1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ thơ đoàn thị lam luyến luận văn thạc sỹ ngữ văn

109 677 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 484 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nhận xét đó nhận được sự đồng cảm của chính nhà thơ, trong một bài phỏng vấn trên báo Tiền phong chị đã tâm sự: chính thời trẻ tuổi bồng bột ngây thơ khờ dại lại làm nên tình yêu v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN TRỌNG THANH

NGÔN NGỮ THƠ

ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

VINH – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHAN TRỌNG THANH

NGÔN NGỮ THƠ

ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

MÃ SỐ : 60.22.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS NGUYỄN NHÃ BẢN

VINH – 2011

Trang 3

Lêi c¶m ¬n

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Nhã Bản - người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc tới các GS, PGS, TS trong hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học - Trường Đại học Vinh đã giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn HĐQT, BGH Trường phổ thông Nguyễn Văn Linh – Gia Lai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Gia Lai, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Phan Trọng Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài ……….……1

2 Lịch sử vấn đề……….…….2

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu……….…6

4 Phương pháp nghiên cứu……….……7

5 Đóng góp của đề tài……….…7

6 Bố cục luận văn……… … 8

NỘI DUNG Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài……….… 9

1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ……… …9

1.1.1 Khái niệm thơ……… … 9

1.1.2 Ngôn ngữ thơ……….… 11

1.2 Vài nét về Đoàn Thị Lam Luyến và các chặng đường thơ 19

1.2.1.Vài nét về Đoàn Thị Lam Luyến……….… 19

1.2.2 Quan niệm về thơ và nhà thơ của Đoàn Thị Lam Luyến … 21

1.2.3 Các chặng đường thơ Đoàn Thị Lam Luyến………….…………22

1.3 Tiểu kết……….32

Chương 2: Vần và nhịp trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến …………33

2.1 Vần trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến……… ……….33

2.1.1 Vần và các chức năng của vần trong thơ……… …… ………33

2.1.1.1 Khái niệm vần thơ ……… ……… 33

2.1.1.2 Chức năng của vần trong thơ……… ………… 34

2.1.1.3 Phân loại vần thơ……… ………… 35

2.1.2 Vần trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến……….37

2.1.2.1 Vần trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến xét ở vị trí gieo vần 37

Trang 5

2.1.2.2 Vần trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến xét ở mức độ hòa âm… 47

2.2 Nhịp trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến………… ………….…53

2.2.1 Nhịp trong thơ……… ………….53

2.2.1.1 Khái niệm nhịp thơ……… ………53

2.2.1.2 Vai trò của nhịp thơ.……….53

2.2.1.3 Dấu hiệu hình thức của nhịp thơ……… 54

2.2.2 Nhịp trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến……….…… … 56

2.2.2.1 Nhịp trong thơ lục bát……… …56

2.2.2.2 Nhịp trong thơ tự do………62

2.2.2.3 Nhịp trong thơ năm chữ……… …64

2.2.3 Mối quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến 67 2.3 Tiểu kết ……….…68

Chương 3: Các phương tiện tạo nghĩa trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến……… … 70

3.1 Một số biện pháp tu từ trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến…… 70

3.1.1 So sánh tu từ……… 70

3.1.2 Phép điệp tu từ……… …… 80

3.2 Một số hình ảnh tiêu biểu trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến….90 3.2.1 Hình ảnh người phụ nữ……….… …….90

3.2.2 Hình ảnh thiếu nhi……….… ……95

3.3 Tiểu kết……….…….98

KẾT LUẬN……… 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO………101

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngôn từ là chất liệu của văn học Trong các thể loại văn học, thơ là

thể loại có hình thức tổ chức ngôn ngữ đặc biệt nhất Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về ngôn ngữ thơ Hướng đi chung của các công trình nghiên cứu này là tìm ra những nét đặc trưng trong cách tổ chức ngôn ngữ, vần, nhịp thơ…của ngôn ngữ thơ nói chung Tuy nhiên, văn học nói chung và thơ ca nói riêng là lĩnh vực của sáng tạo, vì thế trên cái nền chung đó, mỗi nhà thơ đều có cách

tổ chức ngôn ngữ riêng của mình Trong lĩnh vực nghiên cứu thơ về một tác giả cụ thể đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được in thành sách, rất nhiều luận án, luận văn Cũng trên hướng đi chung đó chúng tôi nghiên cứu thơ Đoàn Thị Lam Luyến trên phương diện ngôn ngữ để thấy được những nét riêng trong cách tổ chức ngôn ngữ từ đó đánh giá đóng góp của chị trên thi đàn Việt Nam

1.2 Đoàn Thị Lam Luyến là nhà thơ nữ quen thuộc của thơ ca Việt Nam đương đại Chị đã tạo được phong cách riêng in dấu ấn riêng trong lòng độc giả Chị sáng tác khá sớm khi đang học ở trường Văn hóa nghệ thuật

Tây Bắc Từ tập thơ đầu tay Lỡ một thì con gái cho đến nay chị đã gặt

hái được nhiều thành công Năm 1983-1984 chị được trao giải thưởng cuộc thi viết về đề tài thiếu nhi; năm 1989-1990 chị được nhận giải thưởng cuộc thi trên báo Văn Nghệ Đến năm 2000, Đoàn Thị Lam Luyến được trao giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Hội liên hiệp Văn

học Nghệ thuật Việt Nam với tập Dại yêu Bằng một hồn thơ dạt dào,

say mê, thơ chị được đông đảo bạn đọc yêu thích Thơ Đoàn Thị Lam Luyến còn được tuyển chọn in trong sách giáo khoa và sách tham khảo

trong nhà trường như: Dáng hình ngọn gió, Cánh cửa nhớ bà, Em yêu

Trang 7

nhà em Chính vì vậy nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến chúng tôi tiếp cận ở phương diện ngôn ngữ để tìm ra phong cách

trong việc sử dụng ngôn ngữ của chị Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về thơ Đoàn Thị Lam Luyến, góp phần hữu ích cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Đến thời điểm cuối năm 2009 đã có khoảng 30 bài viết in trên các tạp chí, báo và mạng internets về thơ của Đoàn Thị Lam Luyến Năm

2008 có một Luận văn thạc sỹ nghiên cứu về thơ chị của tác giả Ngô Thị

Thanh Huyền là Thế giới nghệ thuật thơ Đoàn Thị Lam Luyến Trong

các bài viết và công trình nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định chỗ đứng của Đoàn Thị Lam Luyến trên thi đàn Thơ chị được độc giả đón nhận khá nồng nhiệt Xét trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật, thơ của chị khá đặc sắc Nó mang đậm chất dân gian với những cảm xúc chân thành và mãnh liệt Tuy nhiên các bài viết của các tác giả đều dừng lại ở việc đánh giá từng bài thơ tiêu biểu hay đánh giá chung

về một tập thơ chứ chưa đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống, toàn diện về thơ Đoàn Thị Lam Luyến Luận văn thạc sỹ của Ngô Thị Thanh Huyền

có cái nhìn hệ thống về sáng tác của chị nhưng thiên về nội dung mà chưa chú trọng vào mặt ngôn ngữ

Đoàn Thị Lam Luyến đến với thơ từ khá sớm Tâm sự với bạn đọc

chị nói 15 tuổi tôi đã ngồi cùng chiếu với Trần Đăng Khoa và một số

bạn khác trong giải thưởng thơ thiếu nhi 1966 – 1967, nhưng phải đến

năm 1985 chị mới in chung tập thơ đầu tay Mái nhà dưới bóng cây - tập

thơ dành cho lứa tuổi thiếu nhi Để rồi sau đó độc giả thực sự được biết

đến Đoàn Thị Lam Luyến ở Lỡ một thì con gái (1989), Cánh cửa nhớ bà

Trang 8

(1990), Chồng chị chồng em (1991), Châm khói (1995), Dại yêu (2000)

và Sao dẫn lối (2005).

Đoàn Thị Lam Luyến là nhà thơ nữ xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ

XX Với phong cách sáng tác riêng, tác phẩm của chị rất được bạn đọc yêu thích và thu hút được khá nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu quan tâm

đánh giá Trong cuốn sách Các tác giả văn chương Việt Nam của tác giả

Trần Mạnh Thường, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin đã có rất nhiều lời nhận xét về thơ Đoàn Thị Lam Luyến Nhà thơ Ngô Văn Phú tìm ra mối

liên hệ giữa thơ và đời sống riêng tư của chị: Hình như chị cho rằng thơ

và kiếm sống là hai phạm trù đi song song với nhau Kiếm sống để làm thơ và làm thơ để kiếm sống Nhưng chị càng yêu càng gặp tình hờ và

cũng có lúc Dại yêu:Chị sắc sảo khiến nhiều đấng mày râu vị nể, e ngại

nhưng chị cũng có lắm lúc dại khờ Chính lúc dại khờ đã cho chị những bài thơ đạt nhất trong đời thơ của mình (Nhà thơ Phạm Đức) Lời nhận

xét đó nhận được sự đồng cảm của chính nhà thơ, trong một bài phỏng

vấn trên báo Tiền phong chị đã tâm sự: chính thời trẻ tuổi bồng bột ngây

thơ khờ dại lại làm nên tình yêu và thơ ca Nhận xét về thơ Đoàn Thị

Lam Luyến tác giả Vũ Ngọc Tiến đi sâu khám phá phong cách thơ chị:

Trong những nhà thơ nữ ở Việt Nam xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XX, chị đứng riêng tạo lập một phong cách không lẫn với ai Sự nhào nặn giữa yếu tố thơ trữ tình thơ triết luận có lúc đến xót xa, oan nghiệt vẫn khiến người đọc ham sống vượt lên giữ tự do về mình, cho thân nhân, chính là nét đẹp có sức rung động của thơ Đoàn Thị Lam Luyến Nó bạo liệt mà không ồn ào, đam mê mà rất tỉnh, dân dã mà hiện đại.

