Năm 2002, trong lời giới thiệu tập Lâm Thị Mỹ Dạ - Thơ với tuổi thơ, nhà phê bình Vũ Quần Phơng đã viết: "Thơ mang những nét của bản sắc tâm hồn ngời viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét d
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Nguyễn thị thuỷ
Ngôn ngữ thơ lâm thị mỹ dạ
Luận văn thạc sĩ ngữ văn Chuên ngành: Lí luân ngôn ngữ
Vinh 2007
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ xa thơ là món ăn tinh thần không thể thiếu đợc đối với tâm hồn mỗi
con ngời Vì vậy, từ thời Arixtốt, ngời ta đã quan tâm đến vấn đề nghiên cứu thơ Nhng ma lực của thơ, sự ám ảnh của thơ bắt nguồn từ yếu tố nào đầu tiên nếu không phải là ngôn ngữ? Bởi vậy, đối với chúng tôi, tìm hiểu ngôn ngữ thơ là một công việc phức tạp nhng cũng đầy lý thú
1.2 Lâm Thị Dỹ Dạ là một trong những gơng mặt nữ tiêu biểu của nền văn
học Việt Nam hiện đại Chị thuộc thế hệ các nhà thơ trẻ trởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
Chị sáng tác không nhiều nhng các bài thơ, các tập thơ của chị khi xuất hiện đều gây đợc sự chú ý đặc biệt của công chúng Ngay từ khi bớc chân vào
"ngôi đền thơ", chị đã đạt giải thởng cao: Giải nhất cuộc thi thơ của báo văn nghệ năm 1972 - 1973 Năm 1983, với tập Bài thơ không năm tháng, Mỹ Dạ
lại vinh dự nhận giải thởng của Hội nhà văn Việt Nam Mỹ Dạ còn tiếp tục khẳng định vị trí của mình trên thi đàn khi tập Đề tặng một giấc mơ đạt giải A
của Uỷ ban toàn quốc Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1999 Nhìn chung, thơ chị có giọng điệu ngọt ngào, sâu lắng, giàu nữ tính Chị thực
sự đã tạo đợc cho mình một phong cách riêng trong thơ Việt Nam hiện đại Cùng với các nhà thơ tên tuổi khác, chị đã góp phần tạo nên diện mạo của nền văn học nớc nhà Bởi vậy, tìm hiểu ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ theo chúng tôi, là một việc làm hữu ích trong việc nghiên cứu Chúng ta không những làm
rõ đợc những nét đặc sắt trong ngôn ngữ thơ của chị mà còn đánh giá đúng những đóng góp của chị cho nền văn học Việt Nam trong và những năm sau chiến tranh
1.3 Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã đợc đa vào giảng dạy trong nhà trờng ở các cấp
học, cấp Tiểu học với bài Chuyện cổ nớc mình, cấp Trung học cơ sở với bài
Trang 3Khoảng trời - Hố bom Vì thế, nghiên cứu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ góp phần vào
việc nâng cao chất lợng dạy học tác phẩm Lâm Thị Mỹ Dạ trong nhà trờng
Những lý do trên đã thúc đẩy chúng tôi quyết tâm nghiên cứu đề tài này Mong rằng, luận văn sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn về một nữ sỹ đã giành trọn tâm hồn mình cho thơ
2 Lịch sử vấn đề
Chúng tôi đã tìm hiểu khá đầy đủ các tài liệu viết về thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Có thể khái quát thành những hớng nh sau:
- Hớng thứ nhất: Phân tích, bình giảng một số bài thơ cụ thể của Lâm Thị
Mỹ Dạ Về bài Khoảng trời - Hố bom có bài viết của Lại Thị Minh Đức, Tạ
Đức Hiền đợc Vũ Tiến Quỳnh tuyển chọn trong cuốn Anh thơ, Lâm Thị Mỹ Dạ Vân Đài, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn [21; T193 - 217]; của Hồ Thế Hà
trong Tìm trong trang viết [24; T47 - 50]; của sinh viên Nguyễn Thị Minh, Lê
Thị Ngọc Chi trong cuộc thi viết về văn học cách mạng, trích trong Vẻ đẹp văn học cách mạng- Nxb Giáo dục - 2006 Đáng chú ý hơn cả là bài viết của Hoài
Thanh trong Chuyện thơ -Nxb Tác phẩm Mới 1978, Hoài Thanh đã không ngần
ngại đa ra lời đánh giá:" Có thể xem đó là một đài liệt sỹ bằng thơ Bằng thơ và
đẹp nh thơ "[22; T224] Về bài Chuyện cổ nớc mình, tiêu biểu là bài viết của
Trần Hoà Bình trong cuốn Bình văn [32, T105].
- Hớng thứ hai: Nêu lên những nét đặc sắc riêng của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Tiêu biểu là lời nhận xét tinh tế của nhà phê bình Hồng Diệu vào năm 1984: "Âm hởng chính trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ xuất phát từ những giai điệu trầm, nhẹ, đằm thắm không ồn ào Thơ chị có những nét riêng, có bản sắc riêng Bản sắc riêng ấy là phong cách thơ của chị [21; T37-39].
Vào thời gian đó, tác giả Trần Bảo Hng cũng viết:" Thơ của chị nhẹ nhõm, trong sáng, nếu có buồn thì cũng buồn dìu dịu, mà vui cũng không đến
Trang 4nổi suồng sã, xô bồ Chị nghiêng về phía những cảm xúc tinh tế, tơ mỏng với tấm lòng hồn hậu "nhìn ai cũng thấy yêu thơng"" [26; T180].
Còn tác giả Trúc Thông nêu lên ý kiến: "Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là một hơi thở nhẹ và có những khi đằm, không hoang dại, chói nồng thơ Mỹ Dạ gọn xinh, trong mát "[26; T.187].
Năm 2002, trong lời giới thiệu tập Lâm Thị Mỹ Dạ - Thơ với tuổi thơ,
nhà phê bình Vũ Quần Phơng đã viết: "Thơ mang những nét của bản sắc tâm hồn ngời viết, rõ nhất là tính phụ nữ, nét dịu dàng của cảm xúc, cách khai thác chọn lọc tìm chất thơ trong đời sống" [33].
Năm 2003, trên Tạp chí văn học số 3 , TS Hồ Thế Hà đã có bài viết:
Khuynh hớng hiện đại trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chủ yếu là ở tập Đề tặng một giấc mơ, tác giả cho rằng: "Thơ chị kết hợp đợc chất thực cuộc sống và ngôn ngữ đa dạng, tạo ra những dồn ép, biển ảo chồng chéo nhng không hề
có dấu vết của sự làm dáng Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ hồn nhiên, tuân thủ cảm xúc
và trái - tim - thi - sỹ -nhạy - cảm mà thành" [23;Tr.63].
Nh vậy, chúng ta thấy các nhà phê bình đã giành không ít lời u ái cho thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Tuy vậy, đó đều là những bài viết nhỏ, chứ cha có một công trình khoa học nào nghiên cứu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dới góc độ ngôn ngữ
Đó là một khoảng trống lớn, cần đợc nghiên cứu kỹ lỡng hơn, quy mô hơn Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi đi vào phạm vi còn bỏ ngỏ này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi t liệu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm nghiên cứu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ Cụ thể là:
- Giới thiệu chung về thơ và nghiên cứu ngôn ngữ thơ Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm Lâm Thị Mỹ Dạ
- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ Lâm Thị Mỹ Dạ ở bình diện hình thức gồm: thể thơ, cấu trúc câu thơ, nhịp điệu, đặc điểm từ ngữ
Trang 5- Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ ở bình diện ngữ nghĩa : đề tài, các hình ảnh thơ tiêu biểu.
3.2 Phạm vi t liệu:
Lâm Thị Mỹ Dạ không chỉ sáng tác thơ mà còn sáng tác cả văn xuôi Văn xuôi của chị gồm có các tập truyện giành cho thiếu nhi là: Danh ca của
đất (1984); Nai con và dòng suối (1987);Phần thởng của muôn đời (1987)
Tuy nhiên, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là thơ Lâm Thị Mỹ Dạ , cho nên chúng tôi sẽ tập trung khảo sát các tập thơ sau:
- Trái tim nỗi nhớ in chung với ý Nhi,Nxb Văn học-1974
- Bài ca không năm tháng, Nxb Tác phẩm mới, 1983.
