Trớc yêu cầu mới của lịch sử dân tộc và các phong trào đấu tranh, đặcbiệt là trớc ảnh hởng của cách mạng Trung Quốc và cách mạng tháng MờiNga vĩ đại, các tổ chức cách mạng đã ra đời trên
Trang 1Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của Cô giáo Th.S Dơng Thị Thanh Hải, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử và sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo hớng dẫn và xin gửi đến các thầy cô giáo, các bạn sinh viờn lời cảm ơn chân thành nhất.
Vinh, 5/2010
Trang 21.3 Văn hóa- giáo dục- truyền thống đất Nghệ An 16
1.4 Các cuộc đấu tranh của Nghệ An trớc những năm 20 của thế kỷ XX 19
Chơng 2: Phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An tù 1920- 1925
Trang 4A Dẫn luận
1.Lý do chọn đề tài
Nghệ An là một vùng đất có truyền thống yêu nớc đấu tranh chống cácthế lực xâm lợc từ ngàn đời nay Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dântộc ta, Nghệ An luôn đợc coi là nơi “phên dậu” của nớc nhà Nơi đây đã ghidấu những chiến công hiểm hách của nhân dân trong những ngày chống quânTống, Nguyên Mông, giặc Minh, giặc Thanh…
Trải qua hàng chục thế kỷ, dới chế độ phong kiến, nông dân Nghệ An đãliên tục nổi dậy ủng hộ các anh hùng dân tộc đánh bại nhiều thế lực xâm lợc
và bọn phong kiến bán nớc
Nửa sau thế kỷ XIX, phong trào yêu nớc chống Pháp ở Nghệ An lại diễn
ra một cách mạnh mẽ quyết liệt dới các hình thức đấu tranh vũ trang của vănthân sĩ phu mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Trần Tấn,
Đặng Nh Mai Đến những năm đầu của thế kỷ XX, dới ảnh hởng của Tân th,Tân văn và phong trào dân chủ t sản ở Trung Quốc và Nhật Bản, sĩ phu yêu n-
ớc tiến bộ đã vợt qua hạn chế của giai cấp mình tiếp thu những t tởng mới đó
Đại diện tiêu biểu đó chính là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Thời điểmnày, một con đờng cứu nớc mới đã đợc truyền bá vào Việt Nam- con đờng cứunớc theo khuynh hớng dân chủ t sản Tại Nghệ An, lớp văn thân, sĩ phu nhanhchong tiếp nhận t tởng mới và phát triển phong trào Đông Du, chống thuế…thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia
Trớc yêu cầu mới của lịch sử dân tộc và các phong trào đấu tranh, đặcbiệt là trớc ảnh hởng của cách mạng Trung Quốc và cách mạng tháng MờiNga vĩ đại, các tổ chức cách mạng đã ra đời trên phạm vi cả nớc Ngay trênquê hơng Nghệ An các tổ chức cách mạng ra đời: Tân Việt Cách mạng Đảng
và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Trớc sự lãnh đạo của 2 tổ chức cáchmạng phong trào chống thực dân Pháp xâm lợc ở đây đã diễn ra một cách sôinổi, mạnh mẽ và góp phần cho sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam
Tuy nhiên, cho đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống và toàn diện về phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An trongnhững năm 20 của thế kỷ XX Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài:
Trang 5“Phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An trong những năm 20 của thế kỷXX”.
Về mặt khoa học: Đề tài làm sáng rõ bức tranh toàn cảnh về phong tràoyêu nớc chống Pháp của nhân dân Nghệ An trong những năm 20 của thế kỷ
XX Từ đó thấy đợc đóng góp to lớn của nhân dân Nghệ An trong phong tràochống Pháp của dân tộc Đồng thời thấy rõ mối quan hệ của lịch sử địa phơngvới lịch sử dân tộc, nét đặc trng của lịch sử địa phơng trong lịch sủe dân tộc
Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần quan trọng trong việc giáo dục, truyềnbá t tởng yêu nớc, truyền thống đấu tranh cách mạng cho các tầng lớp nhândân, nhất là tầng lớp trẻ Nghệ An Đồng thời đây còn là nguồn tài liệu thamkhảo bổ ích cho mỗi ngời con xứ Nghệ, cho việc biên soạn lịch sử địa phơngNghệ An
2 Lịch sử vấn đề
Về phong trào yêu nớc nà cách mạng ở Nghệ An trong những năm 20 củathế kỉ XX đã đợc đề cập đến trong mộ số sách, báo, tạp chí, các công trìnhnghiên cứu dới đây
Một số công trình mang tính khảo cứu chung về phong trào yêu nớc vàcách mạng, có đề cập ít nhiều đến phong trào yêu nớc ở Nghệ An nh: “Lịch sử
80 năm chống Pháp” của Trần Huy Liệu; “ Lịch sử Việt Nam đại cơng”, tập 2của Đinh Xuân Lâm; “Tài liệu tham khảo lịch sử Việt Nam cận đại” của TrầnHuy Liệu; “Tân Việt Cách mạng Đảng trong cuộc vân động thành lập Đảngcộng sản Việt Nam” của Đinh Trần Dơng; “Các tổ chức tiền thân của Đảng”của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng; “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chíhội” của nhà xuất bản Thông tin
Đặc biệt phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An còn đợc đề cập
đến trong “Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Nghệ Tĩnh”, (sơ thảo, tập
1,1925-1954, NXB Vinh,1978); “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An”, (tập 1, 1930-1,1925-1954, NXBgiáo dục quốc gia,1998); Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam cáchuyện nh: Nam Đàn, Thanh Chơng, Nghi Lộc, Diễn Châu cũng phần nào phản
ánh về phong trào đấu tranh trong giai đoạn này
Chúng ta có thể tiếp cận với phong trào này qua các cuốn viết về lịch sửcủa phờng nh: “Vinh- Bến Thuỷ”, (NXB văn hoá Hà Nội,1984); “Lịch sử ph-
Trang 6ờng Trờng Thi”, (sơ thảo, NXB Nghệ An); “Lịch sử xã Hng Lộc”, (NXB NghêAn,1997); “Lịch sử phờng Hồng Sơn”, (NXB Nghệ An,1993 ); “Phờng BếnThuỷ lịch sử đấu tranh cách mạng”, (NXB Nghệ An).
Ngoài ra, đã có một số luận án, khóa luận có liên quan tới phong tràochúng tôI lựa chọn:
- Luận văn “Phong trào xuất dơng ở Nghệ Tĩnh trong 30 năm đầu thế kỉXX”của tác giả Nguyễn Thị Hà, 1995
- Luận văn “Sự hình thành của đội ngũ công nhân Vinh- Bến Thủy trớcnăm 1930” của tác giả Nguyễn Thanh Bình, 1977
- Luận văn “Hoạt động của tổ chức Tân Việt trong công nhân khu vựcVinh- Bến Thủy” của tác giả Đinh Lơng, 1976
Trong một số bài tạp chí nghiên cứu lịch sử Đảng, tạp chí nghiên cứu lịch
sử, những vấn đề lịch sử và địa lý Nghệ- Tĩnh từ những năm 1985 đến naycũng đề cậpitsn nhiều đến phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An
Trớc hết là 2 bài viết của Đinh Trần Dơng đợc dăng trên tạp chí nghiêncứu lịch sử:
- “Nghệ Tĩnh với ngon cờ giải phóng dân tộc những năm trớc sau 1930”,
1925-Các bài nghiên cứu khác nh:
- “Phan Bội Châu với cuộc vận động đồng bào thiên chúa giáo ở đầu thế
Trang 7- Những vấn đề lịch sử và địa lý Nghệ Tĩnh, số 4, 1990.
