một tập thơnói lên lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, nhữngngười tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùngnỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng và tàn bạo, được Nguyễn Du nói lênbằng những vần thơ hết sức sâu sắc

Theo mục lục in trong Thơ chữ Hán Nguyễn Du, bài thơ mở đầu tác

phẩm Bắc hành tạp lục là bài Long Thành cầm giả ca (Bài ca về người gảy

đàn ở Thăng Long) được viết khi ông trở ra Thăng Long để lên đường sang

Trung Quốc, và bài cuối là Chu phát (Thuyền ra đi) được làm khi đoàn sứ

bộ về đến Vũ Xương (Hồ Bắc, Trung Quốc) Kể từ đó không thấy Nguyễn

Du sáng tác hay ghi chép gì thêm Đa phần thơ trong Bắc hành tạp lục là

thơ luật, gồm 76 bài thất ngôn bát cú, 11 bài ngũ ngôn bát cú, 18 bài thấtngôn tứ tuyệt; chỉ có 8 bài thất ngôn cổ phong, ngũ ngôn cổ phong và 18bài trường thiên (thất ngôn, ngũ ngôn hoặc trường đoản cú) theo thể ca vàhành Phần đầu tập thơ là 9 bài mô tả cảnh vật từ Thăng Long đến ải Nam

Quan, theo đánh giá của Từ điển văn học (bộ mới) thì trong số đó có 4 bài viết về cố đô Thăng Long đều là những kiệt tác, nhất là bài Long Thành

cầm giả ca Số còn lại (122 bài) sáng tác trên đất Trung Quốc và lấy đề tài

trên đất nước này, có thể chia làm hai nhóm:

Trang 28

Đề tài "lộ trình" gồm khoảng 70 bài, ghi lại những cảm hứng nẩysinh, những điều tai nghe mắt thấy trên từng chặng đường đi, rồi qua đó

nhà thơ giãi bày tâm trạng, như Minh Giang chu phát (Đi thuyền trên sông Minh Giang), Thái Bình thành hạ văn xuy địch (Bên thành Thái Bình nghe tiếng sáo thổi), Sơn Đường dạ bạc (Đêm đậu thuyền ở sông Sơn Đường), Trong số ấy có bài Trở binh hành (Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường), Thái Bình mại ca giả (Người hát rong ở thành Thái Bình), Sở kiến

hành (Những điều trông thấy) đều rất xuất sắc và sâu sắc Đề tài "vịnh sử"

gồm khoảng 50 tác phẩm, trình bày cảm xúc và suy nghĩ về một loạt nhân

vật lịch sử Trung Quốc, nhân đi qua các di tích của họ, như Tương Đàm

điếu Tam Lư đại phu (Qua Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu), Dự Nhượng chùy thủ hành (Bài hành về cái dao găm của Dự Nhượng), Sở Bá vương

mộ (Mộ Sở Bá vương), Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác (Qua sông

Hoài, cảm nhớ Hoài Âm hầu) Ở nhóm thơ này có khá nhiều bài hay mà

nổi trội hơn cả là bài thơ Phản chiêu hồn.

Theo Từ điển văn học (bộ mới) thì cũng chính từ các nhân vật lịch sử

này, mà Nguyễn Du có cớ để bày tỏ "thái độ dứt khoát về lập trường dântộc đối với các nhân vật đã trở thành điểm đen trong giai thoại và sử sáchViệt Nam, như Triệu Đà, Mã Viện, Minh Thành Tổ đồng thời nhà thơ cócái nhìn đồng cảm, liên tài đối với những nhân vật biểu trưng cho nền vănhóa Trung Quốc, ở các bài nói về Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Kinh Kha, KêKhang, Lưu Linh, Dương Quý Phi " [65]

Điều đặc biệt là mặc dù làm Chánh sứ với biết bao nhiêu công việcngoại giao phiền toái, Nguyễn Du vẫn viết rất nhiều Bởi khối lượng tác

phẩm trong Bắc hành tạp lục được viết trong khoảng hai năm đi sứ, đã

trội hơn toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của ông trong suốt mười mấy năm

Trang 29

trước cộng lại Giải thích điều này, Từ điển văn học (bộ mới) cho rằng:

