1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tri thức thanh hoá trong phong trào yêu nước và cách mạng từ năm 1858 đến năm 1930

69 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1075 khoa thi Nho học đầu tiên của nớc ta đợc tổ chức ở Thăng Long dới triều đại nhà Lý đã mở đầu cho sự nghiệp giáo dục Nho học ở nớc ta, nền giáo dục đó kéo dài tận đến năm 1919 dớ

Trang 1

Lời cảm ơn

Lời đầu tiên cho phép tôi đợc trân trọng nói lời cảm ơn chân thành của

mình tới thầy giáo Hồ Sĩ Hùy - Ngời đã hớng dẫn tận tình để tôi có thể hoàn

thành đợc khoá luận Cho tôi đợc gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo trong khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, các phòng ban chức năng, trung tâm th viện Đại học Vinh, Trung tâm th viện tỉnh Thanh Hoá đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khoá luận Đồng thời tôi cũng xin đựơc bày tỏ lời cảm ơn của mình tới gia đình, bạn bè, đã động viên tôi trong thời gian qua

Khoá luận tốt nghiệp là công trình khoa học đầu tiên, là bớc đi chập chững trên con đờng nghiên cứu khoa học bởi vậy nên khoá luận không thể tránh khỏi những sai lầm thiếu sót Tôi rất mong đợc đợc sự quan tâm chỉ bảo, góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè, ngời thân để tôi có kinh nghiệm hơn nữa trên bớc đờng nghiên cứu khoa học của mình

Tác giả

Nguyễn Thị Lý

Trang 2

mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6

5 Bố cục của luận văn 6

Nội dung 7

Chơng 1 Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá tác động đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của trí thức Thanh Hoá từ 1858 1930 – 7

1.1 Điều kiện địa lý 7

1.2 Điều kiện lịch sử, văn hoá 9

1.2.1 Điều kiện lịch sử 9

1.2.2 Điều kiện văn hoá 14

Chơng 2 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống Pháp nửa sau thế kỷ xix 17

2.1 Trí thức Thanh Hoá trớc khởi nghĩa Cần Vơng 17

2.2 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào Cần Vơng 19

2.2.1 Trí thức Thanh Hoá trong hai năm đầu Cần Vơng 19

2.2.2 Trí thức Thanh Hoá trong khởi nghĩa Ba Đình 24

2.2.3 Trí thức Thanh Hoá trong khởi nghĩa Hùng Lĩnh 32

Chơng 3 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng 30 năm đầu thế kỷ XX 38

3.1 Sự chuyển biến của Thanh Hoá trong những năm đầu thế kỷ XX 39

Trang 3

3.1.1 Những chuyển biến về mặt kinh tế 39

3.1.2 Những chuyển biến về mặt Y tế – Văn hoá 41

3.1.3 Những chuyển biến về mặt xã hội 42

3.2 Đóng góp của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng những năm đầu thế kỷ XX 44

3.2.1 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc theo khuynh hớng dân chủ t sản 44

3.2.2 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào cách mạng theo huynh hớng vô sản 48

3.3 Trí thức Thanh Hóa trong quá trình vận động thành lập Đảng 52

3.3.1 Sự hoạt động của các tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng ở Thanh Hóa 53

3.3.2 Quá trình thành lập Đảng bộ cộng sản ở Thanh Hóa 59

Kết luận 62

Tài liệu tham khảo 65

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trang 4

1.1 Trí thức là một vấn đề có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn Trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trí thức là vấn đề phức tạp đã từng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà chính trị, nhiều nhà khoa học Hồ Chí Minh xem trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, sự hng thịnh của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của trí thức đối với xã hội Theo tiếng La Tinh, thuật ngữ trí thức đựơc viết là Intelli gen tia đợc

dùng để chỉ những ngời có hiểu biết, có trí thức bao gồm những ngời chuyên lao động trí óc

Những trí thức Việt Nam xuất hiện trong lịch sử nh ngời đại biểu chân chính về t tởng và văn hoá, về tài năng và trí tuệ của dân tộc Từ buổi bình minh của xã hội ta, những thành tựu huy hoàng của thời đại Hùng Vơng đã minh chứng cho sự phong phú của trí tuệ Việt Nam Năm 1075 khoa thi Nho học đầu tiên của nớc ta đợc tổ chức ở Thăng Long dới triều đại nhà Lý đã mở

đầu cho sự nghiệp giáo dục Nho học ở nớc ta, nền giáo dục đó kéo dài tận đến năm 1919 dới triều Nguyễn mới kết thúc, trong suốt chiều dài lịch sử đó nó đã tạo nên một đội ngũ quan lại trí thức Nho học đông đảo đảm nhiệm chức vụ của bộ máy chính quyền mà tên tuổi của họ đời đời đợc lu danh sổ sách để làm gơng cho thế hệ sau, trong đó phải kể đến các nhân vật tiêu biểu nh Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn…

Bớc sang thập niên 20 của thế kỷ XX khi giáo dục Nho học chấm dứt vai trò của nó thì cũng đồng nghĩa với việc mất dần vai trò của trí thức Nho học, nó nhờng chỗ cho nền giáo dục hiện đại và sự trỗi dậy của trí thức Tân học nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của lịch sử

1.2 Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt, Thanh Hoá đợc xem là một trong những nơi có nhiều đóng góp cho sự phát triển của quốc gia - dân tộc Nhân dân Thanh Hoá bao đời nối tiếp nhau, thế hệ này ngã xuống thế hệ kia

đứng lên không mệt mỏi về sự tồn tại và phát triển của đất nớc Nói đến xứ Thanh ngời ta không chỉ biết đến truyền thống yêu nớc quật cờng mà còn biết

Trang 5

đến truyền thống hiếu học của con ngời nơi đây Ngoài việc cung cấp những

vị tớng tài giỏi kiệt xuất, Thanh Hoá còn cung cấp cho dân tộc những ông nghè, ông cống mà tài năng của họ góp phần không nhỏ cho sự hng thịnh của

đất nớc Chính những điều đó mà ngời ta cho rằng Thanh Hoá là đất phát

V-ơng, phát Tớng, là quê hơng của các vị vua, vị chúa của nớc ta Làm nên sự nghiệp đó có sự đóng góp to lớn của quần chúng nhân dân mà lực lợng tiên phong làm nòng cốt là tầng lớp trí thức

Trong lịch sử giáo dục Nho học, ngay từ rất sớm Thanh Hoá đã xuất hiện những trí thức Nho học tên tuổi nh:

Lê Văn Hu với tác phẩm “Đại Việt Sử Ký” lu truyền hậu thế và là nhà sử học đầu tiên của nớc ta Khơng Công Phụ với tác phẩm “Bạch Vân Chiều

Xuân Hải”, là ngời mở đầu cho nền văn học viết nớc ta Lê Lợi - vị lãnh tụ tối

cao của khởi nghĩa Lam Sơn với tác phẩm “Lam Sơn thực lục ” Lê Thánh Tông - là nhà vua, nhà văn, nhà thơ lớn đã để lại nhiều tác phẩm kỳ tài nh

“Hồng Đức quốc âm thi tập ” Đào Duy Từ với tác phẩm quân sự “Hổ Trớng

khu cơ” và nhiều nhân vật tên tuổi khác nh Tống Duy Tân, Lơng Đắc Bằng,

Cầm Bá Thớc

Khi nền giáo dục Nho học lỗi thời, khi trí thức Nho học mất dần vai trò của mình thì Thanh Hoá lại xuất hiện tầng lớp trí thức Tân học đứng ra tiếp nhận xu hớng phát triển mới của thời đại một cách mau lẹ, thức thời nh Lê Hữu Lập, Đinh Chơng Dơng

Điều đó để thấy đợc rằng trí thức Việt Nam nói chung, Thanh Hoá nói riêng có vai trò to lớn đối với sự lớn mạnh của đất nớc, ngày nay với xu thế hội nhập toàn cầu thì trí thức là nhân tố không thể thiếu trong đờng lối chính sách của mỗi quốc gia Vai trò của trí thức đối với lịch sử đợc thể hiện ở mọi lĩnh vực mà trớc hết họ là lực luợng góp phần xây dựng nền văn hiến vẻ vang lâu đời của dân tộc ta

Trang 6

1.3 Là ngời con sinh ra, lớn lên trên mảnh đất Thanh Hoá anh hùng và cũng là một trí thức tôi nhận thấy đuợc vai trò quan trọng của trí thức Thanh Hoá trong chiều dài lịch sử dân tộc Tôi muốn góp công sức của mình vào việc tìm hiểu sự đóng góp của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng từ năm 1858 đến năm 1930 - Một giai đoạn lịch sử đầy kỳ tích bao gồm cả trí thức Nho học và trí thức Tân học, nó đang thu hút công sức của nhiều nhà khoa học, nhiều đề tài tập trung nghiên cứu nhng cha có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về sự đóng góp của trí thức Thanh Hoá trong giai đoạn lịch sử này

Học tập và nghiên cứu lịch sử địa phơng luôn có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong lịch sử dân tộc vì nó thể hiện mối quan hệ giữa lịch sử địa phơng

và và lịch sử dân tộc, nghiên cứu lịch sử địa phơng sẽ góp phần hiểu biết hơn nữa về lịch sử dân tộc Ngoài ra nghiên cứu đề tài này còn góp phần bổ sung nguồn t liệu cho việc nghiên cứu lịch sử, góp phần giáo dục truyền thống yêu nớc, lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hơng đất nớc cho nhân dân nhất là thế

hệ trẻ trong thời đại ngày nay ở một góc độ nào đó, đề tài này còn góp phần khơi dậy tinh thân của trí thức

Từ những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng từ năm 1858 đến năm 1930”

làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

Do nhận thức đợc tầm quan trọng của trí thức đối với sự phát triển của

đất nớc cũng nh việc xác định đợc vị trí chiến lợc của Thanh Hoá trong sự nghiệp xây dựng đất nớc nên ngay từ rất sớm đã có nhiều cuốn sách, luận văn, bài báo viết về vai trò của nhân dân Thanh Hoá nói chung và trí thức Thanh Hoá nói riêng Cùng với thời gian thì vai trò của Thanh Hoá trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc cũng đợc trình bày sáng tỏ, đậm nét trong kết quả nghiên cứu của giới sử học cũng nh trong nhân dân

Trang 7

Viết về giai đoạn này phải kể đến một số cuốn sách tiêu biểu nh “Một

số vấn đề về trí thức Việt Nam” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Khánh,

Nguyễn Quốc Bảo, NXB lao động 2001 “Danh nhân lịch sử Việt Nam” của

Đinh Xuân Lâm, Chơng Thâu NXB H (1998) “Ngời trí thức Việt Nam qua

các chặng đờng lịch sử” của Vũ Khiêm chủ biên, NXBTPHCM 1987 “Những

ông nghè, ông cống Triều Nguyễn” của nhóm tác giả Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn

Loan, Lan Phơng, NXBVH - TT 1995

“Lợc truyện các tác gia Việt Nam” do Trần Văn Giàu chủ biên, NXB

văn học “Những vì sao đất nớc”của Văn Tấn, NXB TN HN 1989 “Tác gia

Thanh Hoá thế kỷ VIII - XX” của Đào Phụng, NXB Thanh Hoá 1996 “Danh sĩ Thanh Hoá với việc học thời xa”của Trần Văn Thịnh, NXB Thanh Hoá 1995

“Võ tớng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc” của Trần Văn Thịnh NXB QĐND

1997 Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết chuyên sâu của của các giáo s, phó giáo s - tiến sĩ nh Đinh Xuân Lâm, Đào Duy Anh, Chơng Thâu, Trịnh Nhu đăng trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, trong các kỷ yếu hội thảo khoa học

Trong quá trình đó, ban nghiên cứu lịch sử tỉnh Thanh Hoá cũng cho ra

đời nhiều tác phẩm đề cập đến vai trò của trí thức nh “Đất và ngời xứ Thanh” xuất bản năm 2002 “Địa chí Thanh Hoá” 1999 “Niên biểu lịch sử Thanh Hoá”

1998 “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá” 2000 “Khởi nghĩa và phong trào yêu

nớc chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX” 1992

Ngoài ra dới góc độ nhân vật lịch sử còn có các công trình nh:

“Cầm Bá Thớc” của Lê Trung Hoàn, NXB văn hoá 1981

“Đinh Công Tráng” của Đoàn Tùng và nhiều tác phẩm khác nữa Với

nội dung khoa học có chọn lọc, các tác giả phần nào đã phác hoạ đợc vai trò của trí thức Thanh Hoá đối với sự phát triển của đất nớc

Trang 8

Ngoài ra còn có những luận văn tốt nghiệp sinh viên nghành sử, tập san của khoa sử một số trờng đại học, các tác phẩm văn học có liên quan đến vai trò của trí thức

Nhìn chung các công trình trên đã đánh giá rất cao trí thức Thanh Hoá,

có tình thần yêu nớc, tinh thần dân tộc sâu đậm, luôn gắn bó với sự nghiệp giữ gìn nền độc lập của quốc gia, sự thống nhất của đất nớc Trí thức Thanh Hoá luôn trăn trở trớc vận mệnh của dân tộc Tuy nhiên hầu hết các công trình trên chỉ tập trung đánh giá một cách tổng quát chung chung về trí thức Thanh Hoá

mà cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống về vai trò của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc và cách mạng từ 1858 - 1930

và nhiều vấn đề lịch sử trong giai đoạn này vẫn cha đợc làm sáng tỏ, cha rút ra

đợc vai trò của trí thức Thanh Hoá trong giai đoạn này Với đề tài này tôi mong muốn có thể lập đợc khoảng trống đó

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tợng:

Với đề tài này luận văn nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây

- Khái quát lại điều kiện địa lý, lịch sử văn hoá của Thanh Hoá để từ đó thấy đợc sự tác động của những điều kiện đó đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của trí thức Thanh Hoá từ 1858 - 1930

- Làm rõ đóng góp của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX

- Trí thức Thanh Hoá trong phong trào cách mạng chống Pháp 30 năm

Trang 9

Về không gian: Đề tài tập trung đến phong trào đấu tranh của trí thức trên khắp các huyện của Thanh Hoá

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4 1 Nguồn t liệu: Đề tài sử dụng

- Tài liệu lu trữ ở các trung tâm th viện nh Đại học Vinh, trung tâm th viện Thanh Hoá

- Các công trình nghiên cứu của giới sử học đăng trên các sách báo, tạp chí

- Sách viết về địa lý, lịch sử truyền thống của Thanh Hoá

4 2 Phơng pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phơng pháp truyền thống phục

vụ cho việc nghiên cứu chuyên nghành nh: Đối chứng, so sánh, thống kê, xử

lý t liệu Từ đó có cơ sở để phân tích, đánh giá vấn đề Đồng thời sử dụng hai phơng pháp nghiên cứu truyền thống quan trọng là phơng pháp lịch sử và ph-

ơng pháp lô gíc để mở rộng nhiều tài liệu sự kịên lịch sử với mục đích là khôi phục lại bức tranh qua khứ đúng nh nó đã tồn tại Sau cùng là tổng hợp, khái quát đa ra những đánh giá chung nhất

5 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung của đề tài đợc trình bày trong ba chơng

Chơng 1 Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử văn hoá tác động đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của trí thức Thanh Hoá

Chơng 2 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống Pháp nửa sau thế kỷ XIX

Chơng 3 Trí thức Thanh Hóa trong phong trào yêu nớc và cách mạng

30 năm đầu thế kỷ XX

Trang 10

Phần nội dung

Chơng 1

Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử, văn hoá tác động

đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và

cách mạng của trí thức Thanh Hoá từ 1858 - 1930

Ngay từ buổi đầu dựng nớc của lịch sử dân tộc, tuy tồn tại dới nhiều tên gọi khác nhau nhng Thanh Hoá đã đóng vai trò quan trọng, có vị trí chiến lợc trong tiến trình của lịch sử dân tộc Thanh Hoá là tỉnh địa đầu miền Trung, là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” nh những địa danh thân thuộc khác với chiều dài và bề dày lịch sử chung của cả nớc, với truyền thống văn hoá Núi Đọ, Đa Bút, Hoa Lộc, Đông Sơn với truyền thống yêu nớc đấu tranh kiên cờng bất khuất, lao động học tập cần cù thông minh sáng tạo Thanh Hoá cũng là nơi phát tích ra nhiều triều đại phong kiến, đồng thời là nơi sản sinh ra những tài năng, những danh nhân mà tên tuổi, sự nghiệp của họ đợc sử sách lu danh truyền đời Chính điều kiện địa lý, lịch sử vă hoá đã góp phần hình thành nên truyền thống quý báu đó của mỗi con ngời xứ Thanh

1.1 Điều kiện địa lý

Thanh Hoá là tỉnh nối đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn với đất Miền Trung dài hẹp Là một địa phơng có vị trí quan trọng đối với vấn đề an ninh của dân tộc, Thanh Hoá đợc trải dài từ 19033’ đến 20033’ vĩ độ Bắc và từ 1040 đến

106030’ kinh độ Đông Bị bao bọc tứ phía trong đó phía Bắc giáp các tỉnh Sơn

La, Hoà Bình, Ninh Bình từ Nậm Xim Xã Tam Chung huyện Quan Hoá đến cửa Lạch Càn xã Nga Tiến huyện Nga Sơn dài 202 km Phía Đông giáp vịnh Bắc bộ từ cửa Lạch Càn đến xã Đông Hồi xã Hải Thợng huyện Tỉnh Gia dài

102 km Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An từ núi Đông Hồi đến xã Bát Mọt huyện

Trang 11

Thờng Xuân dài 157 km, phía Tây giáp tỉnh HuaPhăn - nớc CHDCND Lào với

đờng biên giới từ Bát Mọt đến Nậm Xim dài 192 km

Trải qua thời gian phát triển Thanh Hoá đã có nhiều tên gọi khác nhau nh: Bộ, chấn, quận, chân, phủ, tỉnh và trong tình hình hiện nay của đất nớc thì Thanh Hoá đợc xem là một đơn vị chiến lợc của quốc gia có vị trí hình thể t-

ơng đối ổn định và là một đơn vị hành chính rộng lớn, ngời đông với diện tích

đất tự nhiên là 11.168km2 và 18.000 km thềm lục địa cùng với dân số là 3.450.000 ngời, cả tỉnh Thanh Hoá gồm có 27 huyện thị thành phố với 626 xã phờng, thị trấn lớn nhỏ khác nhau

Ngay từ thời cổ đại nơi đây đã tồn tại những nền văn hoá rực rỡ nh

Đông Sơn, Đa Bút Điều đó chứng tỏ ngay từ rất sớm đã có con ngời sinh sống ở nơi đây và cùng với sự lớn mạnh của đất nớc thì trên địa phơng Thanh Hoá đã có nhiều dân tộc cùng sinh sống nh Kinh - Tày - Mờng, Thái, Dao, Khơ Mú, H’Mông Do điều kiện sống quy định nên đồng bào các dân tộc Thanh Hóa đã chung lng đấu cật xây dựng quê hơng mình trở thành một tỉnh

có vị thế chiến lợc trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nớc và giữ nớc của dân tộc Việt Nam Vì những lý do đó mà ngời ta cho rằng Thanh Hoá hội

tụ đợc cả ba yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, lại bao gồm bốn vùng

Đồng bằng, Miền núi, trung du, ven biển thềm lục địa nên ngời ta xem Thanh Hoá nh là một “Việt Nam thu nhỏ”

Nền văn minh đầu tiên trong tiến trình lịch sử dân tộc ta là nền văn minh sông Hồng với địa bàn phân bố chính là ba lu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả Nên ngay từ rất sớm đồng bào Thanh Hoá đã cùng nhau khai phá tạo nên những cách đồng trù phú màu mỡ, xóm làng đông đúc tạo tiền đề phát triển một nền nông nghiệp đa dạng phong phú sản vật làm cho vùng châu thổ trở thành kho lơng thực nuôi sống các thệ hệ ngời xứ Thanh Bên cạnh những

điều kiện về tự nhiên với tiềm năng đa dạng, phong phú về nông - lâm - ng lẫn khoáng sản trong lòng đất Thanh Hoá còn có rất nhiều thắng cảnh nổi tiếng

Trang 12

nh biển Sầm Sơn, Động Hồ Công, Động Từ Thức Ngoài ra còn có những địa danh lịch sử văn hoá và cách mạng nh Hạc Thành, Tây Đô, Lam Kinh, Ba

Đình, Ngọc Trạo, Hàm Rồng - đây là những nơi đã lu dấu các cuộc chiến đấu

ác liệt của nhân dân tỉnh Thanh Hoá với quân thù

Bên cạnh những điều kiện tự nhiên thuận lợi nói trên, là một tỉnh của dải đất Miền Trung nên Thanh Hóa cũng nh các tỉnh khác trong miền phải th-ờng xuyên đối đầu với những thách thức khắc nghiệt bởi hạn hán, lũ lụt kéo dài nhiều ngày trong năm, khi mùa ma đến gây ra lũ lụt, khi mùa hạ thì gây ra hạn hán Chính thiên nhiên khắc nghiệt đã góp phần hình thành nên bản tính bất khuất của ngời dân xứ Thanh, từ những cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên đã hình thành nên ở họ truyền thống kiên cờng chống giặc ngoại xâm để giữ vững độc lập dân tộc Điều đó lý giải vì sao mỗi khi đất nớc, tổ quốc lâm nguy thì các thế hệ ngời Thanh Hoá lớp lớp nối tiếp nhau đứng dậy thể hiện ý chí sống mãi với quân thù