Nhìn chung trong một chừng mực nhất định, các công trình nghiên cứutrên đã nêu lên những nét khái quát về lịch sử phong trào chống thực dân Phápcủa nhân dân Nghệ An trong những năm 20 của thế kỷ XX với những biểuhiện ở những mức độ khác nhau Các nhận xét, phong trào đấu tranh, hìnhthức đấu tranh, ý nghĩa của phong trào Tuy nhiên, vẫn cha có một công trìnhnào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quá trình chuyển biến của phong tràoyêu nớc và cách mạng ở Nghệ An trong những năm 20 của thế kỷ XX cũng
nh đóng góp của Nghệ An trong phong trào giải phóng dân tộc
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa nguồn t liệu và cách tiếp cận của những ngời đitrớc, chúng tôi cố gắng làm rõ hơn về phong trào yêu nớc và cách mạng ởNghệ An trong những năm 20 của thế kỷ XX
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng chủ yếu của đề tài là phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ
An trong những năm 20 của thế kỷ XX trên tất cả các mặt của nó Đồng thờitìm hiểu quá trình của phong trào và sự xuất hiện của các tổ chức cách mạng ởNghệ An trong những năm cuối của thập niên 20
5 Đóng góp của khóa luận
-Khóa luận sẽ tái hiện một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống vềphong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An trong những năm 20 của thế kỷ
Trang 8-Khóa luận góp phần làm hoàn chỉnh hơn lịch sử địa phơng trong giai
đoạn những năm 20 của thế kỷ XX
-Khóa luận sẽ là một tài liệu quý giúp giáo viên các trờng Phổ thôngtrung học và Trung học cơ sở biên soạn và giảng dạy các tiết lịch sử địa phơngcho học sinh
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần dẫn luận, kết luận và phụ lục, khóa luận bao gồm có 3
ch-ơng:
Chơng 1 Khái quát tình hình Nghệ An những năm đầu 20 thế kỉ XX.Chơng 2 Phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An từ năm 1920 đếnnăm 1925
Chơng 3 Sự ra đời và hoạt động của các tổ chức cách mạng ở Nghệ An
Trang 9B Néi dung Ch¬ng 1 Kh¸i qu¸t t×nh h×nh NghÖ An nh÷ng n¨m ®Çu
Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu
Thời nhà Lý, năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An
Thời nhà Hậu Lê, từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An
Thời nhà Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn
Thời nhà Nguyễn, Gia Long lại đặt làm Nghệ An trấn
Năm 1831, vua Minh Mạng chia Nghệ An trấn thành 2 tỉnh: Nghệ An
(phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam)
Từ năm 1976 đến 1991, sát nhập Nghệ An và Hà Tĩnh thành tỉnh NghệTĩnh, đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và 25huyện: Anh Sơn, Con Cuông, Diên Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Kỳ Sơn,Nam Đàn, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Qùy Hợp, Quỳ Châu, QuỳnhLưu, Tân Kỳ, Thanh Chương, Tương Dương, Yên Thành, Can Lộc, CẩmXuyên, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà
Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngàynay
1.1.2 §iÒu kiÖn tù nhiªn
Trang 10Địa hình Nghệ An rất đa dạng Tính đa dạng này kết quả của một quá trình lịch sử kiến tạo lâu dài và phức tạp Núi, đồi trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn đất đai của tỉnh Không chỉ các huyện miền núi có núi mà ngay ở cáctỉnh đồng bằng cũng bị chia cắt Nhng chính sự kết hợp núi với đồng bằng đã tạo ra những cảnh đẹp cho xứ Nghệ.
Do có quá nhiều đồi núi nên Nghệ An chỉ có một vùng đồng bằng nằm trong đồng bằng Nghệ- Tĩnh nhỏ bế, kếm phì nhiêu và nhiều đất mặn, đất cát,
vỏ sò, hến Các vùng đồng bằng Quỳnh Lu, Diễn Châu, Yên Thành 3 mặt giápbiển, phía đông hớng ra biển đông
Sử gia thời Tự Đức đã nhận định rằng Nghệ Tĩnh là một nơi “ địa thếrộng rãi, chình là vùng đất xung yếu giữa Nam và Bắc Núi thì có Hồng Lĩnh,Kim Nha làm trấn mạnh của một phơng… Phong thổ trung hậu, núi sông caosau, thực là một tỉnh lớn có hình thế hiểm yếu của hữu kỳ” [20,7]
Địa hình của Nghệ An không mang tính đồng nhất Nhng chính sự không
đồng nhất đó đã mang lại cho nhân dân Nghệ An một địa thế của một vùng
đất đợc nhiều triều đại làm nơi đặt đô hội: thời Lê, thời Quang Trung- NguyễnHuệ
Đặc trng khí hậu ở đây là có cả thời tiết lạnh của gió mùa Đông Bắc và cóthời tiết khô nóng do hiệu ứng gió Phơn Tây Nam gây nên Đặc biệt, nhữngcơn gió Phơn nắng nóng của mùa hè đã ảnh hởng lớn đến sản xuất nôngnghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân Mùa hạ, gió mùa Tây Nam hoạt
động mạnh Gió từ bên này dãy núi, sau khi di chuyển song song với mặt đất,gặp dãy núi thì tăng tốc đọ và vợt qua dãy núi bên kia trở thành một khí áp từtrên cao tràn xuống nên tăng nhiệt độ Núi càng cao thì mức gia tăng nhiệtcàng lớn và không khí càng khô
Bắc Trung Bộ là một vùng có hệ thống sông ngòi khá dày đặc Chỉ riêng
ở Thanh Hoá và Nghệ An đã có tới 54 sông suối dài trên 10 km Sông Lam làcon sông lớn nhất ở Nghệ An Con sông này chảy theo hớng Tây Nam –
Đông Bắc Chế độ nớc các sông là điển hình kiểu chế độ thất thờng Mùa khô,mực nớc xuống thấp làm cho lòng sông trơ ra những bãi cát bụi trắng Mùa lũ,nớc lên cao đột ngột, ào ạt từ miền núi đổ về, tràn qua bờ và ngập cả đồngbằng Nghệ An là một tỉnh có tình trạng ngập lụt nghiêm trọng nhất ở vùngBắc Trung Bộ
Trang 11Nghệ An là một tỉnh có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng-đứng thứ 2 toàn quốc sau Gia Lai
Nghệ An có bờ biển dài 82 km, 6 cửa lạch, trong đó Cửa Lò và CửaHội Đây là chính là nguồn tài nguyên du lịch của đất Nghệ An
* Tiểu kết: Trong cuốn “Lịch triều hiến chơng loại chí” của mình, PhanHuy Chú nhận xét rằng: Thế núi, thế sông của Nghệ An đợc coi là “Giới hạncủa hai miền Nam Bắc, thực là nơi hiểm yếu nh thành đồng, ao nóng của nớc
và là then khoá của mọi triều đại” Chính nhờ có thế sông, thế núi nh vậynhiều triều đại trong lịch sử đã chọn nơi đây nh một nơi đóng đô mang tínhtrọng yếu của triều đại mình
Đất xứ Nghệ- một vùng đất kém màu mỡ, khí hậu thì khắc nghiệt hơncác nơi khác, con ngời phải thờng xuyên vật lộn với thiên tai, cuộc sống của
họ vất vả hơn các vùng khác Nhng cũng chính những sự khác ấy đã hun đụcnên con ngời xứ Nghệ An những đức tính: cơng trực, khảng khái, cần cù vàgiàu nghị lực Đây là những tiền đề cho vai trò tích cực của nhân dân Nghệ Antrong lịch sử của dân tộc nói trung và trong giai đoạn 1920 đến 1929 nóiriêng
1.2 Tình hình chính trị- kinh tế- xã hội Nghệ An những năm đầu thế
kỷ XX
* Về chính trị:
Sau 27 năm kể từ ngày Pháp xâm lợc Việt Nam, cuối cùng chúng cùng
đặt đợc ách thống trị của mình lên xứ Nghệ Các quan lại cấp tỉnh vẫn tiếptuc cai trị nh trớc vì đây là vùng mà chỉ có một nền hành chính của NamTriều Nhng với việc kí hiệp ớc Pa-tơ-nốt 1884, thực dân Pháp đã can thiệpsâu vào quyền nội trị của vua Nguyễn ở vùng này Ngoài Tòa Công sứ Pháp,chúng còn lập ra một hệ thống giúp việc kìm kẹp chặt chẽ từ trên xuống dớinh: mật vụ, giám binh, trại lính, nhà tù và các sở chuyên môn (thơng - chánh
đạc điền, canh nông, lục bộ, kiểm lâm, y tế, học chánh, kho bạc…) Bên cạnh
bộ máy chính quyền thực dân, Pháp còn có bộ máy thống trị của bọn phongkiền triều Nguyễn: tổng đốc, bố chánh, án sát, giám binh và một đội lính khốxanh đông hàng trăm tên chuyên bảo vệ bộ máy chính quyền của bọn thựcdân và phong kiến
* Về kinh tế:
Trang 12Nông nghiệp là ngành kinh tế truyền thống của Nghệ An Nhn thực dânPháp và chế độ phong kiến lại ra sức cớp đoạt t liệu sản xuất của ngời nôngdân Thủ đoạn chiếm đoạt ruộng đất phong kiến của bon thực dân phong kiếnmuôn hình muôn vẻ Ruộng đất của nông dân bao đời cha truyến con nối vàruộng đất công làng xã đều bị chúng cớp đoạt, đua nhau chiếm gọn Một ítruộng đất xấu chúng để dành vào việc cúng tế, ngời nông dân cày rẽ trênruộng đất này phải chịu thuế thay cho chúng.