- Hái tuổi em đầy tay, Nxb Đã Nẵng 1989
- Đề tặng một giấc mơ, Nxb Thanh niên, 1998.
ra trong quá trình khảo sát
4.2 Phơng pháp so sánh- đối chiếu
Phơng pháp này đợc áp dụng khi phân tích các tác phẩm của chính tác giả cần nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi sẽ dùng khi cần so sánh cách sử dụng ngôn ngữ của Lâm Thị Mỹ Dạ với các tác giả để làm nổi bật đặc điểm riêng của về phong cách ngôn ngữ của nhà thơ
4.3 Phơng pháp phân tích - tổng hợp
Từ việc phân tích các bài thơ cụ thể, chúng tôi đi đến khái quát thành những đặc điểm cơ bản trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Trang 65 Đóng góp của luận văn
Có thể nói, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu đặc điểm thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dới góc độ ngôn ngữ Từ đó, đánh giá đợc những đóng góp riêng của nhà thơ cho nền văn học nớc nhà trong và những năm sau chiến tranh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm:
Chơng 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm hình thức của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Chơng 3: Một số đặc điểm ngữ nghĩa tiêu biểu trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
Trang 7Phần nội dung Ch
ơng 1 một số vấn đề liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm thơ
Thơ ca là hình thức đầu tiên trong lịch sử nghệ thuật nhân loại Ngay từ khi con ngời ở thời kỳ cổ sơ nhất, thơ ca đã tồn tại trong những bài thánh kinh, những lời phù chú
Thơ ca gần gũi cần thiết cho con ngời nhng định nghĩa về thơ thật khó
Đến nay, các học giả đã tốn không ít giấy mực khi định nghĩa về thơ và có không ít ngời đã bất lực Balaga Đimitrôva - nhà thơ BunGari trong Ngày phán xử xuối cùng đã viết :" Ôi, nếu tôi viết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng
đau khố thế này" [Dẫn theo 9; T.5] Chế Lan Viên cũng thừa nhận: "Thơ là gì? Thơ là thế nào? chả lẽ tôi hì hục làm thơ mấy chục năm trời lại trả lời
là thơ cũng khó định nghĩa Thế thì điệu quá, làm bộ làm tịch quá Nhng thực ra tôi cha hiểu hết thơ đâu Tôi cố định nghĩa nhiều lần đấy Nhng lần này định nghĩa thì lần sau nán lại, chỗ này định nghĩa thì chổ khác bổ sung" [theo 13; 133].
Có điều đó, bởi thơ ca là một hiện tợng phong phú, phức tạp Mỗi ngời tìm đến thơ lại lý giải theo một cách riêng, đặc biệt khi họ tiếp cận thơ ca từ góc độ khác nhau
Cách đây 2000 năm, Palatôn xem nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng
nh một hiện tợng thần bí, cao siêu Đối lập với quan điểm trên của ngời thầy, Arixtốt lại coi thơ ca là hiện tợng do con ngời tạo ra theo những quy luật khách quan, những quy tắc tổ chức chặt chẽ Đến với văn học phơng Đông, nói đến thơ ca, các tác giả thờng nhấn mạnh đến chức năng xã hội của nó Thơ
Trang 8ca là để giáo hoá đạo lý, di dỡng tính tình, để khí ngộ cảm hoài Tuân Tử, Trang Tử cho rằng: "Thi dĩ ngôn chí" "Thi dĩ đạo chí".
Các học giả Việt Nam đã tiếp thu quan điểm trên của văn học Trung Hoa Phan Huy ích cho rằng:" Thơ là để nói chí hớng Bậc quân sỹ lúc nhàn
rỗi miêu tả tâm tình, ghi lại hình trạng, thờng thờng biểu hiện ra thiên chơng truyền lại cho ngời sau, dùng làm niên phải để lại lâu dài Đó thực là kho báu trong nhà, đâu chỉ phô bày ý tứ văn vẻ, phẩm bình phong vật mà thôi" [9;
T.7] Ngô Thì Nhậm cũng khẳng định "Văn chơng là để giúp đời, thơ là để nói chí".
Nh vậy, quan niệm "Thi dĩ ngôn chí" là một nguyên tắc mỹ học của thơ
ca Trung Quốc, Việt Nam thời trung đại Quan niệm này đã chi phối, định ớng sáng tác của các nho gia nhiều thế kỷ
h-Đến thế kỷ XX, quan niệm về thơ ca đã phong phú hơn Chế Lan Viên trong lời tựa tập Điêu tàn (Xuất bản 1937) đã coi ngời nghệ sỹ là con ngời
siêu phàm và quá trình sáng tạo thơ nh một cái gì thần bí:" Làm thơ là làm sự phi thờng Thi sỹ không phải là ngời, nó là ngời Mơ, ngời Say, ngời Điên Nó
là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tơng lai." Hàn Mạc Tử cũng khá cực đoan:" Làm thơ tức là
điên."
Sau 1945, nhà thơ Sóng Hồng trong lời tựa tập thơ của mình đã quan niệm: "Thơ tức là sự thể hiện con ngời và thời đại một cách cao đẹp Thơ không chỉ nói riêng tình cảm của nhà thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hy vọng của cả dân tộc, những mơ ớc của nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử loài ng- ời" (Sóng Hồng - Thơ - NXB - 1966).
Nh vậy, trên thế giới đã có biết bao nhà thơ, nhà lý luận định nghĩa thơ
Từ những ý kiến phong phú đó, chúng ta tạm khái quát thành các hớng nh sau:
1) Thơ là tiếng nói của tình cảm, thơ đợc chng cất từ hiện thực cuộc đời Nhà thơ Anh Uyliơm Uốc xơuuốcdơ cho rằng: "Thơ là sự thổ lộ tự nhiên của
Trang 9những tình cảm mãnh liệt" [14; 229] Tố Hữu cũng quan niệm: "Thơ là chuyện đồng điệu Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí" [14; 232]
Và thơ phải gắn liền với cuộc đời nh ý kiến Xuân Diệu: "Thơ trớc hết là hiện thực, là cuộc đời nhng thơ còn là thơ nữa" Lu Trọng L cũng khẳng định:
"Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống" Tố Hữu cũng suy
nghĩ: "Thơ chỉ tràn ra trong tim ta khi cuộc sống đã thật đầy".
2) Xu hớng định nghĩa thơ dựa vào cấu trúc ngôn ngữ Tiêu biểu là ý kiến của Giáo s Phan Ngọc: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái
đản để bắt ngời tiếp nhận, phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này".[15; 23].Hình thức tổ chức "quái đản" ở đây đợc hiểu là cách tổ chức đặc
biệt, khác lạ so với ngôn ngữ hàng ngày
3) Theo cách tiếp cận của thi pháp học, thơ có đặc trng là:
"- Cấu trúc trùng điệp (âm thanh, nhịp điệu, ngữ nghĩa)
- Kiến trúc đầy âm vang
- Nhiều khoảng trắng in trên không gian thơ
- Chất nhạc tràn đầy" [8; 16]
Trên đây, chúng ta đã tìm hiểu quan niệm về thơ của các tác giả từ xa
đến nay Và chúng ta phải chấp nhận tình trạng khó có một định nghĩa chính xác nhất, hoàn thiện nhất về thơ Dẫu vậy, chúng tôi cũng xin nêu ra một định nghĩa để tham khảo, đó là định nghĩa của Bạch C Dị: "Căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa", tức là: Thơ, gốc là tình, lá là lời, hoa là âm thanh, quả
là t tởng Bạch C Dị đã đa ra khái niệm về cây thơ, ở đó có sự hài hoà về nội dung và hình thức Thơ không thể có nội dung hay mà thiếu hình thức đẹp, không chỉ dừng lại tình cảm mà bỏ qua t tởng, chỉ có lời thơ, ý nghĩa cha đủ
mà còn phải có nhạc điệu Thơ, tình và ý, ý và lời, lời và nhạc quấn quýt với nhau nh thân thể với linh hồn Nh vậy, thơ phải bắt nguồn từ tình cảm, phải chứa đựng t tởng sâu sắc, đợc thể hiện bằng hệ thống ngôn ngữ và phải giàu nhạc điệu
Trang 101.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Nhà văn Nga M.Gorky từng khẳng định vị trí quan trọng của ngôn ngữ
đối với tác phẩm văn học:" Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học." Nhà
văn, nhà thơ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật bằng chất liệu là ngôn từ cho nên ngời ta gọi văn học là nghệ thuật ngôn từ Thơ là một thể loại của văn học Vì vậy, ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, nghĩa là mang tính nghệ thuật, đợc tổ chức một cách có nghệ thuật