1.2 Điều kiện lịch sử - văn hoá

1.2.1 Điều kiện lịch sử

Là địa phơng gắn liền với sự hình thành của đất nớc nên ngời dân Thanh Hoá luôn mang trong các nét thống nhất của dân tộc ta nh truyền thống yêu nớc, đấu tranh bất khuất kiên cờng chống áp bức bóc lột, thiên tai Trong

đó nổi bật hơn cả là truyền thống chống giặc ngoại xâm, đó là thứ tinh thần

độc lập tự cờng cùng đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù xâm lợc Với truyền thống quý báu tự hào đó mà ngời dân xứ Thanh đã không ngừng lao động sáng tạo củng cố làng bản tạo thành những pháo đài vững chắc để bảo tồn nhiều di sản văn hoá và truyền thống của mình đã tạo dựng nên qua hàng ngàn năm lịch sử Thanh Hoá còn là nơi phát tích của nhiều triều đại phong kiến, nhiều bậc đế Vơng, nhiều đấng anh hùng hào kiệt danh Nho võ tớng, là nơi tập hợp ngọn cờ khởi nghĩa của các cuộc kháng chiến góp phần bảo vệ lòng

Trang 13

tin và và tô điểm truyền thống dựng nớc, giữ nớc của dân tộc, Thanh Hoá còn

là một chiếc nôi hình thành dân tộc Việt Nam

Thanh Hoá có truyền thống phát triển lâu dài và liên tục theo tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc Từ cuộc đấu tranh chống ách nô lệ ngoại bang, nhân dân Cửu Chân đã hăng hái tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trng chiếm thành

T Phố và nhiều vùng khác trong quận vào các năm 40 - 43 Đây đợc xem nh là cuộc công phá đầu tiên mở màn cho thế hệ sau noi gơng giữ độc lập tự chủ, chính cuộc khởi nghĩa của hai Bà đã châm ngòi làm bùng nổ hàng loạt các cuộc khởi nghĩa sau đó Dới sự lãnh đạo hai bà, nhiều trận chiến đấu ác liệt đã diễn ra ở Thần Phù (Nga Sơn), Tam Quy (Hà Trung), Núi Thịnh (Thiệu Hoá) Cuộc khởi nghĩa đã làm cho chính quyền đô hộ tan rã và sụp đổ nhanh chóng, chỉ trong một thời gian ngắn nghĩa quân đã thu phục đợc “65 huyện thành” [10,7], lật đổ nền thống trị dã man của đế chế Hán lớn nhất Châu á đang trong thời kỳ thịnh đạt Trong hành trình tiến quân nhà Hán để tiêu diệt cuộc khởi nghĩa thì toán nghĩa quân cuối cùng bị tiêu diệt ở quận trị Cửu Chân lúc

đó là T phố tơng đơng với làng Dơng Xá huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hoá ngày nay Sự đóng góp của nhân dân Cửu Chân đã góp phần đáng kể vào thắng lợi mở đầu sau hơn 200 năm mất nớc Điều đó để thấy đợc rằng ngay từ buổi đầu nhân dân Thanh Hoá đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc

Sau khi cuộc khởi nghĩa của Hai bà dập tắt, nhà Đông Hán đã lập lại

ách thống trị đối với nớc ta, chúng đẩy mạnh hơn nữa chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hoá trên quy mô lớn, có hệ thống hơn trớc, chế độ lạc tớng cha truyền con nối của ngời Việt ở cấp huyện bị bãi bỏ, quan lại ngời Hán sang n-

ớc ta cai trị đến tận cấp huyện, chúng xem nớc ta là vùng “ngoại địa ” Trong bối cảnh đó, ngay từ đầu thế kỷ II phong trào khởi nghĩa của nhân dân càng

nổ ra liên tục trở nên phổ biến hơn trớc Nhân dân huyện Cửu Chân đã nhiệt liệt hởng ứng cuộc khởi nghĩa này, căn cứ đầu tiên của nghĩa quân đợc đóng ở

Trang 14

miền núi Na - Triệu Sơn, nơi bà Triệu hy sinh là ở núi Tùng Hậu Lộc Cả hai nơi đó đều cách huyện lỵ T Phố không xa, điều đó cho thấy mục tiêu tấn công của chính quyền nghĩa quân là T Phố và chiến sự đã nổ ra ác liệt trên đôi bờ sông Mã Dới sự lãnh đạo của nữ anh hùng xứ Thanh, nghĩa quân đã chiến thắng quân Ngô nhiều trận, làm cho kẻ thù kinh hồn bạt vía buộc chúng phải thừa nhân là “toàn thể Giao Châu đều chấn động” [10,9]

Đến cuối thế kỷ IX nắm thời cơ chính quyền trung ơng nhà Đờng hấp hối vì nạn cát cứ của các tập đoàn phong kiến nên phong trào nông dân khởi nghĩa dẫ nổ ra quyết liệt làm cho chính quyền đô hộ nớc ta hoang mang giao

động, Khúc Thừa Dụ đợc nhân dân ta ủng hộ đã giành lại chính quyền từ tay bọn phong kiến nớc ngoài, xây dựng một chính quyền tự chủ Nhng không chịu từ bỏ dã tâm xâm lợc, Năm 930 nhà Nam Hán phái quân sang xâm chiếm nớc ta Năm 930 - 931 tại quê hơng Thanh Hoá Dơng Đình Nghệ lại chiêu mộ trai tráng tập luyện võ nghệ chuẩn bị cho một cuộc chiến chống quân Nam Hán mà Đông Sơn là một trong những trung tâm của cả nớc Điều đó chứng tỏ rằng nơi đây đã sản sinh ra một lực lợng hùng hậu với những đấng anh hùng hào kiệt, dũng cảm bậc nhất trong cả nớc, là cơ sở cho mỗi cuộc kháng chiến chống xâm lợc

Bớc vào thời kỳ Đại Việt, nhân dân Thanh Hoá vẫn không ngừng củng

cố và xây dựng cho quê hơng đất nớc ngày càng thêm vững mạnh, sau khi

Đinh Tiên Hoàng mất, vua mới lên ngôi còn ít tuổi, các thế lực phong kiến thù

địch bên trong xúc tiến âm mu lật đổ, trong lúc phong kiến phơng Bắc lại âm

mu thôn tính nớc ta Trớc nạn lớn đang đe doạ vận mệnh của dân tộc thì các quân sĩ và quan lại đã tôn Lê Hoàn - Một ngời con quang vinh của quê hơng Thanh Hoá lên làm vua để tổ chức cuộc kháng chiến Mùa xuân năm 981 dới

sự lãnh đạo của Lê Hoàn quân ta đã dánh bại hai đạo quân thuỷ bộ của giặc trên sông Bạch Đằng (Quảng Ninh) và cửa ải Chi Lăng (Lạng Sơn), cuộc

Trang 15

kháng chiến chống quân xâm lợc Tống lần thứ nhất đã giành đợc thắng lợi rực

rỡ, bờ cõi nớc ta đợc giữ vững và nhà Tiền Lê đợc lập nên

Trong lúc nhân dân cả nớc đang đẩy mạnh phục hng đất nớc, đầu thời Trần những tàn quân viễn chinh khét tiếng tàn bạo Nguyên - Mông tràn sang xâm lợc nớc ta Với tinh thần của hội nghị Diên Hồng thì nhân dân Thanh Hoá

đã cùng nhân dân cả nớc bừng bừng khí thế quyết chiến, quyết thắng Ngay từ

đầu vua tôi nhà Trần đã chọn Thanh - Nghệ làm căn cứ cho cuộc kháng chiến này và nơi đây trở thành chỗ dựa, là niềm tin tởng của vua tôi các triều đại phong kiến trong công cuộc chống ngoại xâm Không những vậy mà Thanh Hoá còn là “bức tờng thành vững chắc làm thất bại âm mu vây bắt vua Trần

của quân Nguyên

Đầu thế XV, lấy cớ diệt Hồ phù Trần, quân Minh lại kéo sang đánh chiếm nớc ta, phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta tiếp diễn liên tục chĩa mũi nhọn tấn công vào chính quyền đô hộ nhà Minh và dần dần quy tụ vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngay trên núi rừng Thanh Hoá dới sự lãnh đạo của Lê Lợi - ngời con u tú của xứ Thanh Sau mời năm chiến đấu bền

bỉ, gian khổ ngoan cờng (1418 - 1428) thì cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc

đã giành thắng lợi oanh liệt, toàn diện, triệt để, ách thống trị của nớc ngoài đã

bị quật ngã, ý chí xâm lợc cùng thủ đoạn của nhà Minh đã bị đập tan Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Lợi - ngời lãnh đạo tối cao của cuộc khởi nghĩa lên ngôi sáng lập ra nhà Lê, nớc ta lúc đó thống nhất từ Lạng Sơn đến Thăng Long đợc chia làm năm đạo, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây

Bớc vào đầu thế kỷ XVI những mâu thuẫn nội tại của chế độ phong kiến nhà Lê về việc củng cố độ chính trị chuyên chế và tăng cờng đặc quyền,

đặc lợi cho giai cấp phong kiến đã dẫn tới sự bùng nổ của phong trào nông dân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các phe phái phong kiến, Mạc phế truất Lê, Mạc - Trịnh phân tranh, Trịnh - Nguyễn xung đột kéo dài, tình hình đó đã gây nên biết bao nỗi thống khổ cho nhân dân, tàn phá

Trang 16

nặng nề đất nớc Suốt trong thời kỳ rối loạn kéo dài này, vùng Thanh Hoá trở thành căn cứ địa của Nam Triều, vừa là chiến trờng giao tranh của hai tập

đoàn phong kiến thù địch Bắc Triều (Mạc) và Nam Triều (Lê Trung Hng) Trung tâm của Thanh Hoá lúc này là Yên Trờng (nay là xã Thọ Lập huyện Thọ Xuân) nằm trên bờ trái sông Chu

Sang thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào giai đoạn khủng hoảng sâu sắc và toàn diện, nớc ta lại lâm vào sự tranh chấp quyền lực

đất đai giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn, lấy cớ “phù Lê ” thì 20 vạn quân Thanh đã ồ ạt kéo quân vào xâm lợc nớc ta, trong bối cảnh đó Nguyễn Huệ - ngời anh hùng áo vải Tây Sơn đã chọn Thanh Hoá là một trong những nơi tập kết lực lợng vũ trang Nhân dân Thanh Hoá với truyền thống kiên cờng bất khuất chống ngoại xâm đã không quản ngại gian khổ hy sinh để góp sức lớn lao với hơn 8 vạn quân tạo nên đại thắng xuân Kỷ Dậu năm 1789