Trong nông nhiệp thực dân đặt ra một hệ thống thuế khóa nặng nề chonhân dân ta Cha đủ, chúng còn tiến hành các đợt “lạc quyên”, “quốc trái”,bòn rút thêm của cải trong nhân dân Chỉ tính riêng đợt quốc trái năm 1917-
1918 chúng đã lấy của nhân dân Nghệ An tới 505.744 Phrăng.[6,291]
Do ảnh hởng của chính sách bóc lột về kinh tế của thực dân Pháp,công nghiệp Nghệ An cũng có sự chuyển biến Hầu hết các cơ sở côngnghiệp đều phục vụ cho khai thác, xuất khẩu nông, lâm sản, tài nguyên củanhân dân Việt Nam Năm 1903, Pháp mở nhà máy Diêm với 750 công nhân
đa việc chế biến gỗ phát triển thêm một bớc Năm 1917, chúng mở ở Vinh,Bến Thủy nhà máy cơ khí Trờng Thi để sửa chữa xe lửa Tới những năm
1917, 1918 ở Vinh, Bến Thủy đã co các nhà máy: diêm, ca, sửa chữa xe lửa,rợu bia… Bên cạnh việc xây dựng một số nhà máy, Pháp còn thăm dò một số
mỏ ở Nghệ An Do vốn quá lớn nên chúng chỉ dừng lại ở mức thăm dò màthôi
Thủ công nghiệp là ngành có truyền thống lâu đời của nhân dân NghệTĩnh nhng cha đợc thực dân Pháp chú ý, khuyến khích phát triển Khôngnhững thế, chúng còn kìm hãm, hạn chế và làm cho các nghề thủ côngtruyền thống ngày một mai dần Chính sách độc chiếm thị trờng làm chongành thủ công nghiệp nh dệt vải, da, nấu rợu phải đình đốn và đi đến phásản… Chỉ có ngành đánh cá, chế biến nớc mắm, muối có phần phát triển nh-
ng bị t sản Pháp nắm độc quyền Ngời dân sản xuất muối phải bán với giá rẻmạt là 0,32 đồng để rồi mua với giá đắt cổ là 3,62 đồng ở đồng bằng và 6,20
đồng ở miền núi
Thơng nghiệp là ngành phát triển nhất ở Nghệ Tĩnh nhng sự phát triển
đó cũng phục vụ cho quyền lợi của t bản Pháp độc quyền Pháp đặt tại Vinhchi nhánh “nhà băng Đông Dơng” Năm 1901, Pháp ra nghị định đánh thuếmôn bài theo 10 hạng, từ hạng nhất(300 đồng) đến hạng thấp nhất(0,5 đồng)
Trang 13nhăm độc quyền nắm giữ các nguồn hang nh muối, rợu, gạo… tạo điều kiệncho các thơng nhân nớc ngoài làm ăn lớn Nhiều hiệu buôn ở nớc ngoài xuấthiện ở thành thị, còn nông thôn nhiều chợ mọc lên để trao đổi buôn bán th-ờng xuyên cho ngời lao động Chợ lớn mọc lớn nổi tiếng mọc lên nh chợVinh, chợ Bến Thuỷ
Giao thông vận tải: Để phục vụ cho công cuộc bình định và chính sáchkhai thác thuộc địa , Pháp mở nhiều đờng giao thông: xây dang đờng 7(từDiễn Châu lên Mờng Xén), một hệ thống giao thông thuỷ bộ nh sau:
1983 làm đờng bộ Vinh - Cửa Rào- Trấn Ninh
1900 khởi công đoạn đờng xe lửa Vinh- Hà Nội và hoàn thành vào năm1905
1913 làm đờng Vinh- Cửa Hội- Cửa Lò
1918 vét kênh Sắt Vinh- Thanh Hoá [11,16]
+ Nông dân: chiếm đại đa số và cũng là đối tợng chủ yếu của chính sáchphá sản và bần cùng hóa của bọn thực dân Kinh tế tiểu nông kết hợp với thủcông nghiệp có tính chất nghề phụ gia đình tồn tại song song với cơ chế quản
lý làng xã theo lối cổ truyền là điều kiện thuận lợi cho sự vơ vét su thuế, bóclột nhân công của thực dân, phong kiến đã đa đến sự phân hóa không thểtránh khỏi ở nông thôn Nghệ An Số bần nông bị phá sản thì nhiều, số nôngdân ngoi lên thành phú nông hoặc t sản công thơng nghiệp thì ít Tầng lớpphú nông này đã xuất hiện nhng không phát triển đợc Bộ phận này có mốiquan hệ mật thiết với Pháp và chính quyền phong kiến
Còn đại đa số nông dân trở thành tá điền ngay trên mảnh đất của mình.Một số khác không nhận đợc ruộng thì lang thang cày thuê cuốc mớn, chịucảnh sống đất khách quê ngời Số khá đông khác thì phải dấn thân vào các
đồn điền, xí nghiệp, công trờng của bọn thực dân nh vùng công nghiệp Vinh– Bến Thủy, đồn điền Phủ Quỳ hoặc bị thực dân đua vào Nam sang Lào.[6,306]
Trang 14+ Địa chủ: Trong khi giai cấp nông dân bị bần cùng và phân hóa mộtcách mãnh liệt thì địa chủ đợc thực dân nâng đỡ và nhanh chóng ngoi lên địa
vị thống trị xã hội Địa chủ đã cấu kết với thực dân Pháp, lợi dụng chính sáchbần cùng hóa của chúng mà làm giàu trên xơng máu của ngời nông dân.Hành động này của bọn địa chủ ở Nghệ An càng đợc đẩy mạnh khi Phápthực hiên chơng trinh khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) Tiêubiểu cho loại địa chủ đó là: Đốc Pháp (Nghĩa Đàn), Trần Thế Roanh (QuỳnhLu), Hàn Minh (Anh Sơn)….[6,307]
+ T sản và tiểu t sản:
Nhìn chung t sản và tiểu t sản ở Nghệ An bắt đầu đợc tập hợp từ trong cáccuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp Tuy nhiên, nhiềungành nghề quan trọng đều bị t bản ngoại quốc độc quyền chiếm giữ Đa số tsản thơng nghiệp ở Nghệ An chỉ làm đại lý thu mua và bán hàng cho t bảnPháp Một số vừa là t sản, vừa là địa chủ nh Trơng Đắc Lập, Trơng Đắc Du Tsản Nghệ Tĩnh cũng bị thực dân Pháp chèn ép nhng lại có quan hệ chặt chẽvới bọn thực dân Pháp Bởi vậy bên cạnh tinh thần dân tộc, t sản có sẵn t tởngthoả hiệp, đầu hàng thực dân
Khá đông là đội ngũ tiểu t sản Họ gồm là thợ thủ công, những ngời buônbán nhỏ, tiểu chủ, học sinh, công chức Họ bị bạc đãi và bị phá sản, thấtnghiệp nên họ rất gần gũi với công nhân lao động và mâu thuẫn với thực dânphong kiến Họ hăng hái tham gia phong trào cách mạng và phần nào phát huy
đợc tác dụng trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống đế quốc
+ Công nhân: công nhân Nghệ An đợc hình thành và phát triển từ nhữngnăm đầu của thế kỷ đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất Phần lớn họ lànhững ngời nông dân bị phá sản phải đi làm thuê, phu đài ở các bến cảng,công trờng, đờng xá, đồn điền Công nhân không sống trong các nhà máy nên
ho rất gần gũi với nông dân
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, t bản Pháp đã ráo riết bóc lộtsức lao động của công nhân nhng tiền lơng trả lại thì vô cùng rẻ mạt họ làmviêc từ 10h đên14h mà cao nhất cũng đợc trả 0,3đ (ngời lớn) và 0,05đ (trẻ em)trong một ngày Cùng với việc bóc lột là những nhiễu hạch của bọn cai, ký,chủ xởng
Trong thời kỳ này, công nhân Nghệ An còn ít, đang hình thành và cha có
tổ choc đấu tranh Tới những năm chiến tranh thế giới thứ nhất, khi khu vực
Trang 15công nghiệp Vinh – Bến Thủy đợc mở rộng và một số đồn điền ra đời thì độingũ công nhân ở Nghệ An đợc tổ choc giác ngộ và họ đã bớc lên vũ đài chínhtrị với vai trò và sứ mệnh lịch sử của nó
Nh vậy, sự phân hóa xã hội trong những năm đầu thế kỷ XX ở Nghệ Ancàng làm cho mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc càng thêm sâu sắc Đóchính là nguyên nhân dẫn đến các cuộc đấu tranh và đồng thời cũng là độngcơ thúc đẩy cho tiếp cận những con đờng cứu nớc mang tính chất của thời đạicủa các tầng lớp nhân dân ở Nghệ An
1.3 Văn hoá- giáo dục- truyền thống trên đất Nghệ An
1.3.1 Văn hóa- giáo dục
Trong xu hớng phát triển văn hóa chung của dân tộc, ngời Nghệ An đãtạo dựng cho mình một nền văn hóa mang bản sắc riêng Không ai trên đất n-
ớc Việt Nam lại không biết đến những câu hát giặm xứ Nghệ Ngoài hỡnh thứcđối đỏp nam nữ, cú nhiều bài hỏt cú tớnh chất tự sự, kể lại một sự tớch hay mộtchuyện vừa xảy ra trong làng, trong nước, nhằm mục đớch phờ phỏn, khuyờnrăn hoặc tuyờn truyền giỏo dục Mỗi cõu 5 chữ, vần bắt ở cuối cõu, cú nhiềukhổ, mỗi khổ từ 4 đến 8 cõu, cuối khổ cú lỏy lời, lỏy ý Ngụn ngữ đậm màusắc địa phương Trong hát giặm Nghệ Tĩnh, cuộc sống đa dạng của nhõn dõnlao động được ghi lại khỏ đầy đủ, đặc biệt đó phản ỏnh cuộc đấu tranh chớnhtrị của nhõn dõn Nghệ An, Hà Tĩnh từ ngày Phỏp sang xõm lược Nhiều chớ sĩ(Phan Bội Chõu, Ngụ Đức Kế) đó dựng thể dõn ca này đặt ra nhiều bài, nhằmgiỏo dục ý thức cỏch mạng cho quần chỳng
Và bên cạnh đó là những câu vè thể hiện nỗi cay cực, phẫn uất của ngờidân đã đợc lu lại:
“Vợ con thời nheo nhócChồng lại phải phu phenMuốn vạch cả trời lênKêu gào cho hả dạ”
Qua những câu vè, nhân dân Nghệ An đã sớm nhận ra bộ mặt thật củacác giáo sỹ và dã tâm xâm lợc của thực dân Pháp nên rất cảnh giác và nhắcnhở nhau rằng:
“Vè vẻ vè ve,Cái vè giữ nớc
Trang 16Các cố đạo đi trớcQuân cớp nớc theo sau.”
