1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945

48 900 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự nổ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô giáo, các Cô,Chú trong uỷ ban nhân dân xã Vinh Thanh cũng như

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA LỊCH SỬ - -

LÊ THỊ TRANG

PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN XÃ VINH THANH, HUYỆN PHÚ

VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 1930 - 1945

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Việt Nam

KHÓA: 34 (2010 – 2014)

Cán bộ hướng dẫn:

ThS NGUYỄN THU HẰNG

Trang 2

HUẾ, 05/2014

Trang 3

Để hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự nổ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô giáo, các Cô,Chú trong uỷ ban nhân dân xã Vinh Thanh cũng như gia đình và bạn bè.Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới toàn thể Thầy, Côgiáo trong khoa Lịch Sử, trường Đại học Khoa học Huế, những người đãgiảng dạy, truyền đạt kiến thức trong thời gian tôi học tập ở trường.Tôi xin cảm ơn Thư viện và phòng Tư liệu khoa Lịch sử, trường Đạihọc khoa học Huế đã tạo điều kiện giúp tôi trong việc tìm kiếm tư liệu.Cảm ơn Uỷ ban nhân dân xã Vinh Thanh đã giúp đỡ tôi trong suốt thờigian đi thực địa.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThsNguyễn Thu Hằng đã giành nhiều thời gian chỉ bảo tận tình trong suốtthời gian tôi làm báo cáo

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng đề tài không thể tránh nhữngthiếu sót, hạn chế, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý quý báu của toànthể Thầy, Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Sinh viên:

Lê Thị Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Mục đích 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 2

3.3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Nguồn tư liệu 2

6 Bố cục 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI XÃ VINH THANH, HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 4

1.1 Điều kiện tự nhiên 4

1.1.1 Vị trí địa lý 4

1.1.2 Địa hình 4

1.1.3 Khí hậu 5

1.1.4 Thuỷ văn 6

1.1.5 Thổ nhưỡng 6

1.1.6 Giao thông 6

1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 8

1.2.1 Tình hình kinh tế 8

1.2.1.1 Nông – lâm – ngư nghiệp 8

1.2.1.2 Thủ công nghiệp 9

1.2.1.3 Thương nghiệp 10

1.2.2 Tình hình xã hội 10

1.2.2.1 Dân cư 10

1.2.2.2 Quá trình tụ cư lập làng và tên gọi hành chính qua các thời kỳ 12

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN XÃ VINH THANH GIAI ĐOẠN 1930 – 1939 14

2.1 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh trước năm 1930 14

2.1.1 Chính sách tô thuế và đời sống nhân dân 14

Trang 5

2.1.2 Truyền thống đấu tranh và phong trào yêu nước chống áp bức giai cấp và kẻ

thù dân tộc 18

2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1939 19

2.2.1 Tình hình chung 19

2.2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1935 20

2.2.3 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1936 – 1939 23

2.3 Nhân dân Vinh Thanh xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1939 – 1945 25

CHƯƠNG 3 PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC Ở XÃ VINH THANH, HUYỆN PHÚ VANG GIAI ĐOẠN 1939 – 1945 27

3.1 Tình hình chung 27

3.2 Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1939 -1945 28

3.3 Vinh Thanh trong cách mạng tháng Tám năm 1945 30

KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ khi lập quốc cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đãluôn phải đương đầu với biết bao kẻ thù xâm lược, tiêu biểu là chủ nghĩa bànhtrướng Đại Hán thời cổ trung đại và chủ nghĩa thực dân phương Tây thời hiện đại.Trải qua nhiều cuộc chiến tranh gian khổ, biết bao thế hệ cha ông ta đã ngã xuống vìđộc lập của dân tộc Mỗi người dân Việt luôn tự hào con cháu của một dân tộc anhhùng, với những chiến công hiển hách đã được sử sách ghi lại Vì vậy cần phải trântrọng gìn giữ truyền thống ấy của cha ông ta

Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời với nhiều thành tựu và chiến thắnghuy hoàng rất đáng tự hào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Đó là lịch sửcủa cuộc đấu tranh vừa bền bỉ, kiên cường, bất khuất để chống lại các thế lực phảnđộng, sự đàn áp của thực dân Đồng thời đó là quá trình lịch sử tìm tòi chân lý cứunước, từ xu hướng phong kiến qua xu hướng dân chủ tư sản để cuối cùng dẫn tới sựgặp gỡ có tính tất yếu của chủ nghĩa yêu nước truyền thống với chủ nghĩa xã hội

Việc làm sáng tỏ quá khứ lịch sử mà đặc biệt là 15 năm đầu kháng chiếnchống Pháp của quân dân xã Vinh Thanh (giai đoạn 1930 – 1945) là một điều có ýnghĩa vô cùng quan trọng Không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ và cảm nhận sâu sắchơn về một quê hương có quá khứ oanh liệt, mà còn giúp củng cố niềm tin đi tớitương lai, giáo dục tư tưởng và truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau Đểtổng kết, ghi lại những trang sử vẻ vang, phát huy những truyền thống tốt đẹp vốn

có của quê hương, nhất là phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã VinhThanh từ năm 1930 – 1945, nhằm góp phần giáo dục và phát huy truyền thống cáchmạng của địa phương, đồng thời làm phong phú thêm cho lịch sử của huyện, tỉnh…

Đó là lý do tôi chọn đề tài “Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xãVinh Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 1930 – 1945” để làm

đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh giai đoạn

1930 – 1945 là đề tài còn ít người viết Hầu như không có hoặc rất ít bài viết nghiêncứu về phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh giai đoạnnày Ở địa phương hầu như không còn lưu lại một tài liệu gì, do thời gian chiến tranh

đã quá lùi xa, hơn nữa, trải qua thiên tại, địch họa nên tài liệu hầu như bị mất mát và

Trang 7

tiêu hủy toàn bộ Như vậy đề tài mà tôi đang nghiên cứu dường như còn ở dạng tiềm

ẩn chưa được khai thác hoặc mới chỉ được viết một cách tổng quát trong các tập Lịch

sử Đảng bộ của Tỉnh, huyện như Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế tập 1, Lịch

sử Đảng bộ xã Vinh Thanh tập 1 Mặc dù các công trình này mới chỉ nêu tổng quátphong trào đấu tranh cách mạng chung của huyện, tỉnh, nhưng cũng là nguồn tư liệuquý để tôi kế thừa, chọn lọc và hoàn thành bài báo cáo của mình

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nhằm đi sâu tìm hiểu những trang sử đầy sinh động, phong phú và vẻ vangcủa xã Vinh Thanh trong công cuộc chống Pháp giai đoạn 1930 – 1945, Từ đó rút ranhững bài học kinh nghiệm quý báu về đường lối lãnh đạo và sự chỉ đạo nhạy béncủa chi bộ Đảng, lòng gan dạ, ý chí kiên cường, dũng cảm của quân và dân xã VinhThanh Bên cạnh đó còn khẳng định vai trò và tinh thần đoàn kết của nhân dân VinhThanh trong giai đoạn này

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh, huyện PhúVang, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 1930 – 1945

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Địa bàn xã Vinh Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa ThiênHuế hiện nay

Về thời gian: Từ 1930 – 1945

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài viết này, tôi đã sử dụng một số phương pháp như: Phương phápđiền dã, các phương pháp khoa học chuyên ngành như: Phương pháp Lịch sử,phương pháp logic, thống kê, so sánh… để hoàn thành đề tài này

5 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu địa phương: Trong quá trình thực tập tôi đã tiếp cận địa bàn vàthu thập tài liệu thông qua lời kể của các nhân chứng tại địa phương

