1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam

135 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam
Tác giả Phan Ngọc Hưng
Người hướng dẫn TS. Lê Nguyên Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 24,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể Luật điều tra và tố tụng hình sự của Vương quốc Anh không có điều khoản này quy định việc giải quyết vấn đề dân sự do hành vi phạm tội gây ra nên không có quy định nào nói về nguy

Trang 1

PHAN NGỌC HƯNG

NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Lê Nguyên Thanh Các số liệu và kết quả nghiên cứu

được là trung thực, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu

Tác giả

Phan Ngọc Hưng

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật dân sự BLHS Bộ luật hình sự BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 7

1.2 Cơ sở của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 11

1.2.1 Cơ sở lý luận 11

1.2.2 Cơ sở pháp lý 14

1.2.3 Cơ sở thực tiễn 16

1.3 Mối quan hệ giữa nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với một số nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự 17

1.3.1 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với nguyên tắc xác định sự thật vụ án 17

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và đương sự 18

1.4 Ý nghĩa của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 23

2.1 Vấn đề dân sự phải được giải quyết cùng với giải quyết vụ án hình sự 23

2.1.1 Chủ thể tham gia giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 23

2.1.2 Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự liên quan đến vật chứng 35

2.1.3 Trách nhiệm bồi thường và bồi hoàn 42

2.3 Tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự 47

2.3.1 Căn cứ và thẩm quyền tách vấn đề dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự 47

Trang 6

2.3.2 Thời điểm quyết định tách vấn đề dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự 51

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54 CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN

ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 56 3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 56

3.1.1 Khái quát những kết quả đạt được 56 3.1.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân 58

3.2 Kiến nghị bảo đảm thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự 64

3.2.1 Hoàn thiện các quy định liên quan để bảo đảm thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 64 3.2.2 Giải pháp nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của mọi công dân được Nhà nước bảo đảm và ghi nhận trong Hiến pháp Cụ thể hóa quyền được bảo hộ này của công dân là nghĩa vụ của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm Do đó, đối với bất kỳ vụ án hình sự nào bên cạnh giải quyết trách nhiệm hình sự để phòng ngừa, giáo dục, trừng trị, triệt tiêu tội phạm thì việc khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra cũng là yêu cầu bắt buộc và phải giải quyết cùng Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là mục tiêu, định hướng xuyên suốt quá trình tố tụng Để đảm bảo giải quyết vụ án hình sự được triệt để, chính xác, nhanh chóng trong đó có vấn đề dân sự thì cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ theo một nguyên tắc nhằm đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ Từ yêu cầu này, nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự quy định chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ của các cơ quan tố tụng

Tuy đã được ghi nhận là một nguyên tắc trong tố tụng hình sự nhưng quá trình thực hiện vẫn còn nhiều bất cập cần phải hoàn thiện về mặt pháp lý Do là vấn

đề dân sự nhưng phát sinh từ hoạt động phạm tội nên phải đảm bảo tính chủ động của đương sự nhưng phải đáp ứng được tính cưỡng chế của các cơ quan được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án Thực tế khi giải quyết các vấn đề liên quan đến dân sự trong vụ án hình sự như xác định tư cách tham gia tố tụng, người đại diện theo pháp luật, quy định pháp luật Tố tụng hình sự, Hình sự và Dân sự về xử lý vật chứng Căn cứ và thẩm quyền tách vấn đề dân sự trong vụ án Thủ tục, thẩm quyền tiếp nhận vấn đề dân sự sau khi tách, việc tiếp nhận, sử dụng chứng chứng tài liệu để giải quyết vấn đề dân sự và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng sau khi tách… Tất cả những vấn đề mang tính định hướng này vẫn còn thiếu, mâu thuẫn về mặt pháp lý, khó thực hiện trên thực tế

Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khi nói về nguyên tắc là nói về định hướng, tư tưởng chủ đạo của nguyên tắc,

nó quy định đến từng chức năng, nhiệm vụ và hoạt động cụ thể mà nội dung nguyên tắc đề cập Do đó phải thông qua các quy định cụ khác thể nhằm cụ thể hóa nguyên

Trang 8

tắc Để đánh giá tính hoàn thiện về mặt pháp lý và khả năng đáp ứng trên thực tế của nguyên tắc chúng ta phải xem xét tính hoàn thiện và khả năng áp dụng thực tế của các quy định liên quan trong quá trình cụ thể hóa tư tưởng, định hướng của nguyên tắc

Khi nguyên cứu nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là đi nguyên cứu các quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để khái quát, tổng kết, đánh giá khả năng đáp ứng các quy định này Từ đó xem những định hướng của nguyên tắc đã đáp ứng trên thực tế chưa, các quy định liên quan đã đầy

đủ để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc

Qua khảo sát có thể kể đến một số công trình nghiên cứu liên quan sau đây:

- Đinh Tuấn Anh (2008), Hoàn thiện qui định pháp luật tố tụng hình sự về

vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật

Hà Nội Nội dung luận văn tác giả Đinh Tuấn Anh phân tích vấn đề dân sự được quy định tại công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Qua phân tích đánh giá kinh nghiệm giải quyết vấn đề dân

sự trong vụ án ở một số nước trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam tác giả đề xuất kiến nghị hoàn thiện, khắc phục vướng mắc, bất cập Mặc dù đã phân tích rất kỹ về mặt lý luận nhưng tác giả chưa phân tích những nguyên nhân dẫn đến việc giải quyết vấn đề dân sự dẫn đến tình trạng trả điều tra, hủy, sửa án

- Nguyễn Thị Thu Hương (2009), Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Trong đề tài

này tác giả đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, làm rõ được mối liên hệ nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với các nguyên tắc khác được quy định trong BLTTHS Tác giả phân tích thực tiễn việc áp dụng nguyên tắc này vào xét xử vụ án, làm rõ những hạn chế của nguyên tắc, so sánh với một số quy định của BLTTHS các nước trên thế giới quy định về giải quyết vấn đề dân sự Từ đó

đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc này

- Phan Thành Bút (2009), Giải quyết vấn đề dân sự trong tố tụng hình sự,

Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Tác giả

đã nêu ra được các căn cứ, điều kiện giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, xác định được những chủ thể có quyền yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự gồm bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Nội

Trang 9

dung công trình phân tích nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự của người bị hại và một số đương sự khác theo quy định BLTTDS, BLDS, BLHS, BLTTHS từ đó đề xuất hoàn thiện quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Lê Nguyên Thanh (2010), “Một số vấn đề về giải quyết dân sự trong vụ án

hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lí, (01) Tác giả Lê Nguyên Thanh đã nêu ra những

ưu điểm của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và nêu quan điểm cá nhân về xác định giới hạn phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Đây

là một quan điểm rất có ý nghĩa về lý luận, làm cơ sở đánh giá, soi rọi thực tiễn

- Lê Nguyên Thanh (2012), “Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học luật TP Hồ Chí Minh Công trình của tác giả đã làm rõ khái niệm người bị hại, so sánh với nguyên đơn dân sự, các chủ thể tham gia tố tụng khác, xác định giới hạn quyền và nghĩa vụ của

bị hại Ngoài ra tác giả cũng đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án liên quan đến bị hại, từ đó đề xuất chỉnh lý, bổ sung một số quyền

và nghĩa vụ của bị hại

- Nguyễn Văn Tuân (2011), “Bản chất và phạm vi giải quyết vấn đề dân sự

trong vụ án hình sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (08) và “Thủ tục giải quyết việc kiện dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (09) Theo quan

điểm tác giả Nguyễn Văn Tuân vấn đề trước tiên phải giải quyết trong vụ án hình sự

là vấn đề tội phạm, trách nhiệm hình sự và nếu có điều kiện thì giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự, vấn đề bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra Nếu không có điều kiện và để tránh kéo dài việc xét xử vụ án hình sự thì việc kiện dân sự được tách

ra giải quyết theo thủ tục chung Bên cạnh đó, theo tác giả đề xuầt xác định rõ tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể có liên quan đến việc kiện dân sự trong vụ án hình

sự và xây dựng chế định kiện dân sự trong vụ án hình sự trong BLTTHS

- Thái Chí Bình (2014), “Hoàn thiện qui định của Bộ luật hình sự về vấn đề dân

sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (03) Trong bài viết, tác giả

Thái Chí Bình đã đề xuất quan điểm cá nhân về các vấn đề sau: về khái niệm vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; về các trường hợp tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Ngô Quang Cảnh (2017), “Giải quyết vấn đề dân sự trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu”, Luận án tiến sĩ luật học, Đại học luật TP Hồ Chí Minh Trong công trình tác giải đã phân tích đánh giá về lý luận thực tiễn vấn

Trang 10

đề dân sự cần giải quyết trong vụ án hình sự đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu, quy định pháp luật về xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại từ đó đề xuất hoàn thiện Tuy nhiên tác giả chưa giải quyết được mối quan hệ giữa nguyên tắc giải quyết vấn

đề dân sự trong vụ án và các quy định liên quan trong BLTTHS, BLHS, BLTTDS

để đề ra giải pháp toàn diện

- Lê Văn Sua (2015) “Pháp luật Tố tụng hình sự quy định về người tham gia

tố tụng, những bất cập và kiến nghị” Công trình của tác giả đã chia người tham gia

tố tụng tham gia vụ án thành hai nhóm: Nhóm có quyền và nghĩa vụ liên quan đến

vụ án gồm bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và nhóm người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý như người làm chứng, người phiên dịch, người giám định Qua phân tích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng tác giả đã phản ánh được những hạn chế trong việc xác định tư cách tố tụng của những người tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Tác giả

đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng về người tham gia tố tụng có liên quan đến vấn đề dân sự cần giải quyết trong vụ án như bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Ngoài ra, còn các bài viết trên các tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Viện kiểm sát, Tạp chí Luật học…có nghiên cứu, đề cập, phân tích và đề xuất hoàn thiện vấn đề giải quyết dân sự trong vụ án hình sự như: Nguyễn Ngọc Chí, “Bàn về nguyên tắc gải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 26 (2010); Đinh Văn Quế, “Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân

số 9/2005; Lê Nguyên Thanh – Bàn về một số nội dung mới của các nguyên tắc trong BLTTHS 2015, NXB Hồng Đức do Võ Thị Kim Oanh chủ biên, trang 23; Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tố tụng hình sự Việt Nam Kỷ yếu khoa học cấp bộ 1995 –VKSNDTC Tr 193; Nguyễn Hòa Bình, “Những nội dung mới của BLTTHS năm 2015”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2016, trang 14;