Chính từ những câu hát, câu vè xứ Nghệ đó đã góp phần khơi dậy tinhthần yêu nớc của nhân dân vùng này Và tinh thần yêu nớc này còn thể hiện rõhơn qua giáo dục và truyền thống của đất Nghệ An
Đất Nghệ Tĩnh xứng đáng, tự hào với truyền thống văn hiến lâu đời vàrực rỡ của mình Theo thống kê hồi bấy giờ, từ khoa thi Đinh Mão (1807) đếnkhoa thi năm Mậu Ngọ- khoa thi cuối cùng của trờng Nghệ, qua 41 khoá thihơng đã có 889 ngời Nghệ Tĩnh đậu cử nhân[25,4] ở Nghệ An có những làngtrở thành khoa bảng bởi có rất nhiều ngời đỗ đạt nh làng Quỳnh Đôi (QuỳnhLu), Trung Cần (Nam Đàn), Lý Trai (Diễn Châu) Có những làng ba cha con
ông cháu đều đỗ tiến sĩ nh ở làng Trung Cần Một điều đáng quý của con ngời
xứ Nghệ đó là họ khổ học, hiếu học không phải vì danh lợi mà luôn nuôi ớcvọng đem tài sức giúp ích cho nớc nhà Vì thế ở thời nào, xứ Nghệ cũng sảnsinh ra nhiêu nhân tài ở mọi lĩnh vực Mảnh đất Nghệ An đã đóng góp cho lịch
sử dân tộc những nhà sử học, văn học, s phạm, phong thổ kí nh: Hồ Sĩ Dơng,Nguyễn Đức Đạt… Hay những nhà văn thân sĩ phu có tinh thần yêu nớc và cótên tuổi trong trang sử chống ngoại xâm của dân tộc nh: Nguyễn Xuân Ôn,Phan Bội Châu, Trần Tấn… Đặc biệt trong giai đoạn lịch sử cận đại, nhiều ng-
ời con của xứ Nghệ đã trở thành những chiến sỹ cách mạng xuất sắc, tiêu biểucho số đó là Nguyễn ái Quốc- Hồ Chí Minh
1.3.2 Truyền thống yêu nớc trên đất Nghệ An
Vùng đất Nghệ An luôn đợc xem là địa bàn chiến lợc quan trọng khôngchỉ vì có địa thế hiểm yếu mà quan trọng hơn cả là con ngời Nghệ An vớitruyền thống của mình Đó là tinh thần cần cù lao động, anh dũng trong đấutranh chống giặc ngoại xâm., thông minh, hiếu học, trọng đạo lý, ham chuộng
tự do độc lập
Những truyền thống đó của ngời dân xứ Nghệ đợc hun đúc từ lâu đời và
nó đợc truyền từ đời này sang đời khác, ngày càng đợc phát triển mạnh mẽliên tục
Phải nói rằng liên tục trên đất Nghệ Tĩnh nói chung và Nghệ An nóiriêng không bao giờ dứt tiếng súng chống giặc ngoại xâm và bọn tay saiphong kiến bán nớc
Trang 17Nông dân Nghệ Tĩnh đã ủng hộ Chu Đạt vây hãm các quận Cửu Đức vàNhật Nam vào năm 226 Mai Thúc Loan cùng nông dân chống bọn phongkiến xâm lợc nhà Đờng năm 819 Dới thời Lý Thái Tổ (1012- 1031), nông dânNghệ An đã ủng hộ Lý Giác nổi dây khởi nghĩa.
Năm 1284, trớc họa xâm lăng của quân Nguyên, khi buộc lòng phải dời
đô vào Thanh Hóa để bảo toàn lực lợng, Trần Nhân Tông vẫn nghĩ đến hậu
ph-ơng Nghệ An Ông vua yêu nớc này đã khẳng định tầm quan trọng của vùng
đất xứ Nghệ với đại ý: còn giữ đợc vùng Hoan Diễn (Nghệ- Tĩnh ngày nay) thìcòn 10 vạn quân ở đó Nghĩa là vua Trần Nhân Tông tin vào sức mạnh củavùng đất xứ Nghệ Cuối thời Trần, Trần Giản Định, Trần Tùng Quang muốnkhôi phuc lại cơ đồ của cha ông cũng đã vào vùng Nghệ Tĩnh để chiêu tập anhhùng nghĩa sỹ, tụ tập quân binh
Dơi thời Lê, đợc sự ủng hộ mọi mặt của nông dân Nghệ An, Lê Lợi đãnhanh chóng tập hợp đợc lực lợng cho cuộc kháng chiến chống quân Minhxâm lợc Nhờ sự đóng góp đã đa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến
Dới thời Tây Sơn, chỉ trong một thời gian ngắn dừng chân tại Nghệ An,Quang Trung – Nguyễn Huệ đã tuyển chọn đợc 5 vạn binh sỹ và nhiều lơngthực đóng góp vào sự nghiệp đánh đuổi quân xâm lợc nhà Thanh Nguyễn Huệ
đã nhìn thấy tầm chiến lợc quan trọng của vùng đất này nên đã quyết định xâydựng Nghệ An làm kinh đô cho triều đại mình
Rồi đến năm 1858 trớc dã tâm xâm lợc của thực dân Pháp và hành động
đầu hàng hèn hạ của tập đoàn phong kiến triều Nguyễn, nông dân Nghệ An lạicùng nhân dân cả nớc đứng lên đánh đuổi ngoại xâm, đánh đổ bọn tay sai bánnớc, bảo vệ nền độc lập của tổ quốc Sau nửa cuối thế kỷ XIX trớc sự xâm lợccủa thực dân Pháp, nhân dân Nghệ An dới sự lãnh đạo của Trần Tấn, Đặng
Nh Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Đinh Văn Chất… đã gây cho bọn thực dân Phápxâm lợc và bọn tay sai của chúng nhiều tổn thất nặng nề
Sang đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu – ngời con u tú của xứ Nghệ đãphất cờ cứu nớc Ông đã chủ trơng dùng bạo động để dành chính quyền và đểchuẩn bị cho sự nghiệp đó ông đã lập ra “Duy Tân Hội” và khởi xớng phongtrào Đông Du Hởng ứng phong trào, Nghệ An đã có gần 20 ngời xuất dơngcầu học Và bên cạnh đó là một hệ thống liên lạc của tổ chức này tại đây.Không chỉ những ngời lơng tham gia mà phong trào còn nhận đợc cả sự hởngứng của những ngời theo thiên chúa giáo
Trang 18Cũng vào thời gian này, một số nhà Nho, văn thân yêu nớc ở Nghệ An đã
nh Trơng Khắc Lập, Phạm Văn Ngôn tham gia cổ động cho phong trào đấutranh chống su thuế ở Trung Kỳ (1908)
Từ những dẫn chứng trên đã chứng tỏ rằng: Nghệ An với truyền thốngquật khởi của mình đã là địa điểm làm nên lịch sử hào hùng của một địa ph-
mà chúng ta không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ An đã sinh trởng những vị lãnh
tụ vĩ đại của dân tộc Cái đó không phải là tình cờ mà là lịch sử tự nhiên, lịch
sử lâu đời, lịch sử xây dựng và kiến thiết đã hun đúc tại Nghệ An: nhân dânanh dũng, cần cù lao động và có nhiều năng lực phi thờng”
1.4 Những cuộc đấu tranh của nhân dân Nghệ An t những năm đầu thế kỉ XX
Sự thất bại của phong trào Cần Vơng cuối thế kỉ XIX đã chấm dứt vai tròcủa con đờng cứu nớc theo khuynh hớng phong kiến Trong thời kì chuyểntiếp của lịch sử dân tộc, khi giai cấp phong kiến đã trở thành phản động đốilập với nhân dân, khi giai cấp t sản còn quá non yếu và bạc nhợc, khi giai cấpcông nhân đã hình thành nhng còn ở giai đoạn tự phát thì trí thức yêu nớc trởthành lực lợng đại diện cho dân tộc và là ngời tổ chức và lãnh đạo cuộc đấutranh giải phóng dân tộc Đó là một thực tế lịch sử và là một đặc điểm nổi bậtvủa cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam đầu thế kỉ XX và trong suốtthời kì trớc khi thành lập Đảng của giai cấp công nhân
Vào thời điểm này, giai cấp sĩ phu tiến bộ đã vợt qua hạn chế của giaicấp mình tiếp thu những t tởng mới đợc truyền bá vào Việt Nam qua Tân th,Tân văn, sách báo Đại diện tiêu biểu cho con đờng cứu nớc mới này là PhanBội Châu và Phan Châu Trinh
* Phan Bội Châu với phong trào Đông Du ở Nghệ An:
Giữa năm 1904 tại nhà Tiểu La Nguyễn Thành ở Quảng Nam, một sốngời đã đợc liên hệ từ trớc, có khoảng 20 vị bí mật tuyên bố thành lập một
“hội kín” mà sau này có tên gọi là Duy Tân hội với mục đích: Đánh đuổi thực
Trang 19dân Pháp, khôi phục nớc Việt Nam độc lập Với mục tiêu trên, hội nghị đã đề