Ngôn ngữ thơ ca trớc hết là thứ ngôn ngữ đợc trau chuốt, gọt giũa đến mức tinh luyện Nó nh là một loại nớc cất đợc chng lên từ vô số lời nói hàng
ngày Mai a cốp xki từng quan niệm:
"Ba triệu bông hồng mới đợc một cân hơng Cũng nh thơ dù một vần thơ nhỏ
Cũng phải mất ngàn cân quặng chữ
ng vẫn ám ảnh tâm hồn ngời đọc, bởi đó là trờng hợp "ý tại ngôn ngoại", lời
đã hết mà ý không cùng Trớc đây, khi thởng thức thơ ca của các bậc đại gia, ngời ta thờng khen từ này là "nhãn tự", câu kia là "thần cú" Thật ra làm gì có
từ hay, câu hay sẵn có mà do cách dùng từ đúng chỗ (đắc địa) mà thôi Sử dụng thành thục hai thao tác lựa chọn và kết hợp trong việc xử lý quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn thì ngôn ngữ thơ sẽ đạt đến độ tinh luyện, một thứ
"kim đơn" ngôn ngữ Lúc ấy, "có từ nh một ánh nhìn, có từ nh một nụ cời"
nh VíchTo HuyGo suy nghĩ
Khi Nguyễn Khuyến khóc Dơng Khuê:
Trang 11Bác Dơng thôi đã thôi rồi
Nớc mây man mác ngậm ngùi lòng ta
Để sáng tạo đợc từ "thôi " chắc nhà thơ đã phải rất nghiêm túc suy nghĩ
về một loại từ biểu thị cái chết: chết, mất, qua đời, về nơi chín suối, từ trần, băng hà, nghẻo, bỏ mạng,
Ngôn ngữ thơ mang tính hình tợng rõ nét Ngôn ngữ có tính hình tợng
là ngôn ngữ có khả năng tái hiện lại hiện thực, làm xuất hiện ở ngời đọc những hình ảnh, cảm giác khác nhau Ngôn ngữ thơ đã dùng các cách tạo hình quen thuộc nh: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, phóng đại, vật hoá
Đặc biệt ngôn ngữ thơ ca đợc tổ chức một cách rất đặc thù Đó không
chỉ là hình thức, nhìn trên trang giấy, ta thấy nhiều khoảng trống, nơi chất thơ lan toả Đó còn là sự kết hợp các yếu tố một cách rất đặc biệt đúng nh Giáo s Phan Ngọc viết:" Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do hình thức tổ chức ngôn ngữ này" [15; 23] Nghĩa là trong thơ ngời nghệ sĩ có thể sử dụng
những cấu trúc rất khác, những cách diễn đạt lạ nhiều khi tởng nh phi lý
Nh-ng tất cả nhữNh-ng cái đó lại đạt đến hiệu quả Nh-nghệ thuật cao đối với Nh-ngời đọc, gợi lên những cảm xúc rất tinh tế Chẳng hạn Xuân Diệu viết trong bài Thơ duyên:
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền
Câu trên có một cấu trúc ngữ pháp rất lạ Đáng lẽ nhà thơ phải viết đúng
"khuôn phép" là: "Trời xanh đổ ngọc qua muôn lá" Nhng nhờ biện pháp đảo ngữ "Đổ trời xanh ngọc" thi sĩ đã diễn tả đợc chút choáng ngợp trong cảm xúc
và vẻ ăm ắp, no đầy, tự dng nghiêng đổ của thiên nhiên Hình thức đặc thù ấy còn đợc thể hiện ở cách tổ chức ngôn ngữ theo âm tiết, vần nhịp khổ, số câu, niêm, luật Trong ngôn ngữ hàng ngày không ai tổ chức ngôn ngữ nh thế
Trang 12Chính các yếu tố âm tiết, vần, nhịp, dòng thơ, khổ thơ, tạo nên diện mạo và hình thức riêng cho thơ.
Một trong những yếu tố quan trọng là tạo nên thuộc tính thơ đó chính là
nhịp điệu Ngời ta thờng hay xem nhịp điệu là sự khác biệt chủ yếu của câu
thơ với câu văn xuôi Thơ khác văn xuôi chính ở phơng diện nhịp điệu Trong bài báo Làm thơ nh thế nào, Maiacốpxki viết: "Nhịp điệu là sức mạnh chủ yếu, là năng lợng chủ yếu của câu thơ" [Dẫn theo 12; T.24] Văn xuôi nghệ
thuật cũng có nhịp điệu nhng không gò bó mà tơng đối tự do Tác giả Phan Huy Dũng cho rằng: "So với nhịp điệu của văn xuôi, nhịp điệu của thơ trữ tình có tính tổ chức cao hơn hẳn đến mức trở thành yếu tố đặc trng nhất của thơ" [16; T.9].
Quan niệm về nhịp điệu đến nay có nhiều cách hiểu rộng hẹp khác nhau "Theo nghĩa rộng nhất, nhịp điệu là hình thức phân bố trong thời gian những chuyển động nào đó" [12; T.27] Các nhà thơ xác định nhịp điệu nh là
sự rung động của tâm hồn Nguyễn Đình Thi trong bài Mấy ý nghĩ về thơ
khẳng định: "Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm của tiếng đàn bên tai Thơ có một thứ nhạc nữa, một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của tình cảm, tình ý, nói chung
là tâm hồn" Một số nhà nghiên cứu khẳng định nhịp điệu là sự phân bố chổ
ngắt giọng Nói đến nhịp điệu ngôn ngữ là nói đến sự chia cắt dòng âm thanh
mà khi đọc, ngời đọc cảm thụ một cách trực tiếp Tóm lại ,có thể nói rằng nhịp
điệu là sự phân đoạn câu thơ, dòng thơ, khổ thơ gắn liền với những chỗ ngừng, ngắt đợc phân bố một cách hợp lý Đó là chỗ dừng có vai trò thẩm mỹ Hãy đọc lại câu thơ sau trong Truyện Kiều khi Nguyễn Du viết về cuộc đời Đạm Tiên:
Nửa chừng xuân/ thoắt/ gãy cành thiên hơng
Nhịp thơ ở câu bát trong thơ lục bát thờng đợc ngắt theo nhịp chẵn ở
đây Nguyễn Du lại ngắt nhịp theo nhịp lẻ 3/1/5, một cách ngắt nhịp đầy sáng
Trang 13tạo so với mô hình âm luật của thơ lục bát Nhịp thơ có sự rơi gãy đột ngột ấy
đã góp phần diễn tả sâu sắc hơn cuộc đời oan khốc của Đạm Tiên Có khi nhịp
điệu quyết định ngữ nghĩa của câu thơ, ngắt nhịp khác đi, ngữ nghĩa sẽ khác
Đó là trờng hợp câu thơ sau của Tản Đà:
Non cao tuổi vẫn cha già
Non thời nhớ nớc, nớc mà quên non
(Thề non nớc - Tản Đà)
Nhịp thơ của câu trên đến nay tồn tại hai quan điểm Quan điểm thứ nhất là ngắt nhịp 2/4, non cao đợc hiểu là cụm từ cố định Với cách ngắt nhịp này, chúng ta hiểu non còn trẻ, nhng những câu thơ trớc đó lại miêu tả sự già nua của non nhằm cực tả sự héo hon vì chờ đợi Quan điểm thứ hai lại ngắt nhịp 3/3, ý thơ đợc hiểu là: Non tuy đã cao tuổi nhng vẫn còn trẻ, đó là sự trẻ trung của tâm hồn do tình yêu mang lại
Nhịp điệu thơ là một vấn đề lớn, phức tạp Nhng dù đợc hiểu nh thế thì chúng ta cũng đều thừa nhận nó là một yếu tố đặc trng của thơ, là linh hồn của thơ
Bên cạnh nhịp điệu, vần điệu là một yếu tố không kém phần quan trọng của thơ Theo Hêghen, vần trong thơ là "do nhu cầu thực sự của tâm hồn muốn nhìn thấy mình đợc biểu lộ rõ hơn, nhiều hơn, có sự vang dội đều đặn"
[Dẫn theo 6; tr.188] Vần là yếu tố lặp lại của một bộ phận âm tiết Vần có ý nghĩa "nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp việc đọc thuận miệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ngời đọc, ngời nghe dễ thuộc, dễ nhớ" [17; T.22].
Vần đợc xem xét ở nhiều phơng diện khác nhau, theo cách ngời nghiên cứu vần thơ chọn lựa Theo vị trí trong câu thơ, chúng ta có vần ở đầu, ở giữa,
ở cuối Theo sự cấu tạo của âm thanh, vần đợc chia thành vần chính và vần thông Theo vị trí trong đoạn thơ, vần gồm có: vần liền, vần gián cách Theo
đặc điểm cao độ có vần bằng và vần trắc
Trang 14Nói đến ngôn ngữ thơ không thể không nói tới tính nhạc Tính nhạc là
nét rất riêng, rất tiêu biểu của thơ Chúng ta hiểu vì sao "thơ" gắn liền với
"ca", "thơ" có thể "ca" Nguyễn Phan Cảnh từng khẳng định :"Ưu thế tuyệt
đối của thơ so với văn xuôi chính là ở khâu nhạc tính này" [4;T 20].
Nhà mĩ học Bungari - M.Arnaudov cũng có ý kiến khá sâu sắc: "Trong thơ ca, nhạc tính xuyên thấm không chỉ hình thức mà cả nội dung, không chỉ nhịp điệu âm thanh mà cả t tởng chủ đạo và không một ai lại có thể bằng các khái niệm logic trình bày cho hết đợc ấn tợng của mình trớc một tự thuật trữ tình ý nghĩa, hình ảnh, tâm trạng chỉ trở thành năng sản đối với thơ ca khi chúng có màu sắc, nhạc tính" [Dẫn theo 19; Tr.22-23].
