định về nguyên đơn trong vụ án dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để thấy được nguyên đơn dân sự có được đảm bảo quyền lợi khi tham gia vào pháp luật tố tụng hình sự hay không..
Trang 1KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHÓA 34 (2008 – 2012)
ĐỀ TÀI
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Trương Thanh Hùng Nguyễn Bích Như
Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5085908
Lớp: Luật Tư pháp 2 - K34
Cần Thơ, tháng 5/2012
Trang 2Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng và nổ lực hết mình của bản thân thì em cũng nhận được sự ủng hộ, động viên khích lệ của mọi người xung quanh em
Em rất cảm ơn cha mẹ đã tạo điều kiện về vật chất và ủng hộ về mặt tinh thần để em có thể vươn cao trong môi trường học tập và có được một công trình nghiên cứu như ngày hôm nay
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa luật đã giảng dạy cho
em những kiến thức bổ ích và vững chắc để em có đủ khả năng vận dụng và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn những người bạn xung quanh đã luôn đồng hành
và khích lệ em mỗi khi em gặp khó khăn và thất bại
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy Trương Thanh Hùng đã tận
tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu luận văn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Bích Như
Trang 3………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5PGS TS: Phó giáo sư Tiến sỹ
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TGTT: Tham gia tố tụng
THTT: Tiến hành tố tụng
TNHS: Trách nhiệm hình sự
TTHS: Tố tụng hình sự
Trang 61 Lý do nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 5
1.1 Khái quát chung về vụ án hình sự 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự 7
1.1.2.1 Giai đoạn khởi tố 7
1.1.2.2 Giai đoạn điều tra 8
1.1.2.3 Giai đoạn truy tố 9
1.1.2.4 Giai đoạn xét xử 9
1.2 Khái niệm và điều kiện hình thành tư cách nguyên đơn dân sự 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.1.1 Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 10
1.2.1.2 Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 12
1.2.2 Điều kiện hình thành tư cách nguyên đơn dân sự 14
1.2.2.1 Bị thiệt hại do tội phạm gây ra 14
1.2.2.2 Có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại 17
1.2.3 Phân biệt nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và nguyên đơn trong vụ án dân sự 18
1.3 Cơ sở lý luận về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Nội dung 21
1.3.3 Các nguyên tắc đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự 21
1.3.3.1 Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân 21
1.3.3.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật 22
1.3.3.3 Nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong
Trang 71.3.4 Tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trong
vụ án hình sự 25
1.4 Lược sử hình thành quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự 26
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1988 26
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003 26
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay 26
1.5 Sự cần thiết nghiên cứu về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự 27
1.5.1 Về mặt lý luận 27
1.5.2 Về mặt thực tiễn 27
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 29
2.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 29
2.2 Quyền được thông báo kết quả điều tra 31
2.3 Quyền đề nghi thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dich 33
2.4 Quyền tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến; tranh luận tại phiên tòa 35
2.5 Quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường 39 2.6 Quyền có người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng và quyền có người bảo vệ quyền lợi 41
2.7 Quyền được khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng 44
2.8 Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại 46
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG BẢO VỆ VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 49
3.1 Thực trạng xác định tư cách nguyên đơn dân sự, nguyên nhân và giải pháp 49
3.1.1 Thực trạng 49
3.1.2 Nguyên nhân 52
3.1.3 Giải pháp 52
3.2 Một số bất cập về quyền của nguyên đơn dân sự, nguyên nhân và giải pháp 53
Trang 83.2.1.1 Bất cập 53
3.2.1.2 Nguyên nhân 54
3.2.1.3 Giải pháp 55
3.2.2 Bất cập về quyền được thông báo kết quả điều tra, nguyên nhân và giải pháp 57
3.2.2.1 Bất cập 57
3.2.2.2 Nguyên nhân 58
3.2.2.3 Giải pháp 59
3.2.3 Bất cập về quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, nguyên nhân và giải pháp 59
3.2.3.1 Bất cập 59
3.2.3.2 Nguyên nhân 60
3.2.3.3 Giải pháp 61
3.2.4 Bất cập về quyền tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến; tranh luận tại phiên tòa, nguyên nhân và giải pháp 62
3.2.4.1 Bất cập 62