ra ba nhiệm vụ:
- Phát triển thế lực của hội về ngời và tài chính
- Chuẩn bị lực lợng bạo động và các công việc sau khi có lệnh bạo độngphát ra
- Xúc tiến việc xuất dơng cầu viện, xác định phơng châm và thủ đoạnxuất dơng
Hai nhiệm vụ đầu giao cho Đặng Thái Thân, Lê Võ, Thái Phiên lo liệu.Nhiệm vụ thứ ba giao cho Phan Bội Châu và Nguyễn Thành bàn định riêng
Đầu năm 1905, chơng trình hoạt động của hội Duy Tân đã triển khaikhắp ba kỳ, trong đó Nghệ Tĩnh là trung tâm ở Bắc Trung Kỳ Hội xúc tiếnviệc “xuất dơng cầu viện” Ngày 20/01/1905, Phan Bội Châu sang Nhật Bản
và mở đầu cho phong trào Đông Du Phan Bội Châu tiếp xúc với Lơng KhảiSiêu, Tôn Trung Sơn lúc đó đang c trú ở Nhật Nhờ vậy, ông hiểu biết thêm về
t tởng dân chủ t sản, tìm ra biện pháp hoạt động mới là biên soạn thơ văn tốcáo thực dân, cổ vũ tinh thần đấu tranh cứu nớc, gửi về vận động đồng bào.Các tác phẩm của ông với lời văn khảng khái, hấp dẫn đã làm sôi động lòngngời nh : “Việt Nam vong quốc sử”(1905), “Hải ngoại huyết th”(1906), “Kínhcáo toàn quốc phụ lão”(1906)… Nhiều thanh niên, thiếu niên nớc nhà trốnthực dân Pháp xuất dơng Năm 1905 trở đi, số du học sinh lên tới 200 ngời :trong đó Nam Kỳ hơn 100 ngời, Bắc Kỳ 50 ngời và Trung Kỳ có 40 ngời.Những học sinh này xuất thân từ các gia đình thân sĩ, phú hào hoặc xuất thân
từ các tầng lớp xã hội khác nhng chủ yếu là các sĩ phu và thanh niên nho học
Đáp lời kêu gọi của Phan Bội Châu, có những thanh niên sau đây củaNghệ An tham gia vào phong trào xuất dơng: ở Quỳnh Lu có : Hồ Học Lãm,
Hồ Sỹ Thịnh, Hồ Sỹ Hạnh, Đặng Tử Kính, Hồ Vĩnh Long, Bà Lụa – Trần ThịTâm; ở Nghi Lộc : Hoàng Trọng Mậu, Lê Cầu Tinh, Nguyễn Thức Đờng,Nguyễn Kim Phú, Lê Kim Thanh, Nguyễn Thức Canh, Đặng Thái Thân; ở H-
ng Nguyên: Mai Lão Bạng, Phan Lại Lơng, Phạm Hồng Thái; ở Đô Lơng cóTrần Đông Phong; ở Nam Đàn có Bùi Chính Lộ; ở Thanh Chơng có ĐặngThúc Hứa Qua số liệu trên ta thấy số ngời đông nhất là ở Quỳnh Lu, NghiLộc và Hng Nguyên
Trang 20Thông qua các nhà nho là hội viên của hội Duy Tân, các cụ còn vận
động góp vốn thành lập mở các hội buôn nh : Hội buôn Triêu Dơng có cửahàng ở Vinh và Hà Nội, hội buôn tơ tằm, hội buôn lá nón,…nhằm làm kinh tàicho Duy Tân hội Một việc làm khá lạ là ở làng Kim Liên (Nam Đàn) ông V-
ơng Thúc Châu đã tập hợp một phờng hát đi diễn khắp nơi để lấy tiền giúpquỹ
Trong Duy Tân hội có một bộ phận làm liên lạc giao thông trong suốtquá trình trớc và sau khi thành lập hội Ngoài hai vị thông thuộc đờng đi lối lạinh: Đặng Tử Kính và Mai Lão Bạng đi về thờng xuyên; ở trong hội còn có một
bộ phận liên lạc giữa ba miền Bắc-Trung-Nam Trong nhóm này có bà TrầnThị Tâm(Bà Lụa) và Bạch Liên( tức cô Thanh), Bà Bạch Xỉ, O Cẩm (Bùi ThịCẩm) Thực dân Pháp lo ngại với tuyến liên lạc này và coi đây là những đối t-ợng nguy hiểm cần tiêu diệt
Trong lĩnh vực phát triển hội viên của hội Duy Tân hội, các bộ phậnchuyên trách tuyên truyền kết nạp hội viên là ngời theo đạo Kitô giáo Ngoài
ông Ngô Quảng, Mai Lão Bạng, Trần Văn Bỉnh, Lê Khánh…ra còn có các linhmục Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Văn Tờng, Nguyễn Thuận Đồng và một số
“cụ” nh cụ Thông ở mộ Vĩnh (Thanh Chơng) và cụ Truyền ở xứ đạo Mỹ Dụ(Hng Nguyên) Trong số các linh mục kể trên về sau nhiều cụ bị Pháp bắtgiam, nhiều ngời bị đày ra Côn Đảo rồi qua đời ở đó nh linh mục PhêrôNguyễn Văn Tờng Nhờ có bộ phận này nên khi phong trào Đông Du đợc phát
động, số học sinh là ngời công giáo sang Nhật cầu học cũng khá nhiều
Giữa năm 1905, Phan Bội Châu về nớc và trao đổi ý kiến với một số
đồng chí chủ chốt Lập tức Phan Sào Nam dẫn mấy thanh niên xứ Nghệ là:Nguyễn Thức Canh (Nghi Lộc), Nguyễn Điển (Thanh Chơng) ra đến Nam
Định có thêm Lê Khiết đa sang Nhật du học; đây là đợt mở màn cho phongtrào Đông Du phát triển về sau
Tính riêng từ năm 1905 đến 1909 đã có khoảng 60 thanh niên Nghệ Tĩnhxuất dơng du học trong phong trào Đông Du.[6,314]
Việc chính phủ Nhật trở mặt bắt tay với Pháp, ra lệnh trục xuất Phan BộiChâu cùng với du học sinh Việt Nam ra khỏi nớc Nhật Phong trào Đông Du
bị tan rã và đi theo một hớng mới, đó là xuất dơng sang Thái Lan theo con ờng của Đặng Thuc Hứa
Trang 21đ-* Phong trào chống su thuế ở Nghệ An:
ở Trung Kỳ, chế dộ su thuế ngày càng tăng Vì vậy mà đời sống nhândân ở đây vô cùng khổ cực Thuế nặng, họ bàn nhau làm đơn xin giảm nhẹ suthuế và phân bổ lại cho công bằng Nhng chính quyền thống trị đã không chấpnhận những yêu cầu chính đáng của những ngời dân Vì vậy mà nông dân đã
đứng lên đấu tranh, biểu tình đòi giảm su, thuế
Phong trào diễn ra đầu tiên ở Quảng Nam với những địa điểm nh ĐạiLộc, Hội An Phong trào đã lan rộng cả vào Nam: Quảng Ngãi, Bình Định,Phú Yên; và ra Bắc: Thừa Thiên( và Huế), Thanh –Nghệ – Tĩnh.[10,199]
Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng đã nổi dậy hởng ứng phong tràochống xâu thuế nhng khá muộn Nó diễn ra khi mà ở Quảng Nam, QuảngNgãi phong trào đã tan rã
ở Nghệ An và Thanh Hoá nghiều truyền đơn, cáo thị đã đợc dán ở khắpcác chợ, đờng phố, thị trấn hiệu triệu dân chúng nổi dậy hởng ứng phong tràochống su thuế của Nam – Ngãi Chính quyền thực dân phong kiến một mặtcho các quan tỉnh đi các nơi hiển dụ, mặt khác cho bắt những sĩ phu có danhtiếng bị tình nghi hạ gục
Cũng tiếp thu ảnh hởng của phong trào chống thuế ở các tỉnh QuảngNam, Quảng Ngãi Nhng ở Nghệ An các sỹ phu đã hớng cuộc đấu tranh đòimiễn giảm su thuế vào con đờng bạo động vũ trang Ngời lãnh đạo chống thuế
ở Nghệ An là Chu Trạc
Nghe tin phong trào chống thuế ở Nghệ An bùng nổ, ông đã tập hợp các
đồng chí tâm huyết để cùng nhau bàn về kế hoạch hoạt động Dới ảnh hởng ttởng bạo động của các đồng chí trong phái “ám Xã” của hội Đông Du và rútkinh nghiệm phong trào Hà Tĩnh, Chu Trạc thấy không thể đấu tranh với bọnthực dân bằng con đờng thơng lợng mà phải bằng vũ lực Quán triệt t tởng đó,
ông đã liên hệ đợc với một binh lính tin cậy ở đồn Rạng tên Cửu Lơng vàchuẩn bị cho một số đồng chí ra nớc ngoài mua sắm vũ khí trớc khi khởi sự.Kết quả cuối cùng là phong trào này đã bị thực dân đàn áp Chúng đã bắt hàngtrăm ngời và phần lớn các sỹ phu lãnh đạo phong trào
Các trờng học ở Nghệ An cũng hởng ứng phong trào cải cách giáo dục
mà Phan Châu Trinh khởi xớng Trờng Võ Liệt ở huyện Thanh Chơng( NghệAn) thu hút nhiếu thanh niên u tú ở các huyện Nam Đàn, Hng Nguyên, HơngSơn, Đức Thọ đến học tập với các ông thầy yêu nớc có ít nhiều kiến thức “ tân