Lợi dụng sự yếu kém của triều đình phong kiến Huế, năm 1858 thực dân Pháp đã nổ súng xâm lợc nớc ta, các dân tộc khác bớc vào thời cận đại bằng một cuộc cách mạng t sản hoặc bằng một cuộc cải cách thì ngợc lại Việt Nam bớc vào thời cận đại bằng một cuộc chiến tranh xâm lợc của ngời Pháp

mà sự khác nhau giữa hai nền văn minh, hai phơng thức sản xuất là khá lớn Dới ách nô dịch của ngời Pháp, phong trào đấu tranh của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ, tiêu biểu là phong trào Cần Vơng chống Pháp Nhân dân Thanh Hoá sôi nổi hởng ứng chiếu Cần Vơng, dới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu họ đã tập hợp thành các đội nghĩa quân hăng hái tham gia chống Pháp Tại căn cứ Ba Đình - Hùng Lĩnh - Mã Cao nghĩa quân Thanh Hoá đã giáng cho quân giặc những đòn chí tử, ghi vào lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX những tấm gơng sáng chói chủ nghĩa yêu nớc, tinh thần dân tộc nh Tống Duy Tân, Phạm Bành

Những năm đầu thế kỷ XX một “luồng gió mới” đã thổi vào Thanh Hoá

“tân th ” đợc truyền từ tay ngời nọ đến ngời kia Những câu thơ nh sấm dậy

Trang 17

của Phan Bội Châu từ Nghệ An cũng lan tới đất Thanh Hoá nh một vết dầu Ngay lập tức trí thức Thanh Hoá đã bốc lên ngọn lửa căm thù giặc, họ hăng hái tham gia phong trào Đông Du để chuẩn bị cho một cuộc bạo động chống Pháp theo khuynh hớng mới Đặc biệt từ khi có Đảng ra đời, cùng với cả nớc thì phong trào cách mạng của Thanh Hoá lại dấy lên sôi nổi góp phần cùng với cả nớc viết lên bản hùng ca hoành tráng trong cách mạng tháng Tám và trong hai cuộc khánh chiến trờng kỳ của dân tộc ta

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, ngời dân xứ Thanh đã tạo dựng cho quê hơng mình vị thế chiến lợc trọng yếu, góp phần to lớn cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia Chính những giá trị truyền thống cao quý đó ngày nay đã trở thành niềm tin cổ vũ động viên các thế hệ con cháu Xứ Thanh vững bớc đi lên cống hiến cho quê hơng, dân tộc ngày càng nhiều

1.2.2 Điều kiện văn hoá

Thanh Hoá là một địa phơng xuất hiện sớm từ thời Hùng Vơng dựng

n-ớc với tên gọi Cửu Chân quen thuộc Lại là nơi có đủ ba vùng tự nhiên thơ mộng, có lịch sử phát triển lâu dài và liên tục, có nhiều đồng bào các dân tộc cùng sinh sống Điều đó đã góp phần cùng tạo nên cho nhân dân Thanh Hoá một nền văn hiến lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam

Ngay từ rất sớm Thanh Hoá đợc xem là đất học Nhân dân nơi đây bao

đời nổi tiếng là thông minh hiếu học trí tuệ trong sáng lại sống gần gũi với nhau, đặc điểm này của Thanh Hoá mang tính tiêu biểu của trí thức Việt Nam Mấy trăm năm trớc Lê Quý Đôn đã có sự tổng kết tài tình “phi công bất phú, phi thơng bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hng”, điều đó có nghĩa sự hng

thịnh của mỗi quốc gia phu thuộc lớn vào vai trò, thái độ của tầng lớp trí thức

đối với xã hội

Trong suốt thời gian tồn tại của nền giáo dục Nho học từ năm Thái Minh ất Mão (1075) thời Lý đến khoa thi Nho học cuối cùng năm Khải Định

Kỷ Mùi (1919) triều Nguyễn với 188 kỳ thi đại khoa, số tiến sĩ của cả nớc là

Trang 18

2989 vị, Thanh Hoá chiếm trên 204 vị, trong đó có 20 vị vào hàng Tam Khôi (6 trạng nguyên, 8 bảng nhãn, 6 thám hoa) và cha kể nhiều vị gốc Thanh Hoá nhng đã rời sứ sở nhiều đời nh con cháu của vua Lê, chúa TRịnh, chúa Nguyễn Riêng triều Nguyễn số tiến sĩ của cả nớc là 558 vị, riêng 29 vị đậu

đại khoa là ngời Thanh Hoá chiếm 5,23% tỉ lệ cả nớc, trong đó có 15 vị đậu tiến sĩ, 14 vị đậu phó bảng Cũng dới triều Nguyễn, Thanh Hoá có 436 ngời

đậu cử nhân

Truyền thống hiếu học của Thanh Hoá đã đào tạo nên những nhân tài xuất chúng cho lịch sử nh: Khơng Công Phụ với bài phú “Bạch vân chiếu xuân hải” (Mây trắng rọi biển xuân) - là ngời mở đầu cho nền văn học viết của

nớc ta Lê Văn Hu - nhà sử học đầu tiên của Việt Nam đã để lại cho đời bộ quốc sử “Đại Việt sử ký” lu truyền từ đời này đến đời khác Lê Lợi - vị lãnh tụ tối của khởi nghĩa Lam Sơn đã để lại tác phẩm “Lam Sơn thực lục ” Lên Thánh Tông - là nhà vua, nhà văn hoá lớn đã để lại nhiều tác phẩm kỳ tài nh, “Hồng

Đức quốc âm thi tập” Đào Duy Từ để lại cho đời bộ sách Hổ trớng khu cơ

Khi triều Nguyễn đợc lập nên, chúng ta phải thừa nhận rằng so với nhiều triều đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam, triều Nguyễn đã tổ chức hàng ngũ quan lại rất có nề nếp, quan chế rất rõ ràng, chính sách rất cụ thể và

sự chỉ đạo khá chặt chẽ Riêng đối với Thanh Hoá chế độ quan lại cũng thống nhất nh đối với các tỉnh khác nhng cũng có sự chú ý hơn vì Thanh Hoá vừa là một tỉnh lớn vừa là đất “thang mộc” (nơi phát tích của nhà Nguyễn từ thời Nguyễn Kim - Gia Miêu đợc gọi là Quý hơng) Những năm 80 - 90 của thế kỷ XIX, Thanh Hoá có hai vị quan to cùng vị trí, quyền lực lớn trong triều và cùng huyện Hoằng Hoá Ngời trớc là Hà Duy Phiên (1791 - 1852) làm đến chức hiệp biện đại học sĩ, cơ mật viện đại thần kiêm tổng tài Quốc Sử Quán,

ông đã chủ biên bộ sách “Đại Nam hội điển” và nhiều bộ sách khác có giá trị học thuật cao Ngời thứ hai là Nguyến Hữu Độ (1813 - 1888), ông đỗ tiến sĩ,

đẫ từng làm quan kinh lợc ở Bắc Kỳ, có con gái lấy vua Đồng Khánh nên trở

Trang 19

thành phụ chánh đại thần, cần chánh điện Đại Học Sĩ, một số vị khác cũng trở thành các đờng quan và nhiều ngời làm việc ở triều nh: Trần Lễ Hiện, Phan H-

ng, Phạm Thanh, Mai Anh Tuấn, Phạm Bành

Có điều đáng nhận xét là các quan ở Thanh Hoá làm nhiệm vụ chính sự không nổi lắm về tài cai trị mà đa số đều có khuynh hớng thiên về học thuật văn chơng nh Nhữ Bá Sĩ, Lê Thế Thứ, Trịnh Thuần, Hà Duy Phiên Mặt khác không nên quên rằng số đông những quan lại nổi tiếng ở Thanh Hoá đều

là những ngời đều tinh thông văn chơng học thuật mà cũng không xa lạ với việc binh nhung, Hà Duy Phiên đã từng ra trận cầm quân, Tống Duy Tân đã giữ chức sơn phong sứ và là lãnh tụ khởi nghĩa Hùng Lĩnh

Sự phát triển của giáo dục triều Nguyễn đã tạo nên niềm tự hào cho quê hơng Thanh Hoá Khi chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng trầm trọng thì lực lợng văn thân, sĩ phu tỏ ra hoài nghi về đạo đức của chế độ đó Họ tỏ thái

độ chỉ trích phản kháng dữ dội Khi tổ quốc lâm nguy họ sẵn sàng tập hợp lực lợng dựng cờ khởi nghĩa chống lại cờng quốc để bảo vệ độc lập dân tộc, vì thế khi triều đình phong kiến đầu hàng, cam tâm bán nớc ta cho giặc thì sĩ phu lại

là lực lợng mạnh nhất tham gia phong trào kháng Pháp cứu nớc thoát khỏi ách nô lệ với những tấm gơng tiêu biểu nh: Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt, Trần Xuân Soạn, Tống Duy Tân

Từ những khái quát nêu trên ta có thể nhận thấy rằng: Điều kiện tự nhiên, bề dày lịch sử truyền thống và nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc đã

có tác động tích cực đến việc hình thành truyền thống yêu nớc và cách mạng của nhân dân Thanh Hoá nói chung, trí thức Thanh Hoá nói riêng Mỗi khi tổ quốc bị lâm nguy, cùng với cả nớc Thanh Hoá đã tạo nên cho mình một căn

cứ kháng chiến vững chắc để chiến đấu một mất một còn cho lịch sử dân tộc

CHƯƠNG 2

Trang 20

Trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc chống

Pháp nửa sau thế kỷ XIX

Từ nửa sau thế kỷ XIX trớc hoạ ngoại xâm của dân tộc, nhân dân Thanh Hoá đã hoà mình vào dòng chảy chung, tiếp bớc cha ông đứng lên bảo vệ độc lập dân tộc, nhất là khi triều đình phong kiến Huế phân chia thành phái chủ chiến và phái chủ hoà, khi phái chủ chiến giành đợc u thế với việc đa ông vua yêu nớc Hàm Nghi lên ngôi thì phong trào đấu tranh trên phạm vi cả nớc đợc dấy lên mạnh mẽ Từ sau khi chiếu Cần Vơng đợc hạ, khắp nơi trong tỉnh Thanh đều dấy lên phong trào khánh Pháp mạnh mẽ từ các huyện miền núi xuống trung du đồng bằng và sau đó quy tụ tại căn cứ Ba Đình - Hùng Lĩnh Ngay từ buổi đầu hầu hết các trí thức Thanh Hoá đã có mặt trong hàng ngũ thủ lĩnh nghĩa quân Tinh thần dũng cảm bền bỉ và kiên cờng của họ đã tỏ rõ khí phách hiên ngang của tầng lớp sĩ phu yêu nớc trớc vận mệnh của dân tộc

Đồng thời còn là sự nối tiếp truyền thống đấu tranh bất khuất của tổ quốc Sự tham gia của họ đã làm cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Thanh Hoá giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX trở thành một thiên anh hùng ca bất hủ