3.2.4.2 Nguyên nhân 63
3.2.4.3 Giải pháp 65
3.2.5 Bất cập về quyền có người đại diện hợp pháp và quyền có người bảo vệ quyền lợi, nguyên nhân và giải pháp 66
3.2.5.1 Bất cập 66
3.2.5.2 Nguyên nhân 67
3.2.5.3 Giải pháp 68
KẾT LUẬN …70 DANH MỤC TÀI LỆU THAM KHẢO
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Nhằm thực hiện mục tiêu “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản” được đề ra tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, trong những năm qua, Nhà nước ta đã quyết tâm thực hiện công cuộc cải cách tư pháp Sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” (Nghị quyết 08) và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” (Nghị quyết 49) là cột mốc quan trọng, đặt cơ sở nền tảng cho thực hiện đổi mới cải cách tư pháp ở Việt Nam
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình cải cách tư pháp mà Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49 đặt ra là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ quyền con người nói chung, đảm bảo quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng hình sự nói riêng Bảo vệ quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là cái gốc của cải cách tư pháp Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động nhà nước nhạy cảm liên quan đến quyền con người Hơn ở đâu hết, quyền con người trong tố tụng hình sự dễ bị xâm phạm nhất và hậu quả của sự xâm phạm đó thường là rất nghiêm trọng Vì thế, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự được xác định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự sẽ bao gồm: bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia
tố tụng Trong các chủ thể tham gia tố tụng, nguyên đơn dân sự là một chủ thể
khá đặc biệt, tham gia tố tụng hình sự với mục đích là giải quyết phần “Trách
nhiệm dân sự” Lẽ ra, trách nhiệm dân sự thì phải được giải quyết theo thủ tục tố
tụng dân sự Nhưng vì thiệt hại là do tội phạm gây ra nên phải được giải quyết trong vụ án hình sự Nhiệm vụ chủ yếu của việc giải quyết vụ án hình sự là truy cứu trách nhiệm hình sự, tìm ra kẻ phạm tội, đem lại công bằng cho xã hội Thế nên, trách nhiệm dân sự, tức là vấn đề bồi thường thiệt hại cho người tham gia tố tụng nói chung, nguyên đơn dân sự nói riêng chưa được quan tâm đáng kể
Ngoài ra, trong khoa học pháp lý Việt Nam mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Tuy nhiên, người viết chưa tìm thấy một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về “Quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự”
Trang 10Như vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến quyền của nguyên đơn dân sự, đánh giá tính khả thi của những quy định này và nghiên cứu việc đảm bảo quyền của chủ thể này trên thực tế, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện là vấn đề có ý nghĩa thiết thực
Tất cả những luận điểm nêu trên là lý do thúc đẩy người viết chọn đề tài
“Quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong sách báo pháp lý Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến nguyên đơn dân sự Một số công trình nghiên cứu chung về nguyên đơn
dân sự như: “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003 về xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm”, của Đinh Văn Quế, NXB Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, năm 2004 “Bình luận án”, của Đinh Văn Quế, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004 Giáo trình luật tố tụng hình sự của Đại
học luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, năm 2007 “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003”, của Viện khoa học pháp lý, năm 2005, v.v Các công trình
nghiên cứu này có phân tích về nguyên đơn dân sự, nhưng chủ yếu là phân tích khái niệm nguyên đơn dân sự, chưa nghiên cứu về quyền của chủ thể này Một số
công trình nghiên cứu về quyền của nguyên đơn dân sự như: “Một số vấn đề về
người bị hại, nguyên đơn dân sự trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, của
Trần Quang Tiệp “Một số vấn đề về sự tham gia tranh tụng của người bị hại và
nguyên đơn dân sự tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo yêu cầu của cải cách tư pháp”, của Nguyễn Trương Tín “Người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự”, của Nguyễn Đức Dũng, v.v…Các công trình nghiên cứu trên mặc dù có đề
cập đến quyền của nguyên đơn dân sự, nhưng chỉ là một số quyền cụ thể, chưa nghiên cứu toàn diện về hệ thống quyền của nguyên đơn dân sự Với tình hình nghiên cứu như trên cũng là lý do để người viết chọn đề tài này cho công trình nghiên cứu của mình
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với đề tài này người viết tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự, thực trạng và tồn tại vướng mắc về việc thực hiện và đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trên thực tế Người viết nghiên cứu trên cơ sở so sánh với một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 để thấy được điểm tiến bộ của Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành Ngoài ra, người viết còn so sánh đối chiếu với các quy