Trang 22học ” nh phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, tiến sĩ Ngô Đức Kế… Tài liệu học tậpgiảng dạy ở trờng phân lớn do Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội cung cấp Một
số sách giáo khoa nh “văn minh tân học sách”, “ Quốc dân độc bản ”, “ Namquốc địa d”… sau này su tầm đợc chính là từ cái “ lò đào tạo” này
Cuộc vận động cải cách ở miền Trung đợc sự hởng ứng của đông đảonho sĩ và quần chúng Nhng nó cũng vấp phải sự chống đối của những thế lựcbảo thủ, lạc hậu Chỉ xung quanh việc cắt tóc ngắn, cùng với bài vè cổ động:
“ Tay trái cầm lợcTay mặt cầm kéoCúp hề! Cúp hềThủng thẳng cho khéo
sự ảnh hởng t tởng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã không dành
đợc kết quả nh mong đợi Song nó lại khẳng định một lần nữa khẳng địnhvai trò của nhân dân Nghệ An trong cách mạng của lịch sử dân tộc
* *
*Trong những năm đầu thế kỷ XX, chính sách khai thác thuộc địa lần thứnhất của thực dân Pháp đã có tác động mạnh mẽ đối với xã hội Việt Nam nóichung và với Nghệ An nói riêng Kế tiếp truyền thống đấu tranh bất khuất củacha ông mình và cùng với sự tác động của những điều kiện mới, nhân dân
Trang 23Nghệ An đã đóng góp một phần sức mạnh của mình vào phong trào cứu nớc
đầu thế kỷ Phong trào mang một hơi hớng mới cho t tởng của ngời dân Nghệ
An Sự thất bại của khuynh hớng dân chủ t sản chính là sự mở đầu cho mộtcon đờng cứu nớc mới đợc truyền bá vào Việt Nam Đó là bớc mở đầu quantrọng cho phong trào yêu nớc và cách mạng ở Nghệ An trong thời gian tiếpsau
Trang 24Chơng 2 PHONG TRàO YÊU NƯớC Và CáCH MạNG ở NGHệ AN
Từ NĂM 1920 ĐếN năm 1925
2.1 Bối cảnh lịch sử mới tác động đến phong trào
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chủ nghĩa t bản Pháp
đẩy mạnh cuộc khai thác lần thứ hai ở Đông Dơng và Việt Nam Trong chơngtrình khai thác lần này, lĩnh vực nông nghiệp đợc t bản Pháp coi trọng Nạn cớpruộng đất ở Nghệ An diễn ra làm bần cùng hóa ngời nông dân
Tại Phủ Quỳ, địa chủ Lê Văn Quý chiếm cứ một vùng rừng lẫn ruộnglên tới 1.600 mẫu và Lê Văn Thái có hơn 800 mẫu Địa chủ Nhà Chung cũngbao chiếm một phần ruộng đất đáng kể nh Nhà Chung ở Xã Đoài (Nghệ An)chiếm tới 7.660 mẫu Tại Thanh Chơng, năm 1923, tri huyện Nguyễn KhoaNghi cho tên Nguyễn Trờng Viện (Ký Viện) mở một đồn điền ở xã HạnhLâm; với sự dung túng của của quan lại, hào lý, từ 2 hecsta Ký Viện baochiếm hàng trăm hécta.[7,44]
Chính quyền thuộc địa còn tiến hành dồn dân, chiếm đất để mở rộng cáchoạt động kinh tế, quân sự Hơn 100 mẫu ruộng đất ở làng Yên Dũng (HngNguyên) bị thu hồi để lập sân bay Vinh, xây dựng các đồn lính
Nh vậy, trong tổng số ruộng đất của toàn xứ Trung Kỳ bị Pháp chiếm
đoạt sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là 168.000 ha thì, riêng Nghệ Anruộng đất bị chiếm đoạt là 13.406 ha Theo “Tập san kinh tế Đông Dơng”
đến năm 1923, đa số các đồn điền trên đất Nghệ An đã ổn định Tổng số đồn
điền ở Nghệ Tĩnh là 46, trong đó Nghệ An là 32, Hà Tĩnh là 14[31,103]
Nhiều hãng buôn lớn của Pháp đợc thành lập ở Vinh trong thời kỳ chiếntranh thế giới thứ nhất nh Cros, Saintard chuyên buôn gỗ, Luer, công ty dầuhỏa Pháp - á thu mua nông lâm sản xuất khẩu…[27,113]
Sau khi hợp nhất ba thị xã Vinh - Trờng Thi – Bến Thủy thành mộtthành phố Vinh – Bến Thủy (1927), thì nơi đây trở thành trung tâm kỹ nghệlớn nhất Trung Kỳ
Từ nhận định trên, t bản Pháp đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở công –thơng nghiệp ở Vinh-Bến Thủy Tính đến giữa những năm hai mơi, cả trungtâm đã có hai mơi nhà máy lớn nhỏ, trong đó có nhà máy sửa chữa xe lửa Tr-
Trang 25ờng Thi là một trong ba nhà máy sửa chữa ở Việt Nam làm nhiệm vụ đại tu
đầu máy xe lửa và toa xe trên tuyến đờng sắt Trung Kỳ, có đủ các phân xởngthu hút 1000 công nhân làm việc
Một số tuyến giao thông quan trọng phục vụ việc chuyên chở hàng hóa củavùng hoàn thành trong giai đoạn này nh: Hà Nội - Vinh nối liền với Đông Hà –Huế - Đà Nẵng; quốc lộ số 1 Bắc – Nam qua Nghệ An, quốc lộ số 7 (Vinh-CủaRào-Lào) Năm 1929, thực dân Pháp xây dựng xong sân bay Vinh, mở rộng cảngBến Thủy
Những thay đổi trong nền kinh tế Nghệ An qua cuộc khai thác thuộc địa
đã tác động sâu sắc đến đời sống xã hội ở đây Nông dân bị bần cùng hóa(nghèo đói, mất ruộng đất, phải tha hơng và gia nhập vào đội quân làm thuêtại các đồn điền, hầm mỏ của Pháp ) Đội ngũ công nhân Nghệ An pháttriển mạnh mẽ về số lợng, nhng bị bóc lột và phải chịu đời sống cực khổ Cácgiai tầng mới nh t sản, tiểu t sản cũng lần lợt ra đời, phát triển mạnh về số l-ợng, nhng vị trí kinh tế và chính trị của họ thấp kém Sự phân hóa xã hộicủa Nghệ An những năm 20 của thế kỷ XX làm mâu thuẫn giữa nhân dânNghệ An và chính quyền thực dân Pháp ngày càng trở nên sâu sắc. Nguyễn
ái Quốc khi viết về Nghệ An trong những năm đầu thế kỷ đã nhận xét: "…nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở, su thuế nặng nề và nạn áp bứcchính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng cực hơn…”[17,70]
Sau khoa thi Hơng cuối cùng ở Nghệ An (1918), Pháp nhanh chóng xâydựng hệ thống giáo dục Pháp –Việt Năm 1920, thực dân mở trờng Quốc học
ở Vinh cho cả vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh – Bình, mở trờng tiểu học Cao XuânDục, Nguyễn Trờng Tộ Tính đến năm 1930, ở Nghệ - Tĩnh, thực dân Pháp mở
138 lớp học ở các trờng tổng, 27 lớp tiểu học ở tỉnh và huyện Sự hình thành hệthống giáo dục “kiểu Tây” ở Nghệ An (bên cạnh việc duy trì hệ thống giáo dụcHán học cũ) đã sản sinh ra tầng lớp trí thức Tây học Họ chính là hạt nhânquan trọng góp phần truyền bá văn hóa phơng Tây và các luồng t tởng mới vàoViệt Nam
Trong bối cảnh đó, ảnh hởng của cách mạng dân chủ t sản Trung Quốc,
đặc biệt tiếng vang của Cách mạng Tháng Mời Nga (1917), việc truyền bá chủnghĩa Mác – Lênin của Nguyễn ái Quốc vào Việt Nam, sự hình thành các tổchức Tân Việt Cách mạng Đảng và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên cũngdội đến Nghệ An Phong trào giải phóng dân tộc theo xu hớng t sản tiếp tục
Trang 26phát triển ở nớc ta, nhng một xu hớng cách mạng mới - xu hớng vô sản củaphong trào giải phóng dân tộc đã từng bớc hình thành và ngày càng thắng thế
đối với xu hớng t sản Tình hình này đã tác động mạnh mẽ đến phong trào đấutranh chống Pháp tại Nghệ An
2.2 Phong trào của nông dân chống “phụ thu lạm bổ“