2.1 Trí thức Thanh Hoá trớc khởi nghĩa Cần Vơng

Sau khi đợc dựng lên, những tởng rằng triều Nguyễn sẽ đáp ứng đợc những đòi hởi cấp bách của lịch sử, sẽ thúc đẩy lịch sử đi lên Nhng do hoàn cảnh lịch sử đa đẩy mà chế độ phong kiến Viêt Nam ngày càng lún sâu vào con đờng khủng hoảng suy vong Từ nửa sau thế kỷ XIX với chính sách cầm quyền phản động hà khắc của triều đình đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng diễn ra gay gắt, hàng loạt phong trào đấu tranh của nhân dân đã bùng nổ Hiện tợng này cha bao giờ diễn ra trong lịch sử trớc đó cũng nh sau này, chỉ trong khoảng 50 năm nửa sau thế kỷ XIX đã có tới hơn 500 cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra chống lại triều đình Trong bối cảnh lịch sử đó, thực dân

Trang 21

Pháp đã phát động cuộc chiến tranh xâm lợc Việt Nam với mục tiêu đầu tiên

là cửa biển Đà Nẵng vì chúng cho rằng đây là cổ họng của Huế, chiếm đợc Đà Nẵng sẽ dùng nơi đây làm bàn đạp đánh thọc sâu vào kinh thành Huế, buộc triều đình phải đầu hàng tại chỗ, kết thúc chiến tranh Nhng cũng chính tại chiến trờng Quảng Nam - Đà Nẵng, thực dân Pháp đã vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân ta ngay từ những phút đầu tiên trong chiến lợc “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng Quân đội chính quy của triều đình dới sự chỉ

huy của tớng Nguyễn Tri Phơng cùng với các đội nghĩa dũng đứng lên chiến

đấu nhằm ngăn chặn bớc tiến công của địch, không cho chúng mở rộng phạm

vi ảnh hởng

Trong bối cảnh lịch sử đó, khắp mọi miền của tổ quốc, tầng lớp văn thân

đã đứng ra phất cờ khởi nghĩa chiêu mộ quân sĩ, hăng hái chi viện cho chiến ờng Đà Nẵng - Gia Định Với truyền thống chung của trí thức cả nớc cộng với những đặc điểm riêng do lịch sử quy định, lại sớm nhận ra âm mu xâm lợc của thực dân Pháp cũng nh thái độ hèn nhát đầu hàng của triều đình Huế, các sĩ phu Thanh Hoá là những nhà khoa bảng đỗ đạt cao làm quan từ thời Tự Đức đã tỏ thái độ bất hợp tác với bè lũ thực dân phong kiến Họ từ bỏ chốn quan trờng trở

tr-về quê nhà chiêu mộ binh sĩ, đem tài năng hiểu biết của mình để mu tính việc

đánh giặc cứu nớc, cứu dân Số đông trí thức khác sống ở các làng xã gần gũi với nhân dân, họ tiếp thu sức mạnh và lòng yêu nớc của nhân dân một cách sâu sắc, khi có giặc ngoại xâm họ sẵn sàng sát cánh cùng nhân dân chống Pháp tạo thành các đội nghĩa dũng Ngời đầu tiên phải kể đến là ông nghè Tam Đăng ứng mộ đã làm rung động d luận trí thức Nho sĩ Thanh Hoá Trớc vận mệnh dân tộc đang bị uy hiếp, nhiều văn thân sĩ phu yêu nớc Thanh Hoá đã dâng sớ xin đ-

ợc đánh pháp, tiêu biểu là Nhữ Bá Sĩ

Nhữ Bá Sĩ là ngời tài cao đức trọng, ông sinh năm 1788, tên chữ là Nguyên Lập, hiệu Đạm Trai, là ngời làng Cát huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hoá Năm Minh Mạng thứ hai (1821) ông đỗ hơng cống, năm sau thi hội

Trang 22

trúng Tam Trờng nên đợc bổ dụng làm quan tri huyện sau đó thăng chức viên ngoại bộ hình, ông sống giản dị, không ham cầu danh lợi, là ngời yêu nớc thiết tha nên khi thực dân pháp gây hấn xâm lợc, trớc thái độ cầu hoà của triều

đình, ông đã gửi lên vua hai bản điều trần “Tây bất khả hoà” (Không hoà với tây) và “Tĩnh d ơng tam sách” (Ba sách lợc dẹp giăc Tây dơng) nhng không đ-

ợc triều đình chấp thuận Với lòng yêu nớc nồng nàn, ý chí chống giặc ngoại xâm sâu sắc nên dù ông đã 78 tuổi nhng ông vẫn lặn lội vào Nghệ An cùng bạn bè có tinh thần kháng Pháp chiêu mộ nghĩa sĩ chống giặc, việc cha thành thì ông bị mất,

Năm 1822 thực dân pháp bắt đầu kế hoạch đánh ra Bắc Kỳ lần thứ 2, khi chúng đánh vào Bắc Ninh thì tri huyện Lan Tân (Bắc Ninh) là Hoàng Bật

Đạt ngời Hậu Lộc Thanh Hoá đã đề nghị với Tổng Đốc Bố Chánh tổ chức kháng chiến nhng đề nghị đó của ông bị khớc từ Tuy vậy ông vẫn tự mình chiêu binh ra chặn giặc Bọn quan lại Bắc Ninh thấy thế sợ hãi cho điệu ông

về quê Thời gian này nhiều sĩ phu Thanh Hoá đang làm việc cho triều đình Huế đã bỏ về quê liên hệ với các văn thân tỉnh nhà cùng chí hớng bàn kế sách

đánh giặc Họ khẩn trơng thành lập các đội nghĩa quân rèn sắm vũ khí, luyện tập võ nghệ chờ ngày sống mãi với quân thù Thái độ kiên quyết đó đã cổ vũ,

động viên nhân dân Thanh Hoá tiếp tục đấu tranh chống xâm lợc và thái độ

đầu hàng của triều đình Họ kiên quyết đứng lên chống “cả Triều lẫn Tây”, khi chiếu Cần Vơng xuất hiện càng thôi thúc ý chí quyết tâm của trí thức Thanh Hoá

2.2 Trí thức Thanh Hoá trong phong trào Cần Vơng

2.2.1 Trí thức trong hai năm đầu khởi nghĩa Cần Vơng

Cuối thế kỷ XIX khi phong trào đấu tranh chống Pháp của dân tộc đang bùng lên mạnh mẽ thì trong nội bộ triều đình Huế có sự phân chia thành phái chủ chiến và phái chủ hoà Phái chủ chiến tuy số lợng không đông nhng nắm

đợc binh lực và có cơ sở vững chắc là quần chúng nhân dân Để hành động thì

Trang 23

phái chủ chiến đã lập sẵn kế hoạch trong đó có kế hoạch tiến hành nội dậy ở kinh thành, cuộc nổi dậy không thành buộc Tôn Thất Thuyết phải đa Hàm Nghi xa giá rời cung mà ngời ta gọi là Hàm Nghi xuất bôn Tại sơn phòng Quảng Trị ngày 13/7/1885 chiếu Cần Vơng lần một đợc hạ và phát đi rộng rãi trong nhân dân làm dấy lên một cao trào yêu nớc mạnh mẽ trên phạm vi cả n-

ớc Linh hồn của phong trào đã chuyển về các văn thân, sỹ phu có lòng yêu

n-ớc thơng dân

Là một tỉnh ở Trung Kỳ - nơi chịu sự cai trị trực tiếp của triều đình Huế,

là địa phơng có tầm chiến lợc quan trọng ở bất cứ thời kỳ lịch sử nào, nơi đây bao đời có truyền thống chống xâm lăng, là mảnh đất sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt Những yếu tố đó sớm đa Thanh Hoá trở thành một trong những trung tâm của phòng trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX, chính Tôn Thất Thuyết

đã có ý định xây dựng Thanh Hoá trở thành một “thủ đô kháng chiến ” và trong chiếu Cần Vơng đợc hạ lần thứ hai và ngày 19/9/1885 có nhắc khi nào trừ“

khử đợc chúng thì đến gặp trẫm Trẫm sẽ đóng đô tại tỉnh Thanh Hoá Đây là một địa điểm quý” [6,146] Đề đốc Trần Xuân Soạn là ngời phụng sự thi hành

mệnh của kế hoạch Cần Vơng chống Pháp tại Thanh Hoá

Trần Xuân Soạn sinh năm 1849 quê ở làng Thọ Hạc xã Đông Thọ huyện Đông Sơn trớc đây nay thuộc phờng Đông Thọ thành phố Thanh Hoá

Ông xuất thân từ thành phần nông dân nghèo nên không đợc học hành nhiều Khi “quốc gia hữu sự” ông tự nguyện theo đờng binh nghiệp, nhờ có sức khoẻ

và mu lợc nên ông đợc thăng chức rất nhanh Đợc giao nhiệm vụ tập hợp lực ợng và trực tiếp chỉ đạo phong trào Cần Vơng chống Pháp, tại quê nhà ông đã tìm gặp những sĩ phu, văn thân lãnh đạo phong trào yêu nớc nh Tống Duy Tân, Phạm Bành, Hà Văn Mao để bàn kế sách tập hợp các cuộc khởi nghiã thống nhất nghĩa quân hởng ứng chiếu Cần Vơng, dới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu yêu nớc, nhân dân các địa phơng Thanh Hoá đã nhất tề hăng hái tập hợp đội ngũ, tổ chức lực lợng sẵn sàng tiêu diệt khi chúng xâm phạm tới

Trang 24

l-quê hơng, chính giặc Pháp phải thừa nhận rằng “d ới sự thúc đẩy của Đề Soạn, cuộc phiến loạn đã tràn xuống đồng bằng và trở thành cuộc chiến tranh thực sự” [2,272-273] Trên phạm vi toàn tỉnh, từ miền biển lên miền núi, từ đồng

bằng tới trung du đã hình thành một mạng lới các làng xã kháng chiến

Tại Nông Cống, Tôn Thất Hàm cùng với Nguyễn Quý Yêm bỏ quan chức phối hợp với nghĩa quân Tĩnh Gia của Nguyễn Phơng và nghĩa quân của

Lê Ngọc Toản đóng ở vùng Đồng Mời huyện Nh Xuân để đón Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết

Tại Hoằng Hoá Nguyễn Huy Vũ, Lê Trí Trực, Mai Hàm, Mai Quán rèn luyện lực lợng sắm sửa vũ khí nhng tiêu biểu nhất trong huyện là nghĩa quân

do Nguyễn Đôn Tiết phụ trách Ông sinh năm 1836 tại làng Thọ Vực, Tổng Bút Sơn nay là làng Thọ Vực thuộc xã Hoàng Đức Năm 1867 ông thi Hơng

đậu cử nhân về quê mở trờng dạy học Năm Kỷ Mão ông dự thi Hội và trúng phó bảng, đợc bổ nhiệm làm tri phủ Đức Thọ - Hà Tĩnh Năm 1882 khi nghe tin quân đội Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai ông đã bỏ quan về Thanh Hoá liên hệ với văn thân tỉnh nhà bàn kế đánh giặc, ông gặp Tống Duy Tân, Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc, Nguyễn Phơng, Lê Khắc Tháo Cuối năm Giáp Thân ông trở về quê Bút Sơn trực tiếp bàn việc khởi nghĩa với anh em Tú Tài Nguyễn Duy Cơ và Nguyễn Duy Tân Trong thời gian này Nguyễn Đôn Tiết