Đoàn Thị Lam Luyến viết ở nhiều đề tài: thiếu nhi, tình yêu, thế

sự nhưng tình yêu là mảng thơ chị sáng tác nhiều nhất và cũng đạt được

nhiều thành công Bài thơ Gửi tình yêu được chắp cánh bằng giai điệu

Trang 9

của nhạc sĩ Thuận Yến trong bài hát Khát vọng ngân lên quen thuộc

Chính vì thế mảng thơ tình của chị được nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu

quan tâm nhất Thơ chị trăn trở sới lật câu chuyện muôn thuở của thân

phận đàn bà (Xuân Cang) Trong thơ chị người ta thấy nó không cao sang, không lên giọng, không làm điệu Nó bật lên từ ngôn ngữ đời thường, có thế nào nói thế (Ánh Xuân) Tác giả Thái Doãn Hiểu đã nhận

xét khá khái quát thơ tình của chị: Đoàn Thị Lam Luyến là nhân vật độc

đáo nỗi loạn tình yêu trong thơ Chị có cuộc đời lận đận, khát yêu, vồ vập yêu, dại yêu, xây dựng hạnh phúc như làm nhà trên lưng cá voi Nàng quyết liệt dữ dằn châm khói tuyên chiến với tình yêu Chiến tranh

kết thúc, chiến bại thuộc về chị nhưng chị vẫn lao lên quyết sống mái với

tình yêu lần nữa, thêm lần nữa Trong hào quang của tình yêu cay đắng,

Lam Luyến mới bộc lộ hết được toàn vẹn vẻ đẹp chân thật từ trái tim nổi dậy đầy bản lĩnh của mình Sự nổi loạn cá tính là điều chủ yếu cho

sự hình thành và tồn tại của một cây bút (Thái Doãn Hiểu) Nhà văn

Xuân Cang khi thực hiện công trình nghiên cứu Phác thảo chân dung

một số nhà văn Việt Nam hiện đại bằng các quẻ Kinh dịch đã nhận định

về Đoàn Thị Lam Luyến: (Quẻ dịch phản ánh thời tiền vận của nhà thơ khoảng 48 năm, có vai trò như là Thiên Mệnh chi phối suốt đời Lam

Luyến là quẻ Lôi Thiên Đại Tráng): Với sức mạnh bên trong của thời

Đại Tráng, ĐoànThị Lam Luyến là nhà thơ mạnh bạo kể chuyện cuộc đời chuân chuyên của mình không chút mặc cảm, chất thơ Đoàn Thị Lam Luyến bao giờ cũng chất chứa cái mạnh mẽ khác thường và có sức vang xa như sấm ở trên trời Chia sẻ quan điểm trên tác giả Vũ Nho trên

báo Văn nghệ số tháng 5 – 2003 ở bài viết ngắn với tiêu đề Đoàn Thị Lam Luyến - Người yêu đến nát cuộc đời cho thơ lại cảm nhận về thơ Lam Luyến: Với Lam Luyến tình yêu như là cội nguồn, lại cũng là động

Trang 10

lực nuôi dưỡng thúc đẩy cảm hứng sáng tạo, và cũng là sông lớn, là biển cả, là ốc đảo, là miền đất hứa cho trái tim hạn hán của Lam Luyến hướng về Theo Vũ Nho thì dường như thơ của Lam luyến trào dâng từ

một tình yêu mãnh liệt của một trái tim cuồng nhiệt hiếm thấy ở những cây bút nữ vốn thiên về ngọt ngào, duyên dáng và dịu dàng e ấp Cô gái

họ Đoàn đòi hỏi yêu là cuồng nhiệt, yêu là phải cháy bùng ngọn lửa mê say, yêu là phải hết mình

Mỗi nhà thơ có một giọng điệu riêng, chính giọng điệu làm nên phong cách của nhà thơ Tác giả Lê Thị Mây, trong bài viết “Nhen lại lửa lòng” in trên báo Văn nghệ (Số tháng 12 - 1996) nhìn thơ Lam

Luyến dưới góc độ giọng điệu Lê Thị Mây thấy giọng thơ Lam Luyến

mạnh tiết tấu, nhạc điệu các thể thơ truyền thống Không chỉ có thế, tác

giả còn nhận thấy trong thơ Lam Luyến có một người đàn bà yêu không

mệt mỏi và yêu như một bản tính hồn nhiên, nhẹ dạ như bất kỳ ai trong phái đẹp Cái trữ tình nồng hậu ở trong thơ Lam Luyến ẩn chứa một cái

“Tâm: cho, tặng và dâng hiến” của chị Đó là lời nhận xét thể hiện sự

đồng cảm sâu sắc như tri kỉ, tri âm với nhà thơ

Tháng 11 năm 2011, Hội Nhà Văn Việt Nam mở trại sáng tác ở Nha Trang, Đoàn Thị Lam Luyến là một trong 15 người dự trại viết này Chỉ trong 5 ngày ghé qua nhưng chị đã để lại ấn tượng đẹp trong lòng

đồng nghiệp Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn đánh giá: Ngoài đời, Lam

Luyến nghịch ngợm và tươi tắn, song trong thơ, chị lại rất chân thật sự xót xa đau đớn của tâm trạng và thân phận người đàn bà nhỏ bé, yếu đuối, dễ bị lừa gạt Nhà thơ Thúy Bắc lúc sinh thời đã có lần nói với

Lam Luyến: Sao em có cái tên lạ thế: Đã Đoàn Thị lại còn Lam Luyến

nữa Yêu thì đắm đuối hết mình nhưng toàn gặp những mối tình ngang

Trang 11

trái, sống thì thật đến ngây thơ dại dột Mà quả có thế thật! Lam Luyến

tài sắc mà đa đoan Hai lần đò vẫn dang dở, dở dang

Nhìn chung những ý kiến đánh giá về thơ Đoàn Thị Lam Luyến ở trên chưa mang tính hệ thống Các bài viết hoặc nhìn nhận ở một khía cạnh hoặc chỉ mới đi sâu về nội dung mà chưa tìm hiểu về phương diện hình thức, đặc biệt là mặt ngôn ngữ

3 Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến qua sáu tập thơ, qua đó thấy được những đóng góp của chị đối với nền thơ ca Việt Nam hiện đại ở phương diện ngôn ngữ

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam

Luyến Chúng tôi chủ yếu khảo sát 148 bài thơ trong sáu tập thơ sau:

1 Mái nhà dưới bóng cây (Thơ Thiếu nhi, In chung Nhà xuất bản Kim Đồng 1985)

2 Lỡ một thì con gái ( Nhà xuất bản Hà Nội 1989)

3 Cánh cửa nhớ bà ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 1990)

4 Chồng chị chồng em ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 1991)

5 Châm khói ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 1995)

6 Dại yêu ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 2000)

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.3.1 Giới thuyết khái niệm về thơ, ngôn ngữ thơ, giới thiệu nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến và thơ Đoàn Thị Lam Luyến

3.3.2 Khảo sát, phân tích và miêu tả diện mạo các yếu tố tạo nên tính nhạc trong sáu tập thơ của Đoàn Thị Lam Luyến như: vần điệu, nhịp điệu

Trang 12

3.3.3 Khảo sát, phân tích và miêu tả diện mạo trong sáu tập thơ của Đoàn Thị Lam Luyến về các biện pháp tu từ và những hình ảnh nổi bật.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để tiến hành thống kê, phân loại tư liệu gồm các đặc điểm của ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến, phục vụ cho mục đích và nhiệm vụ luận văn đề ra

4.2 Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp để xử lí tư liệu nhằm khái quát các đặc trưng ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến

4.3 Dùng phương pháp so sánh đối chiếu ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến với một số tác giả cùng thời để nhận diện phong cách ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn khảo sát và nghiên cứu một cách khá toàn diện và có hệ thống sáu tập thơ có giá trị nhất của thơ Đoàn Thị Lam Luyến từ góc độ ngôn ngữ Các tư liệu và nhận xét của luận văn giúp người đọc nhận biết khá đầy đủ những nét đặc sắc ngôn ngữ thơ Đoàn Thị Lam Luyến qua sáu tập thơ nói riêng và thơ Đoàn Thị Lam Luyến nói chung Có thể khẳng định, về mặt hình thức, Đoàn Thị Lam Luyến mặc dù sáng tác bằng thể thơ truyền thống trên chất liệu ngôn ngữ mang tính dân gian nhưng đã có nhiều cách tân, đổi mới, đem lại cho thơ Việt Nam hiện đại một tiếng thơ mới lạ, độc đáo Nếu nói thi trung hữu nhạc thì thơ Đoàn Thị Lam Luyến là minh chứng tiêu biểu nhất

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung luận văn gồm ba chương:

Trang 13

Chương 1: Những vấn đề lý thuyết xung quanh đề tài

Chương 2: Vần và nhịp trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến

Chương 3: Các phương tiện tạo nghĩa trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Thơ và ngôn ngữ thơ

1.1.1 Khái niệm thơ

Thơ là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến rộng và sâu Thơ

là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Chính vì thế trong một thời gian dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học Mặc dù có lịch sử lâu đời và phổ biến như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng của thơ thì thật không dễ

Trong lí luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm thơ là gì đã được đề cập từ rất sớm Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn sách lí

luận nổi tiếng Văn tâm điêu long, tác giả Lưu Hiệp đã đề cập đến ba

phương diện cơ bản cấu thành một bài thơ là tình cảm (tính văn), ngôn ngữ (hành văn), và âm thanh (thanh văn) Kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu tố tạo thành điều

kiện tồn tại của thơ : Cái cảm hóa được lòng người chẳng gì quan trọng

bằng yếu tố tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc là tình cảm, mà lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa Đó là quan

niệm sâu sắc về thể hiện mối quan hệ gắn bó của các yếu tố gắn bó thành thơ Tuy nhiên quan niệm này chưa nêu bật được đặc trưng cơ bản của thơ

Các nhà ngôn ngữ học Châu Âu mà tiêu biểu là R.Jacobson tiếp cận thơ dưới góc độ ngôn ngữ học Tiếp thu triển khai lý thuyết tự quy chiếu, Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là tuyển chọn và kết hợp, đã kết luận : chức năng thi ca đem nguyên

Trang 15

lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp Vì thế, ý nghĩa của thơ vượt ra ngoài văn bản và muốn hiểu thơ, người đọc phải có sự liên tưởng phong phú.

Ở Việt Nam, từ lâu khái niệm về thơ được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, nhưng khái niệm về thơ vẫn không thống nhất Nhà thơ Chế Lan

Viên đã từng trăn trở : Thơ là gì ?, thơ là thế nào ? chả lẽ tôi hì hục

làm thơ mấy chục năm trời lại trả lời là thơ cũng khó định nghĩa… Thế thì kiêu quá, làm bộ làm tịch quá Nhưng thực ra tôi chưa hiểu hết thơ đâu Tôi cố định nghĩa nhiều lần… Nhưng lần này định nghĩa thì lần sau nán lại, chỗ này định nghĩa thì chỗ khác bổ sung [9,133] Dù nhìn ở

phương diện nào thì tựu trung lại thơ ca bao giờ cũng là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói tình cảm của con người trước cuộc đời Nhà thơ Tố

Hữu đã quan niệm thơ là cái nhụy của cuộc sống , còn nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật được phản ánh vào

trong tâm tình Nhà thơ Sông Hồng và nhà thơ Thanh Tịnh cùng quan

điểm khi bàn luận về thơ: Thơ là tinh hoa là thể chất cô đọng của trí tuệ

và tình cảm (Thanh Tịnh), thơ là tình cảm là lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật (Sông Hồng) Bản chất của thơ là tình

cảm, cảm xúc nhưng là cảm xúc được sự chỉ đạo của lí trí Đứng ở

phương diện cấu trúc ngôn ngữ, GS Phan Ngọc định nghĩa : thơ là cách

tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ cho chính ngôn ngữ này.

Trong lịch sử nghiên cứu lí luận về thơ đã có rất nhiều định nghĩa đứng ở nhiều góc độ khác nhau Theo chúng tôi cách định nghĩa về thơ của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong

cuốn Từ điển thuật ngữ văn học là chung nhất: Thơ là hình thức sáng tác

văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh

Trang 16

mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.[20,

254] Định nghĩa này đã nêu được sự khác biệt thơ với các thể loại văn

học khác và nêu một cách toàn diện đầy đủ cả nội dung và hình thức của thơ ca Từ sự nhận diện đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ thơ Đặc trưng ngôn ngữ thơ được nhìn trong sự đối sánh với ngôn ngữ văn xuôi

1.1.2 Ngôn ngữ thơ

1.1.2.1 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Thơ trước hết và sau cùng là cuộc hành trình trọn vẹn của ngôn từ Đối với người Hi Lạp, thi sĩ là người sáng tạo ra các ngôn từ (Bách

khoa thần học New Catholi) Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, đặc biệt

là trong lĩnh vực thơ ca Người làm thơ là một nghệ sĩ đích thực trên lãnh địa ngôn từ Do sự hạn chế về số lượng câu chữ nên ngôn ngữ thơ ca trước hết là thứ ngôn ngữ trau chuốt, gọt giũa, hàm súc đến mức tinh

luyện Maiacopxki cho rằng : Sáng tạo thơ ca cũng giống như lọc

quặng, lọc ra cái tinh chất…Thơ ca là cái tinh hoa tối cao của ngôn ngữ, là cái ánh ngời phi thường của nó Tuy nhiên việc làm thơ không

đồng nghĩa với việc đúc chữ, dùng những mỹ từ Thứ ngôn ngữ tinh luyện của thơ ca không phải đến từ kĩ thuật mà đó là tiếng nói phát sáng

từ tâm hồn, do sự tuyển lựa từ trong tâm hồn Vì thế người làm thơ nhiều lúc không để ý đến việc làm thơ mà bật thành thơ một cách tự nhiên từ tâm hồn

Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác thơ ca cũng phản ánh cuộc sống Tuy nhiên, phương thức phản ánh cuộc sống của thơ ca khác với các thể loại khác Thơ ca phản ánh cuộc sống bằng phương thức trữ tình

Vì thế, ngôn ngữ thơ chính là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc Cuộc sống

Trang 17

được chiếu rọi qua lăng kính tâm hồn đầy cảm xúc của nhà thơ, thơ phát

khởi từ trong lòng người ta ( Lê Quý Đôn).

1.1.2.2 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

Cũng là thể loại văn học nhưng thơ ca khác văn xuôi ở chỗ chỉ dùng một số lượng hữa hạn ngôn từ để biểu hiện cái bao la vô hạn của cuộc sống Thơ ca Việt Nam thời kì trung đại niêm luật chặt chẽ nên yêu cầu

đó càng cao Ngày nay thơ ca được viết một cách tự do, phóng khoáng hơn, nhưng cũng phải được tổ chức trong giới hạn của thể loại Vì vậy,

thơ ca có kiểu tổ chức đặc biệt, quái đản (Phan Ngọc) Kiểu tổ chức đặc

biệt ấy được biểu hiện trên các mặt ngôn ngữ : ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa

a Về ngữ âm

Cũng như các loại hình nghệ thuật, các thể loại văn học nói chung, thơ ca cũng mang sứ mệnh phản ánh cuộc sống Nhưng thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm, cảm xúc Đó là thế giới nội tâm đa sắc màu Thế giới phong phú đó không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng âm thanh, nhịp điệu của ngôn ngữ, từ đặc

điểm ấy có thể xem tính nhạc là đặc tính cơ bản của thơ ca Nhạc điệu là

một yếu tính của thơ ca Thiếu nhạc tính thơ trở thành văn xuôi (Bằng

Giang) Nhà thơ La Fontane cũng khẳng định: Chẳng có thơ nào không

có nhạc Nhạc tính làm cho thơ mềm mại, quyến rũ tạo nên khoái cảm

thẫm mĩ cho người đọc Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí

khi lời, ý dỡ nhà thơ vẫn quyến rũ người nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối [6 ,121] Nhạc điệu làm cho thơ dễ thuộc, dễ nhớ dễ lan tỏa tới tâm

hồn người đọc Thơ là thể loại gần gũi với âm nhạc

Người xưa nói : thi trung hữu nhạc Nhạc tính trong thơ được thể hiện ở ba phương diện cơ bản Đó là sự cân đối, sự trầm bổng và sự

Trang 18

trùng điệp Sự cân đối là sự tương xứng hài hòa giữa các dòng thơ Đó là

sự hài hòa về âm thanh và hình ảnh :