Vì thế, thởng thức một bài thơ còn phải cảm thụ bằng chính âm nhạc của nó Chế Lan Viên đã phân tích tinh tế bài "Em ơi! Ba Lan " của Tố
Hữu qua tính nhạc Trong lời giới thiệu thơ Tố Hữu, ông viết: "Bỏ âm nhạc đi
đấy là những câu rất" Tây", lồng âm nhạc vào đấy là những câu rất Việt Âm nhạc nh cái hồn dân tộc theo sát các ý của thi sĩ làm cho vừa hiện đại lại vừa rất Việt Nam Không ai có cảm giác bài "Em ơi Ba Lan " là viết về nớc ngoài tất cả Tố Hữu không những suy nghĩ qua âm nhạc mà còn suy nghĩ bằng âm nhạc".
Nhạc thơ đợc tạo thành do các yếu tố ngắt nhịp, phối thanh, gieo vần giữa các tiếng trong dòng thơ và trong cả bài thơ Theo Nguyễn Phan Cảnh hai cách khai thác nhạc tính chủ yếu trong thơ sẽ xoay quanh vần, do các nguyên âm, phụ âm đa lại và xoay quanh tiết tấu, do các thanh điệu tạo thành [ 4; T.125 - 127]
Nh vậy, nhạc điệu có vai trò rất quan trọng trong thơ "Lẽ dĩ nhiên, chỉ riêng nhạc thôi cha thể thành thơ Nhng phải xem nó nh là một đặc thù đầu tiên, quan trọng nhất, thiếu nó thơ không tồn tại" [19; 25].
Tóm lại, từ những điều trình bày trên, có thể nói rằng: Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ nghệ thuật đợc chọn lọc, tinh luyện giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu,
Trang 15đợc tổ chức một cách đặc thù nhằm phản ánh tập trung cô đọng đời sống và biểu thị tâm trạng của con ngời.
Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm phóng viên, biên tập viên văn học, Uỷ viên Ban chấp hành Hội văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế Uỷ viên Ban chấp hành hội nhà văn Việt Nam khoá III, khoá VI, Uỷ viên Hội đồng thơ Hội nhà văn Việt Nam Khoá V
Lâm Thị Mỹ Dạ hiện nay ở tại TP Huế Chị vừa chăm sóc ngời chồng bị bạo bệnh của mình là nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tờng, vừa say mê sáng tác văn học
Lâm Thị Mỹ Dạ đã vinh dự nhận các giải thởng: Giải nhất cuộc thi thơ
Báo văn nghệ 1972 - 1973; Giải thởng văn học Hội nhà văn Việt Nam 1981 - 1983( tập Bài thơ không năm tháng); Giải A của Uỷ ban toàn quốc các Hội
nhà văn Việt Nam năm 1999 (tập Đề tặng một giấc mơ); Giải A về Văn học
Nghệ thuật của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế 5 năm (1998 - 2003); giải thởng Nhà nớc về Văn học Nghệ thuật do Chủ tịch nớc trao tặng năm 2007
1.2.2 Tác phẩm
Tác phẩm chính của Lâm Thị Mỹ Dạ gồm có 4 tập thơ:
Trang 16- Trái tim sinh nở (in trong Trái tim nỗi nhớ với ý Nhi) NXB Văn học 1974.
- Bài thơ không năm tháng - NXB Tác phẩm Mới - 1983.
- Hái tuổi em đầy tay - NXB Đà Nẵng - 1990.
- Đề tặng một giấc mơ - NXB Thanh niên - 1998.
Ngoài ra, chị còn có ba tập văn xuôi dành cho thiếu nhi:
- Danh ca của đất - 1984.
- Nai con và dòng suối - 1987.
- Phần thởng muôn đời - 1987.
Tập thơ Trái tim sinh nở ( in trong Trái tim nỗi nhớ với ý Nhi) gồm 25
bài thơ là sự phản ánh cuộc sống đau thơng mà anh dũng của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt Tập thơ bộc lộ tình cảm xót xa và tràn đầy niền tin của tác giả trớc sự thắng lợi của cuộc cách mạng Bốn bài thơ trong tập bài Gặt đêm, Khoảng trời- Hố bom, Tin ở bàn tay, Đờng ở thủ đô đã
giúp Lâm Thị Mỹ Dạ đạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1972 -
1973 Trong đó bài Khoảng trời - Hố bom nh Hoài Thanh nhận xét đã dựng
lên một"đài liệt sỹ bằng thơ Bằng thơ và đẹp nh thơ" về sự hi sinh anh dũng
của ngời con gái Việt Nam
Tập Bài thơ không năm tháng gồm 25 bài thơ là sự tiếp nối tự nhiên
mạch thơ của tập thơ Trái tim sinh nở Lâm Thị Mỹ Dạ tiếp tục viết về chiến
tranh với sự lắng lại của cảm xúc Nhà thơ bộc lộ nỗi đau xót và niềm kính phục trớc sự hi sinh cao đẹp của những ngời con u tú của dân tộc Nhà thơ cũng viết về quê hơng, viết về Tổ quốc với tình cảm gắn bó thiết tha Ngoài ra, Lâm Thị Mỹ Dạ còn ngợi ca giá trị truyền thống của dân tộc và suy nghĩ, cảm xúc về tuổi thơ.ở tập thơ này, chị đã có những cách cảm, cách nghĩ mới trong những đề tài quen thuộc, giọng thơ sâu lắng và thiết tha hơn
Chiến tranh đã đi qua nhng dấu vết của nó còn nhức nhối mãi trong lòng ngời ở tập Hái tuổi em đầy tay, trái tim giàu yêu thơng của Lâm Thị Mỹ
Dạ còn đau đớn với nỗi đau của ngời mẹ có con hi sinh trong chiến tranh, với
Trang 17nỗi đau của ngời lính khi một phần thân thể gửi lại nơi chiến trờng Nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc về vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nớc, về tình cảm của gia đình sâu nặng nh tình bà cháu, tình mẫu tử, về tình bạn, tình yêu Trong số 40 bài,…
đáng chú ý là một số bài thơ đã có sự đổi mới về thi pháp, nhà thơ đã quay vào
tự vấn, tự thoại với chính mình tạo nên giọng thơ đầy trăn trở nh bài Trái tim buốt nhức, Nói với trái tim…
Sự đổi mới về thi pháp đợc thể hiện nổi bật ở tập Đề tặng một giấc mơ
Trong số 46 bài thơ, có đến 37 bài Lâm Thị Mỹ Dạ đã lấy bản thân mình làm
đối tợng phản ánh để từ đó nhìn ra nhân thế Chị đã tự soi tỏ, tự biểu hiện đến tận cùng chân thật nỗi lòng mình Đó là nỗi ám ảnh, tiếc nuối trớc sự chảy trôi của thời gian, đó là nỗi buồn, nỗi cô đơn trong khoảnh khắc đối diện bản thân,
đó là niềm khát khao về một tình yêu tuyệt đích Giọng thơ trở nên khắc…khoải, khẩn thiết hơn và thấm đợm màu sắc triết lý
Nhìn chung, dù trải qua các chặng đờng thơ khác nhau, nhng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ vẫn nhất quán với vẻ đẹp chung, đó là vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm, đầy nữ tính Và đó cũng chính là sức hấp dẫn của thơ chị đối với tâm hồn bạn đọc
Ch ơng 2
Đặc điểm hình thức của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
2.1 Dẫn nhập
Một đặc trng của tác phẩm văn học đó là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Bê lin xki khẳng định: "Trong tác phẩm nghệ thuật, t tởng và hình thức phải hoà hợp một cách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác, nếu huỷ diệt hình thức thì cũng có nghĩa là huỷ diệt t tởng và ngợc lại cũng vậy" [20;T 29]
Hình thức ở đây chính là hình thức mang nghĩa, hình thức cũng chính là nội dung tri thức chứ không phải là phơng tiện Vì thế, nghiên cứu ngôn ngữ thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, trớc hết chúng tôi tìm hiểu ở phơng diện hình thức Qua đó,
Trang 18thấy rõ hơn nét độc đáo của phong cách nhà thơ trong nền thi ca Việt Nam hiện đại.