đã liên hệ với nghĩa dũng của Cử Xuân ở Tào Xuyên, nghĩa quân bộ đầu của

cử nhân Hoàng Bật Đạt, Lê Trí Trực, Phạm Bành Tại cuộc họp văn thân huyện Hoằng Hoá đã cử ông làm chủ súng, ông chỉ huy nghĩa quân của huyện Hoằng Hóa tham gia đánh thành Thanh Hoá Trận đánh không thành nên ông phải kéo quân về Bút Sơn dơng cao cờ “Bình Tây phục quốc ” Trớc thế địch mạnh, so sánh tơng quan lực lợng không có lợi cho ta, Nguyễn Đôn Tiết đã cho nghĩa quân rời xa huyện lỵ và kêu gọi sự chi viện kịp thời Giặc Pháp ra sức đốt phá triệt hạ làng mạc nhất là làng Thọ vực quê hơng ông Một kế hoạch đánh huyện lỵ và đồn Pháp ở Nghè Năm Thôn đợc ông và những ngời

Trang 25

chỉ huy khởi nghĩa vạch ra Nghĩa quân Phú Lê, Trung Hậu, Nghĩa TRang do

Lê Trí Trực chỉ huy và nghĩa quân Tào Xuyên do Nguyễn Xuân điều khiển từ phía tây đánh xuống, nghĩa quân các xã miền biển do Cai Chánh thống lĩnh từ phía đông kéo lên Nghĩa quân các xã phía Nam chủ yếu là nghĩa quân Hoàng Bột và nghĩa quân Đại Đồng do Nguyễn Huy Vũ lãnh đạo Đêm 24 rạng ngày 25/5/1886 dới sự chỉ huy của Nguyễn Đôn Tiết cuộc tấn công bắt đầu Nghĩa quân Hoàng Bột và Đại Đồng đã đánh tiền đồn chợ Gồng và đang ôm rơm vào

đốt huyện đờng thì giặc Pháp nổ súng Nghĩa quân Đằng Cao đã mai phục ở Hoằng Lộc Nghĩa quân của Hoằng Bật Đạt bí mật vợt qua sông Lạch Trờng tiến vào, ba đợt xung phong đã diễn ra song do thiếu phơng tiện lại cha có kinh nghiệm chiến đấu cũng nh cha phối hợp thật chặt chẽ nên cuộc tập kích huyện

lỵ Bắc Sơn không thành Nguyễn Đôn Tiết bị giặc bắt và nghĩa quân phải tạm thời giải tán, kẻ thù tìm cách mua chuộc ông nhng không đợc, chúng tra tấn hết sức giã man và đầy ông đi Lao Bảo, ông vẫn giữ trọn khí tiết của một sỹ phu Năm 1886 ông đã hy sinh trong tù

Tại Hậu Lộc, phong trào đấu tranh cũng bùng nổ sớm và phát triển mạnh mẽ dới sự lãnh đạo của Phạm Bành và Hoàng Bật Đạt, Phạm Bành quê làng Trơng Xá nay thuộc xã Hoà Lộc, đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864) ông làm Đốc học rồi án sát ở Nghệ An Ông nổi tiếng là thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống của nhân dân Khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng lần một ông nhiệt liệt hởng ứng, bỏ quan về quê cùng Hoàng Bật Đạt mộ quân khởi nghĩa

Hoàng Bật Đạt quê ở làng Bộ Đầu (nay thuộc xã Thuần Lộc) Năm

1868 ông đỗ cử nhân sau đó làm tri huyện Lang Tài Khi thực dân pháp đánh vào Bắc Ninh ông đã đề nghị với Tổng Đốc tổ chức chặn giặc nhng đề nghị đó của ông bị khớc từ, ông bỏ quan về quê

Tại quê nhà, hai ông bàn việc chiêu mộ binh sĩ, rèn sắm vũ khí, xây dựng căn cứ địa để đánh giặc Nhân dân Hậu Lộc nô nức tham gia nghĩa quân

Trang 26

và đóng góp tiền của, lơng thực Sau khi tập hợp đợc hàng trăm binh sĩ, rạng sáng ngày 25/5 tại làng Bộ Đầu, Hoàng Bật Đạt hạ lệnh chém đầu tên Đỗ Thản Sau đó kết hợp với nghĩa quân Hoằng Hoá đánh đồn Bút Sơn, trận đánh diễn ra giữa ban ngày, thể hiện tinh thần tiến công táo bạo của ông Tại núi rừng miền Tây Thanh Hoá, phong trào đấu tranh của đồng bào Mờng, Thái dới

sự lãnh đạo của Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc cũng phát triển mạnh mẽ kéo dài

đến tận cuối thế kỷ XIX

Hoạt động có tiếng vang lớn của trí thức Thanh Hóa trong giai đoạn này

là cuộc tấn công đêm ngày 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886 đánh thành Thanh Hoá Nhng giặc Pháp có u thế, tơng quan lực lợng không có lợi cho ta nên nghĩa quân phải rút lui Tuy nhiên trận đánh đã có tác dụng phát động phong trào toàn tỉnh làm cho giặc Pháp và bè lũ tay sai kinh hồn bạt vía phải xin quân vào tăng cờng

Rõ ràng ngay từ những ngày đầu của phong trào Cần Vơng, cuộc đấu tranh do trí thức Thanh Hoá lãnh đạo đã diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn toàn tỉnh Phong trào có sự liên kết giữa các địa phơng với nhau để phát triển Trí thức là lực lợng nòng cốt, đóng vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân vùng dậy đấu tranh chống kẻ thù xâm lợc Họ là cầu nối để tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh toàn dân mà đánh giặc Trớc sức mạnh của phong trào, thực dân Pháp đã điên cuồng chống phá làm cho lợng nghĩa quân các địa phơng không tránh khỏi những tổn thất Trong bối cảnh lịch sử ấy, các lãnh tụ Thanh Hoá mà nhất là các trí thức đã họp hội nghị Bồng Trung ở Vĩnh Lộc bàn kế sách đẩy mạnh phong trào chống Pháp trong tỉnh nhằm đa phong trào

đi đến thắng lợi Việc làm đó là điều kiện không thể thiếu cho cuộc khởi nghĩa

Ba Đình bùng nổ

2.2.2 Trí thức Thanh Hoá trong khởi nghĩa Ba Đình

Trang 27

Sự lấn tới của thực dân Pháp và sự lùi bớc đầu hàng của triều đình phong kiến Huế làm cho các hiệp ớc bán nớc dần dần đợc ký kết Bản hiệp ớc ngày 25/8/1883 đã đa Thanh Hoá “thực sự b ớc vào thời kỳ cận đại của lịch sử dân tộc Viêt Nam ” [7,6] Theo hiệp ớc này thì về phía Nam tỉnh Bình Thuận bị sáp nhập vào địa bàn Nam Kỳ, Phía Bắc Thanh Hoá cùng hai tỉnh Nghệ An -

Hà Tĩnh bị tách khỏi khối đợc gọi là “hữu kỳ ” - tức là những tỉnh nằm về phía bên phải kinh đô bao gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị để sáp nhập vào địa bàn Bắc Kỳ với Đèo Ngang làm ranh giới phân chia giữ Bắc Kỳ và Trung Kỳ

Hiệp ớc 1883 đã thu hẹp địa bàn ảnh hởng của triều đình Huế một cách

đáng kể và Thanh Hoá đã trở thành một tỉnh của Bắc Kỳ Theo văn bản pháp

lý của hiệp ớc 1883 Thanh Hoá phải đợc cai trị nh các tỉnh Bắc Kỳ - Nghĩa là

đội ngũ quan lại cai trị cấp tỉnh đều phải đặt dới sự kiểm soát và giám sát của một viên công sứ ngời Pháp Song lúc này Pháp cha có đủ điều kiện để tổ chức ngay bộ máy chính quyền các cấp tỉnh ở Bắc Kỳ, chúng còn phải đơng đầu với phong trào đấu của nhân dân khắp các tỉnh ở Băc Kỳ, chúng còn phải đơng đầu với phong trào đấu tranh của nhân dân khắp từ Bắc chí Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ để phản đối triều đình ký hoà ớc với Tây

Sau khi quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ thì lần này chiếm đợc đến đâu thực dân pháp đều thiết lập bộ máy cai trị đến đấy Tỉnh Ninh Bình là nơi tiếp giáp với Thanh Hoá đợc chúng coi là một trọng điểm nên chúng sớm đặt chức công

sứ và đóng quân tại núi Dục Thuý nhằm ngăn chặn đờng dịch trạm hai chiều giữa các tỉnh phía Bắc và kinh đô Huế

Sau hàng loạt những hoạt động trên thì Thanh Hoá cùng với Nghệ An -

Hà Tĩnh ở phía Bắc và Bình Thuận ở phía Nam đã đợc sáp nhập trở lại Trung

Kỳ Kể từ hiệp ớc ký ngày 6/6/1884 địa giới từ phía nam tỉnh Ninh Bình trở thành ranh giới phân chia giữa Bắc Kỳ và Trung Kỳ Từ đây trở đi Thanh Hoá lại trở thành một tỉnh của Trung Kỳ và Thanh Hoá “đ ợc hởng một chế độ cai

Trang 28

trị nh các tỉnh Trung Kỳ - Nghĩa là quan lại cấp tỉnh Trung Kỳ vẫn tiếp tục cai trị nh trớc” Trong khi thực dân Pháp tiến hành hàng loạt những thủ đoạn

về chính trị, ngoại giao, quân sự và hành chính cũng là lúc triều đình Huế bị cuốn vào việc “phế Vua lập Đế” Trong khắp cả nớc nhân dân ta vẫn tự động nổi dậy chống Pháp, chỉ trong vòng cha đầy 12 tháng rỡi kể từ ngày Tự Đức mất (19/7/1883) đến ngày Phúc Kiến mất (31/7/1884) thì triều đình Huế đã thay ba lần vua từ Dục Đức đến Hiệp Hoà và Phúc Kiến

Sau khi Phúc Kiến mất, phái chủ chiến trong triều đình Huế mới có điều kiện đa Hàm Nghi - một ông vua yêu nớc lên ngôi ngày 2/8/1884 đến ngày 4 rạng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885 vua Hàm Nghi xuất bôn, rời bỏ kinh thành theo phe kháng chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu ra sơn phòng tổ chức kháng chiến và sau đó ít ngày phát động phong trào Cần Vơng trên quy mô cả nớc Tình hình đó đã đa thực dân Pháp vào chỗ lúng túng vì chúng thấy rằng