Nguồn tư liệu thành văn: Bao gồm các tác phẩm, các công trình nghiên cứu

đã được in thành sách Đặc biệt tác phẩm của ban Nghiên cứu lịch sử làng VinhThanh, Lịch sử xã Vinh Thanh từ khi thành lập đến cách mạng tháng Tám, tập 1(viết tay) Có bài viết liên quan, đã được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu, đượcbiên soạn dưới sự chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang như: Đảng

bộ huyện Phú Vang 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930 – 1995), do Ban Chấphành Đảng bộ huyện Phú Vang viết và được xuất bản năm 1999…

Trang 8

6 Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về vùng đất con người xã Vinh Thanh, huyện Phú Vang,tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 2: Phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanhgiai đoạn 1930 – 1939

Chương 3: Phong trào giải phóng dân tộc ở xã Vinh Thanh giai đoạn 1939 – 1945

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT VÀ CON NGƯỜI XÃ VINH THANH,

HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Vinh Thanh là một xã ven biển của huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế,nằm cách thành phố Huế khoảng chừng 30 km về phía Đông Nam Vinh Thanh códiện tích toàn xã rộng trên 8 km2, với khung phân bố chiều dài theo hướng Bắc Namkhoảng 3 km, chiều rộng Đông Tây bờ biển vào sát phá Tam Giang là 2,7 km Giớihạn của xã theo cách ghi lại của người xưa là: “Đông Đại hải; Tây Đại giang; Nam

Hà Úc Can Lô xứ; Bắc Xuân Thiên, Cây Lục, Bàu Nổ” Tức là Đông giáp biển lớn;Tây giáp sông rộng; Nam kề xứ Hà Úc, Can Lô và Bắc giáp Xuân Thiên, Cây Lục,Bàu Nổ [2, tr 5]

Nằm trên dải đất hẹp, hai phía Đông Tây bị bao bọc bởi biển cả, phá lớn;phía Bắc và phía Nam nối liền với hai xã Vinh Xuân và Vinh An chạy dài nối tiếpvới các xã Vinh Hưng, Vinh Mỹ (về phía Nam); Phú Diên, Phú Thuận (về phíaBắc), làm thành một dải xóm làng, vành đai dọc theo miền duyên hải đầm phá củahuyện Hương Phú

1.1.2 Địa hình

Thuộc vùng duyên hải miền Trung, vì vậy địa hình của Vinh Thanh tươngđối bằng phẳng, có ít diện tích là đầm phá, có độ nghiêng dần từ Tây sang Đông,nhưng sự chênh lệch không lớn lắm Tuy được bao bọc bởi phá Tam Giang nhưnglại chịu nhiều khó khăn của biển đem lại, đặc biệt việc xây dựng các hệ thống thuỷlợi tương đối khó khăn Điều đó làm cho sản xuất nông nghiệp ở đây càng lệ thuộcvào thiên nhiên, nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng chủ yếu dựa vào mưa, nguồnnước ngầm, ao hồ…, dùng sức người gánh tưới

Vậy xét về mặt cấu tạo địa hình xã Vinh Thanh có thể được phân chia thành

4 khu vực sau:

- Chạy suốt biển Đông là vùng cát, cây lâm nghiệp

- Trải dài theo tỉnh lộ 49 là đất khu dân cư xen lẫn đất vườn

- Hai phía khu dân cư là đất chuyên dùng trong trồng trọt

- Nằm giữa là khu trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá

Trang 10

Nhìn chung, kết cấu chủ yếu là đất cát pha, độ phì nhiêu thấp, địa hình có độdốc tương đối lớn, diện tích đất đai không lớn nhưng gồm nhiều loại, thuận lợi choviệc bố trí nhiều loại cây trồng, vật nuôi.

1.1.3 Khí hậu

Xã Vinh Thanh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm của vùngduyên hải miền trung Nhiệt độ trung bình hằng năm trên 250C, cao tuyệt đối là

400C, thấp tuyệt đối là 7,50C, mức cao trung bình là 29,50C và mức thấp trung bình

là 21,50C Hằng năm có gần 1500 giờ nắng với tổng nhiệt trung bình khoảng

93000C [2, tr 7]

Mùa khô nóng, nắng hạn đến sớm và thường kéo dài vào các tháng 5, 6, 7, 8.Mùa ẩm lạnh đến muộn vào tháng 12 và kết thúc sớm (khoảng cuối tháng 2 nămsau) Theo tài liệu đặc biệt của trạm khí tượng thuỷ văn Huế thì bình quân trongnăm vùng này có tới hơn 160 ngày mưa và lượng mưa cao nhất trong ngày là433mm Lượng mưa trung bình hằng năm 3000mm, năm lớn nhất lên tới gần5000mm, năm thấp nhất 1850mm [2, tr 7]

Do các điều kiện nhiệt độ, lượng mưa như vậy mà độ ẩm trung bình năm là85%, thấp tuyệt đối là 15%, lượng mưa bốc hơi trung bình cả năm gần 600mm

Không khác gì với các xã ở miền đất cát sát biển này, xã Vinh Thanh rấtthịnh hành gió nồm thổi từ biển vào theo hướng Đông Nam – Tây Bắc với tốc độtrung bình cao hơn nhiều so với các làng nằm sâu trong đất liền 40m/s hoặc nhiềuhơn nữa Vì thổi từ biển vào trực tiếp mang theo nhiều hơi nước tạo nên không khíthoáng mát, ít chịu cảnh oi nồng Điều này có ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ conngười và cảnh quan môi trường Vào mùa đông tập trung ở các tháng 1, 2, 3 thường

có gió mùa Đông Bắc gây lạnh rét và mưa phùn Nhưng vì được bao bọc xungquanh là biển, đầm phá nước mênh mông nên tuy có lạnh rét nhưng không ít khôhanh và giá buốt

Vào mùa hè, xã Vinh Thanh cũng chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nhưng

đã phần nào giảm bớt sự khô nóng do luồng gió đã thổi qua vùng đầm phá và biển

cả, sông lớn nên Vinh Thanh cũng như bao làng quê dọc doi cát vùng duyên hảiHương Phú được môi trường tự nhiên điều hoà, làm giảm bớt đi sự khắc nghiệt củahai mùa khí hậu trong năm Toàn xã lúc đầu chỉ là một vùng đất cát, nhưng conngười đã đến đây sinh sống và làm ăn được bởi là một vùng cát ẩm, không khônóng như những vùng đất khác, tạo điều kiện cho nhân dân trong việc đánh bắt vànuôi trồng thuỷ hải sản, thuận lợi trong việc trồng hoa màu, rau quả và đặc biệt

Trang 11

vùng quê nổi tiếng với nghề nấu rượu Tuy nhiên, con người ở đây cũng phải hứngchịu nhiều thử thách nghiệt ngã của môi trường tự nhiên đem lại Mùa hè chịu cáinắng gió của đại dương và hứng chịu luôn những trận bão cát, gió xoáy Nươngvườn, đồng ruộng, kênh rạch thường hay bị cát vùi lấp, ảnh hưởng trực tiếp đến câytrồng, độ màu của đất Các tháng 9, 10, 11 thường có bão, nước dâng làm nhà cửa,cây cối bị phá huỷ, đồng ruộng bị nhiễm mặn… làm ảnh hưởng trực tiếp đến đờisống con người và sự giao lưu với môi trường xung quanh Mùa mưa bão nơi đâynhư bán đảo chơ vơ giữa đại dương bao la.