Sáng tác được nhiều, một phần vì những vấn đề xã hội trước đây Nguyễn

Du mới cảm biết một cách lờ mờ, thì bây giờ cuộc sống giúp nhà thơnhận thấy rõ nét Phần nữa, nhờ đi ra nước ngoài, nhà thơ có thể mượnnhiều đề tài lấy từ lịch sử và hiện tại của nước người để nói những điềuNguyễn Du muốn nói về nước mình, tránh được sự công kích của các thếlực phong kiến lúc ấy [65]

Điều đặc biệt khác Bắc hành tạp lục là một tập thơ sứ trình, vậy mà

thơ "thù phụng" (thơ đối đáp, ca ngợi) tuyệt đối không có Theo GS.Nguyễn Huệ Chi, chỉ có "con người chủ thể đối thoại với lịch sử Và lịch

sử cũng chỉ được mượn tên để ký thác những hình ảnh, tâm sự, vấn đề thờiđại của Nguyễn Du Tính chất vịnh sử vì thế rất mờ nhạt, trái lại, cá tínhsáng tạo của tác giả biểu hiện rất rõ và sâu Có thể nói Nguyễn Du đã sửdụng vốn sống nhiều mặt, tích lũy được trong thời đại bão táp của mình, đểtái hiện lại diện mạo của lịch sử và văn hóa Á Đông truyền thống, thôngqua cảm hứng của cái "tôi" trí tuệ và trữ tình" [5]

Theo bước chân của sứ đoàn, bức tranh tâm trạng và thế giới “tạp”của hiện thực vô cùng phong phú suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc đượctái hiện rất rõ và đạt đến độ sâu thấm thía Tập thơ không chỉ đơn thuầndừng lại ở việc “ghi chép” những điều trông thấy, nhũng cảm nghĩ dọcđường, mà còn dẫn dụ, khơi gợi người đọc chú ý tới những vấn đề đằng saucon chữ, liên quan tới hiện thực và con người, lịch sử và văn hóa, cá nhân

Trang 30

132 bài thơ tức cảnh, đề vịnh, cảm hoài có dịp ra đời Nhưng “Thơ Nguyễn

Du bài nào cũng chứa đựng một lời tâm sự Ngay từ những bài tức cảnh,vịnh sử khi đi sứ Trung Quốc cũng không phải là những bài của nhà thơ hếtsức rõ rệt” Những lời tâm sự ấy “có chăng chỉ có nước Quế Giang sâuthẳm mới có thể hiểu” Có thể dùng lời nhận xét của Nguyễn Huệ Chi về

thơ chữ Hán Nguyễn Du để nói về nội dung bao trùm của tập Bắc hành tạp

lục: ‘‘ Đằng sau hình ảnh Nguyễn Du với cõi lòng ủ ê tê tái, với cá tính rõ

mồn một, Nguyễn Du nghìn lần thực hơn cái con người chỉ biết vâng vâng

dạ dạ cho qua chuyện trước mặt Gia Long mà sử sách từng ghi lại, ta cònthấy một điều gì lớn hơn nữa, ấy là những suy nghĩ nung đúc những nhâncách lịch sử, cũng là sự chiêm nghiệm sâu kín và đầy trắc ẩn về những báođộng thời cuộc diễn ra trước mắt ông Có thể nói, khác với những tác phẩm

khác, Bắc hành tạp lục là một cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp về số

phận mình, gắn liền với vận mệnh chúng sinh trong nhiều thời đại, nhất làthời đại ông đang sống” [5] Có một điều rõ ràng rằng đằng sau những bàithơ vịnh cảnh vịnh người ấy ẩn chứa nhu cầu tự bạch, tự giãi bày, mong

được thấu hiểu của người viết nên chúng Do đó, chúng ta tiếp cận Bắc

hành tạp lục không chỉ từ hình thức và thể tài của nó, mà còn cần thấy

được cả nhu cầu bức thiết mà âm thầm, cháy bỏng của Nguyễn Du khi viếtnên những bài thơ này: hiểu người và được người hiểu

1.3 Vị trí của Hoàng hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục trong thơ sứ

trình Việt Nam

Từ thời nhà Trần đến triều Tây Sơn và nhà Nguyễn, khi những cuộcBắc sứ trở thành thông lệ bất dịch thì thơ đi sứ cũng đã xác lập thành hẳnmột dòng thơ riêng, mang những nét đặc thù mà những dòng thơ kháckhông có được Những cái tên “Hoa trình” (Đường hóa), “sứ trình” (Đường