Một số bài viết trên các trang Wed như: Đào trí Úc, bàn về các nguyên tắc cơ bản trong Dự thảo BLTTHS Tạp chí kiểm sát số 9/20151; Nguyễn Thị Thu Hiếu, Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự2;

1 http://csnd.vn/Home/NghiencuuTraodoi/1099/BanvecacnguyentaccobantrongDuthaoBoluattotung hinh-su-sua-doi

-2 https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/bao-dam-quyen-cua-bi-can-bi-cao-khi-giai-quyet-van-de-dan-su-trong -vu-an-hinh-su,truy cập lúc 08:31GMT+7,thứ sáu,30 tháng 8 năm 2019

Trang 11

Phan Thanh Tùng, một số vấn đề về người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của BLTTHS3

Qua nghiên cứu, tác giả thấy rằng chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận việc nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong mối liên hệ với các nguyên tắc khác và những quy định cụ thể trong BLTTHS, BLHS, BLTTDS Qua đó tác giả đánh giá những hạn chế về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để đề xuất hoàn thiện nhằm cho nguyên tắc có giá trị thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài, trước hết là nhằm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá những qui định của pháp luật hiện hành về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, đồng thời kiến nghị một số giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc này

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày vấn đề lý luận về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Phân tích quy định về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự

- Kiến nghị một số giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề thuộc về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn chủ yếu trình bày về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân

sự trong vụ án hình sự Luân văn không nghiên cứu tất cả các nội dung liên quan đến giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Đối tượng nghiên cứu có thể được xem xét trong mối quan hệ với pháp luật hình sự, dân sự

3 http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet(truy cập ngày 06/06/2016

Trang 12

- Về thời gian: Vấn đề nghiên cứu được đánh giá, khảo sát từ năm 2017 đến năm 2020

- Về không gian: Luận văn đánh giá tình hình thực hiện nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam liên quan đến cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người

Luận văn sử dụng các phương pháp nhiên cứu cụ thể để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, nghiên cứu vụ án điển hình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ hơn lí luận và yêu cầu nguyên tắc giải quyết vấn

đề dân sự trong vụ án hình sự Đồng thời, trên cơ sở phân tích những qui định của pháp luật về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, luận văn cũng nêu ra được những bất cập, hạn chế của BLTTHS 2015 và BLTTDS 2015, từ đó đề xuất một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo luật Luận văn cũng

là tài liệu tham khảo bổ ích đối với việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và cán

bộ làm công tác thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Truyền thống các nước về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trên thế giới có thể khái quát ở ba cách giải quyết sau:4

Thứ nhất, vấn đề dân sự để giải quyết trong vụ án dân sự nên trong Luật tố tụng hình sự không quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vấn đề dân sự Những nước theo hệ thống luật Common Law mà điển hình là Vương quốc Anh, Pháp luật Anh tách biệt vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Cơ sở việc tách là trách nhiệm dân

sự và trách nhiệm hình sự xuất phát trên cơ sở độc lập hai tố quyền hình sự và tố quyền dân sự nên cần phải giải quyết bằng hai vụ án với hai trình tự, thủ tục khác nhau Vì vậy trong luật tố tụng hình sự các nước theo hệ thống pháp luật Common Law không có điều luật hướng dẫn việc giải quyết vấn đề dân sự Cụ thể Luật điều tra và tố tụng hình sự của Vương quốc Anh không có điều khoản này quy định việc giải quyết vấn đề dân sự do hành vi phạm tội gây ra nên không có quy định nào nói

về nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

Thứ hai, vấn đề dân sự được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án hình sự nhưng không được coi là một nguyên tắc cơ bản của Luật

tố tụng hình sự Hệ thống pháp luật các nước theo hệ thống Civil Law như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên bang Đức, Liên bang Nga mà đại diện là Cộng hòa Pháp có thừa nhận và giải quyết vấn đề dân sự phát sinh do hành vi phạm tội gây ra trong cùng vụ án hoặc có thể tách vấn đề dân sự giải quyết riêng trong vụ

án dân sự Tại Điều 3 Luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa Pháp quy định “Có thể thực hiện đồng thời quyền khởi kiện về dân sự và quyền công tố trước cùng một Tòa án Có thể kiện về dân sự đối với tất cả các thiệt hại về vật chất, thể xác cũng như tinh thần do hành vi bị truy tố gây ra” Trong khi Điều 4 Bộ luật này quy định

“Cũng có thể thực hiện quyền khởi kiện về dân sự mà không cần khởi tố hình sự hình sự Tuy nhiên, phần dân sự của vụ án sẽ chưa được xét xử chừng nào phần hình sự của vụ án chưa được xét xử xong, nếu đã khởi tố vụ án hình sự” Mục đích

4 Nguyễn Ngọc Chí (2010), “Bàn về nguyên tắc gải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Khoa

học ĐHQGHN, Luật học, 26

Trang 14

việc quy định như vậy để tránh trường hợp về trách nhiệm hình sự bị buộc nhưng trách nhiệm dân sự lại không bị buộc Ghi nhận các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện quyền yêu cầu về dân sự, Điều 371 quy định “Sau khi đã ra quyết định về hình

sự, Tòa đại hình, không có đoàn bồi thẩm tham dự, xem xét các yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn dân sự đối với bị cáo hoặc đối với bị đơn dân sự Tòa ra quyết định sau khi nghe các bên đương sự và Viện Công tố phát biểu ý kiến Tòa có thể ủy thác một thành viên của Tòa nghe các bên đương sự trình bày, tìm hiểu tại liệu và trình bày báo cáo trước Tòa, tại đây các bên đương sự và Viện Công tố vẫn

Công văn 121/2003 của TANDTC cùng với BLTTHS 2003 cơ bản làm rõ được sự khác biệt vấn đề dân sự do hành vi phạm tội và vấn đề dân sự có liên quan đến hành vi phạm tội Cơ sở ra đời công văn này như nhận định của Tòa án và cần phải đáp ứng yêu cầu thực tiễn Kế thừa những ưu điểm BLTTHS 2003, BLTTHS

2015 vẫn quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án Kết cấu Công văn phù hợp với nội dung của Điều 30 BLTTHS 2015 hiện nay, gồm: phân biệt, làm rõ nội hàm các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; khẳng định việc giải quyết dân sự được tiến hành cùng với giải quyết vụ án và điều kiện để tách phần dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

+ Phần dân sự trong vụ án hình sự bao gồm: đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, nhưng đã bị mất hoặc bị huỷ

Trang 15

hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

+ Phần dân sự trong vụ án hình sự phải được giải quyết cùng với phần hình

sự trong vụ án hình sự Chỉ được tách để giải quyết phần hay một phần dân sự trong

vụ án hình sự bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nếu phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và thuộc một trong các trường hợp: Chưa tìm được, chưa xác định được người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự; Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu; Người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự đã có yêu cầu, nhưng không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình theo yêu cầu của các CQTHTT nói chung và của Toà án nói riêng; Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà và sự vắng mặt của họ thật sự trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự

Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trước khi có Công văn hướng dẫn 121 của TANDTC xuất hiện và tranh luận giữa ba quan điểm:

Thứ nhất: Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là vấn đề dân sự đặc trưng của hình sự, là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, tinh thần là căn cứ xác định tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, yếu tố có ý nghĩa trong việc định tội, xác định khung khoản, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Do vậy vấn đề dân sự và giải quyết vấn đề dân sự phải gắn liền với trách nhiệm hình sự và là căn cứ để giải quyết vụ án.5

Thứ hai: Dân sự trong vụ án hình sự là tất cả những gì không liên quan đến hình sự như định tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không là căn cứ để xem xét giải quyết vấn đề tội phạm và hình phạt Dân sự chỉ là thuần túy các biện pháp tư pháp được đề cập trong BLHS như tịch thu tài sản, vật có liên quan đến tội phạm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra.6

Trang 16

Thứ ba theo quan điểm của nhiều người: Dân sự trong vụ án hình sự ở một phạm vi rộng hơn, bao gồm cả hai quan điểm đã đề cập trên Đề cập đến vấn đề dân

sự trong vụ án hình sự là đề cập đến hai quan hệ cơ bản là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Hai quan hệ này được xem xét giải quyết trong vụ án trên cơ sở sự kiện pháp lý là hành vi vi phạm pháp luật hình sự đã xâm hại đến nhân thân và tài sản gọi chung là bồi thường ngoài hợp đồng Người có hành vi vi phạm pháp luật đã gây thiệt hại phải có nghĩa vụ phải bồi thường Khi nói quan hệ nhân thân và tài sản cần phải xem xét, giải quyết do có hành vi vi phạm pháp luật hình sự là khẳng định mối quan hệ nội tại nguyên nhân và kết quả giữa thiệt hại dân sự là nhân thân và tài sản với hành vi vi phạm pháp luật hình sự.7

Vậy phạm vi vấn đề dân sự đến đâu, nó chỉ nảy sinh giữa người có hành vi phạm tội và các chủ thể bị thiệt hại do hành vi phạm tội hay bao gồm nghĩa vụ của người phạm tội với Nhà nước như các biện pháp tư pháp tịch thu sung quỹ nhà nước, buộc tiêu hủy vật chứng Tuy về quan điểm hiện vẫn còn tranh cãi nhưng với những quy định của pháp luật thì vấn đề dân sự là rất rộng bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ chấp hành các biện pháp tư pháp của Nhà nước

Thiệt hại về dân sự trong vụ án hình sự bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm và luôn có mối quan hệ nhân quả từ hành vi vi phạm pháp luật hình sự Những thiệt hại này luôn là thiệt hại ngoài hợp đồng và thường không xác định trước được mức độ thiệt hại, không bắt buộc trong mọi trường hợp người bị thiệt hại phải có yêu cầu bồi thường thì cơ quan tiến hành tố tụng mới giải quyết, trách nhiệm chứng minh thiệt hại bao gồm cả trách nhiệm của

Cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Nếu vấn đề dân sự này là yếu

tố cấu thành tội phạm, là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, là tình tiết có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án thì phải được giải quyết cùng vụ án Đồng thời thiệt hại dân sự cũng là một căn cứ để xem xét và phát sinh trách nhiệm hình sự

Những điểm khác biệt vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với kiện dân sự trong vụ án dân sự là những điểm sau: Căn cứ phát sinh thiệt hại dân sự trong vụ kiện dân sự; Thiệt hại trong vụ kiện dân sự là những gì; Chủ thể yêu cầu bồi thường thiệt hại dân sự trong vụ kiện dân sự gồm những ai; Cơ quan nào có thẩm quyền thụ

7 Đinh Văn Quế (2005), “Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 9

Trang 17

lý, giải quyết yêu cầu này và vai trò của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đối với yêu cầu này; Trách nhiệm chứng minh thiệt hại dân sự

Trong khi thiệt hại dân sự khi giải quyết cùng vụ án hình sự thì căn cứ khởi động vụ án là thiệt hại dân sự có nguyên nhân từ hành vi phạm tội, trách nhiệm khởi động vụ án là Cơ quan điều tra mà không cần đơn khởi kiện của người bị thiệt hại Quá trình điều tra xác định ai là người gây thiệt hại, có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hay không, có lỗi hay không, thiệt hại bao nhiêu, có đồng phạm hay không… Người bị hại có quyền đưa ra yêu cầu về dân sự và được bảo đảm giải quyết bằng cách hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, không cần thủ tục đóng tạm ứng án phí nhưng người bị bồi thường phải chịu án phí đối với phần nghĩa vụ dân sự của mình theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự Quyền bình đẳng các bên tham gia vào giải quyết vấn đề dân sự hạn chế hơn

1.2 Cơ sở của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

1.2.1 Cơ sở lý luận

Về khái niệm “nguyên tắc”, theo Từ Điển tiếng Việt “nguyên tắc” là “Điều

cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loại việc làm”8

Trong khoa học pháp lý, “Nguyên tắc của tố tụng hình sự được xác định là những phương châm, những định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận”9

Nguyên tắc của Tố tụng hình sự gắn liền với nhiệm vụ, mục đích của tố tụng hình sự Do vậy, tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự là bảo đảm quan trọng hàng đầu cho việc thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự Nguyên tắc không phải là pháp luật thực định mà là những đòi hỏi pháp lý có tính khái quát cao, mang màu sắc lý tưởng, là những yêu cầu, đòi hỏi là cái cần phải có làm định hướng cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và thực thi các quy phạm pháp luật này trong thực tiễn liên quan đến quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Trong mọi trường hợp khi tội phạm xảy ra đều đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Những thiệt hại này ngoài ảnh hưởng đến sự tồn tại và hoạt động bình thường của các quan hệ xã

8 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – TT Từ điển học, Hà Nội

9 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự, NXB Công an Nhân dân

Trang 18

hội còn bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, tinh thần Thiệt hại này là mục đích của tội phạm hướng tới hoặc là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra bao gồm: thiệt hại để khắc phục hậu quả, thiệt hại liên quan đến hành

vi phạm tội Nhiệm vụ của Luật hình sự là bảo vệ quyền công dân, quyền con người nên bên cạnh việc trừng trị hành vi phạm tội còn buộc người phạm tội bồi thường, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra Hay nói cách khác hành vi phạm tội đồng thời phải chịu hai trách nhiệm gồm trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự Việc giải quyết hai trách nhiệm này là cần thiết nhưng để giải quyết hai trách nhiệm này cần phải có hai chuyên ngành tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tuân thủ theo những thủ tục với những nguyên tắc đặc thù khác nhau BLTTHS đã kết hợp để giải quyết cả hai vấn đề này thành một nguyên tắc, với ý do của tính cấp bách, tầm quan trọng cần được bảo vệ các khách thể của BLHS, trách nhiệm chứng minh của các CQTHTT

Giải quyết vấn đề dân sự do hành vi phạm tội gây ra được ghi nhận tại Điều 30 BLTTHS 2015 Khi ghi nhận giải quyết vấn đề dân sự thành một nguyên tắc là thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta khi giải quyết hậu quả do tội phạm gây ra Gọi là nguyên tắc vì phản ánh quy luật mang tính khách quan, đáp ứng được đòi hỏi tính khái quát cao, đảm bảo mục đích của hoạt động tố tụng, mang tính ràng buộc, ảnh hưởng đối với tất cả các chủ thể tiến hành tố tụng nên khi tiến hành các hoạt động tố tụng không được trái với nguyên tắc này Tất cả để nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, quyền được tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền bình đẳng trước pháp luật, xác định sự thật vụ án Tinh thần của nguyên tắc sẽ là cơ

sở, nền tảng, kim chỉ nam chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng liên quan đến vấn đề dân sự nhưng vẫn đảm bảo những điều kiện đặc thù riêng của các chuyên ngành luật Định hướng của nguyên tắc có mục đích là giải quyết triệt để, khách quan, toàn diện, nhanh chóng những quan hệ dân sự phát sinh do hành vi phạm tội gây ra

Các cơ quan tố tụng ngoài việc chứng minh hành vi phạm tội thì phải chứng minh thiệt hại về dân sự chính xác, khách quan làm căn cứ giải quyết vấn đề dân sự Nếu những thiệt hại này có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án và là yếu tố định tội danh, là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Nó cũng định hướng đến chức năng, nhiệm vụ tố tụng của các CQTHTT và coi đây là một trong những vấn

đề cần chứng minh

Khi có thiệt hại xảy ra do hành vi phạm tội thì đồng thời với việc khởi tố vụ

án, người bị thiệt hại do tội phạm gây ra có yêu cầu thì sẽ được giải quyết cùng mà

Trang 19

không cần phải khởi động vụ án dân sự bằng các thủ tục như nộp đơn khởi kiện, đóng án phí Đây là điểm đặc thù về căn cứ khởi động việc giải quyết vấn đề dân

sự trong vụ án hình sự Khái niệm thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là một khái niệm rộng, bao gồm những thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội và thiệt hại liên quan đến hành vi phạm tội Với khái niệm này đã bao trùm cả những thiệt hại, kể cả những thiệt hại đến khách thể được bảo vệ bằng luật hình sự và là mục đích của người phạm tội, cũng như thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhưng không phải là mục đích tác động của người phạm tội Khi ghi nhận việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án tại Điều 30 BLTTHS thì nó cũng phải đảm bảo tinh thần của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự theo quy định của BLTTDS như bình đẳng, tự nguyện 10

Mọi hành vi phạm tội do chủ thể của tội phạm thực hiện đều nhằm tác động lên một khách thể cụ thể do Luật hình sự bảo vệ Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản… do tội phạm tác động gọi chung là bị hại Khi tội phạm xảy ra thì sự thiệt hại này là trái ý muốn của họ nên họ luôn có yêu cầu được bồi thường, khắc phục lại thiệt hại Trước hết đó là quyền của bị hại và là nghĩa vụ phải chứng minh của các cơ quan tiến hành tố tụng Quyền yêu cầu được bồi thường thiệt hại của bị hại có thể thấy ngay sau khi bị tội phạm xâm hại hoặc khi cơ quan tiến hành tố tụng khởi động vụ án Nhưng trong mọi trường hợp Cơ quan tiến hành

tố tụng luôn phải xem xét để giải quyết cùng với vụ án ngay cả khi người bị hại và người đại diện hợp pháp chưa có yêu cầu11 Như vậy, có thể nói trách nhiệm hình luôn gắn liền với trách nhiệm dân sự là tiền đề trách nhiệm dân sự, vì cả hai loại trách nhiệm này đều được xác định trên cơ sở lỗi của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội12 Việc giải quyết vấn đề dân sự cùng với quá trình giải quyết vụ

án hình sự là đảm bảo tính công bằng, đảm bảo quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhân dân của mỗi con người và là trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân Cụ thể trách nhiệm này là chức năng và nhiệm vụ các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình chứng minh tội phạm, chứng minh thiệt hại do tội phạm gây ra làm cơ sở giải quyết yêu cầu dân sự của người bị hại Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự giúp cho việc giải quyết vụ án được triệt để, toàn

10 Lê Nguyên Thanh, Bàn về một số nội dung mới của các nguyên tắc trong BLTTHS 2015, Võ Thị Kim

Oanh (chủ biên), NXB Hồng Đức, tr.23

11 Lê Nguyên Thanh (2010), “Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ người bị hại trong TTHS Việt Nam”,

Tạp chí khoa học pháp lý, số 6, chuyên đề quyền con người, tr.46

12 Những vấn đề lý luận và thực tiễn của tố tụng hình sự Việt Nam Kỷ yếu khoa học cấp bộ 1995 –

VKSNDTC tr 193

Trang 20

diện, góp phần làm sáng tỏ những nội dung thuộc trách nhiệm hình sự, là cơ sở cho việc định tội danh, áp dụng hình phạt và khung hình phạt

Như vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự mang tích khách quan, nó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như khẳng định mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải trừng trị So với vụ án dân sự thì vấn đề dân sự chỉ được xem xét và giải quyết khi đương sự có yêu cầu nhưng trong vụ án hình sự thì người bị hại không cần có yêu cầu hay làm thủ tục khởi kiện Việc giải quyết vấn đề dân sự cùng vụ án đem lại nhiều lợi ích cho cả người bị hại và cơ quan tiến hành tố tụng như tiết kiệm thời gian, cơ quan tố tụng không phải xem xét vấn đề nhiều lần