Còn bạc, con tiền, còn đệ tử

Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)Cách tổ chức này thường gặp nhiều trong thơ trung đại, đặc biệt là hai câu thực trong thể loại thơ Đường luật Đối với thơ hiện đại yêu cầu về

sự cân xứng không quá khắt khe, tuy nhiên nếu áp dụng hợp lý sẽ tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao Còn sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự hòa phối âm thanh, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh điệu trắc - bằng Nhà thơ Tản Đà tạo ra một sự đối lập giữa hai nhóm thanh điệu để tạo nên sự đối lập trong tâm hồn :

Tài cao, phận thấp chí khí uất

Giang hồ mê chơi quên quê hương

( Thăm mã cũ bên đường)Xuân Diệu viết hai dòng thơ toàn thanh bằng để gợi tả điệu nhạc du

dương đưa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị hồ :

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

Câu thơ của Bích Khê giàu tính nhạc vì tác giả tập trung dày đặc các thanh bằng :

Ô hay ! Buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông

(Tỳ bà)

Sự trùng điệp trong thơ biểu hiện ở chỗ lặp vần để truyền âm, lặp thanh điệu để tạo âm hưởng vang vọng, lặp cấu trúc để tạo nên giai điệu Để tạo nên giai điệu nhạc tính cho thơ thì vần và nhịp giữ một vai trò quan

Trang 19

trọng Nói cách khác tính thơ tính nhạc nằm ở tính có nhịp điệu và sự hiệp vần Trong thơ nhịp điệu giữ một vị trí đặc biệt để làm nên tính nhạc Thơ có thể không có vần nhưng không thể không có nhịp Trong thơ hiện đại vần có thể bị lu mờ đi nhưng nhịp điệu vẫn là một yếu tính

trong thi ca Có thể nói nhịp điệu là linh hồn của thơ, là sức mạnh cơ

bản, năng lực cơ bản của câu thơ (Maiacopxki) Nhịp thơ không chỉ thể

hiện ở cách trình bày nhịp câu thơ, nhịp khổ thơ việc sử dụng dấu câu và khuôn nhịp của thể loại, quan trọng hơn còn có nhịp điệu bên trong chi phối Đó là nhịp cảm xúc là sóng lòng chi phối từng dòng thơ Cấu trúc bên trong thể hiện tương quan nội dung mang hình thức nằm bên trong cấu trúc bên ngoài của nhịp điệu Vì thế muốn cảm nhận được cấu trúc bên trong của nhịp thơ thì phải bằng sự cảm nhận tưởng tượng, liên tưởng Thơ giàu nhạc điệu khi tâm hồn nhà thơ tràn đầy xúc cảm Nhà

thơ Xuân Diệu nói : thơ hay thì lời thơ chín đỏ trong cảm xúc nhà thơ

thổi hồn mình vào ngôn từ nên chất nhạc thấm đẩm từng câu chữ, bước nhịp

Người xưa nói : ý tại ngôn ngoại có lẽ muốn nhấn mạnh ý nghĩa được

tạo ra từ tiết tấu lẫn nhịp điệu Nhịp thơ không chỉ tạo nên âm điệu trầm

bổng cho bài thơ mà còn tạo nên ý nghĩa của bài thơ nhịp điệu đóng góp

toàn bộ ý nghĩa của bài thơ và phép làm thơ là chuyển nó thành ý nghĩa

(Hart Man) Trong nhiều câu thơ, ngắt nhịp khác đi thì câu thơ sẽ mang

Trang 20

Nhịp điệu là yếu tố quyết định sự khác biệt giữa câu thơ và câu văn xuôi, nhưng văn xuôi đăc biệt trong câu văn xuôi có chất thơ cũng có nhịp điệu Tuy nhiên so với nhịp điệu của văn xuôi, nhịp điệu của thơ có tính chất cao hơn hẳn đến mức trở thành các yếu tố đặc trưng nhất của thơ Bởi thơ về cơ bản đã được giải phóng khỏi chức năng tạo hình để tập trung vào việc biểu hiện, bộc lộ cảm xúc mà cảm xúc là khó định hình,

khó nắm bắt Do đó, nhịp điệu trong thơ phải đảm bảo trách nhiệm và

vừa phân định vừa đóng vai trò người thuyết minh tích cực, tận tụy cho chính dòng cảm xúc ấy Khi lượng ngôn từ dùng để dẫn giải, rào đón,

mô tả được rút lại gần ở mức tối thiểu [11] Như vậy nhịp thơ không chỉ

là sự lặp lại dều đặn của bước sóng âm thanh mà là của nhịp điệu bên trong, nhịp điệu tâm hồn cộng hưởng quy định.

Trong thơ vần và nhịp thường gắn bó với nhau Ngoài nhịp, vần thơ

cũng góp phần tạo nên nhạc điệu cho bài thơ, trong thơ vần là những

chiếc cầu bắc qua các dòng thơ, nối gắn chúng lại với nhau thành từng đoạn, từng khổ, từng bài hoàn chỉnh (Mai Ngọc Chừ) Vì thế chúng ta dễ

thuộc, dễ nhớ thơ Vần không chỉ có chức năng liên kết các dòng thơ mà còn nhấn mạnh nhịp thơ, vì những chỗ gieo vần nhịp thơ rõ ràng hơn, đậm nét hơn Vần là sự lặp lại âm thanh tương tự để tạo chỗ dựa cho nhạc tính

Tính nhạc không chỉ là sự hài hòa của vần và nhịp mà còn là sự lặp lại, trùng điệp của ngôn ngữ thơ Biện pháp trùng điệp được lặp lại đến mức tối đa trong ngôn ngữ thơ, bao gồm: điệp thanh, điệp vần, điệp phụ

âm đầu, điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc Phép điệp ngoài chức năng liên kết còn tạo nhac điệu của bài thơ

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, tính nhạc là một đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ thơ ca Tính nhạc được tạo nên từ vần và nhịp,

Trang 21

nhưng nhịp thơ là hình thức mang tính nội dung, đó là nhịp điệu bên trong, nhịp tâm hồn biểu hiện qua nhịp âm thanh Thơ gần gũi với nhạc nên vô số bài thơ được chấp cánh bằng âm nhạc trở nên nổi tiếng.

b Về ngữ nghĩa

Nhà thơ Nga nổi tiếng Maiacopxki đã từng gọi lao động nghệ thuật

ngôn từ của nhà thơ phải trả chữ với giá cắt cổ :

Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ Như khai thác chất hiếm radium Lấy một gam phải mất hàng bao công lực Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ

Lao động văn chương trước hết là lạo động về ngôn từ vì ngôn từ

là yếu tố thứ nhất của văn học (M.Gorki) Tác phẩm văn chương nói

chung phải có ngôn từ hàm súc giàu ý nghĩa Đối với thơ ca yêu cầu này lại càng khắt khe, nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường nên chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái thậm chí nghĩa

xô bồ phức tạp để tái hiện bộ mặt đa chiều của cuộc sống thì ngôn ngữ

thơ ca lại mang tính đặc tuyển Tác phẩm thơ dùng một lượng ngôn từ hạn chế để nói được nhiều điều nhất Ôghênốp nói : bài thơ là một lượng

thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất.

Người xưa nói : ý tại ngôn ngoại là muốn nói đến tính hàm súc của

thơ ca Tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu tả hiện tượng cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nhiều ý Đây là cách

dùng từ sao cho đắt nhất , có giá trị nhất Vì thế trong thơ thường có thi

nhãn chẳng hạn như Nguyễn Du đã giết chết nhân vật bằng một từ : cái

vô học của Mã Giám Sinh : Ghế trên ngồi tót sổ sàng, Cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào, cái ti tiện, tầm thường của Hồ Tôn Hiến : Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình Chính vì thế, tính

Trang 22

hàm súc của ý thơ ca kéo theo các đặc tính khác Hàm súc ở đây cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng có tính truyền cảm và thể hiện

cá tính của người nghệ sỹ Để đạt được tính hàm súc cao nhất thơ ca phải

tính đến kiểu tổ chức đặc biệt mà Giáo sư Phan Ngọc gọi là quái đản Vì

vậy, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen

mà thường phong phú sâu sắc hơn Đó là nghĩa bóng của ngôn ngữ thơ

ca Chính đặc tính này tạo cho thơ ca một sức hút kỳ lạ với người đọc người nghe Để tiếp nhận thi ca nhiều khi không chỉ dùng những giác quan thông thường như tiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, tai mà bằng cả tâm hồn rung động, bằng cả tính tưởng tượng và liên tưởng Tính hàm súc trong ngôn ngữ thơ ca thường đi liền với tính đa nghĩa của nó Tính

đa nghĩa đã được Nguyễn Phan Cảnh giải thích như sau : Sức mạnh của

cơ cấu lặp lại, của kiến trúc song song chính là ở chỗ đã tạo ra sự láy, song song trong tư tưởng Việc chức năng mỹ học chiếm ưu thế trong các thông báo thơ trong khi không loại chức năng giao tiếp đã làm cho

đa nghĩa, có tính chất nước đôi , thành ra nhập nhằng hiểu theo nghĩa tối của từ này[6 , 55] Đó chính là điều cốt yếu của thơ Thơ phải được hiểu ở ngoài lời, trong thơ hàm súc vô cùng mới là tôn chỉ của người làm thơ Cho nên ý thừa hơn lời thừa tuy cạn mà vẫn sâu Lời thừa hơn

ý thì tuy công phu mà vẫn vụng Còn như ý hết mà lời cũng hết thì không đáng là người làm thơ vậy (Ngô Lôi Pháp).