Trang 31

đi sứ) dần trở nên quen thuộc, lớn dần theo bước chân của các sứ thần nhàViệt trên đất Trung Hoa Điều này ngay Ngô Thì Nhậm cũng nhận thấy:

“Từ thời Trung Hưng về sau, các nhà thơ nổi tiếng thường thấy nhiều trongcác tác phẩm đi sứ Có người tìm nơi u tĩnh, hỏi việc xa xưa, tức cảnh sinhtình, xa nước nhớ quê, nhân việc mà dẫn ý cũng đáng gửi lại cho nhiềuđời sau” [41, 380]

Mang trong mình cái hừng hực khí thế thời đại cũng như cảm hứngxuyên suốt toàn bộ thơ ca đời Trần, thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn,Phạm Sư Mạnh… được đánh giá là “những bài thơ đẹp” đầy hào khí Từsau đời Lê Trung Hưng, thơ đi sứ có những tập thơ nổi tiếng của các bậcdanh sĩ như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Huy Oánh,

Hồ Sĩ Đống, Lê Quý Đôn… để lại “hương thơm có thể thấm nhuần cho đờisau” (Ngô Thì Nhậm) trong đó Nguyễn Tông Khuê được đánh giá là “một

tay lãnh tụ” (Vũ trung tùy bút - Phạm Đình Hồ) Và “Dù không có được cái

khí phách Lý - Trần, nhưng cái diễm lệ của thời đời Lê trong thời NguyễnTông Khuê, Nguyễn Huy Oánh, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Công Hãng…cũng đã để lại cho thơ đi sứ chữ Hán một gia tài lớn” [33]

Trong những tập thơ đi sứ thời Tây Sơn của Ngô Thì Nhậm, Phan HuyÍch, Đoàn Nguyễn Tuấn, Võ Huy Tấn, “bên cạnh những bài mang nặng cáicốt cách thơ thời Hậu Lê, ta thấy những bài có âm điệu tự hào, trong sáng(…) Thơ đi sứ đến đây đã đổi mới một bước về thi phong” [33]

Từ sự “đổi mới một bước về thi phong” của thời đại trước, đến thờiNguyễn “thơ đi sứ có những bước chuyển mới hắn (…) Các nhà thơkhông thỏa hiệp với thực tại để phản ánh trong thơ mình những chân lýcủa đời sống” Cùng với những xao động một lòng nhớ nước thươngnhà đầy cảm động trong thơ Nguyễn Thuật, Nguyễn Tư Giản, Trương

Trang 32

Hảo Hiệp… là những vần thơ mỉa mai, oán giận và xót đắng “nhân việc

mà tỏ ý” của Ngô Thi Vị, Ngô Nhân Tĩnh, Hà Tông Quyền, Bùi Dị,…Nhìn chung, thơ đi sứ thời Tây Sơn và Nguyễn đậm “chất trữ tình, đồngthời cũng giàu tính hiện thực Nó toát lên những âm điệu xốn xang,chua xót mà trầm hùng” Trong bản hòa âm của thơ sứ trình, tập thơ

Hoàng hoa đồ phả (Ngô Thì Nhậm), và Bắc hành tạp lục (Nguyễn Du)

nổi lên trong một thanh âm độc đáo, mang nhiều nét của chủ âm trong

bản đàn ấy Hoàng hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục mang trong mình

một hàm lượng giá trị nội dung và ý nghĩa nghệ thuật đủ lớn để nókhông bị nhấn chìm cùng với nhiều tập thơ sứ trình chỉ có tính nhất thời

khác Lý do của sự “trường thọ” của Hoàng hoa đồ phả và Bắc hành

tạp lục là gì? Có thể phủ định tính chất “tầm gửi” của hai tập thơ vào sự

nổi tiếng của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Du? Có thể nhận ra một đặc