Tìm hiểu thơ Lâm Thị Mỹ Dạ về mặt hình thức, chúng tôi vào xem xét các khía cạnh sau: Thể thơ, cấu trúc bài thơ, vần và nhịp, đặc điểm từ ngữ
2.2 Thể thơ
Các thể thơ Việt Nam có đợc hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau
Có một số thể thơ do dân tộc ta sáng tạo ra nh lục bát, song thất lục bát Có một số thể thơ đợc vay mợn từ thơ ca Trung Quốc nh thơ ngũ ngôn thất ngôn nhng đã đợc Việt hoá cho phù hợp với đặc trng tâm hồn tính cách ngời Việt
Để phân loại thể thơ, ngời ta thờng dựa vào số lợng âm tiết và vần làm căn cứ phân loại Dựa vào số âm tiết trong dòng thơ, chúng ta có các thể thơ: 2 chữ, 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát, thơ tự do (số âm tiết ở mỗi dòng thơ không đều nhau)
Dựa vào vần luật có hai loại:
- Thơ cách luật, tức là thơ có quy tắc và luật lệ ổn định, gồm: thơ Đờng luật, lục bát, song thất lục bát
- Thơ không cách luật, tức là không hạn chế về số tiếng, số câu, gọi là thơ tự do
Lâm Thị Mỹ Dạ đã để ngòi bút mình thử thách trên nhiều thể thơ tạo nên sự đa dạng về nhạc điệu và dung lợng nắm bắt đời sống Qua sự khảo sát
136 bài thơ của chị, chúng tôi thấy rằng: tập thơ Trái tim sinh nở có 10/25 bài
theo thể lục bát, 10/25 bài theo thể tự do, 3/25 bài theo thể thơ 5 chữ, 2/25 bài theo thể thơ 7 -8 chữ; 1/25 bài theo thể thơ 6 chữ; 1/25 bài thơ 4 chữ
- Tập Bài thơ không năm tháng có 7/25 bài theo thể lục bát,9/ 25 bài
theo thể tự do, 5/25 bài theo thể thơ 5 chữ, 25 bài theo thể thơ 7 - 8 chữ, 1/25 bài theo thể thơ 6 chữ, 1/25 bài thơ 4 chữ
- Tập Hái tuổi em đầy tay có 3/40 bài thơ lục bát, 22/40 bài thơ tự do,
6/40 bài thơ 5 chữ, 4/40 bài thơ 7 - 8 chữ, 3/40 bài thơ 4 chữ, 2/40 bài thơ 6 chữ
Trang 19- Tập Đề tặng một giấc mơ có 6/46 bài thơ lục bát, 27/46 bài thơ tự do,
5/46 bài thơ 5 chữ, 5/46 bài thơ 7 - 8 chữ, 1/46 bài thơ 2 chữ, 1/46 bài thơ 4 chữ, 1/46 bài thơ 6 chữ
Nh vậy, Lâm Thị Mỹ Dạ đã sáng tác trên các thể thơ 2 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 - 8 chữ, lục bát, tự do song chủ yếu là thể thơ 5 chữ, lục bát, tự
do Vì vậy, chúng tôi chỉ đi sâu vào đặc điểm của các thể thơ này
2.2.1 Thơ lục bát
Thơ lục bát là thể thơ của dân tộc, đợc hoàn thiện trên văn học vào thế
kỷ XVIII, đỉnh cao là ngôn ngữ Truyện Kiều Số tiếng của mỗi câu đợc quy
định: câu trên, còn gọi là câu lục có 6 âm tiết, câu dới, còn gọi là câu bát có 8 câu tiết và cứ nh vậy kế tiếp nhau Cách hiệp vần trong thể lục bát nh sau: Tiếng cuối câu lục vần với tiếng thứ 6 câu bát, rồi tiếng cuối câu bát lại vần với tiếng cuối câu lục, nên câu bát có hai vần: vần lng ở tiếng thứ 6 và vần chân ở tiếng thứ 8
Về ngắt nhịp, nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở Về thanh, thờng tiếng thứ hai là thanh bằng, tiếng thứ t là thanh trắc, tiếng thứ sáu
và là tiếng thứ 8 thanh bằng, còn các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật "nhất, tam, ngũ bất luận"
Thể thơ lục bát là một thể thơ dễ làm nhng khó hay Nó đi cheo leo nh một sợi dây vô hình giữa một bên là thi phẩm làm rung động lòng ngời và một bên là bài vè thô thiển Khi nói về thơ lục bát, Nguyễn Phan Cảnh từng khẳng
định: "Làm đợc tốt thì đấy là tính dân tộc, không làm đợc tốt thì tuy luôn có
đó diễn ca, song chiều ngợc lại này đi cho hết thật còn xa vô cùng Vì thế không nơi nào có thể làm phép thử tốt bằng ở đây - đằng thằng, trần trụi, không "gia vị" nhng chính vì thế mà bản chất nhất mà không lộn sòng đợc"
[4; 131]
Tác giả "Ngôn ngữ thơ" viết tiếp: "Và chúng ta có thể phỏng theo cách Nguyễn Tuân "làm cho tôi món luộc, tôi sẽ nói cho anh biết thịt hàng anh nh
Trang 20thế nào" mà rằng: "Cho tôi xin một ít lục bát, tôi sẽ tha anh có phải là nhà thơ thứ thiệt không" [4; 131].
Qua các bài thơ lục bát của Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng ta có thể khẳng
định chị là một "nhà thơ thứ thiệt" Bản sắc riêng của thơ chị - nh nhà phê bình Hồng Diệu nhận xét là: "giai điệu trầm, nhẹ, đằm thắm, không ồn ào".Điều đó
có sự góp phần không nhỏ của thể thơ mà chị đã chọn lựa làm phơng tiện thể hiện - thể thơ lục bát Nhờ sự chuyên chở của những dòng thơ nhẹ nhàng, uyển chuyển này mà tình cảm trong thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ trở nên ngọt ngào, sâu lắng, ngân vang hơn, nhất là tình cảm đối với truyền thống dân tộc, với quê hơng, với ngời thân yêu ruột thịt
Với Truỵện cổ nớc mình, Lâm Thị Mỹ Dạ đã hành hơng về nguồn cội
để trân trọng và biết ơn những thế hệ ông cha, để lý giải sức sống từ phía truyền thống:
Tôi yêu truyện cổ nớc tôi Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa Thờng ngời rồi mới thơng ta Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
ở hiền thì lại gặp hiền Ngời ngay thì gặp ngời tiên độ trì
Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xa Chỉ còn truyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình Rất công bằng, rất thông minh Vừa độ lợng lại đa tình, đa mang
Ngôn ngữ mộc mạc trong nhịp thơ lục bát êm trôi lại tựa vào những tích truyện dân gian, đã đem lại một phong vị đồng dao cho những dòng thơ Đặc biệt tác giả đã gieo vần bằng những nguyên âm mở nh nguyên âm "a" ("xa", "ta",
Trang 21"tha", ), nguyên âm bổng nh nguyên âm "i" (trì, "đi", "gì" ) hay gieo vần kết
thúc bằng các phụ âm vang nh "n", "nh" ("hiền", "tiên" "mình", "minh",
"tình", ) khiến cho lời thơ ngân nga, sâu lắng hơn, từ đó ngời đọc đợc dẫn dắt
vào thế giới cổ tích huyền thoại để thấm thía hơn những triết lý sâu xa:
Thị thơm thì giấu ngời thơm Chăm làm thì đợc áo cơm cửa nhà
Đẽo cày theo ý ngời ta
Khi tay chạm trống đồng ngân Sững sờ tôi thấy mình thành ngời xa Mơ hồ giọt nắng trong ma Tởng nh trời của ngày xa quay về Qua bao bão tố, thác ghềnh Mấy nghìn năm vẫn âm thanh ban đầu
Mát mềm, da diết, xa sâu Trống đồng ngân tiếng đàn bầu trong tôi
Qua bao nớc mắt, mồ hôi Vẫn nguyên một tiếng bồi hồi ruột gan
Trang 22ời Và chị lại tìm đến thơ ca lục bát, thể thơ truyền thống của dân tộc để diễn tả sâu sắc hơn vẻ đẹp giản dị, gần gũi "tựa ca dao nghìn đời" của vị lãnh tụ.
Bác gần guĩ tự ca dao Tháng năm sống giữa xôn xao nớc trời
Giữ đất đai, giữa hồn ngời Nâng niu, gìn giữ chuyền đời cho nhau
Bác ơi, lòng cháu nh cây Nghe ca dao bỗng trĩu đầy quả thơm
(Bác là ca dao)
Đặc biệt, những bài thơ viết về quê hơng, về tình mẫu tử, thể thơ lục bát trở thành phơng tiện hữu hiệu giúp nhà thơ dễ dàng bộc lộ cảm xúc của mình Hình ảnh quê hơng trong chiến tranh của Lâm Thị Mỹ Dạ không hiện lên đau thơng, khốc liệt cho dù có tiếng "bom nổ" bởi chị đã tạo ra đợc một chất giọng trong trẻo, ngọt ngào từ thể thơ lục bát:
Đêm qua bom nổ trớc thềm Sớm ra trời vẫn ngọt mềm tiếng chim
Nghe hơng cây vội đi tìm Hái chùm ổi chín lặng im cuối vờn
(Hơng vờn)
Và cũng chỉ có những vần thơ lục bát ngân nga mới diễn tả đợc tiếng sáo quê hơng mênh mang lan toả trong không gian, vấn vít hồn ngời nh lời ru của mẹ:
Gởi lòng trong tiếng sáo bay Trúc theo ta đến đêm nay - chiến trờng Sáo ngân hay tiếng quê hơng
Êm nh lời mẹ yêu thơng dặn dò
Mệnh mang sông nớc con đò
Đêm trăng giã gạo câu hò ai trao?