1.2.2 Cơ sở pháp lý

Luật TTHS của Việt Nam năm 1945 đã quy định vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm phải được giải quyết đồng thời với trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự, nhưng đến BLTTHS năm 2003 mới được coi là một nguyên tắc

cơ bản Ghi nhận nguyên tắc này là nguyên tắc cơ bản không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Nó là cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm chứng mình của các CQTHTT khi giải quyết vụ án liên quan đến vấn đề dân

sự là thiệt hại vật chất, phi vật chất và là căn cứ để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, giúp họ thực hiện quyền được yêu cầu CQTTHS bảo vệ, áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp bảo đảm

để bồi thường, góp phần việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, khắc phục được thiệt hại do tội phạm gây ra Đây chính là mục đích, tính nhân văn và trách nhiệm của các CQTHTT Kết hợp cả vấn đề dân sự và trách nhiệm hình sự trong nguyên tắc này nhằm khẳng định ý nghĩa trừng trị, giáo dục, phòng ngừa chung, tính nhân đạo trong quá trình giải quyết vụ án

Kế thừa những giá trị tốt đẹp về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã được ghi nhận ở các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và năm 1992 Quá trình đổi mới đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội, để đáp ứng và đảm bảo tốt hơn quyền con người Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định tinh thần con người là trung tâm và là mục tiêu hướng tới của sự phát triển, mọi sự cải cách đều nhằm phục vụ con người Để đảm bảo và cụ thể hóa chủ trương này, Nhà nước phải hoàn thiện đầy đủ về mặt pháp lý

và có cơ chế để thực hiện hiệu quả Trong đó pháp luật chuyên ngành hình sự là một

Trang 21

trong những công cụ hữu hiệu để bảo đảm quyền con người Quan điểm chủ đạo khi

xây dựng BLTTHS 2015 là “Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp

của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống

Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền bất khả

xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Cụ thể hóa chủ trương, đường lối này Điều 1 BLHS quy định “BLHS có

nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng người và đấu tranh chống tội phạm.”

Nhiệm vụ đầu tiên của BLHS là bảo vệ sự tồn tại và phát triển của Quốc gia, bảo vệ chế độ trong đó có bảo vệ quyền con người, quyền công dân, BLHS xác định hành vi nào là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý như thế nào Tại Điều 8

BLHS quy định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…xâm phạm độc lập,

chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế

độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự xã pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải xử lý hình sự.”

Kế thừa BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 vẫn ghi nhận nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án hình sự, việc tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này là thể hiện tính khách quan, cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Căn cứ pháp lý để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự ngoài ghi nhận tại Điều 30 BLTTHS như là một nguyên tắc thì Bộ luật luật Dân sự, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán, Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán cũng được vận dụng

để giải quyết nội dung quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng

13 Nguyễn Hòa Bình (2016), “Những nội dung mới của BLTTHS năm 2015”, NXB Chính trị Quốc gia, tr.14

Trang 22

1.2.3 Cơ sở thực tiễn

Nhận định của Viện kiểm sát Tối cao về tình hình tội phạm năm 2019 “Tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, cơ quan chức năng đã phát hiện khởi tố 78.525 vụ án, tăng 7,4% so với năm 2018 Trong đó tăng nhiều là tội phạm về ma túy với số lượng đặc biệt lớn, chủ yếu do các đối tượng người nước ngoài cầm đầu vận chuyển qua Việt Nam để đến nước thứ ba tiêu thụ Tội phạm xâm phạm trật tự kinh tế, sở hữu và môi trường tăng 6,8%, phát hiện nhiều vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, vi phạm các quy định về cho vay trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, lĩnh vực kinh doanh, thuuơng mại gây hậu quả nghiêm trọng, xảy ra nhiều vi phạm về môi trường tiềm ẩn hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Tội phạm về trật tự xã hội tăng 6,3%, xảy ra nhiều vụ giết người thể hiện tính côn đồ, manh động, mất nhân tính, các vụ mua bán người dưới hình thức mang thai hộ

Tòa án đã thụ lý 21 vụ/ 126 bị can của án tham nhũng, kinh tế do Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo Hiện Tòa đã xét xử

13 vụ/ 67 bi cáo thu hồi 35.000 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 47,32%”14

Qua vài số liệu trên ta thấy vụ án hình sự liên quan đến vấn đề dân sự có chiều hướng tăng, do đó cũng đặt ra yêu cầu phải giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án Hậu quả các vụ án hình sự có liên quan đến vấn đề dân sự như tiền, quyền tài sản, thiệt hại, chi phí để khắc phục, phổ biến xảy ra nhóm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu, xâm phạm đến hoạt động tín dụng, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, nhóm tội phạm kinh tế, chức vụ, môi trường,… Để làm rõ và xử lý người phạm tội thì cơ quan được giao nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tội phạm trong đó có các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định vấn đề dân sự thuộc trách nhiệm chứng minh, xác định mức độ thiệt hại, người gây ra thiệt hại, có lỗi hay không, những cá nhân,

tổ chức bị thiệt hại, thu hồi tài sản để khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, nêu ra được nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đề xuất và áp dụng các biện pháp để phòng ngừa và ngăn chặn thiệt hại do tội phạm gây ra một cách chủ động và hiệu quả Đây là cơ sở giải quyết vấn đề dân sự, khắc phục hậu quả do tội phạm gây ra, góp phần giải quyết triệt để vụ án, thực hiện nhiệm vụ răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của xã hội Mọi hoạt động tố tụng cũng đều nhằm mục đích khắc phục, ngăn ngừa thiệt hại nói chung trong đó

14 Báo cáo Tổng kết công tác năm 2019 của ngành Kiểm sát nhân dân và phụ lục thống kê kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành KSND năm 2019

Trang 23

bao gồm thiệt hại về dân sự do tội phạm gây ra Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu này, cơ quan tố tụng phải tiến hành nhiều biện pháp với những chức năng và nhiệm vụ cụ thể tương ứng ở từng giai đoạn tố tụng

1.3 Mối quan hệ giữa nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với một số nguyên tắc cơ bản khác của tố tụng hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là cơ sở định hướng cho toàn

bộ hoạt động tố tụng, quy định chức năng nhiệm vụ của hoạt động tố tụng, nó còn là định hướng cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong thực tiễn15 Các nguyên tắc này được cụ thể hóa từ những quy định của Hiến pháp về bảo vệ chế độ, quyền con người, quyền công dân thành những nguyên tắc đặc thù chuyên ngành Nên ở mức độ nào đó các nguyên tắc này đều có mối quan hệ với nhau, nhưng mức

độ mối quan hệ giữa các nguyên tắc là khác nhau, thể hiện sự tác động của mỗi nguyên tắc ở từng giai đoạn tố tụng là khác nhau Dù quy định vấn đề gì thì các nguyên tắc này đều phải đảm bảo xuất phát từ những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, thể hiện được tính chất, đặc điểm và chức năng hoạt động của các CQTHTT, đảm bảo các yêu cầu như về sự chính xác, khách quan, thận trọng, vô tư trong toàn bộ hoạt động tố tụng Một yêu cầu nữa là các nguyên tắc này phải đồng bộ và nhất quán với nhau về tư tưởng, định hướng, mục tiêu hoạt động tố tụng Ở một phạm vi rộng hơn

nó cùng tạo nên một chức năng chung của toàn bộ hoạt động tố tụng Do vậy muốn phát huy hết được hiệu lực của mỗi nguyên tắc theo yêu cầu thì phải đánh giá, xem xét các nguyên tắc ở trong mối liên hệ, phối hợp và bổ trợ, làm nền tảng cho nhau16

1.3.1 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với nguyên tắc xác định sự thật vụ án

Tuy có những đặc thù riêng nhưng để thực hiện, áp dụng và đảm bảo nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chúng ta cần đánh giá, xem xét nguyên tắc này trong mối liên hệ với một số nguyên tắc khác Tùy theo từng nhiệm

vụ cụ thể của hoạt động tố tụng mà sẽ có những nguyên tắc đặc thù, hỗ trợ định hướng để đạt mục đích riêng Như nhiệm vụ phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội sẽ được gắn liền và định hướng bởi nguyên tắc xác định sự thật vụ án Nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa tội phạm gắn liền với

15 Giáo trình luật TTHS, NXB Hồng Đức năm 2008, tr.45

16 Đào trí Úc, bàn về các nguyên tắc cơ bản trong Dự thảo BLTTHS Tạp chí kiểm sát số 9/2015 http: //csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1099/Ban-ve-cac-nguyen-tac-co-ban-trong-Du-thao-Bo-luat-to-tung-hinh -su-sua-doi

Trang 24

nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh sự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân

Vấn đề dân sự được giải quyết trên cơ sở trách nhiệm hình sự, phát sinh từ cơ

sở trách nhiệm hình sự Khi đề cập đến trách nhiệm hình sự là chúng ta đề cập đến chủ thể thực hiện tội phạm, yếu tố lỗi, tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây

ra, mối quan hệ giữa hậu quả và hành vi vi phạm Tất cả những vấn đề này được chứng minh, làm rõ thông qua hoạt động điều tra, truy tố và xét xử của các CQTHTT Do vậy, nguyên tắc này có quan hệ mật thiết với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án Trong nguyên tắc xác định sự thật của vụ án đòi hỏi các CQTHTT phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án

Nội dung chủ đạo của nguyên tắc xác định sự thật vụ án là xác định tính có lỗi của người bị buộc tội, là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Trách nhiệm xác định sự thật vụ án thuộc về các CQTHTT Tuy nhiên trong phạm vi những vấn đề dân sự như hướng dẫn tại Công văn 121 thì

có những vấn đề dân sự không buộc phải giải quyết cùng án hình sự Đây cũng là phạm vi của nguyên tắc xác định sự thật vụ án cần được làm rõ để đánh giá tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Trong mối quan hệ này đã khẳng định

sự cần thiết phải làm rõ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Tuy nhiên vấn đề dân

sự cũng có thể tách ra để giải quyết riêng đó cũng là hạn chế nhất định của nguyên tắc khi xét trong mối quan hệ với các nguyên tắc nền tảng, chủ đạo khác nhưng nó cũng thể hiện tính độc lập tương đối của nguyên tắc này Việc này rất có ý nghĩa trong quá trình giải quyết vụ án, tránh làm cho quá trình giải quyết vụ án bị trì trệ, kéo dài, ảnh hưởng kết quả giải quyết vụ án, gây thiệt hại cho những người tham gia

tố tụng, hạn chế hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm

1.3.2 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và đương sự

Mối quan hệ này khẳng định mọi hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều

bị xử lý theo pháp luật Ý nghĩa mối quan hệ là khẳng định hành vi xâm hại đều bị

xử lý, chịu sự cưỡng chế của nhà nước và buộc trách nhiệm phải bồi thường của

Trang 25

người có hành vi phạm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân, danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân

Một ý nghĩa khác của mối quan hệ giữa hai nguyên tắc này là khẳng định trách nhiệm của các CQTHTT khi giải quyết vấn đề dân sự không chỉ tuân theo thủ tục tố tụng hình sự, luật hình sự mà còn là quá trình đánh giá, xem xét áp dụng pháp luật dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan Mục đích làm rõ hành vi vi phạm pháp luật hình sự, tính có lỗi, trách nhiệm phải bồi thường, những thiệt hại cần được xem xét và phạm vi các yêu cầu, các biện pháp bảo đảm bồi thường

Khác biệt giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự là khác nhau Trách nhiệm hình sự là biện pháp cưỡng chế của nhà nước đối với người phạm tội mục đích nhằm trấn áp hành vi chống lại xã hội Còn trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự do tòa án buộc đối với người có lỗi nhằm giải quyết xung đột về lợi ích khi thiệt hại xảy ra giữa các cá nhân trong xã hội17 Tuy là vấn đề dân sự nhưng

nó là vấn đề phát sinh từ vụ án hình sự

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tạo điều kiện cho người bị hại chứng minh thiệt hại và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra Người bị thiệt hại do tội phạm có nhiều thuận lợi hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, góp phần làm cho việc xét xử vụ án về mặt hình sự cũng như về mặt dân sự được đầy đủ và toàn diện hơn Hơn ai hết họ là người biết rõ về hành vi phạm tội nên có thể phản ánh đầy đủ hành vi tội phạm, thiệt hại do tội phạm gây ra Cơ sở để yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự là xác định được mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra

Khi vụ án hình sự được khởi động, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được thiệt hại do tội phạm gây ra Đây cũng là căn cứ để người bị hại đưa ra yêu cầu dân sự của mình nên không cần thiết phải có đơn yêu cầu So với vụ kiện dân

sự thuần túy thì yêu cầu khởi kiện về dân sự là căn cứ phát sinh để Tòa án thụ lý, giải quyết Nhưng cũng không thể hiểu rằng quyết định khởi tố vụ án hình sự thay thế cho yêu cầu khởi kiện dân sự của người bị hại Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải tuân theo những quy định của BLTTHS Bản chất là giải quyết thiệt hại do tội phạm gây ra nên ngoài là những quan hệ dân sự đơn thuần nó còn là căn cứ quan trọng để xác định tội phạm, hình phạt cũng những các tình tiết

17 Nguyễn Văn Đang (2005), “Giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân,

tháng 11, (Số 21), tr.2

Trang 26

có ý nghĩa khác của vụ án Chỉ khi nào vấn đề dân sự hay thiệt hại do tội phạm gây

ra đủ cả hai yếu tố đó thì trách nhiệm chứng minh thiệt hại sẽ thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng

Bên cạnh trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng đối với thiệt hại do tội phạm gây ra trực tiếp với cá nhân, tổ chức cụ thể thì tội phạm còn gây thiệt hại khác Chủ thể có những yêu cầu bồi thường thiệt hại này gọi chung là đương sự trong vụ án gồm nguyên đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan Đương

sự trong vụ án dân sự phải có trách nhiệm chứng minh yêu cầu của mình Nhưng đối với vụ án hình sự tùy vào mối quan hệ thiệt hại và hành vi phạm tội mà những thiệt hại này đã được cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh toàn bộ hoặc một phần Đương sự có quyền sử dụng kết quả điều tra để chứng minh cho yêu cầu của mình

1.4 Ý nghĩa của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa giải quyết triệt để vụ án, toàn diện vụ án:

Việc ghi nhận nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cơ bản là vô cùng quan trọng, nó không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Trước hết nó là sự cụ thể hóa nguyên tắc mọi công dân đều được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản, quyền bất khả xâm phạm đến tính mạng, tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm đã được ghi nhận trong Hiến pháp Vì bất cứ hành vi vi phạm pháp luật hình sự đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về mặt dân sự là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất như tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh sự, uy tín, nhân phẩm…nên hành vi này phải bị pháp luật trừng trị Do vậy, nguyên tắc này là cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm chứng minh của các Cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án phải giải quyết luôn những thiệt hại về dân sự trong vụ án nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác và kịp thời, khắc phục được những thiệt hại do tội phạm gây ra

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa giải phóng nghĩa vụ chứng minh thiệt hại của bị hại và đương sự trong một số trường hợp nhất định:

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh chóng, tiết kiệm cho cả cơ quan tiến hành tố

Trang 27

tụng và người tham gia tố tụng, không phải tiến hành các hoạt động tố tụng trùng lắp khi phải giải quyết riêng vấn đề dân sự, xem xét đánh giá lại những tình tiết vụ

án làm căn cứ phát sinh nghĩa vụ bồi thường dân sự cũng như yêu cầu dân sự, với

sự hỗ trợ của cơ quan tố tụng thì những người bị thiệt hại về dân sự do hành vi phạm tội gây ra có điều khiện thuận lợi hơn để chứng minh yêu cầu của mình Đây chính là mục đích, tính nhân văn và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Nguyên tắc này khẳng định việc kết hợp cả vấn đề dân sự và trách nhiệm hình sự nhằm khẳng định tính trừng trị, ý nghĩa giáo dục, phòng ngừa, trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, đó chính là nhân văn và là mục đích của nguyên tắc

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa kịp thời khắc phục hậu quả của tội phạm, góp phần hòa giải, hàn gắn quan hệ xã hội:

Bên cạnh trách nhiệm hình sự của người phạm tội thì họ còn phải chịu trách nhiệm dân sự do hành vi phạm tội của mình gây ra Việc áp dụng chế tài dân sự cùng với trách nhiệm hình sự nhằm tăng hiệu quả hình phạt và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội, triệt tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Ngoài ra, giải quyết vấn đề dân sự ngay trong vụ án hình sự có ý nghĩa thực tiễn là: Góp phần vào việc bảo đảm cho quá trình tiến hành tố tụng được thực hiện một cách thống nhất; là cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng, bảo đảm mọi hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của công dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đều phải bồi thường và xử lý kịp thời; góp phần vào việc động viên, giáo dục và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức và mọi công dân có ý thức tuân thủ pháp luật và tích cực tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm và dân chủ hóa quá trình tố tụng; có ý nghĩa cho việc định hướng xây dựng pháp luật tố tụng hình sự, đề cao quyền con người

Trang 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đối với bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra trên thực tế đều đã gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản…gọi chung là thiệt hại về dân sự Nhiệm vụ của việc đấu tranh phòng chống tội phạm ngoài việc điều tra, truy

tố, xét xử hành vi phạm tội còn buộc người phạm tội phải khắc phục lại những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra đây là một nhu cầu thực tế Tuy nhiên việc chứng minh những thiệt hại dân sự này không phải lúc nào cũng thuộc về trách nhiệm các

cơ quan tiến hành tố tụng nên cũng phần nào ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Mặc dù có rất nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian, chi phí, nhanh chóng cho cả người tham gia

tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết luôn vấn đề dân sự cùng với giải quyết vụ án Nhưng cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chứng minh những thiệt hại về dân sự là yếu tố định tội, là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ là tình tiết có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án còn lại là quyền tự chứng minh của người tham gia tố tụng Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích của người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra trên cơ sở kế thừa truyền thống lập pháp quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự, cụ thể hóa việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân trong Hiến pháp 2013 BLTTHS, nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự tiếp tục được ghi nhận Điều đó thể hiện giá trị vững chắc về mặt lý luận cũng như đáp ứng được nhu cầu thực tiễn

Khi được ghi nhận là nguyên tắc cơ bản thì nó chi phối hoạt động chức năng, nhiệm vụ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời khẳng định việc giải quyết vấn đề dân sự khi giải quyết vụ án là một yêu cầu bắt buộc trừ một số trường hợp phải tách ra giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Để đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc thì việc giải quyết vấn đề dân sự phải được xem xét đánh giá trong mối quan hệ chi phối, ảnh hưởng, tác động và hỗ trợ qua lại với các nguyên tắc khác như nguyên tắc xác định sự thật vụ án, nguyên tắc bình đẳng giữa những người tham gia tố tụng, nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và đương sự, nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng chung của hoạt động tố tụng

Trang 29

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ

TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.1 Vấn đề dân sự phải được giải quyết cùng với giải quyết vụ án hình sự

Ngay từ đầu, CQTHTT phải xác định được vấn đề dân sự liên quan đến vụ án

ở mức độ nào, có phải là những vấn đề dân sự thuộc trách nhiệm chứng minh của CQTHTT và phải giải quyết trong vụ án Trên cơ sở đó CQTHTT xác định đúng, đủ

tư cách của người tham gia tố tụng gồm ai, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào đối với yêu cầu dân sự trong vụ án Từ đó làm cơ sở định hướng, căn cứ pháp lý để cho Tòa án đánh giá, giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án

Bản chất vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là quan hệ pháp luật dân sự nhưng nó lại phát sinh trên cơ sở hành vi phạm tội Do đó nó vừa là quan hệ dân sự vừa là tình tiết, căn cứ quan trọng có ý nghĩa để đánh giá về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tuy dựa vào quy định Luật tố tụng hình sự nhưng một số khái niệm và nguyên tắc cơ bản trong BLTTDS vẫn được áp dụng như thời hiệu để xem xét yêu cầu dân sự, nguyên tắc tự thỏa thuận, bình đẳng giữa các đương sự, trách nhiệm tự chứng minh…