Tóm lại, tính hàm súc là đặc trưng cơ bản của phương diện ngữ nghĩa trong thơ Trong quá trình vận động tạo nghĩa của thơ ca cái biểu hiện và cái được biểu hiện mang tính đặc biệt khác hẳn với ngôn ngữ đời thường và nghĩa văn xuôi Cái đặc biệt đó được Nguyễn Phan Cảnh gọi

là : cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa

Trang 23

Tính hàm súc thường gắn liền với hình ảnh thơ Người xưa nói: thi

trung hữu họa là vì vậy Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu hình ảnh Hình

ảnh thơ là kết tinh của sự sử dụng ngôn ngữ Thơ là biểu tượng là hình ảnh Tuy nhiên hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh

mà quan trọng ở sự chọn lọc những hình ảnh giàu giá trị nhất, giàu tính biểu cảm nhất thể hiện cá tính nghệ thuật của nhà thơ Hình ảnh trong thơ vì thế đi liền với sự hàm súc trong thơ ca

c Về ngữ pháp

Tính nhạc và tính hàm súc của ngôn ngữ thơ cũng xuất phát từ cách

tổ chức cú pháp thơ Đó là một cách tổ chức đặc biệt mà GS Phan Ngọc

cho rằng : thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đảm, thơ có

một đơn vị rất đặc trưng là dòng còn gọi là câu hay cú Tuy nhiên ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau Bởi có những câu thơ nhiều dòng câu thơ vắt dòng Dòng thơ không đồng nhất với câu thơ, dòng thơ thường nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn Số lượng âm tiết trong dòng thơ quy định cách gọi tên thể thơ , dòng thơ ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát (theo số tiết dòng) bát cú, tứ tuyệt (theo số câu trong bài) điều này cũng chứng tỏ sự khác biệt rõ ràng giữa cấu trúc câu thơ và cấu trúc câu văn xuôi Văn xuôi các cấu trúc ngôn ngữ xuất hiện một cách tự nhiên, liền mạch và xuôi chiều thì ngôn ngữ thơ ca phân chia thành ngôn ngữ về tương đương chiếu ứng lên nhau ở vị trí nhất định Vì thế cấu trúc của ngôn ngữ thơ không theo quy tắc thông thường Phải nói rằng ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ bộc lộ thế giới chủ quan, thiên về thế giới

ấn tượng cảm xúc, cảm giác Ngôn ngữ thơ mạch biểu cảm thường đan chiếu nhau, chiếm những cấp độ nghĩa thiếu quan hệ nội tại trên bề mặt

cú pháp Do vậy, cấu trúc cú pháp câu thơ thường khó phân tích theo nguyên tắc lôgic của ngữ pháp thông thường như văn xuôi Vì thế trong

Trang 24

thơ thường có những cấu trúc bất quy tắc Đó là những câu bẻ gãy trật tự tuyến tính của các đơn vị ngôn ngữ gồm có : câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp, câu có sự bất thường về nghĩa Từ vốn từ ngữ quen thuộc, tài sản chung cho mọi người, người sáng tạo văn bản phải biết chọn lựa, sắp xếp các tín hiệu từ ngữ theo một

cách thức nào đó để làm nên sự khác biệt, sự phát sáng Điều này đưa

đến sự kết hợp các tín hiệu ngôn ngữ theo tuyến tính thời gian bị mờ đi,

bị đẩy xuống hàng thứ yếu và sự chọn lựa tín hiệu này chứ không phải tín hiệu kia trên trục liên tưởng nổi lên chiếm ưu thế Nhờ sự chọn lựa trên trục này ta có kiểu câu đầy sức nặng[56,267] Cách tổ chức bất

thường của cấu trúc ngôn ngữ thơ không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa văn bản thơ Trái lại, chính cách tổ chức đó làm cho thơ giàu ý nghĩa, hàm súc, cô đọng hơn Vì lẽ đó ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca có cấu tạo đặc biệt, độc đáo

1.2 Đoàn Thị Lam Luyến và các chặng đường thơ

1.2.1 Vài nét về tiểu sử

Đoàn Thị Lam Luyến sinh ngày 14 – 06 – 1951 (Tân Mão), quê quán tại xã Anh Dũng, Phù Tiên, Hưng Yên Hiện sống tại Nghĩa Đô, Từ Liêm, Hà Nội Tốt nghiệp Đại học (Văn học và Mỹ thuật) là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam(1996) Chị xuất thân trong một gia đình nhà nông nghèo Thuở nhỏ, Lam Luyến ốm đau quặt quẹo liên tục Mới 7, 8 tuổi chị đã biết chăn trâu, cắt cỏ, kéo vó tôm.11 tuổi đi làm con nuôi nhưng thực chất là đi ở đợ cho một nhà bán hàng cơm trên phố 12 tuổi chị phải đi làm thợ phụ đóng gạch Học hết lớp 6 chị buộc phải nghỉ học

vì gia đình quá neo đơn Năm 1965, gia đình Lam Luyến di cư lên vùng sông Mã (Sơn La) xây dựng kinh tế mới Năm 1966 chị trúng tuyển vào học Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật khu tự trị Tây Bắc Từ đây

Trang 25

chị thoát ly và bắt đầu tự lập Chị theo học khoa Mỹ thuật nhưng lại có đam mê với thơ Thơ với chị không phải nghề mà là nghiệp! 1976 -

1982: Học Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Từ 1983 đến 2003: chị là biên tập viên mỹ thuật tại Nhà xuất bản Thanh niên Hiện chị làm giám đốc Trung tâm Quyền tác giả văn học Việt Nam

Nhà thơ đã được nhận: Giải thưởng cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1989

-1990 Tặng thưởng thơ của Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1995 (tập thơ

Châm khói), và 2005 (tập thơ Sao dẫn lối).

Đoàn Thị Lam Luyến yêu sớm nhưng lại chịu nhiều bất hạnh trong tình yêu Mối tình đầu say mê của Lam Luyến là với một chàng trai người Thái hơn chị 10 tuổi Nhưng mối tình đầu say mê ấy đã không

đi đến cái đích cuối cùng Đó là khi chị đang học ở Tây Bắc Đó cũng là cái mốc đánh dấu đời thơ của chị Chị đến với thơ như một định mệnh để giải bày tâm sự của mình

Ở cuộc hôn nhân với người đàn ông thứ nhất, chị là người chịu nhiều vất vả gian truân, chồng chị không có nghề nghiệp Chị làm mọi việc có thể kiếm ra tiền mà không một chút ngần ngại, ca thán Là nhà thơ nhưng chị năng động, tháo vát kiếm tiền ở nhiều lĩnh vực Chị vẽ tranh truyền thần để kiếm sống ngay từ năm đầu tiên Dù đảm đang lo

Trang 26

mọi việc cho gia đình nhưng người chồng không những không hiểu mà còn xử sự thô bạo với chị Dần dần trái tim chị nguội lạnh Không còn tình yêu, cuộc hôn nhân kết thúc là một sự giải thoát cho cả hai Chị dành được quyền nuôi con Phải mất 10 năm sau Lam Luyến mới kết hôn với người thứ hai Cuộc hôn nhân này khơi dậy trong Lam Luyến tình yêu mãnh liệt và là cảm hứng cho nhiều bài thơ của chị, nổi bật nhất

là Chồng chị, chồng em Nhưng cuộc sống không hề đơn giản như ta

tưởng, người đàn ông đó rất yêu con mình (Điều màLam Luyến tìm cho con chị để bù đắp tình cảm bấy lâu nay), tiếc thay lại không yêu con chị Mâu thuẫn sâu sắc xảy ra và cuộc hôn nhân kết thúc sau 10 tháng mặn nồng Cuộc đời truân chuyên, tình yêu dang dở… tất cả thấm vào hồn thơ của Lam Luyến như một định mệnh

1.2.2 Quan niệm về thơ và nhà thơ của Đoàn Thị Lam Luyến

Đến với thơ ca như một định mệnh, Đoàn Thị Lam Luyến học họa nhưng lại mê làm thơ Thơ đến với chị tình cờ nhưng mỗi vần thơ chị viết đều chất chứa những xúc cảm mãnh liệt trong sâu thẳm con người

chị Chị từng nói: Với tôi, thơ không phải là nghề mà là nghiệp mới

đúng Mọi người hầu như đều quan niệm rằng người đàn bà làm thơ

thường truân chuyên trong con đường tình ái, nhưng chị lại nghĩ khác

Người làm thơ phải có một tố chất đặc biệt trong tâm hồn, ví như giầu tình cảm, giầu lòng vị tha và trắc ẩn Chị đã tâm sự trong phần Mấy lời

tự bạch ở cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại” (NXB Hội nhà văn Việt

Nam - 1997) : Làm thơ với tôi như là một nhu cầu tự thân Cuộc sống

vất vả từ nhỏ, vào đời không mấy suôn sẻ và đời tư lại éo le, trắc trở, vì vậy có nhiều điều muốn nói, muốn được giãi bày Ngoài thơ ra khôngbiết lấy ai để bộc bạch gửi gắm lòng mình Thơ tôi “Thật” và “đời thường” là vì thế.