điểm tõ nét trong nội dung của Hoàng hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục

là nó bao hàm khá đầy đủ nội dung nhiều tập thơ sứ trình khác: Cũng

“tức cảnh”, “đề vịnh”, “cảm hoài”; cũng điếu cổ thương kim, mượn cái

cổ mà nói cái kim; cũng ẩn giấu hùng tâm tráng chí lẫn tâm trạng biquan về những điều mắt thấy tai nghe; cũng có chất trữ tình đắm thắmcủa thơ đi sứ thời Tây Sơn và Nguyễn mà không thiếu chất “hào khí”

thời Lý Trần, phảng phất tâm lý anh hùng tự nhiệm… Hơn nữa, Hoàng

hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục còn mang nội dung mà không phải tác

giả nào cũng chạm đến được như: Những tiếng vang chát chúa củanhững vấn đề xã hội nóng hổi tính thời sự; cái “tôi” trữ tình với nhữngcảm xúc được phát biểu một cách thật thà, sâu sắc chứ không còn là cáitôi của những “ông quan chánh sứ” Có lẽ vì thế mà từ rung động củamình, Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Du đã gây ra sự “lây lan của cảm xúc”

Trang 33

một cách hiệu quả tới người đọc Có thể cũng nhờ đó mà Hoàng hoa

đồ phả và Bắc hành tạp lục vượt qua được mẫu số chung của thời đại

để vươn tới mẫu số chung của cảm xúc nhân loại

Trên hành trình gần ngàn năm của thơ sứ trình Việt Nam, Hoàng

hoa đồ phả và Bắc hành tạp lục có đủ sức lực và bản lĩnh để xác lập

mình thành một dòng chảy đặc trưng của Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Dutrong sự hòa tan của các “dòng” khác đang hòa mình vào nguồn đặc thùnày

1.4 Tổng quan về thơ đi sứ Việt Nam thời trung đại

Do vị trí địa lý và do hoàn cảnh lịch sử, từ lâu đời, Việt Nam vàTrung quốc có mối quan hệ bang giao hết sức mật thiết gắn bó kéo dài đếnvài ngàn năm Do vậy, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu đậm và nặng nềvăn hóa Hán, văn học Hán Riêng ở lĩnh vực chính trị và ngoại giao, cácvương triều hai nước có nhiều lúc căng thẳng xung đột, nhiều cuộc chiếnthảm khốc đẫm máu đã diễn ra, Việt Nam đã nhiều lần chiến tranh phươngBắc xâm lược, nhưng vì nhân nghĩa, hòa hiếu, để nhân dân nghỉ sức xâydựng đất nước nên Việt Nam đã phải nhún nhường chịu thần phục trước

“thiên triều” Trung Quốc

Để công cuộc giao bang diễn ra thuận lợi, tốt đẹp, suốt cả thời trungđại, các vương triều hai nước rất nhiều lần đã cử nhiều đoàn sứ bộ qua lại,nhất là phía Việt Nam Chính mối quan hệ giao bang này đã hình thànhdòng thơ bang giao trong văn chương trung đại Việt Nam, trong đó có thơ

sứ trình (thơ đi sứ) Các sứ thần Việt Nam không chỉ là nhà ngoại giao kiệtxuất với vốn văn hóa uyên bác mà còn là nhà thơ tài hoa Trên hành trìnhnghìn trùng diệu vời, để đến được kinh đô của “thiên triều”, bắt đầu từNam Ninh (Quảng Tây- Trung Quốc) trở đí, phương tiện giao thông chủ

Trang 34

yếu mà các đoàn sứ bộ ngoại giao thường dùng là đường thủy theo dòngTrường Giang Từ Thăng Long đến Yên Kinh (Bắc Kinh) hay Phú Xuânđến Bắc Kinh, thông thường các sứ đoàn đi theo lộ trình: Thăng Long -Quảng Tây - Hồ Nam - Hồ Bắc - An Huy - Giang Tô - Sơ Đông - Hà Bắc -Yên Kinh (Bắc Kinh) Những chuyến đi, về trên đất nước Trung Quốc rộnglớn ấy, các sứ giả - nhà thơ có dịp tận mắt thưởng ngoạn nhiều thắng cảnhthiên nhiên kỳ thú, nhiều danh lam nổi tiếng Chẳng hạn sứ đoàn sẽ ngangqua Toàn Châu - Chùa Tương Sơn (cuối Quảng Tây); Hành Sơn, HànhDương, Hồi Nhạn Phong; chùa Nhạn Lộc, Hồ Động Đình, Sông Tiêu, BồnPhố, Thái Thạch (An Huy); Kim Lăng, Dương Châu (Giang Nam,Giang Tô) Hồ vi Sơn, (Sơn Đông), Các danh thắng hữu tình đó đã gợithi hứng cho các vị đã cất bút đề thơ ghi lại cảm xúc với quan lại “thiêntriều”, các vị thường dùng bút đàm chữ Hán và dùng văn chương để xướnghọa thù tạc thể hiện tâm tình giao hảo Do vậy, đường đi sứ trở thànhđường thơ Từ đó, có rất nhiều tập thơ đi sứ nổi tiếng được hoàn thành.