Căn cứ pháp lý để giải quyết là Chương XX BLDS quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm pháp TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC và Điều 584 BLDS 2015 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, có thiệt hại thực tế xảy ra và

có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi có lỗi và thiệt hại thực tế Thiệt hại có thể là thiệt hại thực tế và chi phí để khắc phục, sửa chữa, tổn thất Có thể chia làm hai loại gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại phi vật chất như tổn tất về tinh thần, uy tín

2.1.1 Chủ thể tham gia giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Cơ quan, người tiến hành tố tụng:

Quan hệ tố tụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh18

18 Giáo trình luật TTHS, NXB Công an ND Hà nội 2019, tr.13

Trang 30

Quan hệ này quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì

Cơ quan tiến hành tố tụng gồm:

a) Cơ quan điều tra;

Các cơ quan tiến hành tố tụng có những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng, nhưng hoạt động trong mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau Các cơ quan này có trách nhiệm nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người

vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Cơ quan và người tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng, người biết việc, người liên quan, tài liệu đang do cơ quan, tổ chức quản lý, trưng cầu, giám định…để xác định ai là người bị thiệt hại, mức độ thiệt hại, có yêu cầu giải quyết hay không Bên cạnh đó Cơ quan và người tiến hành tố tụng cũng tham gia tác động, hỗ trợ các bên tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề dân sự phát sinh từ hành vi phạm tội

Đối với các vấn đề dân sự tuy không thuộc trách nhiệm chứng minh của các

cơ quan tiến hành tố tụng nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng phải ghi nhận và giải thích cho người có yêu cầu Cơ quan tiến hành tố tụng luôn khuyến khích các bên tự nguyện giải quyết trên cơ sở quy định pháp luật, góp phần giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, triệt để và toàn diện

Trang 31

Chúng ta sẽ phân tích làm rõ phạm vi, giới hạn yêu cầu, những hạn chế về mặt pháp luật làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền này của các bên liên quan

Nhóm có quyền yêu cầu bồi thường về dân sự:

Bị hại:

Khoản 1 Điều 62 BLHS 2015 quy định “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt

hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”

Theo từ điển tiếng việt thì “Trực tiếp” nghĩa là có quan hệ thẳng với đối tượng tiếp xúc, không qua khâu trung gian Khi nói thiệt hại trực tiếp do hành vi phạm tội gây ra cho cá nhân và tổ chức nhằm phân biệt bị hại với các đương sự khác ở chỗ mối quan hệ mang tính nhân quả giữa hành vi và thiệt hại do tội phạm Hành vi phạm tội luôn chứa đựng ý thức chủ quan của người phạm tội, nghĩa là những thiệt hại này phải là mục đích của người tội phạm hướng tới

Bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác dẫn đến những thiệt thòi, mất mát hay tổn thương cho chính họ Những thiệt thòi này tác động trái ý muốn, thụ động đối với bị hại, thiệt hại gây ra cho bị hại có thể là thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất và không giới hạn mức độ19

Trước khi có BLTTHS 1988, tại Thông tư 16-TATC ngày 27/9/1974 của

TANDTC đã định nghĩa “Người bị hại là công dân đã bị kẻ phạm tội trực tiếp xâm

phạm đến thể chất, tài sản hoặc xâm hại về tinh thần như bị tăng nhục, đánh, giết, trộm cắp, lừa đảo” Tại Điều 39 BLTTHS năm 1988 và Điều 51 BLTTHS năm

2003 đều định nghĩa “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài

sản do tội phạm gây ra” Như vậy theo định nghĩa người bị hại đến thời điểm này

có những đặc điểm sau: Là con người (thể nhân) cụ thể; thiệt hại gây ra cho người

là thể chất, tinh thần và tài sản; nguyên nhân của thiệt hại là do tội phạm 20

Tại khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015 định nghĩa “Bị hại là cá nhân trực

tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại

về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.”

19 Lê Nguyên Thanh (2012), Người bị hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ

20 Lê Nguyên Thanh (2012), “Bàn về khái niệm người bị hại trong Tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp

lý, số 5, tr.22

Trang 32

Định nghĩa người bị hại trong BLTTHS hiện nay khái quát cả “người” bị thiệt hại và “mức độ thiệt hại”, chủ thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, thiệt hại

do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Như vậy khái niệm bị hại bao gồm cả về mặt

xã hội là những thiệt hại cụ thể và mặt pháp lý là được ghi nhận bằng vị trí của một người tham gia tố tụng với các quyền và nghĩa vụ tương ứng Có thể về mặt xã hội

là không có thiệt hại xảy ra nhưng về mặt pháp lý vẫn ghi nhận họ là người bị hại điều này là đúng và phù hợp trong một số tội danh có cấu thành hình thức, nó đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm Ngoài nhóm tội danh có cấu thành hình thức thì nhóm tội danh có cấu thành vật chất nhưng tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị, phạm tội chưa đạt Cả hai trường hợp này bị hại có quyền tham gia để chứng minh hành vi phạm tội nhưng quyền yêu cầu bồi thường về dân sự có thể xem xét vì chưa có thiệt hại xảy ra Từ đó có thể khái quát bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra và hoàn thành trên thực tế đều có bị hại Tuy nhiên trong mọi trường hợp nhận thức như vậy là chưa phù hợp vì đối với nhóm tội xâm phạm trật tự quản

lý hành chính Khách thể của nhóm tội này là hoạt động bình thường của quan hệ xã hội được hình thành thông qua hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Hậu quả của tội phạm có thể là thiệt hại về tài sản, hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Những người, cơ quan được giao nhiệm vụ quản

lý trong lĩnh vực này chỉ tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự chứ không phải là bị hại theo định nghĩa tại Điều 61 BLTTHS năm 2015

Có thể có nhiều người có thể làm đại diện theo pháp luật của người bị hại, trường hợp họ không thống nhất được về quyền lợi và nghĩa vụ, hoặc không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ hoặc có nhưng không đủ năng lực hành vi dân sự Thừa kế thế vị có được đặt ra khi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất vẫn còn nhưng lại không đủ năng lực hành vi dân sự nên không thể tham gia tố tụng được, trường hợp này người giám hộ của người chưa đủ năng lực hành vi dân sự có được tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật của người bị hại21

Người đại diện theo pháp luật của người bị hại là trẻ em, người hạn chế năng lực hành vi

21 Lê Văn Sua, pháp luật tố tụng hình sự quy định về người tham gia tố tụng, những bất cập và kiến nghị http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1115/Phap-luat-to-tung-hinh-su-quy-dinh-ve-nguoi-tham-gia-to- tung-Nhung-bat-cap-va-kien-nghi

Trang 33

Tại mục 1.4 Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư

“Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS, có quy định “Trong trường hợp người bị hại chết mà có từ hai người trở lên đều là người đại diện hợp pháp của người bị hại (ví

dụ cha, mẹ, vợ và con thành niên của người bị hại) thì phải cử ra một người làm đại diện hợp pháp của người bị hại

Tại mục 10 Công văn 5024/VKSTC-V14 ngày 19/11/2018 Của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS

và nghiệp vụ THQCT, kiểm sát việc giải quyết VAHS trong ngành KSND Theo đó đối với trường hợp người bị hại là trẻ em không có người thân thích hoặc người thân

thích lại là người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự không thể thực

hiện các quyền đó thì theo các quy định tại các điều 52, 54, 136, 138 BLDS năm

2015, điểm e khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015, người đại diện của họ có thể là người giám hộ do UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ cử (nếu người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên) hoặc người giám hộ do Tòa

án chỉ định (nếu có tranh chấp về việc cử người giám hộ) hoặc người do Tòa án chỉ định (nếu không xác định được người đại diện)

Căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 4 BLTTHS năm 2015 thì người thân thích của người bị hại là trẻ em gồm: bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, ông nội,

bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột

Như vậy từ giai đoạn tố tụng trước việc xác định người đại diện theo pháp luật hoặc cử người giám hộ cho người bị hại là trẻ em không có người thân thích hoặc người thân thích không có năng lực hành vi dân sự nếu xảy ra tranh chấp cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ Nhưng khi vụ án đang ở giai đoạn điều tra, truy tố và cần phải có người đại diện theo pháp luật hoặc người giám

hộ nhưng nảy xảy ra tranh chấp cử người đại diện hoặc xác định người giám hộ, đây

là quan hệ tranh chấp quyền nhân thân phải do Tòa án xem xét giải quyết theo trình

tự tố tụng dân sự Sau khi xác định được người đại diện theo pháp luật hoặc người giám hộ thì họ sẽ tham gia tố tụng và thực hiện các quyền năng tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại là trẻ em

Không có quy định nào thể hiện trách nhiệm của các Cơ quan tố tụng phải xác định tư cách tố tụng nhưng việc xác định đúng tư cách tố tụng lại rất có ý nghĩa

Trang 34

trong việc giải quyết vụ án và là căn cứ để giải quyết vấn đề dân sự được chính xác, toàn diện Như vậy, khi xảy ra tranh chấp người đại diện theo pháp luật của người tham gia tố tụng là trẻ vị thành niên thì Tòa án phải giải quyết bằng thủ tục tố tụng dân sự, đây là hai thủ tục tố tụng khác nhau, có hậu quả pháp lý khác nhau mà kết quả giải quyết của thủ tục tố tụng dân sự là căn cứ để tiếp tục thủ tục tố tụng hình

sự Nên cần phải có sự quy định đảm bảo việc phối hợp, sử dụng kết quả pháp lý của mỗi quá trình tố tụng

Nguyên đơn dân sự:

Tại Điều 40 BLTTHS 1988, Điều 52 BLTTHS 2003 và Điều 63 BLTTHS

2015 đều định nghĩa “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” Như vậy, định nghĩa nguyên đơn dân sự từ năm 1988 đến nay là không thay đổi, trong định nghĩa nguyên đơn dân

sự đã thể hiện rõ mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi tội phạm, quyền tham gia tố tụng của họ Đây là sự khác biệt giữa nguyên đơn dân sự và bị hại