Trang 11định về nguyên đơn trong vụ án dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành để thấy được nguyên đơn dân sự có được đảm bảo quyền lợi khi tham gia vào pháp luật tố tụng hình sự hay không Để làm sáng tỏ vấn đề, chứng minh cho những hạn chế của pháp luật hiện hành thì người viết còn nghiên cứu so sánh với một số Điều luật liên quan của Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa Pháp và Bộ luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga
4 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phân tích các quy định về quyền của nguyên đơn dân sự, xu hướng điều chỉnh về vấn đề này trong pháp luật của nước ta từ khi ban hành BLTTHS năm 2003, những tồn tại và bất cập trong thực tiễn về quyền của chủ thể này trong thời gian qua Người viết đặt ra cho mình mục tiêu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về quyền của chủ thể này nhằm làm sáng
tỏ về mặt lí luận, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết về mặt lập pháp, những tồn tại, vướng mắc trong việc áp dụng quy định của pháp luật Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp khắc phục các bất cập trên thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho nguyên đơn dân sự Mục đích của người viết là mong muốn góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của định hướng cải cách tư pháp ở nước
ta hiện nay là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự thông qua việc bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng, cụ thể là nguyên đơn dân
sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu có ý nghĩa khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài, vì đối với những vấn đề khác nhau người viết có thể phải sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác nhau thì mới đạt được hiệu quả Để hoàn thành luận văn này người viết sử dụng chủ yếu ba phương pháp Thứ nhất, là phương pháp tổng hợp tài liệu và chọn lọc tài liệu, với phương pháp này người viết tập hợp tất cả các tài liệu liên quan đến đề tài sau đó phân loại tài liệu cho từng chương vì đây là phương pháp áp dụng cho cả ba chương Thứ hai, là phương pháp phân tích luật viết được áp dụng chủ yếu cho chương hai, nhằm làm rõ quy định của pháp luật về quyền của nguyên đơn dân sự Thứ ba, là phương pháp phân tích thực tiễn được áp dụng đối với chương ba, để có thể đưa
ra những giải pháp hoàn thiện mang tính khả thi
Trang 12Ngoài ba phương pháp chủ yếu trên thì người viết còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp so sánh, đối chiếu quy định của pháp luật, phương pháp sưu tầm, tra cứu tài liệu, internet, v.v
Chương 2: Quy định của pháp luật về quyền của nguyên đơn dân sự trong
vụ án hình sự
Người viết tập trung phân tích những quy định của pháp luật về quyền của nguyên đơn dân sự Từ đó, chỉ ra những hạn chế của pháp luật thực định và những quy định chưa khả thi về quyền của nguyên đơn dân sự, làm cơ sở cho những đề xuất trong chương tiếp theo
Chương 3: Thực trạng bảo vệ nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và giải pháp đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự
Trong chương này người viết làm rõ thực trạng bảo vệ nguyên đơn dân sự Đồng thời đưa ra giải pháp đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự
Trang 13CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN
ĐƠN DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người được xem là chính sách nhất quán
của Nhà nước Việt Nam, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của
Việt Nam Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc
thực hiện và phát huy ngày càng tốt hơn các quyền và tự do của người dân ở tất
cả các lĩnh vực1
.Tuy nhiên, trong lĩnh vực tố tụng hình sự thì quyền công dân chưa thật sự được đảm bảo Điều này được thể hiện trong vấn đề đảm bảo quyền
lợi cho các chủ thể tham gia tố tụng như bị can, bị cáo, người bị tạm giam, người
bị hại, nguyên đơn dân sự Nguyên đơn dân sự là chủ thể tham gia tố tụng hình
sự với mục đích là được giải quyết phần dân sự, phần thiệt hại do tội phạm gây
ra Những hạn chế của pháp luật cùng với thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời
gian qua cho thấy địa vị và quyền lợi của nguyên đơn dân sự chưa được quan tâm
đúng mức theo tinh thần của định hướng cải cách tư pháp2
Vì vậy, chương này tập trung vào việc nghiên cứu một cách có hệ thống về nguyên đơn dân sự, phân
tích những điều kiện cụ thể để được trở thành nguyên đơn dân sự, phân biệt
nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và nguyên đơn trong vụ án dân sự Đồng