Về vị trí địa lý, tỉnh Hồ Nam khi xưa vốn là vùng đất của Bách Việt

cổ, tọa lạc bên bờ Trường Giang, phía Bắc giáp tỉnh Hồ Bắc; phía Tây giáphai tỉnh Phú Xuyên, Qúy Châu; phía tây nam giáp tỉnh Quảng Tây; phíanam giáp tỉnh Quảng Đông và phía đông giáp tỉnh Quảng Đông và phíađông giáp tỉnh Giang Tây Hồ Nam có tên cũ là Tương, nằm ở miền trungđất Trung Hoa, phần lớn đất đai của tỉnh nằm ở phía nam hồ Động Đìnhnên gọi là Hồ Nam Hồ Nam có nhiều di tích văn hóa và thắng cảnh nổitiếng, đơn cử như: Lầu Nhạc Dương ở phía tây thành Huyện Nhạc Dương;Động Đình hồ mênh mông với nhiều truyền thuyết sinh động kỳ thú mangkhí vị thần tiên; những dòng sông thơ mộng như Tương Giang, Tiêu Giangrồi gộp thành Tiêu Tương với tám cảnh đẹp nổi tiếng, dòng Trường Giang

Trang 35

ngút ngàn như từ lưng chừng trời tuôn xuống; núi Hành Dương cao ngấttrời với đỉnh Hồi Nhạn Phong mà nhạn không bay qua nổi; Hành Sơn; chùa

cổ Nhạc Lộc ở trên núi thuộc Trường Sa với thư viện cổ nổi tiếng, thủ phủTrường Sa trung tâm của Tỉnh Hồ Nam Vùng đất này cũng là nơi trích địacủa hai nhà thơ nổi danh thời cổ đại Trung Hoa: Khuất Nguyên bị đày ởvùng Tương Giang; Giả Nghị bị đày ở Trường Sa Điều này để giải thíchtại sao, thơ đi sứ của nhiều tác giả Việt Nam đã viết nhiều về hồ ĐộngĐình, lầu Nhạc Dương, dòng Tiêu Tương, núi Nhạc Lộc, núi HànhDương ở Hồ Nam, và có những vần thơ hoài cổ cảm khái về KhuấtNguyên, về Gỉa Nghị khi các vị đi qua Tương Đàm, Tương Âm, Trường Sachẳng khác nào như trò chuyện với tri kỷ cố nhân; hay ca ngợi thiên nhiênhữu tình thơ mộng nơi lầu Hoàng Hạc khi các vị ngang qua Hồ Bắc

Về thơ sứ trình trung đại Việt Nam, sơ bộ có thể nêu tên những tácgiả với những tác phẩm theo thứ tự niên đại như sau:

Đời Trần (1225 - 1400) có Đinh Củng Viên, Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn

Trung Ngạn với Giới Hiên thi tập, Phạm Sư Mạnh với Hiệp Thạch tập,

Phạm Tống Mại, Doãn Ân Phủ

Đời hậu Lê sơ (1428 - 1527): Nguyễn Đình Mỹ, Đỗ Cận, Trần Lô,

Đào Nghiễm với Nghĩa Xuyên quan quang tập.