ở Huế không còn có chính phủ nữa, guồng máy cai trị cũng không còn và

không còn ai có thể đảm nhận cho việc thi hành những bản hiệp ớc”[6,7] Bởi

vậy chúng đã kịp thời đa ra một bản quy ớc ký ngày 30/7/1885 để thiết lập chức công sứ tại các tỉnh Trung Kỳ nhằm nắm ngay cấp tỉnh Đồng thời ngày 19/9/1885 chúng đa Đồng Khánh lên ngôi vua để tiếp tục duy trì “sự liên minh hợp tác” giữa chúng và chính phủ Nam Triều trong việc chống lại phong

trào yêu nớc của nhân dân Kể từ ngày lên ngôi vua, Đồng Khánh đã hợp tác chặt chẽ với Pháp để mong giữ đợc vai trò của dòng họ

Tháng 4/1886 theo ý đồ của Pháp, Đồng Khánh đã gia hàm tri bộ lễ cho sung chức tuyên phủ sứ Thanh Hoá cho tên Trần Lục - một tên tay sai đắc lực đội lốt tu sĩ của thực dân Pháp vốn đang là linh mục ở Phát Diệm - Ninh Bình Điều

đó chứng tỏ rằng các lực lợng phản động đã đợc chính quyền thực dân phong kiến huy động tập trung tại địa bàn Thanh Hoá để đàn áp cuộc khởi nghĩa của nhân Thanh Hoá và nô dịch nhân dân vào những năm 80 của thế kỷ XIX

Trang 29

Để hỗ trợ cho bọn phản động, tháng 11 năm 1885 Đồng Khánh đã ra lệnh cho các tỉnh từ Thanh Hoá trở vào đến Bình Thuận phải tổ chức lực lợng quân tỉnh gọi là tập binh để giao cho sỹ quan Pháp huấn luyện và để phục vụ cho việc đàn áp nhân dân trong tỉnh Mỗi tỉnh đợc tuyển chọn 650 binh tập nhng bất chấp sự chuẩn bị của liên minh quân cớp nớc và bán nớc, nhân dân Trung Kỳ nói chung, Thanh Hoá nói riêng vẫn tiếp tục nổi dậy “chống cả Triều lẫn Tây” Riêng tại Thanh Hoá những cuộc tấn công và nổi dậy đã diễn

ra tại hầu hết các huyện nh Quảng Hoá, Quảng Tế, Cẩm Thuỷ, Tĩnh Gia những cuộc nổi dậy đó có những cuộc hình thành từ trớc khi có hịch Cần V-

ơng, sau khi hịch Cần Vơng ra đời, phong trào phát triển ngày một rộng lớn và

có những quan hệ hợp tác chiến đấu chống kẻ thù Trong bối cảnh đó khởi nghĩa Ba Đình đã nổ ra, đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Thanh Hoá ngang nhiên chọn vùng đồng bằng huyện Nga Sơn để lập căn cứ địa công khai dờng

nh thách thức với toàn bộ thể lực phản động trong và ngoài nớc để dành độc lập cho dân tộc

2.2.2.1 Nghệ thuật xây dựng căn cứ địa Ba Đình của trí thức Thanh Hoá

Trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng dân tộc, việc chọn

địa bàn xây dựng căn cứ kháng chiến là một vấn đề có tầm quan trọng về chiến lợc, không chọn đợc địa bàn thuận lợi sẽ đồng nghĩa với việc không thể tiến hành khởi nghĩa cũng nh chiến tranh giải phóng lâu dài, để cuối cùng dành thắng lợi Tại sao các lãnh tụ trí thức Thanh Hoá lại chọn Ba Đình làm căn cứ chống Pháp (1886 - 1887)? Trả lời câu hỏi đó gắn liền với việc làm rõ vai trò, sự linh hoạt của trí thức Thanh Hoá trong phong trào yêu nớc cuối thế

kỷ XIX

Tháng 11/1885 Pháp đánh chiếm Thanh Hoá và một số nơi quan trọng

Để thực hiện âm mu bình định toàn bộ Thanh Hoá, đầu năm 1886 Pháp dồn quân ra phía Bắc Tây Giai Thanh Hoá nhằm thiết lập vùng chiến lợc lấy Phát Diệm, Tam Cao, Phú Điền làm trung tâm tạo thành hai khu vực tam giác là

Trang 30

Phú Điền - Tam Cao - Phát Diệm và Phú Điền - Tam Cao - Tây Giai trong đó Tam Cao, Phú Điền là trục đờng giáp tuyến vùng đồng bằng Tống Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc tách rời khỏi vùng rừng núi Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ hòng chiếm giữ vùng đồng bằng, dồn nghĩa quân lên vùng rừng núi để tiêu diệt và nhằm ngăn cách phong trào ở Thanh Hoá - Nghệ Tĩnh với Bắc Kỳ Tình hình đó đòi hỏi nghĩa quân không những phải có biện pháp để củng cố

địa bàn hoạt động ở vùng rừng núi mà còn phải tìm mọi biện pháp để mở rộng phạm vi hoạt động

Vùng đồng bằng là chỗ dựa quan trọng đòi hỏi nghĩa quân phải nhanh chóng phát triển lực lợng từ vùng rừng núi xuống để kịp thời phá tan âm mu chia cắt của địch Trớc yêu cầu bức thiết ấy, các lãnh tụ khởi nghĩa ở Thanh Hoá tả quan đô thống Trần Xuân Soạn, chánh sứ sơn phòng Tống Duy Tân, Tán tớng quân Cầm Bá Thớc (thủ lĩnh ngời Thái), Tán Lý Hà Mao (thủ lĩnh ngời Mờng) và chỉ huy nghĩa quân huyện Vĩnh Lộc là Cao Điển đã họp tại chùa Trang Các huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hoá để bàn phơng sách đẩy mạnh phong trào chống Pháp trong toàn tỉnh Hội nghị đã thảo luận và quyết định hai vấn đề quan trọng

Một là: Chọn địa bàn xây dựng căn cứ chống Pháp ở Thanh hoá

Hai là: Cử ngời chỉ huy công việc xây dựng căn cứ đó

Khi thảo luận chọn địa bàn xây dựng căn cứ kháng chiến, trong cuộc họp có hai chủ kiến Thứ nhất là chủ kiến của Tống Duy Tân, Cao Điển, Hà Văn Mao và Cầm Bá Thớc những ngời này chủ trơng lấy vùng núi hiểm trở của Thanh Hoá làm chỗ dựa để đánh địch lâu dài

Thứ hai là chủ kiến của Trần Xuân Soạn không hoàn toàn bác bỏ ý kiến

đó nhng coi đồng bằng là một địa bàn chiến lợc, tuy địa thế không hiểm trở nhng vùng rừng núi lại là nơi đông ngời, nhiều của, có mạng lới giao thông hiểm trở và là nơi tiếp giáp với Thị xã Cho nên đi đôi với việc xây dựng địa bàn hoạt động ở vùng rừng núi, Trần Xuân Soạn đã chủ trơng coi trọng việc

Trang 31

xây dựng và củng cố địa bàn hoạt động ở vùng đồng bằng Nghĩa quân tiến hành chiến đấu chủ yếu dựa vào sự ủng hộ và che giấu của nhân dân Trong

điều kiện đó nghĩa quân tranh thủ phát động đợc đông đảo nhân dân tham gia kháng chiến là một vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, có nh vậy nghĩa quân mới phá tan đợc âm mu bắt ngời cớp của của địch, đánh bại thủ đoạn “dùng ngời Việt đánh ngời Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp

Trên cơ sở cân nhắc có sự so sánh thì các tớng lĩnh Thanh Hoá đã chọn Ba

Đình làm căn cứ của cuộc kháng chiến Căn cứ Ba Đình thuộc loại lịch sử đặc sắc phong phú mà qua hàng trăm năm đã có không ít những cây bút góp công sức lần lợt vẽ nên hàng loạt chân dung ngày càng đậm nét và qua thời gian thì mỗi thế hệ, mỗi tác giả lại phát hiện đợc những màu sắc có tác dụng phủ định những gì đã cũ, cung cấp cho Ba Đình thêm vẻ tơi tắn làm rạng rỡ cho giá trị tầm vóc Ba Đình

Ba Đình là vùng đồng chiêm trũng thuộc huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ 5km về phía Tây có diện tích 6,5 km2, dài gần 3km, rộng trên 2 km, phía Bắc giáp Nga Vịnh, phía Nam giáp Nga Thắng, phía Đông giáp Nga Văn, phía Tây giáp xã Hà Châu huyện Hà Trung Ba Đình có sáu thôn là Mỹ Khê, Thợng Thọ, Chiến Thắng, Mậu Thịnh, Mỹ Thịnh và Điền Hộ với trên 1000 hộ dân và

4000 nhân khẩu, căn cứ địa Ba Đình chủ yếu đóng ở địa bàn ba làng: Thợng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê Do phải cải tạo tự nhiên mà bao đời con ngòi nơi

đây đều mang trong mình dòng máu anh hùng bất khuất của tổ tiên để lại Ba

Đình có tầm chiến lợc quan trọng vì phía Đông Ba Đình có thể kiểm soát đợc con sông đào ra Ninh Bình, phía Tây khống chế đờng giao thông số 1 của địch

từ Ninh Bình vào Thanh Hoá qua các tỉnh Trung bộ nớc ta Từ đây có thể ngăn chặn bọn Pháp ở các đồn Tam Cao, Phát Diệm đặc biệt thì Ba Đình còn là kho hậu cần của kháng chiến, chính vì thế mà Ba Đình đợc xem là “chân kiềng kháng Pháp” [6,22] và ngời ta ví căn cứ địa Ba Đình với căn cứ địa Dạ

Trạch - Khoái Châu của Triệu Quang Phục” [6,22]

Trang 32

Theo quyết định của hội nghị Bồng Trung ở căn cứ Ba Đình thì cử nhân Phạm Bành đợc giao sứ mệnh đứng đâù bộ chỉ huy thống nhất, cử nhânHoàng Bật Đạt đợc làm phó tớng nhng trụ cột của nghĩa quân lại là Đinh Công Tráng

Đinh Công Tráng là một cựu chánh Tổng ngời Tràng Xã (nay là xã Thanh Tân huyện Thanh Liêm, Hà Nam Ninh) Khi giặc Pháp kéo ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai (1882) ông đã chiến đấu trong quân đội của Hoàng Tá Viêm và từng tham gia đánh bại tên Ri - Vie ở Cầu Giấy ngày 19/5/1883 Trong quá trình chiến đấu ông đã từng bị thơng và bị bắt hai lần nhng đều trốn thoát trở về hàng ngũ kháng chiến Cho mãi đến năm 1886 ông vào Thanh Hoá bắt liên lạc với Trần Xuân Soạn tiếp tục chống Pháp Tháng 5 năm 1886 Đinh Công Tráng cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt về Ba Đình để nghiên cứu điều tra tình hình

cụ thể Sau khi thống nhất các phơng án bộ chỉ huy đã quyết định huy động sự giúp sức của nhân dân và các binh sĩ ở các huyện lân cận khẩn trơng xây dựng căn cứ Với sự nỗ lực cao nhất chỉ trong vòng một tháng căn cứ Ba Đình đợc xây dựng xong, trông xa nó giống nh một toà thành nổi lên mặt nớc