1.1.4 Thuỷ văn

Với vị trí địa lí này, thiên nhiên đã ưu đãi cho Vinh Thanh nhiều điều kiệnthuận lợi để sinh tồn và phát triển Cánh đồng Trầm Niên, nguyên xưa là một conhói lớn, có đủ nước tưới, qua nhiều năm tháng nó đã bị bồi lắp cạn dần, con ngườikhai thác tạo nên những ruộng đồng Biển cả, đầm phá Tam Giang là nguồn tiềmnăng vô tận mà xưa nay cha ông ta đã khai thác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống củamình, một phần đáp ứng nhu cầu xã hội

1.1.5 Thổ nhưỡng

Xã Vinh Thanh có đất tự nhiên không nhiều, chủ yếu lại là cát và một phần

bị nhiễm mặn cho nên diện tích trồng trọt ít đến nay chỉ chiếm 40% diện tích toàn

xã Đất ở đây thuộc dạng địa hình bồi tụ có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài,phức tạp, do các trầm tích sông, biển, vùng vịnh hỗn hợp tạo thành Cùng với quátrình lắng đọng trầm tích do phù sa, gió bão đã làm cạn dần và thu hẹp diện tíchđầm phá Vùng biển cổ chưa bị vùi lấp hoàn toàn – mở rộng dần đồng bằng Hoạtđộng khai phá, cải tạo của con người lâu dài trong lịch sử đã tạo nên những cánhđồng gieo cấy lúa, nương, vườn trồng rau màu, cây cối xanh tốt bốn mùa ngay trênvùng quê cát và nắng gió Phần ruộng đất canh tác nằm chủ yếu ở cánh đồng TrầmNiên và các xứ đồng cạnh phá Tam Giang chạy dọc theo chiều dọc của làng baoquanh khu dân cư theo hướng Đông và Tây Đây là khu đồng chủ yếu dùng để gieocây lúa vì nó có độ màu mỡ hơn Số diện tích còn lại chủ yếu là đất cát pha hoặc cáttrắng được khai thác và sử dụng trồng rau màu các loại: khoai, sắn, thuốc lá, ớt…nhưng diện tích hoang hoá vẫn còn nhiều

1.1.6 Giao thông

Ở vào vị trí này, giao thông đường bộ thật cách trở, khó khăn nhưng đườngthuỷ lại vô cùng tiện lợi Từ xưa nhân dân Vinh Thanh cùng với các làng đã thiết

Trang 12

lập con đường đất chạy dài nối liền các xa vùng duyên hải với nhau để ngược lêncửa Thuận (phía Bắc) và xuôi về cửa Tư Hiền (phía Nam).

Về đường thuỷ, dựa vào phá Tam Giang, Vinh Thanh có thể đi về các ngã qua

hệ thống đò dọc đò ngang Từ bến chợ qua đò ngang sang Viễn Trình, theo huyện lộ

về thị trấn Hương Phú hay các xã bên kia phá; theo đò dọc về cửa Thuận An lên Huế,

ra Hương Điền, qua đầm đá bạc tiếp cận với quốc lộ 1A rồi toả về các hướng

Chính nhờ có hệ thống đường sông phát triển, tiện lợi mà từ xưa nhân dân ta

đã chú trọng việc giao lưu trao đổi buôn bán hàng hoá với cư dân các làng xã gần xatrong vùng ven đầm phá nói riêng và các xã miền đất Thừa Thiên Huế nói chung.Điều này đã góp phần cắt nghĩa tại sao chợ Hà Thanh (Vinh Thanh ngày nay) đượchình thành sớm và trở thành một trung tâm buôn bán khá phồn thịnh dưới thờiphong kiến Tuy nhiên, việc cách sông trở đò nhất là trong mùa mưa bão cũng đãảnh hưởng ít nhiều đến việc đi lại cũng như sự giao lưu phát triển kinh tế văn hoácủa địa phương

Với vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, đất đai… như vậy đã tạo cho xã VinhThanh những điều kiện thuận lợi nhất để phát triển kinh tế, nhất là các ngành khaithác thuỷ sản và cũng đặt ra cho con người nơi đây không ít khó khăn, thử thách

Trước hết, về kinh tế, xã Vinh Thanh có điều kiện để phát triển một cơ cấungành nghề khá phong phú gồm: nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp và cả thươngnghiệp Tuy đất đai canh tác ít, phần lớn là cát và cát pha, ruộng ít nhưng từ xưanhân dân ta đã khai thác, tận dụng đất đai để trồng lúa Đó là cánh đồng Trầm Niên,đặc biệt trước phá Tam Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, không bị ngăncách bởi gò cao hay đầm trũng hình thành những thửa ruộng liền bờ thuận lợi choviệc sử dụng máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp trong tương lai Địa hình VinhThanh có độ nghiêng dần từ Tây sang Đông nên cánh đồng trước phá cao hơn, hằngnăm thường gặp hạn gây trở ngại cho sự phát triển cây lúa Cánh đồng Trần Niêntrũng hơn bởi nguyên xưa là một con hói lớn, trải nhiều năm bị bồi lấp cạn dần, conngười khai thác tạo nên những ruộng đồng, ruộng cấy lúa nhưng độ màu kém, hiệntượng nhiễm mặn cũng đang xảy ra, năng suất thấp Ngày xưa làng quê chỉ toànruộng loại 3, 4 vì thế lúa gạo hiếm, thường không đủ cung cấp cho nhân dân trong

xã Hạt gạo được làm ra là cả một quá trình gian khổ của người nông dân chống lại

sự khắc nghiệt của tự nhiên

Tiếp đến, biên giới xã Vinh Thanh có chiều dài hơn 3km là biển, phía Tây làphá Tam Giang Ngoài những khó khăn, thử thách do sông, biển gây nên, người dân

Trang 13

Vinh Thanh từ buổi lập ấp đã biết khai phá nguồn lợi của biển, đầm phá, bắt nó phảiphục vụ cho cuộc sống của mình Dừng chân chọn mảnh đất nơi đầu sóng ngọn gió– giữa biển cả và sông lớn chứng tỏ cha ông ta đã sẵn sàng đón nhận những thửthách, khó khăn đồng thời cũng biết tìm cách chế ngự, khai thác nguồn lợi vô tậntrong lòng sông, biển Cùng với việc mở mang ruộng đồng, phát triển nghề nông,nghề đánh bắt cá và các loại thuỷ sản cũng ra đời Đặc biệt nhân dân Vinh Thanhcòn có kinh nghiệm lâu đời trong việc chế biến các loài sản vật thành một mặt hàngtrao đổi, buôn bán phong phú và quan trọng, để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầuđời sống nhân dân và làm giàu thêm cho quê hương Những năm gần đây, nhân dântrong xã đã từng bước củng cố và phát triển, tổ chức lại sản xuất theo phươnghướng mới, đưa dần năng suất và sản lượng đánh bắt cá hằng năm, đó là thế mạnhtrong sự phát triển kinh tế của xã từ xưa cho đến nay.

Kế với biển và cách khu cư trú khoảng 1km là bãi cát rộng thường gọi là khulạch sa, chiếm gần một nửa diện tích tự nhiên toàn xã với gần 400ha Ở đó, trướcđây có những rú cây tự nhiên rậm rạp Đó là nguồn cung cấp vật liệu, chất đốt quantrọng cho dân làng từ xưa, đồng thời nó cũng là bức rào thiên nhiên ngăn cản gióbão của biển cả, chắn cát bụi để bảo vệ ruộng đồng Mấy thế kỷ qua, do sự khaikhẩn của con người để mở mang đất cùng với sự tàn phá của chiến tranh, của bão

tố đã đẩy lùi dần cồn hoang, rú rậm, làm cho diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp đểchắn gió biển, bão cát, bảo vệ xóm làng, ngăn chặn nạn bồi lấp đồng ruộng Khu cáttrắng ven biển chính là tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, mang lại lợi ích lớn choquê hương cả về lĩnh vực bảo vệ và góp phần xây dựng

Tương lai không xa, khi chúng ta được trang bị phương tiện kỹ thuật tiêntiến, nghề khai thác thuỷ hải sản sẽ mang lại nguồn lợi lớn cho quê hương và gópphần làm giàu đất nước Ruộng đất không nhiều nhưng cũng đủ cho nhân dân trong

xã trồng cấy thâm canh, tăng vụ, đáp ứng phần lớn nhu cầu lương thực của mình.Bên cạnh những thuận lơi cơ bản đó, điều kiện tự nhiên và đặc điểm địa hình nàycũng gây cho Vinh Thanh những khó khăn lớn trong sản xuất, đặt ra những trở ngạitrong việc ổn định đời sống và xây dựng quê hương