Trang 23Ngày mai giáp mặt quân thù Quê hơng - tiếng sáo - lời ru dịu hiền
(Tiếng sáo trúc)
Viết về tình mẫu tử, Lâm Thị Mỹ Dạ đã sáng tạo nên những vần thơ thật xúc động Nổi bật trong những trang thơ ấy là tình mẹ yêu thơng con vô bờ bến Và chị lại tìm đến hình thức thơ lục bát Phải chăng, nơng tựa vào thể lục bát giàu nhạc điệu với những tiết tấu nhịp nhàng thơ Lâm Thị Mỹ Dạ mới thực
sự có đợc chất ngọt ngào, đằm thắm? Không phải ngẫu nhiên trong tập Hái tuổi em đầy tay có ba bài viết theo thể lục bát thì cả ba bài ấy đều diễn tả tình
mẹ yêu con, đó là bài Nghĩ về con nh biển, Cái nhớ , Chùm quả cho con
Giọng thơ ở những bài này thật ấm áp, dịu dàng:
(Ngọt ngào -Chùm quả cho con)
Có thể nói, thơ lục bát là một thế mạnh của Lâm Thị Mỹ Dạ Nó góp phần không nhỏ trong việc tạo nên diện mạo phong cách thơ của chị, nh nhà phê bình Hoài Thanh từng nhận xét: "Giọng thơ dân gian rất hồn nhiên, nó vốn là một u thế riêng của Mỹ Dạ" [22; T 223].
2.2.2 Thơ 5 chữ:
Trang 24Đây là một trong những thể thơ quen thuộc của thơ ca Việt Nam Theo Mã Giang Lân, thơ 5 chữ có nguồn gốc từ thể hát giặm Nghệ Tĩnh, có nhịp 3/2 nhng vẫn thay đổi, không nhất thiết là vần liên tiếp và số câu không hạn định.
Đồng thời, thơ 5 chữ cùng thể thơ quen thuộc trong thơ cổ phong (ngũ ngôn cổ phong) và thơ Đờng (ngũ ngôn Đờng luật) Từ đó, các nhà thơ Việt Nam đã tạo ra đợc nhiều kết cấu, nhiều vần điệu cho thơ 5 chữ
Lâm Thị Mỹ Dạ đã sáng tác 19 bài thơ theo thể thơ này, chiếm 13,9%, Các bài thơ 5 chữ của Lâm Thị Mỹ Dạ thờng dài, đặc biệt là những bài nh:
Hai tuổi em đầy tay có 54 dòng thơ, Bài thơ không năm tháng có 65 dòng
thơ Cách chia khổ của nhà thơ cũng linh hoạt, thờng mỗi khổ 4 và 6 dòng thơ,
có khổ chỉ một dòng thơ (bài Những câu thơ), có khổ 7 dòng thơ (Bài Bài thơ không năm tháng).
Tác giả Phan Cảnh cho rằng:"Cái mạnh của thơ 5 chữ là chất hoài niệm" [4;T 131] Phải chăng, với thể thơ cổ xa, nhà thơ sẽ diễn tả sâu sắc hơn
nổi niềm hoài vọng? Vũ Đình Liên đã từng dùng thể thơ 5 chữ để chở tải một nỗi ngậm ngùi chua chát, nuối tiếc đến thảng thốt về dáng đẹp tinh thần, một
mỹ tục văn hoá trong đời sống tâm hồn dân tộc đang tàn tạ, đang thành quá vãng:
Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Bên phố đông ngời qua Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xa Những ngời muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?
(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)
Trang 25Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đã dùng hình thức thể thơ này để chuyên chở một nỗi nhớ thật da diết, "bồi hồi" - nỗi nhớ về một làn hơng cau dịu nhẹ cùng với tình yêu thuở ban đầu:
Hoa cau nở bồi hồi Hơng ngập ngừng đâu đó?
Tình em nh hơng cau Phải anh là ngọn gió?
Ôi phút hoa hiến dâng Hồn tôi không kịp hái"
(Hoa quỳnh)
Thể thơ 5 chữ chỉ có 5 âm tiết, nhịp ngắn gọn rất phù hợp với lối kể chuyện Thơ ngũ ngôn của Lâm Thị Mỹ Dạ cũng chủ yếu dùng để kể chuyện kết hợp với miêu tả, giải bày tâm trạng với lời thơ mộc mạc, tự nhiên
Trang 26Khi mùa xuân đến, tác giả cảm nhận:
"Đất nh cô gái yêu Giấu bao điều cha nói Bỗng nhú những mầm non Khi nghe mùa xuân gọi
(Tiếng mùa xuân)
Và nhà thơ kể lại những chi tiết ám ảnh: mùi thơm của bánh chng, âm thanh xao xuyến của tiếng gà, đặc biệt là sự kiện đáng nhớ:
Đầu năm về thăm mẹ
áo còn vơng chiến hào Chân lội qua con suối Nghe mùa xuân nôn nao
Nhng rồi: Lại khoác súng ra đi
Cùng bạn bè đồng chí Nghe trận địa thử súng Biết mùa xuân nói gì
(Tiếng mùa xuân)
Bài thơ Hái tuổi em đây là lời của nhân vật "Em" kể về ngày sinh nhật
của mình Ngày hôm ấy, thiên nhiên thật là tơi đẹp: Trời trong và mây trắng
Đọng cát vàng ngấn nắng Vào ngày này, cách đây 24 năm, mẹ đã sinh "Em"
trong vất vả, thiếu thốn:
Ma dột đầm ớt tóc Gió tê buồn hai tay
Mẹ không có cửa nhà.
Và hoàn cảnh của "Em":
Em - đứa trẻ vắng cha
Nh mầm cây trên đá
Biết khi nào nở hoa"
Còn anh thì: Ngày ấy anh đã có
Một tuổi thơ êm đềm
Trang 27Phần sau của bài thơ là tâm trạng tràn ngập niềm vui, niềm hạnh phúc của em khi "biết ngày sinh lên đờng" Nhà thơ còn kể về sự kiện gặp gỡ với Ngời bạn Cămpuchia, kể cho bé nghe loài hoa mai biết đi chơi, đến bao miền
đất lạ trong bài Đi du lịch
Nh vậy, khi cần diễn tả sâu sắc tâm trạng hoài niệm hay kể về các sự kiện một cách tự nhiên thì các nhà thơ nói chung và Lâm Thị Mỹ Dạ nói riêng thờng lựa chọn hình thức thơ 5 chữ Điều đó lý giải vì sao thơ 5 chữ là một trong những thể thơ tiêu biểu của thơ hiện đại Việt Nam
2.2.3 Thơ tự do
Thơ tự do xuất hiện ở Việt Nam cùng với sự ra đời của phong trào Thơ Mới Thơ tự do có sự kế thừa, mang dáng dấp của thể hát nói trong thơ ca dân gian Sau cách mạng tháng Tám, nhất là những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thơ tự do phát triển mạnh mẽ và phong phú
Thơ tự do có đặc điểm không tuân theo những quy tắc về cách luật cố
định nh thơ đờng luật, lục bát Số chữ trong câu không bị hạn chế, có thể một chữ đến mời chữ hoặc nhiều hơn Số câu trong một khổ cũng không hạn định
có thể là một câu đến nhiều câu thơ Gieo vần cũng rất linh động, có thể gieo nhiều vần vừa bằng, vừa trắc, có kiểu vần liên tiếp, vần gián cách Có khi không có vần, chỉ có nhịp điệu ở đây, nhịp điệu nổi lên nh một yếu tố chủ
đạo, nó đợc ngắt tự do cho phù hợp với tình ý trong câu, trong bài Kino Curajuki đã khẳng định :"Nếu nhịp điệu vĩnh viễn trờng tồn thì làm sao thơ ca
bị tiêu diệt đợc?" [4; T 136].