Trang 27

Lần khác Đoàn Thị Lam Luyến đã tâm sự với bạn đọc của

Vnexpress: Tôi mê làm thơ, đời tôi thăng trầm cũng chính bởi vì nghiệp

thơ Nhưng thơ không ở ngoài cuộc đời tôi Chỉ vì yêu sớm, nói đúng hơn là được một chàng trai người dân tộc Thái để ý sớm, rồi sớm có một bài thơ tình yêu mà con đường danh vọng của tôi ít nhiều bị khựng lại.

1.2.3 Các chặng đường thơ Lam Luyến

Từ khi cầm bút đến nay Lam Luyến cho ra đời 7 tập thơ Mỗi tập thơ đều mang những dấu ấn rõ nét cuộc đời chị

Đoàn Thị Lam Luyến rất yêu trẻ con, thích làm thơ về trẻ em nên không mấy ngạc nhiên khi tập thơ đầu tiên của chị là tập thơ viết cho thiếu nhi:

“Mái nhà dưới bóng cây” (1985 – In chung với Phan Cung Việt, Nguyễn

Trác, Bùi Công Tường) Tập thơ này Lam Luyến góp vào đó 10 bài Những bài thơ mộc mạc, nhìn bằng con mắt trong sáng của trẻ nhỏ Hình

ảnh thơ gần gũi, dễ nhớ, dễ thuộc mà lại giải đáp được những thắc mắc

của trẻ thơ Từ chuyện con gà đẻ trứng đến chuyện con bò học chữ, từ

chuyện con cò có mũ trên đầu đến chuyện con ngựa có một móng…

Trang 28

Ở trên đầu phất phơ.

(Chuyện mũ cò và chân ngựa)

Từ chuyện Cây mướp, cây chuối đến chuyện cây sim, cây phượng … Từchuyện con bù nhìn đến chuyện ngọn gió … Từ mùa hè cho đến mùa thu… tất cả như có sức mạnh chạy vào từng dòng thơ của Lam Luyến Con mắt trẻ thơ nhìn mọi thứ theo cảm quan riêng khiến cho mọi sự vật,

sự việc trở nên giản đơn và dễ thương, gần gũi nhất

Trong những bài thơ đầu tiên dành cho thiếu nhi, đã có một bài

được chọn để dạy ở chương trình tiểu học, đó là bài Dáng hình ngọn gió (Tiếng Việt - lớp 5) Cùng mảng thơ viết cho thiếu nhi, sau này chị còn

có tập thơ Cánh cửa nhớ bà (1990) gồm 25 bài thơ (Ở tập thơ này Lam Luyến đã cho in lại bốn bài thơ mà chị đã in ở tập thơ in chung Mái nhà

dưới bóng cây cùng với những bài thơ thiếu nhi khác của chị ) Dưới con

mắt trẻ thơ mọi thứ hiện lên thật sinh động Bao trùm lên tập thơ là tình người ấm áp Mọi gương mặt gần gũi nhất, thân thương nhất đều hiện ra

trước mắt trẻ thơ Từ hình bóng người mẹ hiền tần tảo, đến những câu chuyện cổ tích của bà, đến việc ông nghỉ hưu, đến cây điếu của nội:

Có ai trên đời, Dịu dàng bằng mẹ….

(Mẹ)

Tuổi hưu ông nghỉ ở nhà

……….

Cháu mong ông khỏe, ông ơi đừng buồn

(Ông ơi, đừng buồn)

Và đến những khoảng thời gian mà trẻ thơ thích nhất như tết, như trung thu Hay gần và thú vị hơn nữa là hình ảnh những con gà, con vịt, những đám mây …

Trang 29

Tập thơ thứ hai ra đời năm (1989) gồm 39 bài thơ, Lỡ một thì con gái.

Đây là tập thơ thể hiện tâm trạng của nhà thơ trong tình yêu Sau cuộc hôn nhân đầu tiên chứa nhiều vị đắng cay, chị dồn hết tâm trạng đó vào những vần thơ khắc khoải

Từ lâu, lâu lắm rồi Giấc mộng về lứa đôi

Âm thầm như quyến rũ…

Ta trao cả cho anh Một tình yêu cháy bỏng Như một cánh buồm xinh Hiến mình cho biển rộng

Ta đã gửi cho anh Một con tim dào dạt

Và anh gửi cho ta Nỗi buồn đau tan nát

(Gửi tình yêu)

Trang 30

Bài thơ Gửi tình yêu đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc và trở thành

một bản tình ca đi cùng năm tháng Dù tha thiết trong tình yêu nhưng Đoàn Thị Lam Luyến trở về với cô đơn:

Trả ta về cô đơn Trả ta về hoang dã

(Trả ta về cô đơn.)

Ấp ủ với giấc mộng lứa đôi, với tình yêu bất tận Nhưng trớ trêu và chua

xót thay, lời tự thú của Lam Luyến dường như không thay đổi được định

mệnh

Người bỏ áo đi đâu?

Lỡ một thì con gái…

(Lỡ một thì con gái.)Càng đọc thơ của Lam Luyến ta càng thấy nhu cầu được giãi bày, được

tự thú, những suy tư, những khát vọng tình yêu đôi lứa, những góc khuất cuộc đời

Tập thơ tiếp: Chồng chị chồng em (1991) Với 35 bài thơ, Đoàn

Thị Lam Luyến đã gửi đến bạn đọc những ấn tượng sâu sắc Bài thơ mở

đầu tập thơ Chồng chị, chồng em đã gặt hái được thành công vang dội

Nó lọt vào đên chung kết cuộc thi thơ của báo văn nghệ 1990 Bài thơ là một tuyên ngôn của Lam Luyến về thái độ sống, về bản lĩnh của một nhà thơ mà ở đó niềm tin về tình yêu vẫn mảnh liệt như ban đầu:

Chị thản nhiên mối tình đầu Thản nhiên em nhặt bã trầu về têm.

(Chồng chị, chồng em)

Đã từng vấp ngả trong tình yêu nhưng niềm tin đó như một định mệnh:

Cái giần vục phải cái sàng Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau.

Trang 31

Với Lam Luyến, tình yêu quả là kỳ diệu:

Tình yêu hôm nay là hạt Sớm mai đã hóa thành vừng

Tình yêu muôn thủa cùng con người và tình yêu là phương thuốc hữu hiệu nhất của con người, của trái tim biết rung động, của những trái

tim không thản nhiên Để dành được tình yêu nhiều lúc con người phải giành giập bằng Chiến tranh.

Em đoạt anh từ tay người đàn bà kia … Giống như người đàn bà kia đoạt anh từ tay người đàn bà khác…

Đoàn Thị Lam Luyến đơn phương phát động cuộc “chiến tranh” tình ái nhưng khi chiến tranh kết thúc, chiến bại thuộc về chị Thương tích đầy mình nhưng chị không đầu hàng mà tiếp tục muốn được yêu …

Rồi em đến tuổi năm mươi Cũng yêu đến nát cuộc đời cho thơ!

(Yêu để cho thơ)Tập thơ này của Lam Luyến đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả Đó là một tim dào dạt yêu nhưng gặp nhiều cay đắng trong tình yêu Tuy vậy vẫn thấy được trái tim đầy nhân hậu ở chị

Tập thơ Châm khói (1995) như một sự tiếp tục thể hiện vết thương

lòng của Lam Luyến Với 39 bài thơ, tập thơ khẳng định những nét mới

của Lam Luyến trên thi đàn Ban đầu tập thơ có nhan đề là Hát theo Thị

Mầu – có thể hiểu là Lam Luyến hát yêu theo Thị Mầu, cốt ghẹo tình Thị

Kính – theo nghĩa biểu trưng - để mượn đó nhen lại lửa lòng Đó là niềm

ao ước không riêng của nhà thơ Lật từng trang thơ, từ đầu cho tới cuối tập thơ, sự tròng ghẹo thách đố của tác giả mỗi dòng mỗi mãnh liệt, mỗi

Trang 32

lời mỗi thách thức Nó như thể được bùng lên từ chính con ngưòi chị, từ chính sự truân chuyên trong tình cảm của chị.

Có những lời nói thật chẳng ai tin, Câu nói dối lên ngôi mà vĩ đại.

Anh là Đấng trong em mãi mãi,

Kẻ muộn màng sám hối chính là em.