1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

1.2.1 Tình hình kinh tế

1.2.1.1 Nông – lâm – ngư nghiệp

Ruộng đất công thuộc quyền quản lý của địa phương chiếm tỷ lệ nhỏ, không

có để quân cấp cho dân đinh cày cấy như nhiều thuộc địa phương khác Trong các

Trang 14

tờ khai về ruộng đất chịu tô thuế tời Gia Long không thấy nói đến bộ phận côngđiền, công thổ Có lẽ số ruộng đất công ít ỏi đã dành để cấp cho một số họ tộc cócông đầu trong việc khai phá lập ấp và các hội tập thể Chẳng hạn hai họ Nguyễn,Phan đều được mỗi họ 3 mẫu ở xứ Trầm Niên để chi phí cho việc thờ cúng tổ tiên

và cũng là các vị “tiền khai canh” của phường; đình, chùa cũng chỉ được cấp mỗinơi không quá 2 sào…

Điều đáng chú ý ở đây là ruộng đất khai phá tập trung, không có địa chủ lớn

và cũng không có sự manh mún 1 hoặc 2 sào như nhiều làng quê khác Theo thống

kê ruộng đất năm 1811, phường có 66 mẫu 1 sào 7 thước 5 tấc ruộng tư Cuối thế

kỷ XIX, ruộng đất tư phường có 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc 5 phân 2 ly

Trước sau làng bị nước mặn của biển cả, đầm phá bao bọc Đất đai nhiềunhưng độ màu mỡ ít nên làng sử dụng những cánh đồng trũng gần đầm lạch, tiệnnguồn nước hoặc bãi bồi trước phá có độ ẩm lớn, màu mỡ để cấy lúa Những cánhđồng cao không có nước được người dùng đôi thùng gánh nước để tưới cho cây lúa

Để khai thác hết đất đai, tăng thêm nguồn lương thực, người dân trồng thêmcác loại hoa màu: ngô, khoai, sắn, đậu mà nhiều nhất là khoai trên ruộng 1 vụ lúa đểvừa tăng thu nhập vừa cải tạo đất… Ngoài ra trong vườn nhà, đều được trồng cácloại rau quả, cây gia vị, cây ăn quả Những năm đầu thế kỷ XX, dân làng còn họcthêm nghề trồng dâu nuôi tằm nhưng không phát triển được nghề ươm tơ dệt vải lụa

mà phải bán tằm và kén cho làng Mỹ Lợi

Trước năm 1975, dân làng còn trồng cây thuốc lá cung cấp cho nhu cầu địaphương và các làng lân cận Nghề chăn nuôi chủ yếu là trâu bò lợn gà để hỗ trợ choviệc làm ruộng và cung cấp thực phẩm Theo thống kê của làng năm 1916, cả ấp khi

ấy có 201 gia đình nuôi được 39 con trâu, 63 con bò, bình quân hai nhà có 1 con.Lợn thì nuôi phổ biến hơn, hầu như gia đình nào cũng nuôi, có khi đến 5 – 6 con.Vinh Thanh là nơi cung cấp lợn giống cho nhiều làng xã trong tỉnh…

Bờ biển bãi ngang và phá Tam Giang rộng là ngư trường thuận lợi cho việcđánh bắt thuỷ hải sản Văn bản thời Vĩnh Thịnh đã nói đến nghề ngư trong xã Họdùng thuyền nhỏ bủa lưới hoặc đi câu cá ngoài biển Tuy nhiên, số lượng ngư dânchuyên nghiệp đánh bắt cá biển không nhiều, quy tụ lại thành một xóm nhỏ và trởthành những chủ ghe thuyền Ra đời sớm nhưng nghề ngư phát triển chậm

1.2.1.2 Thủ công nghiệp

Các tư liệu của làng cũng như ghi chép trong sử sách có nhắc đến nghề làmmuối khá phát triển của làng Những ruộng nào không trồng lúa được vì nhiễm mặn

Trang 15

thì cư dân tận dụng vào việc sản xuất muối Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chobiết, “Về thuế diêm đinh, làng Hà Thanh (Vinh Thanh ngày nay), huyện Hương Trà,năm Kỷ Sửu nộp 918 sọt muối, lễ 10 sọt; năm Quý Hợi nộp 850 sọt” Thuế diêmđinh ở đây chính là đánh vào các làng xã sản xuất muối dựa vào số đinh tham gia.Nhìn vào số thuế diêm đinh của làng phải nộp hàng năm cho chúa Nguyễn như thếthì có thể thấy người làm muối trong làng khá đông đảo.

Ngoài ra còn có một số nghề khác cũng có sự phát triển, phục vụ cho nhucầu của đời sống nhân dân như: thợ nề, thợ mộc, chằm nón…

1.2.1.3 Thương nghiệp

Việc lưu thông buôn bán chủ yếu được thực hiện trên tuyến đường thuỷ từ chợVinh Thanh đến các nơi với phương tiện thuyền đò Nhu cầu trao đổi sản phẩm giữanhân dân vùng ven biển với vùng đồng bằng chuyên làm ruộng, thủ công, vùng núiđặt ra sớm Các sản phẩm đa dạng của làng và vùng lân cận đã đáp ứng nhu cầu đó

Trước đây, nhiều thương nhân từ các tỉnh phía Nam theo đường biển ra vùngThuận Hoá, chở theo chum, vại, lu, om, vải, đường… tới trao đổi với dân làng vàcác xã xung quanh Điểm tụ tập, trao đổi, buôn bán diễn ra kề con hói trongphường, cũng là nơi để hình thành nên chợ làng sau này Trên cơ sở phát triển củanhu cầu trao đổi ngày càng lớn, năm 1813, các ông Trùm Lạch, Trùm Thuộc…đứng ra làm đơn xin lập chợ Hà Thanh (Vinh Thanh ngày nay) Chợ được họp ở vịtrí gần như trung tâm của xã, tiện lợi về giao thông “trên bến dưới thuyền” Chợ ởsát bên bờ phá Tam Giang, các thuyền buôn, đò chở khách từ các làng cập bến, rồilên chợ buôn bán và chợ sớm trở thành trung tâm buôn bán của cả một vùng, baogồm các làng xã lân cận

Ở thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII, nền kinh tế hàng hoá cả nước và trongvùng đang phát triển mạnh, hình thành các luồng buôn bán thường xuyên giữa cácvùng Đầu thế kỷ XIX, nghề buôn của làng phát triển hơn khi chợ ra đời Nhữnghàng nông sản, cây gia vị, chăn nuôi lợn, thuỷ hải sản và muối trở thành những mặthàng trao đổi chính Hơn nữa, ngoại thương của nhà nước suy yếu đã ảnh hưởngtrực tiếp đến sự phát triển của nghề buôn ở làng lúc này

1.2.2 Tình hình xã hội

1.2.2.1 Dân cư

* Về dân số và sự biến động dân số

Trải qua mấy trăm năm xây dựng và phát triển, từ một ấp với vài chục dânđịnh cư, nay Vinh Thanh trở thành một trong những xã lớn của huyện Phú Vang,với số dân trên 10.000 người, hơn một nửa số làm nghề buôn bán nhỏ

Trang 16

Buổi đầu lập làng, đại diện của hai dòng họ Nguyễn Công và Phan Bá đã kêugọi và khuyến khích bà con, họ hàng mình đi di dân khẩn hoang, vì thế dân cư lúcnày còn rấy thưa thớt, nhưng số dân di cư vào đã tăng dần theo cấp số nhân Đó làkết quả của tấm lòng cởi mở, nhiệt tình của cha ông ta, luôn sẵn sàng đón nhận, thunạp dân di cư từ các vùng, miền đến đây sinh sống, làm ăn Vì vậy mà mảnh đất nàyphát triển một cách nhanh chóng cả về dân cư lẫn lãnh thổ ở thế kỷ XIX Tờ khaidân số của Vinh Thanh vào năm 1813 cho biết, khi ấy Vinh Thanh chỉ có 21 dinh.Sau 5 năm từ năm 1819 số dân đinh của phường là 52 người, đến năm Tự Đức thứ