Theo suốt hành trình của thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, chúng ta thấy rằng: ở những tập thơ đầu chị u tiên cho thể thơ lục bát, còn ở những tập thơ sau, khi chị đang vật lộn trong cuộc hành hơng về cõi sâu thẳm của tâm hồn mình, tự
mổ xẻ, tự vấn mình thì chị lại giành vị trí đặc biệt cho thể thơ tự do Nếu ở tập
Bài thơ không năm tháng, thể thơ tự do có 9/25 bài, chiếm 36% thì ở tập
Trang 28Để tặng một giấc mơ, thơ tự do có 27/46 bài, chiếm 58,6% Nhìn chung trong
số 136 bài thơ của chị có 68 bài theo thể tự do, chiếm 50%
Thơ tự do của Lâm Thị Mỹ Dạ có sự co chuỗi nhịp nhàng các câu thơ, dòng thơ cho phù hợp với nội dung đợc phản ánh Bài thơ tự do ngắn nhất của
Mỹ Dạ là 4 dòng thơ nh bài Hoa của mẹ , còn dài nhất là 75 dòng thơ, đó là
bài Ngời Hà Nội - Nguyễn Tuân Dòng thơ ngắn nhất của Lâm Thị Mỹ Dạ chỉ
có 1 âm tiết, còn dài nhất là 13 âm tiết ở các bài thơ tự do thờng có hiện tợng
đan xen câu thơ, dòng thơ dài ngắn khác nhau khiến lời thơ uyển chuyển, nhịp
điệu câu thơ nh chính nhịp điệu tâm hồn
Lâm Thị Mỹ Dạ bớc vào ngôi đền thiêng thi ca một cách kiêu hãnh bằng chùm thơ đạt giải nhất của Báo văn nghệ năm 1972 - 1973 Trong đó, bài thơ sáng giá nhất là bài Khoảng trời - Hố bom đợc viết theo hình thức thơ tự
do Sự thành công của bài thơ bởi nhiều yếu tố trong đó, có một yếu tố không kém phần quan trọng là nhà thơ đã dùng các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau
để diễn tả các cung bậc tình cảm của mình trớc sự hi sinh cao cả của ngời con gái
Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đờng
Để cứu con đờng đêm ấy khỏi bị thơng Cho đoàn xe kịp giờ ra trận
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
Đánh lạc hớng thù Hứng lấy luồng bom
Em nằm dới đất sâu
Nh khoảng trời đã nằm yên trong đất
Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng Những vì sao ngời chói, lung linh
Có phải thịt da em mềm mại, trắng trong
Đã hoá thành những làn mây trắng
Và ban ngày khoảng trời ngập nắng
Đi qua khoảng trời em - vầng dơng thao thức
Trang 29Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực Soi cho tôi
Ngày hôm nay bớc tiếp quãng đờng dài
Trong đoạn thơ trên, có những câu thơ ngắn, Em nằm dới đất sâu chỉ có
5 âm tiết, diễn tả đợc tình cảm rng rng, nghẹn ngào, sự cúi đầu tởng niệm của nhà thơ trớc cái chết của ngời con gái ở độ xuân xanh Và ở câu thơ sau Soi cho tôi cũng rất ngắn thể hiện đợc thái độ của tác giả trớc cái chết đầy ý nghĩa
của "Em" - cái chết gieo mầm cho sự sống Trái lại, cũng có những câu thơ rất dài: Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa gồm 13 âm tiết
hay Đi qua khoảng trời em- vầng dơng thao thức, Hỡi mặt trời, hay chính trái tim trong ngực, cho thấy sự xúc động mạnh mẽ trong lòng nhà thơ, sự xúc
động ấy đã tràn ra theo câu chữ không thể kìm nén
ở bài thơ Chuyện của một cô bảo mẫu nhà thơ đã kết hợp các dòng thơ
có số lợng âm tiết khác nhau nhằm diễn tả nỗi đau đột ngột, hụt hẫng trớc sự mất mát lớn lao của các em bé:
Bổng chiều nay Tim tôi đau nhói!
Chiều nay!
Những ngời mẹ không bao giờ về nữa "
Ta còn bắt gặp hiện tợng trên ở bài thơ Không đề:
Trên cánh đồng của chính mình Tôi thu lợm bón chăm và gieo vãi Những hạt giống nhiệm màu cất kỹ Ngỡ mùa sau thành cây trái vàng mơ
Nhng ngoảnh lại Giật mình
Hoang vắng Bởi tôi đã gieo tôi cằn kiệt không ngờ!
Trang 30Với cách phân bố câu chữ và sự phân cắt câu thơ cô duỗi, đột ngột thu ngắn lại ở những dòng thơ sau, Lâm Thị Mỹ Dạ đã lột tả đợc trạng thái, thảng thốt trong tâm hồn nhân vật trữ tình Những dòng thơ cuối diễn tả đợc những hành động nối tiếp để thấm thía cảm giác tái tê: Ngoảnh lại - giật mình - hoang vắng, rồi dòng thơ cuối đột nhiên giãn bung ra đã diễn tả chính xác diễn biến tâm trạng nhà thơ trong khoảnh khắc đối diện với chính mình, phát hiện ra sự trống vắng đến không ngờ khi chợt nhận ra ảo tởng một thời.
Có lúc nhà thơ đã sáng tác nên những câu thơ vắt dòng, kết hợp với
động từ mạnh, tạo ấn tợng mạnh mẽ về tiết tấu:
Cuộc đời em vo tròn lại Và
Ném vào cuộc đời anh
Nó sẽ lặn sâu tận đáy cuộc đời anh
Sâu cho tận cái chết
(Không đề)
Câu thơ vắt dòng nh thế tạo nên ấn tợng trực quan về một nỗi nghẹn ngào, uất ức trong trái tim nhân vật trữ tình
Có lúc, những dòng thơ chỉ có 1- 2 âm tiết, nhiều nhất là 5 nh:
Thời gian uống trôi Từng giọt
Từng giọt Chiếc đồng hồ trên tờng Tích tắc
rơi rơi
(Thời gian uống tôi)
Trang 31Những dòng thơ ngắn, từng chữ, từng chữ đợc buông ra tựa nh nhịp gõ của thời gian, mô phỏng đợc giọt thời gian tròn trịa rơi - rơi, từ đó ngời đọc cảm nhận đợc tiếng nấc vang vọng từ sâu thẳm con tim nhà thơ.
Có lúc, những câu thơ ngắn kết hợp với cách gieo vần, cách sử dụng thanh điệu - thanh bằng chiếm u thế, nhà thơ đã gợi lên sự chìm lấp của những cơn ma và nỗi buồn mênh mang trong sâu thẳm tâm hồn nhân vật trữ tình:
Ma Qua đêm Qua tôi Qua cánh đồng trời
Mù khơi Vời vợi
(Ma)
Có thể nói thể thơ tự do là thể thơ thành công nhất của Lâm Thị Mỹ Dạ Nó góp phần làm nên gơng - mặt - nhà - thơ Thể thơ phóng khoáng, không gò bó về câu chữ, vần, nhịp đã giúp nhà thơ diễn tả thành công bản hợp tấu của tâm hồn Và ngời đọc cùng chung ấn tợng: "Thơ chị tự nhiên, cứ tởng thốt ra là thành nhng đó
là cái tự nhiên của một tâm hồn đã chín" [23; T 64].
2.3 Vần và nhịp điệu
2.3.1 Vần
Do đặc trng loại hình ngôn ngữ, ngời Việt có một truyền thống ngữ văn
đáng chú ý là dùng vần trong cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ Kết quả là hiệp vần trở thành hiện tợng phổ biến trong thơ
Vần là gì? Từ điển thuẩt ngữ văn học đã định nghĩa vần: "Một phơng tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hoà và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ" [25; T 292].
Trang 32Vần có tác dụng liên kết các dòng thơ với nhau và tạo nên âm hởng tiếng vang trong thơ Xuân Diệu cho rằng: "Vần, nhịp là gì nếu không phải là những cái ngăn cản giả vờ, để cho tâm hồn thơ trúc ngụ con ngựa chỉ bất kham khi ngời cỡi ngựa yếu bóng vía, khi con ngựa lồng lộn đã chịu cơng rồi,
nó đi nhanh hơn ngựa thờng" [6; T 188].
Dựa vào những tiêu chí khác nhau, ngời ta có cách phân loại vần khác nhau Xa nay, vần đợc phân loại theo ba cách:
- Theo vị trí tiếng hiệp vần, vần có hai loại: Vần chân và vần lng Vần
chân có các kiểu chính gồm vần chân liên tiếp, vần chân gián cánh, vần chân
ôm nhau
- Theo mức độ hoà âm giữa các tiếng hiệp vần, vần có ba loại: vần
chính, vần thông và vần ép, trong đó, phổ biến nhất là hai loại đầu
- Theo đờng nét thanh điệu trong các âm tiết hiệp vần, ta có vần bằng và
vần trắc
Kiểu gieo vần thờng gặp trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là vần chân:
Ơi cây đàn ghi ta
Nh tâm hồn thiết tha Của ngời nghệ sỹ Không bao giờ già Bao khổ đau,bao nỗi niềm vui sớng Trong cây đàn của anh
Cây đàn nh cuộc sống Bốn mùa tơi xanh!
(Giấc ngủ của cây đàn)
Vần chân đợc Lâm Thị Mỹ Dạ gieo khá phong phú, gồm nhiều dạng khác nhau
Có khi là vần liền theo kiểu AA - A nh:
Trang 33Một quả trứng màu ngà
Nh sự sống ngân nga Dâng lên trong chiếc tổ Chim mẹ vụt bay ra
(Cái tổ chim)
Cách gieo vần liêp tiếp đợc gieo vần nguyên âm mở "a" cho thấy niềm vui lan toả trong tâm hồn nhân vật trữ tình khi chứng kiến sự sống sinh sôi từ cái tổ chim
Có khi vần đợc gieo theo kiểu AABB, tức là hai âm tiết cuối của dòng trớc hiệp vần với nhau và hai âm tiết cuối của dòng sau hiệp vần với nhau nh:
Trời ơi Làm sao có một cuộc đời
Để cho tôi ném một đời vào đó
Mà không hề cân nhắc, đắn đo Rằng: cuộc đời ấy còn cha đủ
(Không đề)
Những vần "ơi", "o" đợc gieo liên tiếp diễn tả nỗi thổn thức khôn nguôi trong trái tim "tôi" khi nhận thấy cuộc đời trống rỗng
Có khi là vần cách , các âm tiết hiệp vần xen kẻ nhau, làm cho khổ thơ
có sự đan xen hài hoà về hình thức, cũng nh về ngữ nghĩa:
Tôi đi dới hàng cây Biết mình không còn bé Cây cao lên mỗi ngày
Nh tôi không còn trẻ
(Có một con đờng long não)
Có khi là vần ôm, tứ là âm tiết cuối dòng đầu và dòng cuối hiệp vần với
nhau, âm tiết ở các dòng giữa khổ thơ hiệp vần với nhau theo kiểu ABBA:
Gió mang bao là hơng
Đi về đâu gió hỡi
Trang 34Em ngồi nghe gió nói Biết ngày sinh lên đờng
(Hái tuổi em đầy tay)
Về vần lng, Lâm Thị Mỹ Dạ chủ yếu gieo vần lng ở thể thơ lục bát và
thờng gieo vần ở âm tiết thứ 6 của câu lục và thứ 6 câu bát:
Giá mà ta đợc làm cây
Để khóc nh lá rơi gầy giọt xanh Rơi thanh thảnh, rơi yên lành Chỉ đất thấu hiểu ngọn ngành nỗi đau.