(Em chấp nhận lời nói dối)Thế rồi có lúc khác Lam Luyến lại “lửng lơ con cá vàng” như thách đố

cả độc giả và cả chính mình Giật mình mê mải tìm kiếm Biết chàng Nô

ở nơi đâu? và giờ thì vẫn cô đơn lẻ chiếc.

Ngoài bốn chục chưa khỏi điều non nớt,

Cả tin nghe, cả tin nói, cả tin cười.

Que diêm mảnh cứ châm bờ dậu ướt, Khói lửa nào đắng đốt trái tim côi.

(Châm khói)

Ẩn sâu trong dòng thơ đó chính là nỗi niềm , là khát vọng yêu, khátvọng vẹn tròn hạnh phúc Trong nhiều bài thơ Đoàn Thị Lam Luyến rất hay nhắc đến các nhân vật phụ nữ bất hạnh như: Kiều, Hồ Xuân Hương, Thị Mầu, Xúy Vân … như một sự phân thân trước chính mình Phân thân là xé hồn mình ra, là dập cho tan nát đấy, là đốt cháy mình đấy và rồi cũng lại tự mình tưới cho tắt mình đấy

Tình yêu không là dục vọng

Tự mình thiêu cháy như không…

(Tình yêu)Trong sự phân thân ấy cũng có cả sự ảo tưởng, ảo tưởng về mình và ảo tưởng về người, quan trọng là biết vượt qua để sống thực hơn Tất cả dệt nên bởi chất trữ tình nồng hậu trong thơ Lam Luyến Đó là tâm trạng,

Trang 33

nỗi niềm của thân phận đàn bà dở dang, nhỡ nhàng, với những khía cạnh

và cung bậc tình cảm khác nhau Qua đó nói lên cái tâm muốn hiến dâng trong tình yêu của chị

Năm 2000, Đoàn Thị Lam Luyến cho ra mắt tập thơ thứ 6 Dại yêu

(gồm 51 bài thơ) Mỗi bài thơ của tập thơ là tiếng lòng của chiều sâu tâm hồn Lam Luyến Ở mọi nẻo đường tình yêu đều có chông gai, thử thách

và khó khăn nhưng hơn hết, trên tất cả là một trái tim biết yêu bằng cả tâm hồn:

Em đầy ngộ nhận như tôi Cũng yêu chí chết cái người mình yêu Cũng tìm những lối phong rêu

Để rồi bước trật bước trầy uổng công

(Em gái)

Và cũng nhận ra tình yêu trên thực tế không ảo mộng như trong cõi mơ?

Anh đến từ cõi mơ Làm tiêu tan cõi thực Những mật đắng tình yêu Chỉ còn trong ký ức…

(Cõi mơ – cõi thực)Dường như tình yêu vẫn chưa dành cho Lam Luyến một bến đỗ Hai lần

lỡ chuyến đò ngang, vẫn mải miết đi kiếm tìm một bến đỗ bình yên thế

mà cuộc đời khéo đùa người….bởi Em không là thánh thần!

Em không là thánh thần Nên có nhiều lầm lỗi

………

Em không là thánh thần Mới nhiều phen nông nổi

Trang 34

Khi đã dấn thân yêu Biết đâu mà lọc lõi

……

Em không là thánh thần Nên cứ hay hờn dỗi

……

Em không là thánh thần Nên chẳng quen chờ đợi Khao khát một tình yêu Những điều chưa biết tới

(Em không là thánh thần)Cũng như bao người phụ nữ khác, Lam luyến cũng muốn có cho riêng

mình một Thiên tình cuối với những cảm giác hạnh phúc bình thường

giản dị, nơi hai trái tìm hòa điệu và san sẻ cho nhau trước bão tố cuộc đời, để:

Trước bao lo toan vất vả Cái buồn tụt lại đằng sau Anh ơi bởi thiên tình cuối Cho mình biết cách thương nhau.

(Thiên tình cuối)Cuộc đời rộng mở nhưng với Lam Luyến thì dường như hơi dè xẻn quá

chăng, chị yêu dâng hiến bằng Tình ta có thật, bằng cả sự hi sinh dẫu mình là Phận bé nhưng trong Cơn mưa tình yêu Lam Luyến vẫn ngậm ngùi bởi Đứa con mang họ mẹ, và khát vọng được làm dâu không biết

đến bao giờ mới thành hiện thực?

Nhưng rồi hai đứa với nhau Không tiền mua cả buồng cau

Trang 35

Túp lều còn trong ý tưởng Bao giờ em được làm dâu?

(Bao giờ em được làm dâu?)Cuộc đời ngược xuôi, xuôi ngược kéo chị đi theo dòng đời, xa gia đình,

xa quê hương, kiếm tìm hạnh phúc… cả một đời tưởng như đã “lõi đời”,

ấy vậy mà :

Vẫn dại của, dại yêu.

Như khi bé dại của

Lớn rồi thì dại yêu

(Dại yêu)

Tập thơ gần nhất của Lam Luyến là Sao dẫn lối (2005) - Tập thơ đã

được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Chị đã mượn tình yêu để nói về thời cuộc và mượn thế sự để nói về tình yêu Đây là nét rất mới của Lam Luyến so với các nhà thơ nữ khác Với 72 bài thơ Lam Luyến

đã gửi vào đó những xúc cảm, những cái nhìn mới mẻ về cuộc đời, về con người, về cái thiện - cái ác, về cái thật - cái giả, về mọi khía cạnh của đời sống

Giữa trăm cái thực mà một giả Như chột xứ mù mấy hiển vinh Giữa trăm cái giả, mình ta thật Nào có ra chi, tổ lụy tình

Trang 36

(Thiện ác)Một cái nhìn thế sự về tình yêu thương giữa con người với con người, giữa hàng xóm láng giềng, giữa bạn bè đồng nghiệp, giữa anh và giữa em…cái nhìn mọi mặt cuộc sống bình dị, gần gũi, thân thương Chạy dài theo hình chữ S, đi đến đâu Lam luyến cũng gửi hồn mình ở đó, gửi chút tình cho quê hương, cho tình yêu, cho bạn bè… Đó là Lam Luyến của

Sao dẫn lối Khác với những tập thơ trước - thơ hầu hết là tình yêu - tập

thơ này Lam Luyến nói nhiều về thời cuộc, nói thế sự trong tuơng quan của một trái tim yêu Nhìn vấn đề với con mắt đa chiều , không phiến diện , không chủ quan, không miệt thị mà bằng cái nhìn trưởng thành, cái nhìn sâu sắc, cứng mà không khô Tình yêu cũng mang hơi hướng mới, cái nhìn mới, cảm xúc mới đó là một kiểu nhìn mang hơi hướng tâm linh, rất hợp thời mà vẫn mang nét triết lý

Xác là đất, Hồn là trời Tinh hoa trời đất chuyển dời núi non.

Hồn trơ cho Xác phải mòn Xác mà èo uột, Hồn còn ra chi?

Hồn hành đạo, Xác vô vi Trang mà biết Khổng, Khổng thì biết Trang.

Hồn trơ, để Xác bẽ bàng Xác nhơ, Hồn phải lang thang cõi người.

Hồn vĩnh cửu, Xác luân hồi Nhân cao quả lớn – phúc trời gọi ta.

Sao Hồn chẳng sớm thăng hoa Làm cho Xác mãi mù lòa, đấy thôi.

Hồn là mình, Xác là tôi Người cuối bể, kẻ cùng trời, tìm nhau…

Trang 37

Nhập Hồn, Xác sẽ biết đau Lại yêu, yêu đến kiếp sau với Hồn!

(Yêu đến kiếp sau)Đoàn Thị Lam Luyến là một tác giả nữ đam mê, tâm huyết với công việcsáng tác thơ Cho đến nay, trải qua 20 năm cầm bút với 7 tập thơ đã xuất bản, các chặng đường thơ của chị là một hành trình đi lên không bị đứt đoạn Mỗi tập thơ mang một dấu ấn riêng, thể hiện những buồn vui, trải nghiệm của một người phụ nữ khao khát sống, khao khát yêu và thành thật đến tận cùng với mọi cung bậc cảm xúc của mình Hi vọng ở những chặng đường tiếp sau, Đoàn Thị Lam Luyến lại có những sáng tác mới thể hiện được phong cách riêng độc đáo, đáp ứng được niềm tin và sự mong đợi của người đọc

1.3 Tiểu kết

Thơ là một loại hình văn học đặc biệt Điều đó xuất phát từ phương thức phản ánh cuộc sống riêng biệt của thơ ca và cách tổ chức ngôn ngữ của nó Cũng lấy ngôn ngữ làm chất liệu sáng tác nhưng ngôn ngữ thơ ca được chắt lọc từ tinh chất của cuộc sống vì thế chúng hàm súc và giàu sức lan tỏa Dư ba của thơ ca xuất phát từ tính nhạc của nó Nhạc tính là một đặc tính quan trọng của thơ ca