thời, phân tích cơ sở lý luận đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự khi tham gia
quan hệ pháp luật TTHS Qua đó, làm cơ sở cho việc phân tích hệ thống quyền
của nguyên đơn dân sự và đưa ra giải pháp hoàn thiện đảm bảo quyền của
nguyên đơn dân sự trong các chương tiếp theo
1.1 Khái quát chung về vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm
Hiện nay, tình hình tội phạm ở nước ta ngày càng diễn biến phức tạp và
đang có chiều hướng gia tăng Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải
nâng cao hơn nữa vai trò và trách nhiệm của mình trong việc đấu tranh và phòng
chống tội phạm Để có thể tìm ra tội phạm và đem lại công bằng cho xã hội thì
các chủ thể có trách nhiệm phải thực hiện nhiều hoạt động nhằm giải quyết vụ án
hình sự Hoạt động giải quyết vụ án hình sự có thể được hiểu là tổng thể các hành
Trang 14vi pháp lý do những chủ thể có trách nhiệm thực hiện trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Vậy vụ án hình sự là gì? Định nghĩa vụ án hình sự không được đề cập đến trong BLTTHS năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, mặc dù Bộ luật này quy định trình tự, thủ tục nhằm giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, trên thực
tế khi có tội phạm xảy ra thì các cơ quan có thẩm quyền lại xác định đó là vụ án hình sự và nhiệm vụ của các cơ quan này là giải quyết vụ án hình sự đó
Theo sổ tay pháp luật điều tra viên của PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh có
định nghĩa “Vụ án hình sự là sự việc phạm tội do cơ quan tiến hành tố tụng thụ
lý để giải quyết Theo pháp luật TTHS Việt Nam, việc khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm (Điều 100 BLTTHS năm 2003) Các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố và giải quyết vụ án hình sự bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và thủ trưởng cơ quan của lực lượng Công
an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số nhiệm
vụ điều tra” 3
Theo khái niệm trên thì “Vụ án hình sự là sự việc phạm tội được
thụ lý giải quyết bởi cơ quan có thẩm quyền” Điều này không phù hợp với
nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật” Tức là khi có một hành vi phạm pháp xảy ra thì chưa
chắc chắn rằng hành vi đó là tội phạm, chỉ được xem là tội phạm khi Tòa án đã ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật
Theo từ điển luật học của NXB Từ Điển Bách Khoa Hà Nội thì “Vụ án
hình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự đã được cơ quan điều tra ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở Bộ luật tố tụng hình sự Người vi phạm pháp luật đã bị khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tức đã liên quan đến án hình sự sẽ bị áp dụng một số biện pháp do luật quy định như phải khai cung, phải có mặt tại nơi vào thời gian do các cơ quan tiến hành tố tụng - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quy định, có trường hợp bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như tạm giam, khám xét, v.v…Có thể bị phạt tù, bị cấm hành nghề nếu qua xét xử Tòa án đã chứng minh là phạm tội và đã ra quyết định bằng một bản án hình sự”
3 Nguyễn Ngọc Anh, Sổ tay pháp luật điều tra viên, Nxb Tư pháp, 2004, tr.282
Trang 15Từ những quan điểm trên, người viết cho rằng khái niệm vụ án hình sự theo từ điển luật học của NXB Từ Điển Bách Khoa Hà Nội là tương đối hoàn chỉnh về vụ án hình sự và trên thực tế thì vụ án hình sự được hiểu như khái niệm trên Bởi vì, khi có một vụ việc phạm pháp xảy ra thì vụ việc ấy chưa hẳn là sự việc phạm tội Được xác định là vụ án hình sự khi có một vụ việc phạm pháp xảy
ra và vụ việc ấy có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và người thực hiện hành vi phạm pháp đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình
sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của BLTTHS Ví dụ: Nguyễn Văn A lái xe ôtô chạy quá tốc độ, không làm chủ được tay lái gây tai nạn dẫn đến chết người Hành vi của A có dấu hiệu vi phạm tội vi phạm các quy định
về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Đây là cơ sở để cơ quan điều tra, nơi
có vụ việc xảy ra khởi tố vụ án hình sự vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Việc tìm hiểu khái niệm vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng giúp người
bị thiệt hại có thể biết được mình nên có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại để trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự hay khởi kiện vụ án dân sự Tức là, nếu chủ thể gây thiệt hại cho mình đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố thì phải làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại để được xem xét phần dân
sự trong vụ án hình sự chứ không thực hiện thủ tục khởi kiện dân sự
1.1.2 Các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự
Tố tụng hình sự là toàn bộ những hoạt động của các cơ quan THTT, người THTT, người TGTT, của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân có liên quan nhằm tham gia vào việc giải quyết đúng đắn, khách quan, kịp thời vụ án hình sự Như vậy, các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự chính là các giai đoạn tố tụng hình sự Giai đoạn tố tụng là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một nhiệm vụ tố tụng Để giải quyết vụ án hình sự một cách chính xác, khách quan yêu cầu vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn tố tụng Các giai đoạn tố tụng đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi giai đoạn đều có nhiệm
vụ riêng và mang những nét đặc thù riêng
1.1.2.1 Giai đoạn khởi tố
Để xác định sự kiện đã xảy ra mang dấu hiệu của một vụ án hình sự cần phải được chính thức giải quyết bằng con đường tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh và tìm hiểu những thông tin
Trang 16cơ bản ban đầu để phục vụ cho việc ra quyết định xác định sự việc đã xảy ra là
vụ án hình sự và chính thức đưa vụ án vào giai đoạn điều tra làm rõ Những hoạt động tố tụng ban đầu này được thực hiện trong giai đoạn đầu tiên của vụ án là giai đoạn khởi tố vụ án hình sự4
.Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền thu thập, xử
lý các thông tin ban đầu và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Việc hiểu biết về khoảng thời gian cũng như nắm bắt được thông tin về việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự sẽ giúp nguyên đơn dân sự – người bị thiệt hại bởi hành vi có dấu hiệu tội phạm có thể xác định được mình phải làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại hay phải làm đơn khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu được bồi thường Trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã
ra quyết định khởi tố và người bị thiệt hại đã làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng sau đó cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra do không có tội phạm xảy ra thì người bị thiệt hại phải làm đơn khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu bồi thường và trong trường hợp này thì khoảng thời gian khởi tố là một trở ngại khách quan không thể khởi kiện vụ án dân sự (Điều 161 BLDS năm 2005) Nếu người bị thiệt hại đã gửi đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng chưa có quyết định khởi tố và sau đó không có quyết định khởi tố thì khoảng thời gian này sẽ không được xác định là trở ngại khách quan để khởi kiện vụ án dân sự
1.1.2.2 Giai đoạn điều tra
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự tiến hành nhằm thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh về tội phạm Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn khởi tố được tiến hành trên cơ sở quyết định khởi tố của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố và kết thúc khi cơ quan điều tra hoàn thành bản kết luận điều tra và ra quyết định đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra
Người bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cần nắm bắt được khoảng thời gian bắt đầu giai đoạn điều tra cũng như thời điểm kết thúc giai đoạn này, nếu có những tài liệu, đồ vật chứng minh cho tổn thất của mình thì nên giao cho
cơ quan điều tra để việc điều tra được khách quan và nhanh chóng Đồng thời,
4 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007,
tr.53
Trang 17nguyên đơn dân sự có thể yêu cầu cơ quan điều tra thông báo về kết quả điều tra
vụ án hình sự
1.1.2.3 Giai đoạn truy tố
Truy tố là một giai đoạn của quá trình tố tung hình sự, do Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội bị can với một tội danh nhất định và khung hình phạt nhất định để đề nghị tòa án xét xử Giai đoạn truy tố do Viện kiểm sát thực hiện nhằm đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp
1.1.2.4 Giai đoạn xét xử
Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử nói chung được coi là đặc biệt quan trọng và là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự Các giai đoạn tố tụng trước đó từ khởi tố, điều tra và truy tố chỉ là giai đoạn xác định
và tìm kiếm thông tin, chứng minh sự việc đã xảy ra một cách toàn diện nhưng vẫn chưa phải là quá trình định tội Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Để xác định một người là có tội và phải chịu hình phạt thì điều đòi hỏi bắt buộc là họ phải được đưa ra xét xử công khai trước phiên tòa, tại đó, cơ quan THTT, người THTT và các bên tham gia tố tụng sẽ đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ mình Việc xét xử vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau bao gồm cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm và thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là giám đốc thẩm và tái thẩm Trong giai đoạn này nguyên đơn dân sự có thể được tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến; tranh luận để bảo vệ quyền lợi của mình Đồng thời, nếu có thêm tài liệu, chứng cứ mới thì có thể trình lên hội đồng xét xử Ngoài ra, nguyên đơn dân sự có thể đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường để hội đồng xét xử xem xét