Trong bất cứ vụ án nào xảy ra việc xác định chính xác bị hại là rất quan trọng, giúp phân biệt được thiệt hại nào của bị hại hay của người tham gia tố tụng khác, những thiệt hại nào có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án Chúng ta xác định được vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cụ thể gồm những gì, quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng nào cần được giải quyết, những chủ thể liên quan Những thiệt hại này có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án như là yếu tố định tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thể tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự khác, thời hiệu yêu cầu xử lý như thế nào, đảm bảo nguyên tắc tự định đoạt trong giải quyết vụ việc dân sự

Nhóm người bị yêu cầu bồi thường dân sự:

Bị can, bị cáo:

Là chủ thể của tội phạm, là người gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự…về mặt pháp lý là người phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, là người bị yêu cầu bồi thường dân sự Là một bên trong quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng, được biết mình bị yêu cầu bồi thường những

gì, được đưa ra chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình về việc chấp nhận toàn bộ, một phần hay không chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường dân sự của những người tham gia tố tụng khác với mình

Trang 35

Quyền của bị can, bị cáo22 chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự mà chưa quy định yêu cầu làm rõ yêu cầu bị bồi thường Trong khi vấn đề dân sự ngoài là cấu thành tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì trách nhiệm chứng minh thiệt hại thuộc về các đương sự trong đó gồm cả bị can, bị cáo Vì đây là quyền của họ, việc ghi nhận và bảo đảm cho họ thực hiện quyền này góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề dân sự Muốn vậy bị can, bị cáo phải được biết các yêu cầu dân sự của người khác với mình để họ thực hiện quyền thu thập, củng cố chứng cứ phản bác hoặc chấp nhận, bảo vệ quyền và lợi ích cho mình Hiện nay, việc giải quyết vấn đề dân sự thường diễn ra tại tòa án, thẩm phán là người đánh giá, xem xét các yêu cầu dân sự Tùy trường hợp Tòa án sẽ tự mình thu thập thêm hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung Nhưng khi vấn đề dân sự được giải quyết tại phiên tòa do tâm lý e ngại không dám phản bác yêu cầu dân sự và lo sợ bị ảnh hưởng đến việc quyết định hình phạt do

bị đánh giá thái độ thành khẩn Do vậy, tính bình đẳng, tự nguyện là một nguyên tắc

cơ bản trong giải quyết các vấn đề dân sự bị hạn chế rất nhiều tại phiên tòa23

Ngoài ra, tại điểm f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có quy định về án phí sơ thẩm trong vu án hình sự liên quan đến phần dân sự như sau:

“f) Trước khi mở phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về bồi thường thiệt hại và đề nghị Tòa án ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì họ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm Tại phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì họ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp Tòa án đưa ra xét xử vụ án đó;

g) Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp”

Đối với việc giải quyết vấn đề dân sự của bị cáo tại phiên tòa, sau khi kết thúc việc xét hỏi đến phần tranh luận thì bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình trong đó có yêu cầu dân sự Không có quy

22 Điều 60, 61 BLTTHS 2015

23 Nguyễn Thị Thu Hiếu, Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/bao-dam-quyen-cua-bi-can-bi-cao-khi-giai-quyet-van-de-dan-su- trong-vu-an-hinh-su,truy cập lúc 08:31GMT+7,thứ sáu,30 tháng 8 năm 2019

Trang 36

định nào để Tòa án tiến hành hòa giải, cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vấn đề dân sự ở giai đoạn này Do vậy, các vấn đề dân sự trong vụ án được giải quyết tại phiên tòa bị cáo phải chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu dân sự của đương sự khác Mặc dù có hướng dẫn miễn án phí nếu đương sự, bị cáo giải quyết được vấn đề dân

sự trước khi mở phiên tòa nhưng hiện nay chưa có hướng dẫn đương sự, bị cáo phải nộp tiền bồi thường tại đâu, cơ quan nào có trách nhiệm thu tiền, ghi nhận việc này và cách tính án phí trong bản án như thế nào Khi đương sự, bị can, bị cáo tự nguyện nộp tiền để bồi thường dân sự thì người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán) không có trách nhiệm giữ tiền mà hướng dẫn họ đến nộp tại cơ quan thi hành án hoặc kho bạc nhà nước để làm căn cứ tòa án ghi nhận24 Có nơi không chấp nhận vì quan điểm Cơ quan thi hành án, Kho bạc nhà nước chỉ thu tiền của công dân dựa trên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do việc quy định chưa rõ ràng về thủ tục thỏa thuận, hòa giải để giải quyết vấn đề dân sự giữa các đương sự với bị can, bị cáo trước khi mở phiên tòa, thủ tục ghi nhận và thông báo cho

cơ quan thi hành án tạm thu số tiền của đương sự, bị can, bị cáo nộp để khắc phục hậu quả nên cần được ghi nhận và bổ sung Việc quy định như vậy, vừa tăng tính chủ động của bị can, bị cáo trong việc khắc phục hậu quả, đảm bảo quyền lợi của bị can,

bị cáo được pháp luật ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình, đồng thời áp dụng quy định về thu án phí được công bằng, có cơ sở

Bị đơn dân sự:

Được quy định tại Điều 64 BLTTHS nhưng khác với bị đơn trong TTDS, họ

là người bị kiện vì cho rằng đã xâm hại đến quyền và lợi ích của người khởi kiện, Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yều cầu của họ Nhưng bị đơn dân

sự trong TTHS là người mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Việc quy định bị đơn dân sự là người mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không phù hợp với quy định pháp luật dân sự, vì trách nhiệm bồi thường phụ thuộc vào mức độ lỗi của người gây thiệt hại Khi quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là sự khẳng định mang tính nghĩa vụ bắt buộc Quá trình giải quyết vụ án là quá trình xác định thiệt hại, ai gây ra, có lỗi của người có quyền yêu cầu bồi thường không, ai có trách nhiệm phải bồi thường Tất

24 Hoàng Cao Minh, “Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”

http://vienkiemsattinhphutho.gov.vn/tin-tuc/Phong-7/30121/giai-quyet-van-de-dan-su-trong-vu-an-hinh-su

Trang 37

cả việc này cần có thời gian và việc xác định được ai có trách nhiệm phải bồi thường có thể sớm hoặc muộn, nó có thể xuất hiện ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào Các bên tham gia tố tụng đều có quyền cung cấp chứng cứ để chấp nhận hoặc bác

bỏ yêu cầu của đương sự khác và việc xác định ai có nghĩa vụ bồi thường là dựa vào phán quyết của Tòa án

Trong TTDS có quy định người phản tố25 của bị đơn dân sự đối với nguyên đơn dân sự, tương ứng quyền của bị đơn trong TTHS là chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự đối với mình Việc chấp nhận hoặc bác bỏ này không phải duy nhất dựa vào ý chí của họ mà phải căn cứ vào chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án để xem có cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường hay không Việc ghi nhận quyền của họ đối với yêu cầu đòi bồi thường về dân sự của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền phản bác là cần thiết Hậu quả của việc phản bác nếu có cơ sở sẽ dẫn đến loại trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ bồi thường về dân sự Ví dụ: A sử dụng xe mô

tô của B gây ra tai nạn hậu quả xe của B hư, B yêu cầu A bồi thường xe nhưng A có yêu cầu phản tố là tiền B mua xe là mượn của A nên đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu Do vậy, tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS khẳng định bị đơn dân sự là người

mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không phù hợp nếu yêu cầu đòi bồi thường dân sự của đương sự không có căn cứ hoặc chỉ có một phần Điều luật không bao quát hết, mâu thuẫn với quyền phản bác dẫn đến loại trừ trách nhiệm bồi thường như chính khoản 2 của Điều luật và chưa phù hợp tinh thần nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự

Thời điểm xem xét và được Tòa án chấp nhận đối với yêu cầu phản tố của bị đơn trong TTDS là trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Việc quy định thời điểm để Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn nhằm đảm bảo giải quyết vụ án đúng thời hạn, tránh kéo dài, đồng thời cũng là để đương sự chủ động yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích

25 Điều 200 BLTTDS 2015 quy định quyền yêu cầu phản tố của bị đơn “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án

văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập khi thuộc cán trường hợp sau: Yêu cầu phản

tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; Yêu cầu phản tố dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong một vụ

án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.”

Trang 38

hợp pháp của mình Tuy quy định thời điểm để chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn không có nghĩa là Tòa án từ chối không thụ lý yêu cầu giải quyết của đương sự

vì trong mọi trường hợp Toà án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý

do chưa có điều luật để áp dụng26 Do vậy nếu bị đơn không kịp yêu cầu phản tố với nguyên đơn trong thời hạn do BLTTDS quy định thì họ phải khởi kiện độc lập bằng

vụ án dân sự khác

Việc xem xét yêu cầu phản tố này của bị đơn dân sự là phù hợp quyền của bị đơn dân sự về việc chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự quy định tại khoản 2 Điều 64 BLTTHS năm 2015 Bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải xem xét thời điểm bị đơn thực hiện quyền phản tố Nếu sau thời điểm này thì cần phải xem xét tách vấn đề dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết yêu cầu này bằng vụ án dân sự khác theo trình tự tố tụng dân sự Việc bổ sung những thiếu sót trên vừa đảm bảo dự liệu hết được các tình huống phát sinh vừa đảm bảo giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo nguyên tắc giải quyết vụ án dân sự

Nhóm được yêu cầu bồi thường hoặc bị yêu cầu bồi thường:

Một khái niệm chung của người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền

và nghĩa vụ liên quan lần đầu tiên được BLTTHS 2015 gọi là “đương sự” và được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 4 BLTTHS

Để phân biệt người có quyền và nghĩa vụ liên quan tại khoản 4 và khoản 6

Điều 68 BLTTDS định nghĩa “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án

dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân

sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Việc đưa khái niệm mới đương sự để chỉ cả ba người tham gia tố tụng như trên là muốn đề cập đến quyền được yêu cầu bồi thường về dân sự Khái niệm này phù hợp và phản ánh đầy đủ về quyền yêu cầu bồi thường dân sự, thể hiện được việc kết hợp nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Việc kế thừa và tiếp nhận quyền yêu cầu về dân sự của đương sự được thể hiện tại các khoản 2 của các Điều 62, Điều 63 và Điều 65 BLTTHS Theo đó, họ có quyền cung cấp chứng cứ, yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, sao chụp tài liệu,