24 (1880) dân đinh các loại là 81 người Sang thế kỷ XX, tốc độ tăng dân số của xãrất nhanh, trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số mới hơn 1000 người 30năm sau – năm 1975 toãn xã có 6800 người Qua 3 đợt phân bố lại năm 1976, 1977,

1978, chi bộ và chính quyền đã vận động bà con đi xây dựng vùng kinh tế mới, vìvậy số dân giảm xuống còn 5700 người Những năm 1997, 1998 số dân của xã vượtquá con số 6000 người [2, tr 19 – 20] và cho đến nay tổng số dân của xã vượt tầm

10000 người Sự biến động dân số theo chiều tăng dần của Vinh Thanh là nguồn bổsung sức lao động cần thiết để khai thác xây dựng quê hương

* Về nguồn gốc dân cư và thành phần dân cư

Là những người dân đi theo chính sách khuyến khích di dân, khẩn hoang, lậplàng Vì vậy mà phần lớn cư dân xã Vinh Thanh trong buổi đầu đều có quê gốc từThanh Hoá vào Gia phả họ Nguyễn Công và Phan Bá đều cho biết, tổ tiên của họđều là người làng Thanh Đồng, tổng Ngọc Sơn, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.Các họ Trần, Đỗ, Lê, Huỳnh đều từ đất Thanh Hoá tới Tất nhiên, những người ra điđến đây vào những thời gian khác nhau và hoàn cảnh khác nhau Ngoài một sốngười là bộ khúc, nghĩa dũng đi cùng Nguyễn Hoàng được họ Nguyễn trọng dụng

và ưu đãi, còn phần đông là các gia đình nông dân nghèo bị chính sách thuế khoá,binh dịch của chính quyền Lê Trịnh làm cho kiệt quệ, đói khổ, xô đẩy đến conđường cùng, phải vượt biển vào Nam tìm kế sinh nhai, lập quê hương mới và trởthành tên gọi chính thức của xã nhà từ buổi đầu thành lập chính là để ghi nhớ về cốhương của mình

* Những biến động về địa giới, hành chính qua các thời kỳ

Việc gia tăng nhân khẩu là nguyên nhân, động lực đầu tiên thúc đẩy quá trình

mở mang lãnh thổ, tăng diện tích đất canh tác và nơi cư trú Châu bộ của làng chobiết, năm Gia Long thứ 11, riêng số ruộng tư của ấp là 66 mẫu [2, tr 20] Hằng nămcác gia đình trong ấp khai phá thêm, mở dần diện tích đất canh tác Năm 1995, tổng

Trang 17

diện tích đất tự nhiên của xã là 1253,85 ha Có thể nói sự biến động đất đai của xãtheo chiều hướng tăng dần trong các thời kỳ, nhưng tiềm năng của quê hương đangcòn nhiều, sự cạn dần của đầm phá, dãi đất ven biển cho phép người dân VinhThanh có thể mở rộng thên diện tích Thuận lợi này không phải ở đâu cũng có, thếnhưng thuở trước do chưa đủ nhân lực, điều kiện để khai thác hết đất hoang cũngnhư các nguồn lợi khác của tự nhiên ưu đãi, sự gia tăng diện tích, mở rộng diện tíchcanh tác của xã trong thời kỳ qua đã nói lên điều đó.

1.2.2.2 Quá trình tụ cư lập làng và tên gọi hành chính qua các thời kỳ

Làng Hà Thanh (Vinh Thanh ngày nay) được thành lập cuối thế kỷ XVI do 4

họ Nguyễn, Phan, Trần, Đỗ từ làng Thanh Đồng, huyện Nông Cống, tỉnh ThanhHoá vào khai canh kiến lập nên làng mang tên phường Hà Thanh Tên gọi này cónhiều ý nghĩa, Hà là sông, Thanh là xanh trong hoặc để chỉ xứ Thanh mà cha ông ta

đã từ đó ra đi Hà Thanh là làng bên con sông xanh trong hoặc làng ven sông từ xứThanh Hoá

Một xã đồng thời một làng, Vinh Thanh ngày đầu thành lập được gọi làng

Hà Thanh, trải qua mỗi thời kỳ khác nhau, tên gọi của làng – xã dường như cũng có

sự thay đổi nhằm phù hợp với điều kiện lich sử xã hội, chính vì lẽ đó mà dưới thờiphong kiến Vinh Thanh được gọi phường Hà Thanh, nhưng sang thời kỳ khángchiến chống Pháp làng Hà Thanh đượcc sáp nhập vào quận Vinh Lộc và được gọi là

xã Phú Ngạn Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ - tức dưới thời Ngô Đình Diệm.Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng Chính quyền cách mạng được thiết lậptrên cương vực và cư dân như cũ, tên gọi Hà Thanh chính thức đổi thành xã VinhThanh, tức xã Vinh Thanh đã được tách ra từ Phú Ngạn (Vinh Xuân, Vinh Thanh,Vinh An)

Mặc dù có sự thay đổi về tên gọi, nhưng đến nay làng Hà Thanh vẫn giữnguyên cương vực và đã trở thành một làng độc lập với tên gọi làng Hà Thanh – xãVinh Thanh

Xã Vinh Thanh được thành lập sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng

Đó chỉ là sự đổi tên của phường Hà Thanh thời phong kiến hay xã Hà Thanh trướcđây Như thế, trong lịch sử hình thành Vinh Thanh vừa là xã đồng thời cũng là mộtlàng với cương vực và cư dân ngày càng phát triển nhưng không có biến động lớn

Đó là một nhân tố tạo nên sự phát triển thống nhất, mối liên hệ chặt chẽ trong cộngđồng cư dân về tâm lí tình cảm biểu hiện phong tục tập quán, sinh hoạt văn hoá và

cả trong hoạt động kinh tế Trải qua mấy trăm năm xây dựng và phát triển, từ một

Trang 18

ấp với vài chục dân đinh nay Vinh Thanh trở thành một trong những xã lớn củahuyện Hương Phú Hơn nữa, số lao động là nông dân tập thể, số còn lại là ngư dân,thợ thủ công và một số làm nghề buôn bán nhỏ Sự phát triển của Vinh Thanh ngàynay là sự kế thừa, tiếp tục quá trình hoạt động của tập thể cư dân mà cha ông đãtừng gắn bó với nhau trong suốt chặng đường khai phá, tạo dựng quê hương Từmột địa bàn hẻo lánh nằm kề bên biển và phá Tam Giang, cồn hoang, sú vẹt baophủ, cha ông ta đã chung sức lao động, bám trụ, làm chủ mảnh đất gây dựng, pháttriển phường ấp mấy trăm năm nay.