1.2 Khái niệm và điều kiện hình thành tƣ cách nguyên đơn dân sự trong vụ
án hình sự
1.2.1 Khái niệm
Theo Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa Pháp thì “Người bị thiệt
hại do trọng tội hoặc khinh tội gây ra khi có đơn gửi dự thẩm có thẩm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là nguyên đơn dân sự” 5
Như vậy, luật tố tụng hình sự
của Pháp xác định nguyên đơn dân sự chính là người bị hại có đơn yêu cầu bồi
5 Quyển 1, Thiên III, Mục 2 Điều 85 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp
Trang 18thường thiệt hại Ngược lại với luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp, luật tố tụng hình sự của nước ta quy định nguyên đơn dân sự và người bị hại là hai chủ thể hoàn toàn khác nhau, với địa vị pháp lý khác nhau
Ở góc độ pháp lý, trước khi có BLTTHS năm 1988, nguyên đơn dân sự được định nghĩa tại Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án tối cao
như sau: “Nguyên đơn dân sự là: 1) Cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã, hoặc các
đoàn thể xã hội, đã bị kẻ phạm pháp xâm phạm đến tài sản (tham ô, trộm cấp, lừa đảo ); 2) Công dân không bị kẻ phạm pháp trực tiếp xâm phạm đến thể chất, tài sản, nhưng đã bị thiệt hại về vật chất do việc phạm pháp gây ra Ví dụ:
- Người đã can thiệp để ngăn cản bị cáo đánh, giết người, nhưng bản thân cũng bị rách quần áo, mất đồng hồ, v.v…
- Người mà người bị hại khi còn sống có trách nhiệm nuôi dưỡng
- Người mà bị cáo đã bán cho tài sản đã trộm cấp, lừa đảo được, nhưng tài sản đó đã trả cho sở hữu chủ, do đó, người đã mua đòi bị cáo phải bồi thường thiệt hại, v.v ”
Năm 1988, BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời, khái niệm nguyên đơn dân sự tiếp tục được ghi nhận và hiện nay là BLTTHS năm 2003, cả hai Bộ luật này đều có định nghĩa về nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Tuy nhiên, hai Bộ luật này có cách định nghĩa không giống nhau về nguyên đơn dân sự
1.2.1.1 Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
BLTTHS năm 1988 là Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khái niệm nguyên đơn dân sự được BLTTHS năm
1988 định nghĩa tại Điều 40 “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan hoặc tổ
chức bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” Từ khái niệm trên cho thấy nguyên đơn dân sự có thể là một con
người cụ thể (cá nhân), cơ quan hay tổ chức phải gánh chịu hậu quả từ hành vi của kẻ phạm tội Cá nhân là nguyên đơn dân sự là người bị thiệt hại một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bởi tội phạm Ví dụ: A có chiếc xe gắn máy Dream cho B mượn nhưng B lại bị C dùng vũ lực cướp chiếc xe này trong khi B đang đi trên đường và đem bán lấy 10 triệu đồng tiêu xài hết Khi vụ án bị phát hiện trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xác định chiếc xe bị chiếm đoạt là của A nên đã đưa A vào tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự, còn B là người bị hại Nguyên đơn dân sự là cá nhân có thể tự mình thực hiện quyền hoặc thông qua người đại diện hợp pháp bảo vệ quyền lợi của mình Cụ thể trong trường hợp
Trang 19nguyên đơn dân sự là người chưa thành niên, người bị nhược điểm về thể chất và tinh thần thì sẽ thực hiện quyền của mình thông qua người đại diện hợp pháp của
họ
Nếu nguyên đơn dân sự là cơ quan thì chỉ có cơ quan có tư cách pháp nhân (pháp nhân công pháp) mới được nhân danh chính mình để tham gia vào các quan hệ pháp luật còn các bộ phận, đơn vị phụ thuộc, văn phòng đại diện khi tham gia vào các quan hệ pháp luật không thể nhân danh chính mình mà phải nhân danh cơ quan mà mình phụ thuộc Do đó, năng lực pháp luật và năng lực hành vi của đơn vị phụ thuộc bị phụ thuộc vào cơ quan có tư cách pháp nhân Chính vì lẽ đó, nguyên đơn dân sự là cơ quan thì phải là cơ quan có tư cách pháp nhân, còn cơ quan không có tư cách pháp nhân thì không thể trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Để có thể kiểm tra cơ quan có tư cách pháp nhân hay không thì cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu đại diện của nguyên đơn dân sự là cơ quan xuất trình quyết định thành lập cơ quan đó để kiểm tra tư cách pháp nhân theo quy định tại Điều 84 BLDS năm 2005