Căn cứ địa Ba Đình đợc bao bọc bởi một vòng thành đất có cộng sự chiến đấu, chân thành rộng từ 8 đến 10 mét Trên mặt thành xếp hàng ngàn sọt rơm trộn bùn cao 2 mét Dới chân thành có cắm nhiều cọc nhọn tà tà trên mặt nớc với bề rộng tới 50 mét tạo nên một rừng chông tre, phía ngoài cùng là một luỹ tre dày đặc còn nguyên cành lá xanh tơi che kín toàn bộ cộng sự, trong thành có 3 đồn: Đồn Thợng, đồn Trung và đồn Hạ, xây dựng ngay trên vị trí sẵn có của ba đình làng Cách bố trí tài tình này khiến cho quân Pháp hết sức ngạc nhiên Đạt đợc một số yêu cầu đó nên dù cuối cùng lực lợng chiến đấu ở

Ba Đình phải rút về Mã Cao nhng căn cứ địa Ba Đình đời đời vẫn đợc xem là căn cứ khá hoàn chỉnh, độc đáo đáng học tập

“Cầu bằng bác mẹ không sinh

Mang thân đến đất Ba Đình ngâm xơng ”[6,30]

Trang 33

Có thể nói đây là một công trình quân sự đợc xây dựng công phu đạt tới trình độ kỹ thuật và chiến thuật cao của trí thức Thanh Hoá, với tình thần nỗ lực cao nhất, tổ chức chỉ huy giỏi, căn cứ kháng chiến Ba Đình có thể quan sát

đợc mọi hoạt động của bên ngoài Ngợc lại dù có tiến sát căn cứ, bên ngoài cũng không thể thấy gì ở bên trong Đối với thực đân Pháp thì sự xuất hiện của phong trào Cần Vơng mà đặc biệt là căn cứ kháng chiến Ba Đình trở thành một mỗi đe doạ lớn, ngời Pháp đánh giá căn cứ này là “cục bứu ” [7,33] rất nguy hiểm ảnh hởng không nhỏ đến việc phát triển của một cơ thể sống, điều đó nói lên vai trò của trí thức Thanh Hoá trong cuộc khởi nghĩa này

2.2.2.2 Trí thức Thanh Hoá lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa

Ba Đình

Đứng đầu căn cứ Ba Đình là Phạm Bành một quan lại chủ chiến đã bỏ

ấn từ quan về mu tính việc cứu nớc

Phạm Bành (1830 - 1887) quê Trơng Xá - Hậu Lộc - Thanh Hoá, ông từng làm chức bang biện coi giữ cửa biển Lạch Trờng Năm 1884 ông đậu cử nhân đợc bổ chức Đốc học rồi thăng lên chức án sát tỉnh Nghệ An ông đã viết

th cho quan lại họ Lê ở Hà Tĩnh mở đờng miền núi săn voi và chuẩn bị đánh giặc Pháp Sau này ông bỏ quan về quê khởi nghĩa chống Pháp ở Hậu Lộc rồi kéo quân sang căn cứ Ba Đình Sau mấy tháng dũng cảm chiến đấu để bảo toàn lực lợng, ông đợc lệnh rút lui an toàn khỏi Ba Đình Giặc Pháp bắt mẹ, vợ con ông và buộc họ khuyên ông ra đầu thú nhng ông đã uống thuốc độc tự tử

ở Nấp (Đông Sơn) lúc 4 giờ sáng ngày 22/3/1887 [14,82] ngời đời truyền tụng chí hớng của ông là:

“Tâm tự Đông A minh cố tử

Chí đồn Nam Việt khẳng thân sinh”

(Lòng ở Đông A thề một chết Chí vì Nam Việt sống thừa sao) [18,92]

Trang 34

Phạm Bành là một trong số văn thân sỹ phu yêu nớc của Thanh Hoá đầu tiên hởng ứng chiếu Cần Vơng Nhờ sự che chở của nhân dân, căn cứ Ba Đình lúc đầu giữ đợc bí mật, lực lợng nghĩa quân trong căn cứ có khoảng 300 ngời, ngoài ngời Kinh còn có ngời Thái, ngời Mờng nghĩa quân đ… ợc trang bị bằng súng hoả mai, giáo mác, cung nỏ còn đ… ợc trang bị cả một số đại bác bằng gang Lực lợng phục vụ trong căn cứ này cũng rất đáng kể, bà con địa phơng lập ra những đội vận chuyển lơng thực, đội nuôi quân, có cả đội hát, đội hò giúp vui cho nghĩa quân

Cuộc tấn công đầu tiên của quân Pháp vào căn cứ Ba Đình là tháng 12/1886 với 5000 quân có đại bác yểm trợ do hai viên trung tá chỉ huy nhng quân địch đã bị đánh bật khỏi căn cứ để lại nhiều xác lính và vũ khí

Đầu tháng 1/1887 Pháp mở tiếp cuộc tấn công với quy mô lớn lần này Pháp huy động tới 3500 quân, có 25 đại bác, 4 pháo hạm hỗ trợ cho đại tá BờRítXô chỉ huy với quyết tâm phá tan căn cứ Ba Đình - một căn cứ lớn nhất

ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ, thực dân Pháp còn huy động tới 5000 dân binh phục chiến đấu do Trần Lục cầm đầu nổ ra vào 6/1/1887 nhng cũng không đem lại kết quả Hàng trăm binh lính và sỹ quan Pháp phơi xác trớc thành Ba Đình đã làm chấn động d luận ở PaRi, BờRítXô phải thay đổi kế hoạch chuyển sang chiến thuật vây lẫn, làm cạn lơng thực của nghĩa quân trớc khi ra đòn quyết

định Chiến thuật ấy có gây cho nghĩa quân Ba Đình những khó khăn to lớn

nh lơng thực, đạn dợc, khả năng phối hợp với cánh quân của Trần Xuân Soạn

từ ngoài đánh vào không thành hiện thực Nhng quân Pháp cũng vấp phải những khó khăn nh khí hậu nóng bức, bệnh tật hoành hành, xác chết của chúng không thu lợm đợc vì nằm trong tầm súng của nghĩa quân

Vào giữa và cuối tháng 1/1887 quân Pháp liên tiếp mở những cuộc tấn công quyết định, chúng dội xuống khu căn cứ tới 16000 trái đạn pháo, dùng súng phun lửa đốt cháy luỹ tre bao bọc và cả công sự của nghĩa quân Tình thế ngày càng trở nên nguy khốn

Ngày đăng: 15/12/2015, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BNC - BSLS tỉnh Thanh Hóa (1999). Địa chí Thanh Hoá. Tập 1. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thanh Hoá
Tác giả: BNC - BSLS tỉnh Thanh Hóa
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1999
2. BNC - BSLS Đảng Thanh Hoá (2002). Đất và ngời Xứ Thanh. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và ngời Xứ Thanh
Tác giả: BNC - BSLS Đảng Thanh Hoá
Nhà XB: NXBTH
Năm: 2002
3. BNC - BSLS Đảng Thanh Hoá (1998). Niên biểu lịch sử Thanh Hoá. XN in Ba Đình - Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên biểu lịch sử Thanh Hoá
Tác giả: BNC - BSLS Đảng Thanh Hoá
Năm: 1998
4. BCH Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hoá (2000). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá. Tập 1. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: BCH Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXBTH
Năm: 2000
5. BCH Đảng Bộ huyện Quảng Xơng (1992). Quảng Xơng trong đấu tranh cách mạng. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Xơng trong "đấu tranh cách mạng
Tác giả: BCH Đảng Bộ huyện Quảng Xơng
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1992
6. BNC - BSLS Thanh Hoá (1992). Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi nghĩa Ba Đình và phong trào yêu nớc chống Pháp của nhân dân Thanh Hóa cuối thế kỷ XIX
Tác giả: BNC - BSLS Thanh Hoá
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1992
7. BNC - BSLS (2003). Thanh Hoá thời kỳ 1802 - 1930. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá thời kỳ 1802 - 1930
Tác giả: BNC - BSLS
Nhà XB: NXBTH
Năm: 2003
8. Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng (1995). Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn. NXBVH - TT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng
Nhà XB: NXBVH - TT
Năm: 1995
9. Đỗ Mời (1995). Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đổi mới, đất nớc. NXBCTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng đổi mới, đất nớc
Tác giả: Đỗ Mời
Nhà XB: NXBCTQG
Năm: 1995
10. Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi (1990). Thành phố Thanh Hoá (1804 - 1947). NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phố Thanh Hoá "(1804 - 1947)
Tác giả: Đinh Xuân Lâm - Lê Đức Nghi
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1990
11. Đinh Xuân Lâm - Chơng Thâu (1998). Danh nhân lịch sử Việt Nam. TËp 2. NXBHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm - Chơng Thâu
Nhà XB: NXBHN
Năm: 1998
12. Đinh Xuân Lâm - Trịnh Nhu (1985). Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh
Tác giả: Đinh Xuân Lâm - Trịnh Nhu
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1985
13. Đinh Thị Hằng (2004). Nho sỹ Thanh Hoá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc thế kỷ XIX. Khoá Luận Tốt Nghiệp Đại Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho sỹ Thanh Hoá trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc thế kỷ XIX
Tác giả: Đinh Thị Hằng
Năm: 2004
14. Đào Phụng (1996). Tác gia Thanh Hóa thế kỷ VIII - XX. Tập 1. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác gia Thanh Hóa thế kỷ VIII - XX
Tác giả: Đào Phụng
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1996
15. Một Số Vấn Đề Lịch Sử. Tập 1. Kỷ yếu hội thảo khoa học. NXBNA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học
Nhà XB: NXBNA
16. Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Quốc Bảo (2001). Một số vấn đề về trí thức Việt Nam. NXBLĐ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trí thức Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Quốc Bảo
Nhà XB: NXBLĐ
Năm: 2001
17. Ninh Viết Giao (1998). Địa chí văn hóa Hoằng Hóa. NXBKHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa Hoằng Hóa
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1998
18. Trần Văn Thịnh (cb), (1995). Danh sỹ Thanh Hoá với việc học thêi xa. NXBTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sỹ Thanh Hoá với việc học thêi xa
Tác giả: Trần Văn Thịnh (cb)
Nhà XB: NXBTH
Năm: 1995
19. Trần Văn Thịnh (1997). Võ tớng Thanh Hoá trong lịch sử dân téc, NXBQND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ tớng Thanh Hoá trong lịch sử dân téc
Tác giả: Trần Văn Thịnh
Nhà XB: NXBQND
Năm: 1997
20. Trần Văn Giàu (1973). Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đ ến cách mạng tháng Tám. NXBKHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đ ến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1973

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w