Trang 19

CHƯƠNG 2 PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN

XÃ VINH THANH GIAI ĐOẠN 1930 – 1939

2.1 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Vinh Thanh trước năm 1930

2.1.1 Chính sách tô thuế và đời sống nhân dân

Xã Vinh Thanh tuy thành lập không sớm, nhưng từ lâu nó đã trở thành đơn

vị thống trị và bóc lột của nhà nước phong kiến Hai nguồn thu quan trọng của nhànước cũng như loại thuế chính mà chính quyền bổ cho các đơn vị cơ sở là thuế đinh

và thuế điền

Về thuế đinh, theo số thuế của làng lập ngày 25 tháng 10 năm Gia Long thứ

18, dân số của xã ta phải nạp thuế là 37 người phân thành nhiều loại khác nhau:hạng tráng hạng lính mỗi người 1 quan 4 tiền, hạng dân thường mỗi người 1 quan,hạng dân đinh 7 tiền, hạng không đủ cũng 7 tiền [2, tr 43 – 44]

Như vậy theo nguyên tắc của Nhà nước, thuế đinh đánh theo từng hạngngười dựa trên cơ sở kinh tế là chủ yếu Ngoài mức thuế chính, nhà nước còn đặtthêm lệ nộp tiền dầu đèn, đây mây cả phường là 3 quan hai tiền 30 đồng [2, tr 44].Theo lệ này, tất cả dân đinh đều phải đóng thuế, các lão nhiêu từ 60 tuổi trở lênđược miễn, những người nghèo khổ, không có đất đai tài sản, cuộc sống quá túngquẩn trong sổ liệt vào hạng bần cùng với được miễn thuế Quan viên và binh línhđược ưu tiên miễn thuế và sưu Dân số trong phường càng gia tăng thì số thuế đinhcũng tăng lên dần Theo các tài liệu còn lưu lại, bình quân hằng năm mỗi dân đinhphải nộp hơn một quan tiền thuế thân Mức thuế theo từng hạng ít biến đổi qua cácthời kỳ Tháng có năm mất mùa nặng, đói kém, nhà nước mới ban lệnh cho giảmmột phần nào Ví dụ năm 1835, theo quy định, thực nạp dân hàng huyện của xã ta là

73 người với số tiền 79 quan 8 tiền [2, tr 44] Mất mùa, Minh Mạng xuống chiếucho được miễn khoản đóng góp cho lính hương cũng 6 quan 6 tiền và miễn giảmthuế đinh 5/10 nên chỉ phải nạp 36 quan 6 tiền Khoảng thuế này nhà nước căn cứvào sổ đinh của phường để bổ thuế, hằng năm có tăng, giảm thì bổ sung, sửa đổi.Việc tổ chức thu thuế như thế nào hoàn toàn do địa phương quy định.Trong nhữngthập kỷ đầu, khi phường còn có ruộng đất công, khoản thuế này có lẽ do tập thể lấyhoa lợi từ đó mà đóng góp luôn, giống như nhiều làng xã khác Năm mất mùa đóikém, không đủ để nộp thuế thì phường phải bán dần công điền đi Trong châu bộ

Trang 20

của làng nay vẫn còn lưu được những tờ đơn xin bán ruộng công của phường vàocuối thế kỷ XVIII Đó là một nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ruộng đất công bị thuhẹp dần và sang đầu thế kỷ XIX không còn nữa Từ đó về sau thuế đinh và điền đều

bổ về các gia đinh tự lo toan gánh vác

Ngoài thuế đinh, người nông dân còn phải đóng một khoản nặng nề là thuếđiền đánh vào tư liệu sản xuất chính là ruộng đất Căn cứ vào bộ điền của làng cóphân thành các hạng, các nhà nước bổ thuế Chính quyền cấp trên không trực tiếp thutừng chủ ruộng mà giao cho đội ngũ quản lí xã thôn đứng đầu là xã trưởng hay lítrưởng chịu trách nhiệm thừa hành công việc này Họ đôn đốc, bắt ép bằng mọi hìnhthức để buộc mọi người trong làng phải làm trọn nghĩa vụ tô thuế Có hiện tượng lýtrưởng, ngũ hương cùng với lão hạng và dân phường xã ẩn dấu bớt đinh và điền để

đỡ gánh nặng cho dân và đội ngũ lý hương cũng có điều kiện kiếm chác đựơc Vàithế kỷ trước, ruộng đất ở quê ta không ít so với số dân lúc ấy nhưng vì đất đai khôngmàu mở, không có nhất, nhị đẳng điền Mức thuế đóng đều là ruộng loại 3, 4 nhưngnăng suất lúa thấp hơn lượng thuế đó vẫn là quá nặng đối với người cày ruộng Mặckhác, phần đông người nghèo quê ta không có ruộng, phải lĩnh canh, cày thuê của cácchủ ruộng mà mức thu sản phẩm của họ tất nhiên phải lớn hơn mức thuế họ nộp chonhà nước Thu nhập của người nghèo quá ít ỏi nên đời sống thấp Hằng năm nhân dân

ta phải đóng góp khoản thóc và tiền thuế ruộng đất khá lớn Riêng năm 1891, cả ấpchỉ có 115 mẫu 3 sào 11 thước 9 tấc 5 phân ruộng đất tư, trong đó ruộng tư 98 mẫu 3sào 5 thước 2 tấc 5 phân 2 ly toàn là loại 3 và 4 mà phải nạp cả thảy 1689 thăng 3 hợp

6 đấu thóc cộng thêm 29 quan 5 tiền 1 đồng; đất tư có 17 mẫu 6 thước 7 tấc, tiền thuếphải nạp 18 quan 7 tiền 30 đồng Đó là con số ghi trên sổ sách, thực tế có khi nhândân phải đóng góp nhiều hơn vì sự tham nhũng của quan lại, nhân dân thu thuế, của

lý hương ở xã thôn… Vì tô thuế nặng nề đã làm cho đời sống của nhân dân quê tacũng như nhiều vùng quê thuở đó đói khổ, túng thiếu [2, tr 45]

Ngoài thuế đinh và điền là hai khoản đóng góp lớn nhất, nhà nước còn đặtthêm nhiều khoản phụ thu thóc bóc lột nhân dân và đặt ra nhiều thứ thuế đánh vàomọi nghề làm ăn Ở quê ta, những người làm nghề đánh bắt cá trên sông, biển, chínhquyền chúa Nguyễn và triều Nguyễn sau này căn cứ vào số thuyền, số lưới để địnhmức thuế bằng tiền và nước mắm hằng năm Lê Quý Đôn cho biết, dưới thời các chúaNguyễn “các xã ven biển trấn Thuận Hoá gián hoặc có xã theo nghề đánh cá thì chiếutheo thuế mắm Lấy số người và lấy có lưới hay không có lưới làm chuẩn Hạngtráng, người có lưới nộp thuế mắm 4 chỉnh, người không có lưới 3 chỉnh”

Trang 21

Những năm thời tiết thất thường, nghề ngư thu hoạch kém, dân thường phảixin miễn thuế Năm Vĩnh Thạnh thứ 17 (1721) dân phường làm đơn xin miễn thuếngư chính quyền cấp trên phải chấp nhận Sang thế kỷ XIX dưới triều các vua triềuNguyễn, hằng năm, dân quê ta vẫn phải nộp thuế bằng nước mắm hoặc bằng tiền đểgóp phần cung ứng cho quan lại các cấp trong và ngoài triều Năm Gia Long thứ 6(1807) và thứ 7 (1802) ngư thuế ấp Hà Thanh là 10 chỉnh nước mắm, thay đổi chỉnhnộp 8 tiền Mười năm sau, năm 1817 mức thuế này vẫn là 10 chỉnh.Như thế lệ đánhthuế khá ổn định Ngoài thuế đánh vào những người làm nghề ngư nói chung,những gia chủ có thuyền chài, nhà nước đặt lệ thu riêng Theo tài liệu còn lưu lại,năm Minh Mạng thứ 15 (1834) và 16 (1835) ấp Hà Thanh có hai thuyền chài, mỗichiếc phải đóng thuế 1 quan 4 tiền 24 đồng và thuế mắm 5 hủ, mỗi hủ nộp thaybằng tiền là 8 tiền Cộng cả thảy 10 quan 8 tiền 48 đồng [2, tr 46] Trong điều kiệnlàm ăn của ngư dân bấp bênh, phương tiện thô sơ, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên thì

sự đóng góp các khoản thuế ngư, thuế đinh và phụ thu thóc cộng lại đã là con sốlớn, quá nặng Điều đó không những làm cho đời sống của ngư dân thêm phần khókhăn và một phần cũng ảnh hưởng đến sự phát triển mở rộng của nghề này