Đời Mạc (1527 - 1667): Giáp Hải có Tùy Bang tập, Vũ Cận có Tinh

Thiều kỷ hành, Hoàng Sỹ Khải có Bắc sứ quốc ngữ thi tập, Sứ trình khúc

(cả hai bằng chữ Nôm), Đỗ Cận có Kim Lăng ký (chữ Nôm, viết về cảnh

vật ở Nam Kinh)

Đời Lê Trung Hưng (1533 - 1788) thơ đi sứ được mùa: Phùng khắc

Khoan có Mai Lĩnh sứ hoa thi tập, Đặng Đình Tướng có Chúc Ông

phụng sứ tập, Nguyễn Đăng Đạo có Nguyễn Trạng Nguyên phụng sứ

Trang 36

tập, Nguyễn Công Kháng có Tinh Sà thi tập, Phạm Khiêm Ích viết Kính Trai sứ tập, Nguyễn Kiều có Hạo Hiên sứ vịnh, Sứ Hoa tùng vịnh

(viết chung với Nguyễn Tông Quai), Nguyễn Tông Quai có Sứ Hoa

tùng vịnh (viết chung với Nguyễn Kiều) và Sứ trình tân truyện (chữ

Nôm), Đinh Nho Hoàn có Mặc Ông sứ tập, Nguyễn Công Hãng có Tinh

sà thi tập, Nguyễn Công Cơ có Sứ Hoa tập, Ngô Đình Thạc có Hoàng Hoa nhã vịnh, Lê Hữu Kiều có Bắc sứ hiệu tần thi, Lê Qúy Đôn ngoài

văn chép về thông lệ ứng đáp bang giao khi đi sứ (Bắc sứ thông lục,

Tục ứng đáp bang giao lục) còn có Liên châu thi tập trong đó có phần Tiêu Tương bách vịnh với một trăm bài, Nguyễn Huy Oánh viết Nguyễn Thám hoa thi tập, Yên đài tổng ca, Đoàn Nguyễn Thục có Hải An sứ vịnh (Đoàn Hoàng Giáp phụng sứ tập), Hồ Sỹ Đống viết Hoa trình khiển hứng tập (Dao Đình sứ tập), Lê Quang Viện có Hoa trình ngẫu bút lục, Trịnh Xuân Chú viết Sứ Hoa học bộ thi tập.

Đời Sơn Tây (1789 - 1802): Đoàn Nguyễn Tuấn có Hải Ông thi

tập, Nguyễn Đề có Hoa trình tiêu khiển tập, Ngô Thì Nhậm có Yên Đài thu vịnh (Hoa trình thi phú sao), Hoàng Hoa đồ phả, Phan Huy Ích có Tinh Sà Kỳ hành, Bang giao tập, Vũ Huy Tấn có Hoa nguyên tùy bộ tập.

Đời Nguyễn (1802 - 1945) cũng được mùa về thơ đi sứ với nhiều

thi sỹ tài danh: Trịnh Hoài Đức có Cấn trai quan quang tập (Bắc sứ thi tập), Lê Quang Định có Hoa nguyên thi thảo, Ngô Nhân Tĩnh có Thập

Anh Đường thi tập, Nguyễn Gia Cát có Hoa trình thi tập, Ngô Thì Vị

có Mai dịch xu dư, Nguyễn Du có Bắc Hành tạp lục, Phan Huy Chú, Lý Văn Phức có Sứ trình chí lược thảo, Sứ trình tiện lãm khúc (Nôm), Tùng Thiện Vương, Nguyễn Miên Thẩm có Bắc hành thi tập, Hà Tông

Trang 37

Quyền, Trương Hảo Hiệp có Mộng mai đình, Phan Thanh Giản có Sứ

Thanh thi tập, Sứ trình thi, Phạm Chi Hương có Mã xuyên thi tập, Bùi

Qũy có Yên đài anh thoại, Sứ trình anh thoại khúc, Yên hành khúc, Nguyễn Văn Siêu có Phương Đình vạn lý tập, Đặng Huy Trứ có

Đặng Hoàng Trung thi sao, Bùi Dị có Vạn lý hành ngâm, Phạm Phú

Thứ có Giá Viên thi tập, Nguyễn Tư Giản có Yên thiều thi văn tập,

Yên thiều bút lục, Yên thiều văn thảo, Trung ngoại quỳnh giao tập, Như Thanh nhật ký, Nguyễn Thục có Mỗi hoài ngâm thảo, Vãng sứ Thiên Tân nhật ký.