(Làm gì có biển)
Có khi gieo ở âm tiết thứ 6 câu lục và thứ 2 câu bát:
Mía vàng khắc đốt thời gian Bởi vàng nhớ quả bóng tròn tuổi thơ
(Tháng năm)
Vần lng có khi đợc gieo ở tiếng thứ 4 và tiếng thứ 6 câu bát:
Nghe hơng cậy vội đi tìm Hái chùm ổi chín lặng im cuối vờn
(Hơng vờn)
Cách gieo vần trên đã đem lại hiệu quả lớn Câu thơ không những tràn
đầy tính nhạc mà còn diễn tả sâu sắc trong chiến tranh đau thơng huỷ diệt
"bom nổ trớc thềm" sự sống vẫn lặng lẽ sinh sôi để dâng hơng cho đời Qua
đó, ta thấy đợc tấm lòng bền bỉ, thiết tha của Mỹ Dạ đối với cuộc đời
Mức độ hoà âm giữa hai tiếng hiệp vần cũng đợc sử dụng linh hoạt:
Có khi là vần chính (vần hoàn toàn trùng hợp nhau):
Từng bông màu xanh lá
Từng bông dáng nụ hồng Sao gọi là hoa đá
Hoa này, hoa biết không
(Sự tích hoa đá)
Trang 35Giọt nớc mắt rơi tự thuở nào Bây chữ còn đọng giữa ngàn sao Sông ngân còn ngấn đôi bờ lệ Nghiêng xuống trần gian nỗi nghẹn ngào
(Đêm nh ngân)
Đây là loại vần có mức độ hoà phối âm thanh cao nhất, tạo nên âm ởng tốt nhất cho ngôn ngữ: tính nhịp nhàng cân đối, sự du dơng
h-Có khi là vần không (vần không hoàn toàn giống nhau):
Có ai đi qua mùa xuân Cho tôi làn hơng tinh khiết Cho tôi cái nhìn xanh biếc
Xa xa - tôi đánh mất rồi
Ước đợc vô t nh gió
Đêm trắng cũng nh ban ngày Không nghĩ suy, không thao thức Yên lành nh quả trên cây
(Tôi có bao nhiêu đêm trắng)
Có khi nhà thơ phối xen cả vần chính lẫn vần không trong hai dòng thơ với mức độ đặc đặc làm cho câu thơ tràn đầy tính nhạc:
Trái ổi xanh trăng nặng trĩu đầy Tay nâng mà ngỡ tuổi thơ ngây
(Đêm nh ngân)
Cách gieo vần trên cho ta thấy niềm vui đang ngân nga, lan toả trong tâm hồn nhân vật trữ tình trớc món quà bất ngờ mà thiên nhiên ban tặng một trái ổi thơm trăng Và nhân vật trữ tình nâng quả ổi trên tay mà ngỡ nâng niềm hạnh phúc
Trang 36Thơ kỵ nhất là trờng hợp điệp vận nhng với Lâm Thị Mỹ Dạ điệp vận,
và độc vận lại diễn tả sự đay đi nghiến lại một nỗi đau:
Em đã thành ngời đàn bà khác Bông hoa xanh nụ tầm xuân đã khác Trách chi em, trách chi đời đen bạc
(Nụ tầm xuân đã khác)
Mỹ Dạ khi cần diễn tả nỗi đớn đau, quay quắt trong cảnh cô đơn đã gieo vần trắc với những thành trắc liên tiếp:
Sao không là đất Thấm đẫm bao mồ hồi nớc mắt Sao không là trời
Giông bão cuồng say rồi tắt
(Nhiều khi)
Và khi cần diễn tả một nổi buồn mênh mang, bởi tìm ngời tri kỷ mà không thấy, đáp lại là một không gian giăng hàng mây trắng, Mỹ Dạ đã gieo chủ yếu vần bằng:
Ai tìm ai giữa mênh mang Chỉ còn mây trắng giăng hàng khuất che
(Một mình)
Có thể nói Mỹ Dạ đã khá thành công ở việc gieo vần Điều đó tạo nên
âm hởng, tiếng vang cho thơ và giúp tác giả bộc lộ sâu sắc tình ý của mình Nhng nhìn chung, "Mỹ Dạ thờng bám sát một nội dung hơn là chạy theo vần
điệu Chị làm chủ đợc mình, không để vần điệu lái ngòi bút sang một nẻo ờng khác, nẻo đờng đã định" [21; T 28] Dẫu vậy, thơ chị vẫn tràn đầy tính
đ-nhạc, đó là thứ nhạc điệu bên trong của tâm hồn, chẳng hạn ở bài Nh lá:
Nhìn lá
Cứ ngỡ là lá ngọt
Trang 37Bởi lá tơ non mơn mởn quá chừng Lá tơi thắm xua tan mùa đông rét buốt Hỡi chiếc hôn em có là nh lá không?
Tôi đi giữa mùa non Sững sờ trong bao dáng lá
Nhớ ai Tôi gửi nụ hôn lên trời Con ngời không có tình yêu
Nh trái đất này không có lá
Là hơi thở đất đai không thể thiếu
Là dịu dàng sâu thẳm của tôi ơi!
Nếu vẽ đợc chiếc hôn ở giữa ánh trời Tôi sẽ vẽ chiếc hôn nh lá
2.3.2 Nhịp điệu
Nhịp điệu là yếu tố đặc trng của thơ ca, có vai trò đặc biệt quan trọng,
"thậm chí khi lời và ý dở, nhà thơ vẫn quyến rũ ngời nghe bằng nhịp điệu và
sự cân đối "(ISo Kratis) Nhà thơ Sóng Hồng cũng cho rằng:
Vần hay không tôi vẫn cho là thứ yếu Nhng vắng âm thanh réo rắt đố thành thơ
Trang 38ở thể thơ 2 chữ cách ngắt nhịp hai thể hiện nỗi lo âu khác khoải của tác giả:
Đờng đời Trăm ngả
khóc cời trăm nơi niềm vui mắc cạn nỗi sầu biển khơi giả thật phơi phóng dại - khôn chung đờng
ác - hiền lẫn lộn làm sao
D âm/ nỗi chờ Ngọn đèn/ không tắt
(D âm) Trăng/ cô đơn trời Quỳnh ơi/ ta ngồi Một quỳnh/ một ta Lặng thầm/ thiết tha
(Một quỳnh một ta)
Trang 39ở thể thơ 6 chữ, nhịp 2/2/2, 2/4 phù hợp với cảm xúc tâm tình, suy t:
Tôi có/ bao nhiêu/ đêm trắng Khổ đau/ mơ mộng/ giận hờn Cuộc đời/ trần gian/ ngắn lắm Sao ngời/ không thơng ngời hơn.
(Tôi có bao nhiêu đêm trắng) Bạn gái/ đáng yêu đến thế
Cho tôi/ quên hết nhọc nhằn Cho tôi/ về thời con gái Sáng tròn/ nh một vầng trăng.
Xanh xao/ dần lên môi Xanh xao/ tim không thắm Xanh xao/ không mặt trời Chàng ơi/ ta khổ lắm Thời gian/ dần vắt kiệt Tài sắc/ hoá phù vân Tri âm/ nào ai thấu Chỉ một/ vầng trăng xanh
(Sự tích hoa đá)
Nhịp 3/2, nhịp thơ nhanh kết hợp với việc gieo vần trắc, diễn tả đợc nhịp đập trái tim sôi nổi, mãnh liệt:
Trang 40Nhng đến lúc/ gặp anh
Em chẳng còn/ thuộc nữa Cái nhìn anh/ yêu thơng
Đốt lòng em/ ngọn lửa
Và bỗng dng/ em thấy Trong mắt anh/ đắm say Những câu thơ/ run rẩy Những câu thơ/ trốn chạy Những câu thơ/ cháy rồi
Ôi, quãng đời/ chiến tranh Sẽ ngân vang/ ngân vang
Đến tận cùng/ năm tháng Bài thơ tình/ của anh Giữa cuộc đời/ dào dạt
(Thơ cho tuổi Sửu)