Những người làm nghề buôn bán nhỏ cũng phải nộp thuế Do có nhữngthuận lợi nhất định mà ngay từ hồi thế kỷ XVII, nghề buôn bán muối rất phát triển ởquê ta Dù sao cũng đã ghi nhận một thục tế, nghề buôn muối đã có thời rất phát đạttrên mảnh đất này mà các thời gian sau không có nữa Thế kỷ XIX, ấp chúng ta vãnphải buôn bán nhưng ít đi nhiều chắc vì nghề này đã quá sa sút Năm 1837 thuếbuôn bán ở xã ta theo quy định là 4 quan, tiền được nhà nước miễn cho một nửa

Như vậy, suốt mấy thế kỷ hình thành và phát triển dưới thời phong kiến nhândân quê ta bất cứ làm nghề gì, giàu hay nghèo đều phải gánh vác nghĩa vụ tô thuếvới nhà nước Chỉ có đội ngũ quan lại, binh lính, những người trực tiếp bảo vệ chế

độ đó mới đựơc ưu tiên miễn thuế đinh Cùng với tô thuế, nghĩa vụ binh dịch, sưudịch cũng là gánh nặng đè lên cuộc sống mỗi con người Hằng năm, tất cả các dânđinh đều phải có nghĩa vụ đi phu phen tạp dịch để xây dựng đường sá, thành quách,lăng tẩm và phục vụ trong các cung, phủ… với số ngày quy định chung Nhiềungười vì phải lao động nặng nhọc ở đây “rừng thiêng nước độc” ăn uống thiếu thốn

đã đau ốm, bệnh tật thậm chí có người phải giữ lại nắm xương tàn nơi “đất kháchquê người” Bên cạnh đó, nạn bắt lính cũng trở nên nỗi lo âu đối với bao thanhniên,trai tráng Số dân phường ấp chúng ta không đông nhưng thời nào cũng thấy sốngười tại ngũ khá lớn Năm 1819, dân trong phường chỉ có 48 người, trong đó đã có

Trang 22

11 người vừa là lính hoặc đội trưởng, ngũ trưởng Ngoài đóng góp sức người làng

áp còn phải gánh vác nghĩa vụ quân lương nuôi số binh lính đó Tất cả các khoảnnghĩa vụ: tô thuế, sưu dịch, binh dịch đều đè lên vai người lao động nghèo khổ.Nhàn giàu con cái họ không bao giờ phải đi lính đi xâu Nếu có nhập quân đội họcũng lo lót để được ưu tiên cất nhắc làm chỉ huy, hưởng quyền ưu đãi

Dưới ách thống trị của thực dân phong kiến đời sống nhân dân ngày càng khổcực hơn bởi sưu cao thuế nặng, phu phen tạp dịch càng nhiều Các nghề làm ăn chínhcủa cư dân quê ta như nông, ngư đều thuộc vào thiên nhiên mà thiên tai thì thườngxuyên đe doạ làm cho nguồn thu nhập của ngưòi lao động vốn ít ỏi lại bấp bênh, đónggóp nhiều nên đời sống của phần đông các gia đình trong ấp khó khăn, túng thiếu.Nhiều nhà thu hoạch không đủ nộp tô thuế nên nợ nần, trốn thuế, trốn lính xảy ra

Ngoài khoản đóng góp cho nhà nước, mỗi dân đinh, chủ hộ còn phải có nghĩa

vụ với công việc xã, thôn, xóm Mỗi năm có biết bao ngày tế lễ, đình đám, hội hè của

xã mà mọi chi phí vật chất đều rất lớn Xây đình, lập miếu, tu sửa đền, chùa và cáccông trình công cộng khác đều cần tiền, thóc, lao động Khổ nỗi quê ta không cònruộng đất công như nhiều nơi khác, nên mọi khoản đều bắt dân góp, dân làm

Tất cả các khoản đóng góp trên cộng với sự đè nén bóc lột của quan lại, địachủ, cường hào, sự khó khăn của sản xuất làm cho đời sống người dân qua ta nhữngthế kỷ dài dưới thời phong kiến và sau đó là thực dân phong kiến thống trị vô cùngcực khổ, khó khăn Người lao động lam lũ quanh năm nhưng ăn vẫn không đủ no,mặc không đủ ấm Cuộc sống túng thiếu nên nhà ở chỉ là những túp lều tranh, váchđất Nhà giàu mới “lợp ngói lõi mít” Đồ dùng trong nhà cũng mộc mạc, đơn sơ phầnnhiều bằng tre nứa, đun nấu, đựng bằng sản phẩm gốm Nồi đồng, mâm thau là củađắt, thường nhà khá giả mới sắm được Bữa ăn hằng ngày của người dân quê ta tuykhông sung túc nhưng có nguồn thuỷ sản nên cũng không quá thanh đạm Cá, tôm,cua và nhiều sản vật ở biển, đầm phá cùng các chế phẩm của nó: ruốc, nước mắm,các loại mắm… là món ăn thường ngày giàu đạm, đảm bảo chất bổ Gạo thóc khôngnhiều nên ăn thêm màu: khoai, sắn, bắp… trong bữa ăn hằng ngày cũng trở nên bìnhthường Mức sống của dân làng không đồng đều, nhìn chung người lao động cầnmẫn, lam lũ quanh năm nhưng do sưu cao thuế nặng, thiên tai gây mất mùa, sự bóclột của quan lại địa chủ cường hào… ngày càng nặng nề thâm hiểu nên phần đôngtúng thiếu Thiếu và đói là că bệnh xảy ra thường xuyên đối với cư dân làm nôngcũng như làm ngư Đó cũng là khung cảnh chung của nhiều làng quê cả nước trongthời kỳ khủng hoảng của chế độ phong kiến và sự thống trị của thực dân Pháp

Trang 23

2.1.2 Truyền thống đấu tranh và phong trào yêu nước chống áp bức giai cấp và

kẻ thù dân tộc

Trong lịch sử phát triển của dân tộc ta, quá trình dựng nước và giữ nước baogiờ cũng gắn chặt với nhau Cha ông chúng ta vừa phải đấu tranh bền bỉ để chế ngựthiên nhiên xây dựng quê hương, đồng thời luôn luôn phải chiến đấu chống kẻ thùngoại xâm nhằm bảo vệ đất nước và cũng là để bảo vệ quê hương mình

Vào những năm cuối thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến ở cả Đàng Trong vàĐàng Ngoài đều đã lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc Chính sách thống trị của cáctập đoàn phong kiến đã xô đẩy các tầng lớp nhân dân lao động đến con đường cùng.Mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, làm bùng nổ phong trào khởi nghĩa nông dânrộng khắp mà đỉnh cao và tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởinghĩa đã nhanh chóng phát triển trở thành phong trào có quy mô toàn quốc Nhândân các làng quê Vinh Thanh cũng đã vùng dậy góp phần nhỏ xứng đáng vào phongtrào chung đó của nhân dân cả nước lật nhào các tập đoàn phong kiến phản động,lập lại nền thống nhất nước nhà và tham gia tích cực, sôi nổi vào công cuộc giữnước vĩ đại Phát huy truyền thống của quê hương và dân tộc khi thực dân Phápxâm lược, thống trị nước ta, bao lớp chiến sĩ đã đứng lên chống giặc Từ những nămcuối thế kỷ XIX, khi vua Hàm Nghi rời kinh đô Huế, ban hịch Cần Vương, kêu gọinhân dân đứng lên chống Pháp, nhân dân xã ta cùng với nhiều vùng quê trên đấtBình Trị Thiên ngày nay là những nơi hưởng ứng sớm nhất Tiếp sau còn có nhiềungười hưởng ứng và ủng hộ phong trào, vì sự tham gia nhiệt tình của nhân dântrong phong trào này cho nên sau đó chính quyền thực dân phong kiến đã tìm cáchtrả thù, chúng thực hiện nhiều chính sách sưu cao thuế nặng một cách nặng nề