ở nông thôn Nghệ An, kinh tế gặp rất nhiều khó khăn bởi chính sách caitrị của bọn thực dân và những tệ nạn xã hội do bọn cờng hào địa chủ gây ra,các thứ thuế, các tập tục xôi thịt đã dẫn đến tình trạng nông dân mất ruộng
đất Đứng trớc nguy cơ bị đẩy ra khỏi nơi “chôn rau cắt rốn” của mình, bàcon nông dân đã liên kết lại công khai đòi quyền dân chủ, cải cách hơngthôn
Từ những năm đầu thế kỷ XX, phe “hộ” đã hình thành ở vùng nông thônNghệ An Đó là những anh khóa, anh học, anh đồ và cả những anh “thơ lạitại gia” cùng với nông dân tập hợp nhau chống lại sự nhũng nhiễu của bọnhào lý, địa chủ, nhà Chung, Tây đoan, đây chính là phe “hào” Quyền lợi củaphe “hộ” luôn luôn bị phe “hào” chèn ép, bóc lột Trên khắp địa bàn làng xã,
từ đồng bằng đến miền núi, nông dân đều nổi dậy tiến hành đấu tranh chốngbọn hào lý cớp đất của dân, ăn lậu tiền thuế… Đến những năm 20 của thế kỷ
XX, cuộc nổi dậy cua nhân dân chống “phụ thu lạm bổ” trở thành một hiệntợng phổ biến trên đất Nghệ An nắng gió này
Huyện Nam Đàn, từ 1919 đến 1925,liên tiếp xảy ra các cuộc đáu tranhcủa nhân dân tại các làng Đan Nhiễm, Dơng Phổ, Thiện Mỹ, Ngũ Phúc, VạnLộc kiện hào lý bất công, gian tham công quỹ, thu thuế quá mức quy định,bao chiếm ruộng đất công cho nhà thờ… Tại xã Xuân La, nhân dân tố cáohào lý nhân chuyện làm cầu Ngói mà bày đặt trò đục khoét dân để ăn xôi thịtphè phỡn.Riêng trong năm 1920, cùng một thời gian có 6 làng xuất hiện phe
“hộ” chống phe “hào” gay gắt trong việc chia cấp công điền, công thổ.[25,71]
ở Hng Nguyên, trớc sự áp bức nhũng nhiễu của bọn hào lý, địa chủ, nhàChung, Tây đoan, nông dân ở 24 làng xã trong số 109 làng xã đã tiến hành
26 cuộc đấu tranh (10 cuộc chống chiếm đoạt ruộng đất công, 14 cuộc chốngtham ô nhũng loạn, 2 cuộc đập Tây đoan) liên tục từ những năm đầu thế kỷ
đến 1925
Trang 27Huyện Nghi Lộc có nhiều vụ kiện diễn ra gay gắt, kéo dài nh vụ kiệnhào lý tham nhũng, chấp chiếm ruộng đất công của nhân dân các làng PhúHòa ( Nghi Thái), Cổ Đan, Lộc Thọ (Phúc Thọ), Trì Thủy (Nghi Quang),Kim Khê (Nghi Long)… Tính đến cuối 1929 đã có 22 cuộc, trong đó có 16cuộc chống hào lý tham nhũng, 6 cuộc chống lính đồn Thanh Chơng ling bắt
“ muối lậu” và “rợu lậu”[14,104]
Huyện Diễn Châu, từ năm 1929 đến 1925 các cuộc nổi dậy của nôngdân đông đảo hơn, quyết liệt hơn Tiêu biểu năm 1922, Nguyễn Trác ở làng
Mỹ Lộc đã vận động 30 dân hộ ký đơn kiện hào lý làng Mỹ Quan dồi chia
70 mẫu ruộng đất công Sau 3 tháng kiện, chúng phải trả cho dân Mỹ Lộc 17mẫu Cùng năm đó nhân dân hai làng Ngũ Lạc và Thọ Xuân (Diễn Mỹ) làm
đơn kiện Thơng Chánh về lệnh cấm nhân dân làm muối, Thơng Chánh buộcphải nhợng bộ Năm 1925, Lê Thợc ở làng Yên Lý đứng ra lập phe “hộ” kiệnbọn hào lý trong làng về tội tham nhũng Vụ kiện không đi đến thắng lợisang bọn hào lý không dám tham nhũng và hống hách Sang năm 1926, phe
“hộ” tại các làng Hớng Dơng (Diễn Phong), Mai Cát (Diễn Thành), KinhLiệt (Diễn Phúc) cùng tập trung kiện hào lý đòi chia ruộng d văn cho đồngdân Cuộc nổi dậy đã gây tiếng vang đến nhiều làng lân cận Năm 1927, dânlàng Cao Hậu Đoài (Diễn Đoài) mới lập phe “hộ” song đã nhanh chóng tậphợp nhân dân trong làng chống bọn hào lý về tội hống hách, tham nhũng.[8,24]
ở Anh Sơn, nhân dân Bụt Đà (Đà Sơn), Hòa Trung (Văn Sơn), Nhân Bồi(Bồi Sơn) từ năm 1924 đến 1924 đến 1929 đã liên tiếp đấu tranh chống bọnhơng lý thu su thuế và phụ thu lạm bổ Nông dân làng Văn Khuê (Nhân Sơn)
đấu tranh buộc lý trởng Võ Hữu Truyền phải trả 25 quan tiền cơm khách mà
nó tính thêm vào phần công Nông dân làng Nam Sơn, Lu Mỹ (Đại Sơn)chống hào lý lạm bổ su thuế quá năng do Nguyễn Tất Toàn cầm đầu Cáccuộc đấu tranh đòi ruộng đất công ở Trung Sơn, Khả Phong, Nhân Hậu (NamSơn) đã buộc hào lý phải tra 16 mẫu công điền Khi bọn Tây đoan về bắt rợu,muối, nhân dân Bụt Đà (Đà Sơn) đã dùng gậy guộc hò reo đuổi đánh [11,24]Tại huyện Thanh Chơng, nhân dân lao đọng chống lại các thế lực hào lý,chức sắc diễn ra khá sớm ở hai tổng Cát Ngạn và Xuân Lâm nông dân đấutranh đòi giải quyết vấn đề ruộng đất công, chia tiền nghĩa thơng, chống suthuế, chống phụ thu lạm bổ, đánh Tây đoan bắt rợu Trớc đòi hỏi của nhân
Trang 28dân, Tri huyện Thái Văn Chánh và Nguyễn Tởng đã phải về một số nơi thucon dấu và cho bầu lại Lý Trởng.
Các cuộc đấu tranh của phe “hộ” diễn ra trên đây không phải là lực lợng
đấu tranh tự giác về chính trị Nhng các lực lợng đấu tranh chính trị tự giáckhông bỏ lỡ thời cơ đến các tổ chức ấy thành đồng minh của mình Khôngphải là ngẫu nhiên mà trong thời gian đó, các hình thức đấu tranh bằng bạolực của những chiến sỹ bao phen vào sinh ra tử nh Ng Hải, Đội Quyên, ĐộiPhấn… Dù ở Nam Đàn hay Thanh Chơng, Hng Nguyên, Nghi Lộc, YênThành… đều có sự giúp đỡ, chỉ dẫn và che dấu của nhân dân
*Tiểu kết: Lịch sử đã chứng minh “không có một cuộc cách mạng nàothắng lợi mà không co sự ủng hộ của nông dân” Vì vậy, chính giữa lúcphong trào đấu tranh ở các làng xã đang đợc đẩy mạnh thì các tổ chức cáchmạng xuất hiện nhanh chóng tập hợp và đứng ra lãnh đạo các phong trào đấutranh chống lại các thế lực tay sai ở địa phơng, đòi quyền sống Điều đó cànglàm cho quần chúng nhân dân tin tởng và cuộc dấu tranh của họ, quyết tâmchiến đấu giành quyền tự do dân chủ
2.3 Phong trào công nhân giai đoạn 1920- 1925
Lê Duẩn từng nhận xét rằng “Giai cấp vô sản ra đời và phát triển songsong với sự phá sản của toàn thể nông dân, với sự kinh doanh t bản chủnghĩa, với sự tập trung ruộng đất ở nông thôn vào địa chủ, với sự thâm nhậphàng hóa của t bản vào nông thôn.”
Số nông dân bị phá sản, nguồn nhân công rẻ mạt ấy đã làm cho bọn thựcdân hết sức vui mừng Chúng trù tính với nhau nớc Lào tha dân ta sẽ đemdân thừa của Trung Kì đông dân sang…chỉ cần ra khỏi miền đồng bằng cấylúa và đi làm trên khu vực có độ cao 15; 20 thớc tiến vào những vùng đồi thìdân số chỉ tụt xuống 5% so với miền đồng bằng (mỗi km2 là 4 đến 500 ngời)phải chăng những miền đồi núi này là gối? Trái lại nó rất giàu, nhiều nơi đất
đỏ tốt đẹp này mà những ngời thực dân Pháp chỉ cần trong vài năm biếnnhững bụi rậm, nớc độc và rừng già thành những đồn điền cà phê rất ngoạnmục thu hút đợc một số dân bản xứ
Nh vậy, chính sách bần cùng hóa của thực dân Pháp ở Nghệ Tĩnh đãdẫn đến một kết quả tất yếu là hình thành nên một lớp ngời “vô sản thực sự,phải bán sức lao động không đắt của mình cho các chủ xí nghiệp, đồn
Trang 29điền…” Họ là những ngời công nhân hiện đại – những ngơi vô sản, đào mồchôn bọn chủ t bản.