Đến với thơ như một định mệnh của cuộc đời Cuộc đời đầy gian truân của Đoàn Thị Lam Luyến được gửi vào thơ chị Thơ chị rất thật, rất đời thường là vì thế Bảy tập thơ với những đề tài khác nhau là sự biểu hiện một tâm hồn nhạy cảm, phong phú với cuộc sống Chị đến với Thiếu nhi bằng tình yêu thương trìu mến Trong đời thơ của mình Đoàn Thị Lam Luyến “ưu ái” cho tình yêu nhiều hơn Không ít nhà thơ nữ viết

về đề tài tình yêu nhưng thơ chị vẫn ám ảnh người đọc bằng sự xót xa, tủi phận mà vẫn mãnh liệt, say mê Cũng có lúc táo bạo nhưng luôn đầy

Trang 38

nhân hậu và bao dung Đoàn Thị Lam Luyến đã tạo được một phong cách thơ riêng đầy độc đáo bằng giọng điệu không trộn lẫn Đó là giọng thủ thỉ tâm tình đầy sâu lắng như thấm vào hồn người đọc

Chương 2 VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN 2.1 Vần trong thơ Đoàn Thị Lam Luyến

2.1.1 Vần và chức năng của vần trong thơ

2.1.1.1 Khái niệm vần thơ

Ngôn ngữ thơ ca là thứ ngôn ngữ đặc biệt Một trong những yếu tố làm nên điều đó chính là vần thơ Thơ xưa thường chú trọng vào vần, xem như là một yếu tố bắt buộc khi sáng tác thơ Hiện nay, trong thể thơ

ca tự do, vần không tối quan trọng, tuy nhiên vần vẫn là một yếu tố tạo nên sự khác biệt của thơ ca Bàn về khái niệm vần thơ, đã có rất nhiều ý kiến Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa nào thật đầy đủ, bao quát thống nhất về khái niệm vần thơ

Tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu

đã định nghĩa: Vần (Chữ nho là vận) là những tiếng thanh âm hòa hiệp

đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau Định nghĩa này chú

ý đến sự “hòa âm’’ của vần Tác giả Nguyễn Lương Ngọc trong Mấy

vấn đề nguyên lí văn học đã nêu: Sự lặp lại những thanh đọc theo một

âm ở cuối hay quảng giữa dòng thơ để tăng tiết tấu và sự biểu thị của từ gọi là vần Trong định nghĩa này tác giả chý ý đến vai trò của thanh điệu,

đến vị trí lặp lại của âm thanh Điểm chung của hai định nghĩa này là đã nêu lên sự lặp lại của âm thanh trong các dòng thơ nhưng chưa thấy được chức năng liên kết của vần, mà đây mới là chức năng quan trọng nhất

của vần thơ Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán,

Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử đã định nghĩa khá đầy đủ về vần thơ:

Trang 39

Một phương diện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở lặp lại sự không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và các đoạn thơ [20,292] Còn tác giả

Mai Ngọc Chừ cụ thể hơn một bước trong khi định nghĩa về vần thơ:

Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định như liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp[9,12].

Tóm lại vần là sự lặp lại các âm tiết, từ theo những quy tắc nhất định Tuy nhiên, đó là sự lặp lại có tổ chức ý nghĩa Roman Jakobson

trong Ngôn ngữ học và Thi Pháp học đã chỉ ra: Dù vần thơ được xác

định như sự lặp lại đều đặn của những âm vị tương đương hoặc những nhóm âm vị thì sẽ là sự tầm thường hóa nguy hiểm nếu xem xét vần chỉ

từ cái nhìn âm thanh Vần tất kéo theo sự tương đương ngữ nghĩa của những đơn vị hiệp vần[31, 15] ( Trịnh Bá Dĩnh dịch từ tiếng Nga) Như

vậy, vần thơ không chỉ mang tính hình thức, nghĩa là không chỉ là sự lặp lại âm thanh một cách vô nghĩa mà quan trọng hơn sự lặp lại đó, cách lựa chọn âm thanh đó tạo nên ý nghĩa gì trong tổng thể bài thơ, nó chuyển tải được nội dung gì mới là điều cốt yếu nhất

2.1.1.2 Chức năng của vần thơ

Vần là yếu tố không thể thiếu trong thơ ca Dù trong thơ ca hiện nay có nhiều xu hướng thơ không vần Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vần trong thơ Về chức năng của vần thơ hầu hết các tác giả đều có một cách nhìn tương đối thống nhất Đó

là :Vần là nhịp cầu nối liền các câu vào một bài thơ, là chất xi măng gắn

liền các câu thơ, các ý thành một thể thống nhất hoàn chỉnh, Vần nhằm nối liền tiết điệu và âm của các dòng thơ, nhấn mạnh vào một số từ

Trang 40

(Nguyễn Nguyên Trứ,1991) Các nhà nghiên cứu đã tổng kết, vần thơ

đảm nhận ba chức năng cơ bản sau:

1 Chức năng tổ chức, liên kết giữa các dòng thơ trong văn bản Điều

này, đã được GS.TS Nguyễn Nhã Bản nêu rõ: Vần như sợi dây, nhịp cầu

bắc qua dòng thơ Vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau

giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe thuận tai vì thế dễ nhớ dễ thuộc

2 Tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ Mỗi bài thơ có một cách gieo vần khác nhau Chính vần tạo nên âm hưởng riêng của từng bài Đọc một bài thơ cũng giống như nghe một bản nhạc, cái lưu lại trong tâm trí người đọc chính là âm hưởng riêng biệt đó Chức năng của vần thơ còn thể hiện ở chỗ nhấn mạnh sự ngừng nhịp và mối quan hệ giữa vần và nhịp Trong thơ ngắt nhịp là tiền đề để hiệp vần nhưng ngược lại vần cũng tác động trở lại nhịp Sự tác động này thể hiện ở chỗ nhịp khi có sự

hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng trở nên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn

3 Chức năng làm tăng thêm sức liên tưởng, biểu đạt ý nghĩa của câu thơ Đây là chức năng biểu đạt nội dung của vần thơ Ngoài khả năng gắn kết các câu thơ, vần còn có khả năng kết nối với nhau để tạo thành một dòng

chảy ngữ âm chuyển tải nội dung bài thơ vào tâm trí người đọc Như vậy

vần có vai trò rất quan trọng trong việc liên kết dòng thơ, tạo âm hưởng

và biểu đạt ý nghĩa lớn trong thơ

2.1.2.3 Phân loại vần thơ

Đơn vị trong thơ Việt Nam là âm tiết Dựa vào các tiêu chí khác nhau của âm tiết được gieo vần mà người ta phân loại vần thơ Xét theo

vị trí của các tiếng hiệp vần, thơ Việt Nam có hai loại: Vần chân và vần lưng Vần chân (còn gọi là cước vận) là loại vần được gieo cuối dòng thơ, có tác dụng đánh dấu sự kết thúc và tạo nên mối liên kết giữa các dòng thơ Trong vần chân cũng được phân chia rất đa dạng: Vần chân

Ngày đăng: 15/12/2015, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtote(2007), Nghệ thuật thi ca, Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà dịch, Đoàn Tử Huyến hiệu đính, Nxb Lao động, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Arixtote
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Nguyễn Nhã Bản và Hồ Xuân Bình (1999), Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng văn hoá làng quê trong thơ Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng văn hoá làng quê trong thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản và Hồ Xuân Bình
Năm: 1999
4. Nguyễn Nhã Bản và Ngô Thu Hiền (1994), Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa vần và nhịp trong thơ hiện đại
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản và Ngô Thu Hiền
Năm: 1994
5. Võ Bình (1975), Bàn thêm về vần thơ, Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vần thơ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1975
6. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Việt Chiến (2008) Thơ Việt Nam 30 năm cách tân 1975-2005, Nxb Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam 30 năm cách tân 1975-2005
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
9. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
10. Nguyễn Văn Dân (2000) Lý luận văn học so sánh, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
11. Phan Huy Dũng (2001), Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình, Ngôn ngữ, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2001
12. Hữu Đạt (1986), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
13. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004) Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
14. Nguyễn Đăng Điệp (2002) Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, H 15. Nguyễn Đăng Điệp (2006) Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh, Nghiên cứu văn học (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình", Nxb Văn học, H15. Nguyễn Đăng Điệp (2006) "Thơ Việt Nam sau 1975 - từ cái nhìn toàn cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
16. Hà Minh Đức (1994) Nhà văn nói về tác phẩm , Nxb Giáo dục, H 17. Hà Minh Đức (1997) Một thời đại trong thi ca, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm ", Nxb Giáo dục, H17. Hà Minh Đức (1997) "Một thời đại trong thi ca
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18. Hà Minh Đức (1998) Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Hà Minh Đức (chủ biên, 1999) Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
21. Cao Xuân Hạo (2001), Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm- ngữ pháp- ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm- ngữ pháp- ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
22. Hồ Văn Hải (2008), Thơ lục bát Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hoá thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lục bát Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hồ Văn Hải
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2008
23. Nguyễn Thái Hoà (2005), Từ điển tu từ- phong cách- thi pháp học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ- phong cách- thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w