Thống kê trên có thể chưa đầy đủ về mảng thơ đi sứ Việt Namthời trung đại, nhưng cũng đã có đến trên 50 tác giả với khoảng 60 tácphẩm dày dặn gồm cả chục ngàn bài thơ

Nhìn chung, về nội dung của thơ văn đi sứ, các vị sứ thần - nhàthơ thường gửi gắm nỗi niềm tâm tư tình cảm của mình trên hành trình

đi sứ xa xôi, đầy khó khăn gian khổ, với trọng trách lớn lao đối với đấtnước, nhân dân mà triều đình đã giao phó Bên cạnh những bài thơmang tính xã giao, thù tạc khi xướng họa, đối đáp, đề tặng thì số còn lại

đa phần là thơ tả cảnh, vịnh cảnh vừa thể hiện nét tài hoa tinh tế, bộc lộcảm hứng dạt dào yêu mến trước đất nước, thể hiện lòng tự hào dân tộc,văn hóa, văn hiến Việt Nam Điều đặc biệt đáng lưu ý là trong mảngthơ đi sứ hầu hết được viết bằng chữ Hán, có một số ít được viết bằng

chữ Nôm như của Hoàng Sỹ Khải với Bắc sứ quốc ngữ thi tập và Sứ

trình khúc (rất tiếc là đã thất truyền) ; của Nguyễn Tông Quai ngoài

tập Sứ hoa tùng vịnh bằng chữ Hán, ông còn có Sứ trình tân truyện mà

có thể xem đây là một truyện thơ đầu tiên về đề tài đi sứ; Hoàng SỹKhải và Nguyễn Tông Quai là hai nhà đầu tiên khai sáng dòng thơ Nôm

Trang 38

sứ trình vào giữa thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII; của Đỗ Cận với KimLăng Ký (chữ Nôm, viết về cảnh vật ở Nam kinh); của Lý Văn Phứcbằng chữ Nôm với sứ trình tiện lãm khúc bằng chữ Nôm Đi sứ là trọngtrách, quốc gia đại sự, chính thống triều đình, vậy mà các tác giả đãvượt khỏi những quy phạm ràng buộc chính thống ấy, để ghi cảm xúc,

tả lại những gì mắt thấy tai nghe bằng chữ Nôm tiếng Việt, chứng tỏcác vị đã tự hào và yêu quý tiếng nói của dân tộc đến dường nào!

Trang 39

Chương 2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ NHỮNG ĐIỂM

KHÁC BIỆT LỚN VỀ NỘI DUNG CỦA HAI TẬP THƠ

2.1 Những điểm tương đồng

2.1.1 Tương đồng khi phản ánh hiện thực

Có thể nói, một nguyên tắc khách quan trong sáng tác mà các thinhân đều tuân thủ chính là tính khách quan khi phản ánh Nhà văn là ngườithư kí trung thành của thời đại, không bôi đen cũng không tô hồng hiệnthực Bức tranh hiện thực thời đại được phản chiếu thông qua lăng kính chủquan của nhà văn nhưng không có nghĩa, nhà văn tự ý biến cải, bóp méo sựthật

Xuất phát từ nguyên tắc khách quan, từ lương tâm trách nhiệm, hainhà chánh sứ Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Du đã ghi chép lại những cảnh,việc, người trong chuyến hành trình đi sứ sang phương Bắc một cách chânthực về bức tranh hiện thực của đất nước Trung Hoa Chẳng hạn khiNguyễn Du chứng kiến cảnh bất công ngang trái xảy ra trên đất Trung Hoanhư lũ lụt, mất mùa, hạn hán, đói khát, cảnh người chết đói … tạo cảm giácthê lương:

Hữu phụ huề tam nhi Tương tương tọa đạo bàng Tiểu giả tại hoài trung Ðại giả trì trúc khuông Khuông trung hà sở thịnh

Lê hoắc tạp tì khang Nhật án bất đắc thực

Trang 40

Y quần hà khuông nhương Kiến nhân bất ngưỡng thị

Lệ lưu khâm lang lang Quần nhi thả hỉ tiếu

Bất tri mẫu tâm thương Mẫu tâm thương như hà Tuế cơ lưu dị hương

Dị hương sảo phong thục

Mễ giá bất thậm ngang Bất tích khí hương thổ Cẩu đồ cứu sinh phương Nhất nhân kiệt dung lực Bất sung tứ khẩu lương Duyên nhai nhật khất thực Thử kế an khả trường Nhãn hạ ủy câu hác