26 Khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015

Trang 39

trưng cầu giám định, định giá tài sản, triệu tập người làm chứng Đương sự trong

vụ án hình sự có yêu cầu về dân sự thì họ phải cung cấp, chứng minh hoặc yêu cầu giám định, định giá để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ So sánh vậy ta thấy việc quy định trách nhiệm chứng minh của đương sự trong Bộ luật TTHS phù hợp với tinh thần của BLTTDS về nghĩa vụ và mục đích chứng minh

Người có quyền lợi liên quan trong TTHS là người không thực hiện hành vi phạm, không phải là người có đối tượng (quyền sở hữu, quyền nhân thân) mà tội phạm muốn tác động nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến họ, cái liên quan

là tài sản, quyền nhân thân Tương tự có quan điểm cho rằng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình

sự nhưng vẫn phải đưa vào tham gia tố tụng để xử lý theo pháp luật về quyền và nghĩa vụ về tài sản của họ có liên quan đến tội phạm27 Có quan điểm cho rằng người có quyền và nghĩa vụ liên quan là người có quyền lợi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi quyết định của Tòa án28

Bình luận khoa học BLTTHS của nhiều tác giả đều đưa ra khái niệm “Người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được hiểu là người không tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc có tham gia vào việc thực hiện tội phạm mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải đưa vào tham gia tố tụng để để xử theo quy định pháp luật về quyền hoặc nghĩa vụ

về tài sản của họ có liên quan đến tội phạm.”29

Nói theo nội hàm thì quyền lợi và nghĩa vụ là hai khái niệm có nghĩa hoàn toàn khác nhau, người có quyền lợi liên quan đến vụ án thì họ có thể từ bỏ quyền lợi của mình bằng cách không yêu cầu CQTHTT buộc người gây ra thiệt hại cho mình bồi thường thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần Còn người có nghĩa vụ liên quan đến

vụ án thì bắt buộc họ phải tham gia, bởi có thể phải chịu trách nhiệm về thiệt hại tinh thần hoặc vật chất do liên quan đến hành vi của người phạm tội như do họ được lợi không có căn cứ về vật chất hoặc tinh thần mà họ không biết nên họ có trách nhiệm bồi hoàn, bồi thường lại Nghĩa họ có thể có lợi gọi là người có quyền hoặc

27 Võ khánh Vinh (2004), NTGTT, Bình luận khoa học tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.64

28 Phan Thanh Tùng, một số vấn đề về người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của

BLTTHS http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet (truy cập ngày 06/06/2016

29 Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994 và Vũ Mạnh Thông, Nguyễn Ngọc Điệp trong

cuốn, Bình luận BLTTHS, do nhà xuất bản Lao động-Xã hội, Hà Nội xuất bản năm 2009

Trang 40

không có lợi gọi là người có nghĩa vụ hoặc cả hai Như vậy người có quyền và nghĩa vụ liên quan không phải là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự nhưng là người bị ảnh hưởng về quyền dân sự khi CQTHTT giải quyết vụ án và có yêu cầu dân sự cần giải quyết trong cùng vụ án30

Trong Tố tụng dân sự khi đương sự tự đề nghị tham gia với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan và yêu cầu tòa giải quyết, nếu có cơ sở thì được chấp nhận nếu không thì Tòa bác Trong Tố tụng hình sự các cơ quan tố tụng phải kiểm tra, xác định chính xác tư cách tố tụng của họ mặc dù không có quy định bắt nhưng xác định sai tư cách tố tụng thì sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của họ

Khi công nhận tư cách tố tụng của đương tham gia vào quá trình giải quyết

vụ án sẽ có những ưu điểm như: xác định phạm vi yêu cầu dân sự của họ từ đó xác định tính tự do lựa chọn thủ tục giải quyết yêu cầu dân sự Viện kiểm sát và Tòa án

có trách nhiệm xác định, thẩm tra, đánh giá tư cách tố tụng của Cơ quan điều tra đối với người tham gia tố tụng và quyền, nghĩa vụ của họ ở các giai đoạn tố tụng trước

Trong thủ tục TTDS xuất phát từ yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án sẽ xác định

ai là bị đơn, dựa vào quan hệ tranh chấp Tòa án xác định ai là người có quyền và nghĩa vụ liên quan Hoặc một số trường hợp người có quyền và nghĩa vụ liên quan phải tự yêu cầu vì yêu cầu của nguyên đơn không thể hiện mối quan hệ với người

có quyền và nghĩa vụ hoặc họ cố tình giấu Tùy trường hợp việc xác định không đầy

đủ tư cách tố tụng của đương sự là người có quyền và nghĩa vụ liên quan có thể là căn cứ để hủy án hoặc sẽ được Tòa án thụ lý giải quyết riêng

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quy định chung tại Điều 65 BLTTHS 2015 nhưng thực tiễn cho thấy người tham gia tố tụng nhưng lại

có quyền lợi và nghĩa vụ hoàn toàn khác nhau, thậm chí đối lập nhau Người chỉ có quyền lợi liên quan đến vụ án và có người chỉ có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và cũng có trường hợp họ có cả quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án là người có lợi ích vật chất hoặc tinh thần bị xâm phạm có liên quan đến hành vi phạm tội của người phạm tội Những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên quan đến hành vi phạm tội mới được công nhận là người có quyền lợi liên quan đến vụ án hình sự Khi hành vi của ai đó có liên quan

30 Lê Văn Sua, Pháp luật TTHS quy định về người tham gia tố tụng – những bất cập và kiến nghị, http:// moj.gov.vn/ct/tintuc/Pages/nghien-cuu-traodoi.aspx?ItemID=6817

Ngày đăng: 18/09/2023, 06:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT/BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 24/10/1998 hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.B. Văn bản pháp luật quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT/BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC
Nhà XB: Văn bản pháp luật quốc tế
Năm: 1998
15. Nguyễn Hòa Bình (2016), “Những nội dung mới của BLTTHS năm 2015”, NXB Chính trị Quốc gia, tr.14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới của BLTTHS năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
16. Nguyễn Ngọc Chí (2010), “Bàn về nguyên tắc gải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nguyên tắc gải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2010
17. Nguyễn Văn Đang (2005), “Giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 11 (Số 21), tr.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Văn Đang
Năm: 2005
18. Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập 1), NXB CAND, Hà Nội 2005, trang 127 19. Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Hồng Đức năm 2008, tr.153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập 1)
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2005
22. Nguyễn Minh Hải (2017), “Xử lý vật chứng”, Tạp chí Tòa án số 22 kỳ II tháng 11, tr.19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý vật chứng”, "Tạp chí Tòa án
Tác giả: Nguyễn Minh Hải
Năm: 2017
24. Hoàng Thị Tuệ Phương (2006), Trách nhiệm hình sự pháp nhân, Luận văn Thạc sỹ luật học, Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự pháp nhân
Tác giả: Hoàng Thị Tuệ Phương
Năm: 2006
25. Đinh Văn Quế (2005), “Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9, tr.23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về dân sự trong vụ án hình sự”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2005
26. Dương Văn Thăng (1998), Vấn đề tịch thu và bồi thường trong xét xử của các Tòa án quân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tịch thu và bồi thường trong xét xử của các Tòa án quân sự
Tác giả: Dương Văn Thăng
Năm: 1998
27. Lê Nguyên Thanh (2010), “Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ người bị hại trong TTHS Việt Nam”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 6, chuyên đề quyền con người, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ người bị hại trong TTHS Việt Nam”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Nguyên Thanh
Năm: 2010
28. Lê Nguyên Thanh (2012), “Bàn về khái niệm người bị hại trong Tố tụng hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 5, tr.22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm người bị hại trong Tố tụng hình sự”, "Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Lê Nguyên Thanh
Năm: 2012
29. Lê Nguyên Thanh (2012), Người bị hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bị hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Nguyên Thanh
Năm: 2012
30. Lê Nguyên Thanh, “Bàn về một số nội dung mới của các nguyên tắc trong BLTTHS 2015”, NXB Hồng Đức do Võ Thị Kim Oanh chủ biên, tr.23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số nội dung mới của các nguyên tắc trong BLTTHS 2015
Nhà XB: NXB Hồng Đức do Võ Thị Kim Oanh chủ biên
31. Lê Nguyên Thanh, “Một số vấn đề giải quyết dân sự trong vụ án hình sự”, Tạp chí khoa học pháp lý, (01), tr 29, 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề giải quyết dân sự trong vụ án hình sự”, "Tạp chí khoa học pháp lý
33. Nguyễn Văn Trượng (2010), “Quy định của BLTTHS về xử lý vật chứng và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 9(222), tr.30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định của BLTTHS về xử lý vật chứng và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng”, "Tạp chí dân chủ và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Trượng
Năm: 2010
34. Vinh Võ khánh Vinh (2004), “Người tham gia tố tụng”, Bình luận khoa học tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.64.Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người tham gia tố tụng”, "Bình luận khoa học tố tụng hình sự, "NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.64
Tác giả: Vinh Võ khánh Vinh
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2004
35. Thái Chí Bình, “Hoàn thiện về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/259 truy cập vào lúc 8:29PM ngày 5/5/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Thái Chí Bình
Năm: 2010
37. Hoàng Cao Minh, “Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” http:// vienkiemsattinhphutho.gov.vn/tin-tuc/Phong-7/30121/giai-quyet-van-de-dan-su-trong-vu-an-hinh-su Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
38. Lê Văn Sua, “Pháp luật tố tụng hình sự quy định về người tham gia tố tụng, những bất cập và kiến nghị” http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1115/Phap-luat-to-tung-hinh-su-quy-dinh-ve-nguoi-tham-gia-to-tung-Nhung-bat-cap-va-kien-nghi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng hình sự quy định về người tham gia tố tụng, những bất cập và kiến nghị
Tác giả: Lê Văn Sua
39. Phan Thanh Tùng, “Một số vấn đề về người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của BLTTHS” http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet (truy cập ngày 06/06/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của BLTTHS
Tác giả: Phan Thanh Tùng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w