ở nhiều nhà máy, đặc biệt là nhà máy Diêm, chúng sử dụng đại bộ phậncông nhân là ngời già, phụ nữ và trẻ em Ngay ở những nhà máy chính quy
nh nhà máy Trờng Thi, số công nhân chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật cũngrất ít, đa số là công nhân học nghề và ngời làm công nhật mà chúng gọi là
“culy” Đối với loại này chúng trả lơng bằng hai cách: công nhật và làmkhoán Loại lơng công nhật thì chúng thực hiện theo nghị định của khâm sứTrung Kỳ áp dụng cho các công nhân làm việc trong các nhà máy và ngời làmcông trong các xí nghiệp và hiệu buôn t nhân : lơng đàn ông là 0đ12, lơng đàn
bà là 0đ09, lơng trẻ em là 0đ07 Còn đối với chế độ làm công ăn khoán, chúngbuộc công nhân vào hai vòng: nếu đi chậm và làm việc không đủ thời gianquy định thì không đợc vào nhà máy và bị cúp lơng Và muốn có đủ đồng l-
ơng để sinh sống buộc công nhân phải rán sức ra để làm việc Thâm độc hơn
là chủ không ngừng ra mức khoán, số ngời thất nghiệp càng tăng, giá côngkhoán càng hạ Công nhân thà nhận một giá công khoán thấp còn hơn ngồichờ chết đói Chính sách làm công ăn khoán đã tăng cờng độ lao động và kéodài thời gian lao động của công nhân mà chủ không phải trả tiền
Theo các đồng chí công nhân hồi bấy giờ kể lại thì với mức khoán củachúng, ngời công nhân khoẻ nhất và làm việc khéo tay, tối ngày cũng chỉ nhận
đợc số tiền lơng t 0đ30 đến 0đ35 đối với đàn ông; từ 0đ25 đến 0đ30 đối với phụnữ ; 0đ10 đến 0đ20 đối với trẻ em Có những đứa trẻ 14, 15 tuổi mang cơm nhà
đi ăn, suốt ngày làm việc trong nhà máy Dù không phải trang bị máy móc và
đầu t kỹ thuật, chúng vẫn thu đợc lợi nhuận cao vì tiền công quá rẻ mạt
Đó là cha nói đến việc bòn rút, bớt xén của bọn đốc công, cai ký quacác luật lệ riêng mà chúng đặt ra Ngời học nghề phải chịu gần nh nguyên vẹnchế độ học việc thời kì phờng bạn Họ phải “điếu đóm” hàng năm cho ngờithợ đợc phân công kèm cặp dạy nghề Thợ học nghề bị đánh đập, bị sỉ nhục.Thời gian học nghề thờng kéo dài tới 2, 3 năm và không có lơng Hết hạn họcnghề muốn đợc công nhận là thợ chính hoặc khi là thợ chính muốn đợc lên l-
ơng hay giữ chân làm trong nhà máy thì phải nạp lễ cho cai, ký và chủ trongnhững ngày t, tết
Ngoài những thủ đoạn bóc lột chung, ở nhà máy diêm, tên Trơng ĐứcLập còn có hình thức bóc lột riêng đó là : hàng ngày thì bóc lột công nhân
Trang 30trong nhà máy nhng đến thời vụ thì đa công nhân về cày cấy, gặt hái chochúng và trả lơng theo công nhật nh trong nhà máy.
ở nhà máy Diêm, đời sống công nhân vô cùng cực khổ, một ngày họphải làm việc từ 6h sáng đến 11h đêm Nhà máy cách xa nơi ở của họ từ 2 đên
5 km, khi ra cửa lại bị khám xét tới 1 tiếng mới đợc ra về 5h sáng đã phải đilàm, nếu đi làm muộn một vài phút thì bị đánh đập, nếu bỏ về sẽ bị cúp phạt l-
ơng và cả gia đình bị đói Công nhân lo sợ nơm nớp trớc thái độ của bọn cai,
ký Công nhân bị bọn này “tay đánh, miệng chửi” Nếu họ mang cơm theo thìphải ngồi ở vỉa hè hoặc ở đám cỏ mà ăn vội vàng trong 5 đến 7 phút; nếu ănchậm không kịp làm thì sẽ bị đánh đập và cúp lơng Công nhân phải uống nớclã, đau ốm không đợc đa đi nhà thơng, không đợc chăm sóc thuốc men, thậmchí có ngời đau ốm cũng không đợc nghỉ, có ngời chết ngay trong nhà máybởi chế độ tàn bạo của bọn thực dân Bà Nêm, Cô Khang bị băng huyết nằmtrong nhà máy từ 12h tra đến 4h chiều bọn chủ mới cho về, khi gánh về đếnnhà thì đã chết rồi Còn bao nhiêu ngời bị đối xử tàn tệ nh vậy, những ngời quèchân, cụt tay do tai nạn lao động chúng cho đi chữa bệnh rồi trừ lơng Sau khichữa bệnh xong, không làm việc tiếp đợc thì bị chúng trả về ăn bám vợ con vàkhông đợc một đồng xu trợ cấp
Bị ba tầng áp bức, bóc lột của bọn t bản thực dân cớp nớc, của giai cấpphong kiến tay sai, của t bản bản xứ, công nhân là giai cấp bị áp bức bóc lộtnặng nề nhất Họ phải chịu đựng cái nhục mất nớc, sâu sắc và thấm thía hơnmọi tầng lớp khác Chế độ thuộc địa nửa phong kiến đào luyện cho họ hận thùgiai cấp hoà làm với nhục mất nớc, tinh thần yêu nớc gắn chặt với tinh thầnchống phong kiến ý thức dân tộc và ý thức giai cấp của công nhân Vinh- BếnThuỷ không tách rời nhau, xuyên suốt cả quá trình hình thành và tranh đấu
Ngay từ những ngày đầu khi còn làm việc trong thơng điếm của Giăng
Đuy-puy, một số công nhân đã tổ chức phá một chiếc tàu hậu cần của thực dânPháp ở Bến Thuỷ Những ngời thợ sơn tràng do bị khủng bố đã trốn và gianhập nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Vũ Quang (Hà Tĩnh) Đến lúc công nhânlàm đờng sống tập trung trong các lán trại thì đã xuất hiện những hình thức
đấu tranh mới đòi nơi ở và việc làm, trốn không đi làm cho chủ nh ở CánhTráp, Quỳnh Lu và ở vùng hạ Lào
Khi bị cớp đất làm nhà máy Trờng Thi (1904-1908), thực dân Pháp đãgặp phải sự đấu tranh quyết liệt của nông dân xã Yên Dũng Họ ngồi từng
Trang 31nhóm 5, 6 ngời đến cùng, quyết không rời mảnh đất của họ Bọn thực dân làmnhà đến đâu, dân phá đến đó Trớc khí thế đấu tranh của nông dân, thực dânPháp buộc phải trả tiền đền bù ruộng đất theo giá nông dân quy định Nôngdân mất ruộng phải vào làm việc trong các nhà máy trên mảnh đất hôm quamình còn cày cấy Nhng không thể quên mối thù với bọn thực dân.
Trong giai đoạn 1919-1925, công nhân đã tăng cả về số lợng và chất ợng Họ sống trong điều kiện mới Chính điều kiện đó đã thôi thúc họ đứngdậy đấu tranh Hoà chung vào phong trào đấu tranh của công nhân cả nứớc,
l-đội ngũ công nhân ở Vinh-Bến Thuỷ ngày càng tập trung và phát triển tính
đến năm 1924, tổng số công nhân ở Vinh-Bến Thuỷ là 700 ngời; trong đó cókhoảng 500 công nhân cơ khí Số công nhân này chia làm hai loại: thợ áoxanh là những ngời thợ lành nghề, có kỹ thuật; thợ áo nâu là những ngời lao
Tháng 5 năm 1923, công nhân nhà máy Diêm đã nhân một ngày lễ đãcùng với công nhân khuân vác nhóm họp ở nhà thờ Yên Dũng Hạ để lập ra hộitơng thân, tơng ái nhằm tơng trợ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn Sau sựkiện này,công nhân nhà máy Diêm đã tổ chức một cuộc kêu kiện mà thực chất
là cuộc đấu tranh gián tiếp chống lại sự bóc lột hà khắc của chủ Đơn khiếunại gồm:
- Phải có quạt cho những ngời làm việc ở nơi quá nóng
- Phải có bảo hộ khi làm việc ngoài trời
- Phải có nhà tiểu riêng cho phụ nữ và nam giới
Sau cuộc đấu tranh gián tiếp này đã xuất hiện hình thức lẫn công của từngngời hoặc từng nhóm Đến lúc phát hiện ra những dấu hiệu đấu tranh mới củacông nhân thì bọn thống trị rất hốt hoảng Những dấu hiệu bớc đầu ấy đã thểhiện sự hoà bình của công nhân trong phong trào đấu tranh chung của dân tộcdới nhiều màu sắc