Huyết nhục tự sài lang Mẫu tử bất túc tuất

Phủ nhi tăng đoạn trường

Kỳ thống tại tâm đầu Thiên nhật giai vị hoàng

Âm phong phiêu nhiên chí Hành nhân diệc thê hoàng Cung cụ hà trương hoàng Lộc cân tạp ngư xí

Mãn trác trần trư dương

Ngày đăng: 20/07/2015, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Ánh (2009), “Ngoại giao Tây Sơn - những tư tưởng đặc sắc và bài học lịch sử”, Tạp chí Khoa học và công nghệ Đà Nẵng số 1(30) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Tây Sơn - những tư tưởng đặc sắcvà bài học lịch sử”, "Tạp chí Khoa học và công nghệ Đà Nẵng
Tác giả: Trần Ngọc Ánh
Năm: 2009
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
3. Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường (2005), Từ điển văn học Việt Nam: Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học ViệtNam: Từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Bùi Văn Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng (1977), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thiên tàiquân sự của Nguyễn Huệ
Tác giả: Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1977
5. Nguyễn Huệ Chi (1998), “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán”,http://user.hnue.edu.vn/index.php?news_id=147&page=news&uid=81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữHán”
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1998
6. Phan Trần Chúc (1994), Việt Nam sử học (triều Tây Sơn, phần Nguyễn Huệ ), Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử học
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1994
7. Biện Minh Điền (2011), Chuyên đề: Vấn đề tác giả và phong cách cá nhân nhà văn trong văn học Việt Nam trung đại, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và phong cách cánhân nhà văn trong văn học Việt Nam trung đại
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2011
8. Vũ Băng Đình (2006) , Thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chữ Hán Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
10. Xuân Diệu (1962), “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”, Tạp chí Văn nghệ, (58) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”," Tạp chíVăn nghệ
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1962
11. Nguyễn Thạch Giang (1998), Lời quê chấp nhặt, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời quê chấp nhặt
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
12. Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính (2001), Nguyễn Du niên phổ và tác phẩm, NXB Văn Hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du niên phổ vàtác phẩm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính
Nhà XB: NXB Văn Hóa thông tin
Năm: 2001
13. Trần Văn Giáp (2003), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (2 tập in chung), mục Ngô gia văn phái (tr. 298-302). Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm" (2 tập in chung),mục "Ngô gia văn phái
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2003
14. Nguyễn Văn Hoàn (2013), “Vấn đề văn bản và tâm thế của Nguyễn Du trong Bắc hành tạp lục”, Nghiên cứu văn học (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn bản và tâm thế của Nguyễn Dutrong Bắc hành tạp lục”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn
Năm: 2013
15. Nhị Hoàng (1973), “Kỷ niệm 170 năm ngày mất Ngô Thì Nhậm”. Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm 170 năm ngày mất Ngô Thì Nhậm”. "Tạpchí Văn học
Tác giả: Nhị Hoàng
Năm: 1973
16. Cao Xuân Huy (1978), “Ngô Thì Nhậm, một người tri thức chân chính”(Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm). Nxb. KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm, một người tri thức chân chính”("Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm)
Tác giả: Cao Xuân Huy
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1978
17. Vũ Khiêu (1981), “Thơ văn Ngô Thì Nhậm trong cuộc đấu tranh chống xâm lược”. Trong sách Văn học Việt Nam trên chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Ngô Thì Nhậm trong cuộc đấu tranh chốngxâm lược”. Trong sách "Văn học Việt Nam trên chặng đường chốngphong kiến Trung Quốc xâm lược
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1981
18. Vũ Khiêu (1973), “Vấn đề đánh giá Ngô Thì Nhậm”, Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đánh giá Ngô Thì Nhậm”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Khiêu
Năm: 1973
19. N.I. Konrad (2007), “Về khái niệm văn ở Trung Quốc” (trong sách Phương Đông học, bản dịch), Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm văn ở Trung Quốc” (trong sách"Phương Đông học
Tác giả: N.I. Konrad
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
20. Trần Thị Hoa Lê (2013), “Cảm hứng đối thoại - phản biện trong Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du”, Nghiên cứu văn học (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng đối thoại - phản biện trong Bắchành tạp lục của Nguyễn Du”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Thị Hoa Lê
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w