Do chính sách áp bức, bóc lột trên qui mô lớn của thực dân Pháp, tính chất

xã hội Việt Nam thay đổi, từ xã hội phong kiến đã chuyển sang xã hội thuộc địa nữaphong kiến Cùng với quá trình chuyển biến đó là quá trình bần cùng hóa và phá sảncủa đông đảo nhân dân lao động mà trước hết là nông dân Phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc ở nước ta tiếp tục phát triển theo khuynh hướng mới Phong trào yêunước do các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo mà tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh đã ảnh hưởng trực tiếp đến vùng đất Vinh Thanh Nhân dân ta đã hưởng ứngtích cực và tham gia các phong trào yêu nước sôi động của dân tộc lúc bấy giờ Khiphong trào chống thuế nổ ra sôi nổi rộng khắp các tỉnh miền Trung Khí thế đấutranh sổi nổi khắp các làng đã khích lệ sâu sắc truyền thống yêu nước của nhân dân,thôi thúc họ đấu tranh đòi chính quyền thực dân phong kiến phải hủy bỏ chính sáchsưu cao thuế nặng và chế độ bóc lột hà khắc

Trang 24

Xuất phát từ nguồn gốc là những người nông dân nghèo từ đất Bắc di cư vào,sớm phải trải qua cuộc sống tha hương li tổ, chống chọi với bao trở lực của thiênnhiên và con người Hơn ai hết nhân dân Vinh Thanh đã nhận thức được sức mạnhcủa tình thương yêu, cảm thông, chia sẻ và đoàn kết lẫn nhau Chính điều này đãgiúp họ vượt qua tất cả Tình yêu quê hương gắn liền với đất nước đã khién nhândân nơi đây sẵn sàng đứng lên đấu tranh chống áp bức giai cấp và kẻ thù dân tộc, vì

sự nghiệp chung và vì cả quê hương mình [9, tr 13]

Gần 4 thế kỷ qua, bao thế hệ con cháu đã nối tiếp nhau làm chủ mảnh đất yêuthương, đã từng thấm mồ hôi và nước mắt của tổ tiên mình, cuộc sống lao độnggian khổ của các thế hệ đã viết nên những trang sử thầm lặng, nhưng không kémphần vẻ vang, tạo nên những truyền thống quý báu, tinh thần lao động cần cù,truyền thống đoàn kết đã được chiều dài thời gian thử thách và hun đúc nên Đó làcội nguồn, là sức mạnh tạo nên sức bật của quê hương trong giai đoạn mới

2.2 Phong trào đấu tranh của nhân dân Vinh Thanh giai đoạn 1930 – 1939 2.2.1 Tình hình chung

Phong trào cách mạng Việt Nam, sau ngày thành lập Đảng 3 – 2 – 1930 đãphát triển vượt bậc, rộng khắp cả nước Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng nhân ngàythành lập, một phong trào đấu tranh lan rộng khắp toàn quốc, thu hút đông đảo mọitầng lớp nhân dân tham gia mà đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh Nó như mộttiếng sét giáng vào đầu thực dân Pháp xâm lược và bè lũ phong kiến tay sai, làmchúng hoảng hốt, khiếp sợ phải thẳng tay đàn áp, “Khủng bố trắng” phong trào cáchmạng Bắt bớ, giam cầm các chiến sĩ cộng sản cũng như ra sức tuyên truyền, lừa bịpquần chúng nhân dân, xuyên tạc các chiến sĩ cộng sản Mặt khác, nó như một làngió mát thổi đến, đem lại niềm tin vững chắc cho giai cấp nông dân vào sự lãnh đạocủa Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng

Ở miền Trung, nơi phải chịu đựng hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân Pháp

và phong kiến Nam Triều, phong trào cách mạng cũng diễn ra sôi nổi, rầm rộ Quầnchúng nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động không thể chịu dựng nỗi ách ápbức bóc lột tàn bạo của kẻ thù, đã theo Đảng vùng dậy đấu tranh một cách quyếtliệt Ở Vinh Thanh, thời kỳ này, đời sống kinh tế cũng như chính trị, xã hội gặp rấtnhiều khó khăn Người nông dân Vinh Thanh cũng như đa số nông dân Việt Namđều có rất ít ruộng hoặc không có ruộng Tuy ở đây, trong thời phong kiến, có mộtđặc điểm riêng là tầng lớp địa chủ không phổ biến, song không vì thế mà ngườinông dân ít bị bóc lột mà mặt khác chứng tỏ rằng bình quân ruộng đất ở đây khôngcao Cũng chịu chung số phận của người nông dân mất nước, bị bóc lột nặng nề

Ngày đăng: 13/11/2014, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang (1999), Đảng bộ huyện Phú Vang 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930 – 1995), Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ huyện Phú Vang 65 nămđấu tranh và xây dựng (1930 – 1995)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
2. Ban Nghiên cứu lịch sử làng Vinh Thanh, Lịch sử xã Vinh Thanh từ khi thành lập đến cách mạng tháng Tám, tập 1(Viết tay) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử xã Vinh Thanh từ khi thành lậpđến cách mạng tháng Tám
3. Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, tập I (1930 – 1954), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Thừa ThiênHuế, tập I (1930 – 1954)
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1995
5. Trần Bá Đệ (1992), Lịch sử Việt Nam 1930 – 1945, Trường đại học Sư phạm I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam 1930 – 1945
Tác giả: Trần Bá Đệ
Năm: 1992
6. Hồ Chí Minh (1960), Tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1960
7. Trần Huy Liệu (1976), Ngọn cờ giải phóng, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọn cờ giải phóng
Tác giả: Trần Huy Liệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1976
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2005), Địa chí Thừa Thiên Huế, Phần Lịch sử, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí Thừa Thiên Huế
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2005
9. Nguyễn Thị Nga, Tìm hiểu di tích lịch sử văn hoá xã Vinh Thanh, Niên luận năm 3 (2004), trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu di tích lịch sử văn hoá xã Vinh Thanh
Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Tìm hiểu di tích lịch sử văn hoá xã Vinh Thanh, Niên luận năm 3
Năm: 2004
10. Nguyễn Thị Thuỳ Nhung, Công cuộc đổi mới và phát triển quê hương xã Vinh Thanh giai đoạn 1986 – 2008, Niên luận năm 3 (2007), trường Đại học Khoa học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc đổi mới và phát triển quê hương xã Vinh Thanhgiai đoạn 1986 – 2008
Tác giả: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung, Công cuộc đổi mới và phát triển quê hương xã Vinh Thanh giai đoạn 1986 – 2008, Niên luận năm 3
Năm: 2007
4. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Thừa Thiên, Sơ thảo Lịch sử cách mạng tháng Tám Thừa Thiên Huế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ(Xã Vinh Thanh) - phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945
Hình 1 Bia tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ(Xã Vinh Thanh) (Trang 41)
Hình 2: Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ (Xã Vinh Thanh) - phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945
Hình 2 Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ (Xã Vinh Thanh) (Trang 41)
Hình 3: Ông Hoàng Châu, thôn 5, xã Vinh Thanh Nguồn: Lê Thị Trang (ngày chụp: 07/04/2014) - phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945
Hình 3 Ông Hoàng Châu, thôn 5, xã Vinh Thanh Nguồn: Lê Thị Trang (ngày chụp: 07/04/2014) (Trang 42)
Hình 4: Ông Hói, thôn 2, xã Vinh Thanh Nguồn: Lê Thị Trang (07/04/2014) - phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945
Hình 4 Ông Hói, thôn 2, xã Vinh Thanh Nguồn: Lê Thị Trang (07/04/2014) (Trang 43)
Hình 5: Chùa Hà Thanh (xã Vinh Thanh) Nguồn: Lê Thị Trang (Ngày chụp: 07/04/2014) - phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân xã vinh thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế giai đoạn 1930 – 1945
Hình 5 Chùa Hà Thanh (xã Vinh Thanh) Nguồn: Lê Thị Trang (Ngày chụp: 07/04/2014) (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w