Trong trường hợp nguyên đơn dân sự là tổ chức: Tổ chức bao gồm các dạng sau: Tổ chức là pháp nhân, tổ chức phụ thuộc pháp nhân, tổ chức không phải là pháp nhân và tổ chức phụ thuộc tổ chức không phải pháp nhân Trong các loại tổ chức trên, chỉ các tổ chức là pháp nhân và các tổ chức không phải là pháp nhân mới là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Các tổ chức phụ thuộc pháp nhân và các tổ chức phụ thuộc tổ chức không phải là pháp nhân do không có tư cách riêng mà phải nhân danh pháp nhân hoặc nhân danh tổ chức không có tư cách pháp nhân để tham gia vào các quan hệ pháp luật, mọi hoạt động của các tổ chức phụ thuộc pháp nhân đều phải thông qua người đại diện có quyền nhân danh pháp nhân (theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân) hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân nên các tổ chức phụ thuộc ấy không phải là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
Dựa vào định nghĩa tại Điều 40 BLTTHS năm 1988 cho thấy Bộ luật này xác định nguyên đơn dân sự chỉ bị một loại thiệt hại duy nhất đó là thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra Tuy nhiên, trên thực tế chủ thể này không chỉ bị thiệt hại về vật chất mà còn bị thiệt hại do tổn thất về tinh thần Đây là điểm hạn chế của BLTTHS năm 1988 và đã được khắc phục ở BLTTHS năm 2003
Trang 20
1.2.2.2 Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Theo quy định tại Điều 52 BLTTHS năm 2003 thì “Nguyên đơn dân sự là
cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại” Về cơ bản thì BLTTHS năm 2003 định nghĩa nguyên đơn dân
sự không có sự khác biệt nhiều so với BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, theo BLTTHS năm 2003 thì nguyên đơn dân sự có thể bị thiệt hại bất kỳ, có thể là thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản chứ không bó gọn trong thiệt hại “vật chất” như BLTTHS năm 1988 Như vậy, BLTTHS năm 2003 đã định nghĩa nguyên đơn dân sự theo hướng mở rộng hơn
Nguyên đơn dân sự có thể là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, những thiệt hại này có thể là thiệt hại về tài sản hoặc những thiệt hại khác dẫn đến những tổn thất về vật chất như những thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm phạm, v.v Nguyên đơn dân sự cũng có thể là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra6 Trên thực tế, rất ít trường hợp nguyên đơn dân sự là cá nhân vì nếu là cá nhân thì có thể họ đồng thời là người
bị hại và trong trường hợp này họ có cả quyền của người bị hại và quyền của nguyên đơn dân sự Tuy nhiên, họ chỉ sử dụng quyền của người bị hại tham gia
tố tụng là đủ Ví dụ: một người bị người khác gây thương tích có tỷ lệ thương tật
là 31%, họ tham gia tố tụng vừa với tư cách người bị hại, vừa với tư cách là nguyên đơn dân sự vì họ bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra (tiền thuốc chữa bệnh, các khoản chi phí khác ) Thực tiễn xét xử thì các cơ quan THTT chỉ cần xác định họ là người bị hại mà không cần xác định họ là nguyên đơn dân sự
vì không cần thiết7 Tuy vậy, vẫn có trường hợp nguyên đơn dân sự là cá nhân, nhưng nguyên đơn dân sự là cá nhân không phải là nạn nhân trực tiếp của tội phạm, mặc dù bị thiệt hại nhưng thể chất, tinh thần, tài sản không phải là đối tượng mà tội phạm muốn hướng đến Ví dụ: A cố ý gây thương tích đối với B, C trông thấy đến ngăn cản hành vi của A Trong quá trình xô xát nhau A đã gây ra thương tích nhẹ cho C Cơ quan có thẩm quyền đã vào cuộc, trong quá trình điều tra đã xác định B là người bị hại, còn C là nguyên đơn dân sự trong vụ án
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để phân biệt được người bị hại và
nguyên đơn dân sự trong trường hợp “Người bị hại bị thiệt hại về thể chất, tinh
thần, tài sản do tội phạm gây ra” và “Nguyên đơn dân sự là cá nhân bị thiệt hại
Trang 21về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” Để phân biệt người bị hại và
nguyên đơn dân sự trong trường hợp này, trong khoa học pháp lý hiện nay có hai quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, “Người bị hại trong vụ án hình sự phải là người bị thiệt hại mà thiệt hại đó phải là hậu quả một dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm” Quan điểm thứ hai được thể hiện trong Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án tối cao cho rằng, “Người
bị hại là người bị thiệt hại do chính hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”8
Từ những quan điểm trên, người viết đồng tình với quan điểm thứ hai, bởi vì: Thứ nhất, bất cứ tội phạm nào cũng đều có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, gây ra sự biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng tác động nhất định, được thể hiện dưới dạng : Thiệt hại về vật chất, thiệt hại về thể chất, thiệt hại về tinh thần Điểm khác nhau giữa cấu thành tội phạm vật chất
và cấu thành tội phạm hình thức là ở chỗ: Đối với cấu thành tội phạm vật chất, nhà làm luật quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, còn đối với cấu thành tội phạm hình thức thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm (nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện đầy
đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định, thì cấu thành tội phạm được nhà làm luật xây dựng là cấu thành tội phạm hình thức) Không có lẽ chỉ vì nhà làm luật không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, mà đối với các vụ án về các tội phạm có cấu thành hình thức như tội làm nhục người khác, tội vu khống thì không có người bị hại?9
Thứ hai, quan điểm cơ bản để phân biệt giữa người bị hại và nguyên đơn dân sự trong trường hợp được đề cập ở trên là ở chỗ người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do chính hành vi phạm tội trực tiếp gây ra, còn nguyên đơn dân sự là cá nhân không bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm phạm, nhưng bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra
Nguyên đơn dân sự còn là người không bị kẻ phạm tội trực tiếp xâm hại nhưng bị thiệt hại vì tội phạm đã gây ra Ví dụ: Một người bị kẻ phạm tội xâm phạm đến sức khỏe nên một người trong gia đình họ phải nghỉ việc để chăm sóc,
vì vậy bị giảm thu nhập Do đó, người này có quyền đòi bồi thường phần thu nhập bị giảm do nghỉ việc Nếu nạn nhân chết thì người mà nạn nhân đã nuôi
8 Đinh Văn Quế, Pháp luật-thực tiễn và án lệ, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 1999, tr.53
9 Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề về người bị hại và nguyên đơn dân sự trong Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003, tạp chí kiểm sát, số 4/2006, tr.16
Trang 22dưỡng, trợ cấp khi còn sống có quyền đòi bồi thường vì thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút Đối với trường hợp này thì người có yêu cầu bồi thường thiệt hại phải làm đơn chứng minh mức giảm sút thu nhập
Việc xác định khái niệm nguyên đơn dân sự có ý nghĩa rất lớn, tạo tiền đề cho việc tìm hiểu về quyền của chủ thể này Bởi vì, khi muốn tìm hiểu về địa vị pháp lý của một chủ thể thì trước hết phải biết chủ thể đó là ai Tuy nhiên, để trở thành nguyên đơn dân sự trên thực tế thì chúng ta cần phải xác định điều kiện cần
và đủ để trở thành nguyên đơn dân sự
1.2.2 Điều kiện hình thành tư cách nguyên đơn dân sự
BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể những điều kiện cần và đủ để trở thành nguyên đơn dân sự, nhưng dựa vào khái niệm ở khoản 1 Điều 52 thì có thể xác định được hai điều kiện đó là bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại
1.2.2.1 Bị thiệt hại do tội phạm gây ra
BLTTHS năm 1988 đã xác định nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự chỉ bị một loại thiệt hại duy nhất đó là thiệt hại “vật chất” và thiệt hại đó nhất thiết phải do tội phạm gây ra Nếu bị thiệt hại vật chất nhưng không phải do tội phạm gây ra thì cũng không thể trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
Do đó, Tòa án khi xét xử về hình sự chỉ giải quyết những khoản thiệt hại nào do tội phạm gây ra, còn những thiệt hại vật chất khác tuy có liên quan đến vụ án nhưng không do tội phạm gây ra thì không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án hình sự
Việc quy định nguyên đơn dân sự chỉ bị thiệt hại vật chất do tội phạm gây
ra đã không thể giải quyết được các trường hợp xảy ra trên thực tế Bởi lẽ, nguyên đơn dân sự còn bị thiệt hại khác chứ không chỉ là thiệt hại vật chất Vì
vậy, BLTTHS năm 2003 đã quy định theo hướng mở rộng hơn “Nguyên đơn dân
sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra, v.v ” Thiệt hại
mà tội phạm gây ra cho nguyên đơn dân sự chính là trách nhiệm dân sự trong vụ
án hình sự Đây là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng “Trách nhiệm dân sự
ngoài hợp đồng là trách nhiệm hình thành từ việc thực hiện một hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho một người và hành vi đó không liên quan đến bất kỳ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt”.10
10 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự 2, Nxb Đại học Cần Thơ, 2003, tr.55
Trang 23Thiệt hại mà nguyên đơn dân sự phải gánh chịu là thiệt hại ngoài hợp đồng Theo phần I, mục 1, tiểu mục 1.1 của Nghị Quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8-7-2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều
608 BLDS năm 2005, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 609 BLDS năm 2005, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 610 BLDS năm 2005), thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 611 BLDS năm 2005)
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng
bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè
xa lánh do bị hiểu nhầm, v.v và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà
tổ chức phải chịu Có nhiều vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự Tuy nhiên, vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự chỉ được xác định trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại chương XXI BLDS năm 2005 là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại
Hiện nay, việc xác định thế nào là thiệt hại do tội phạm gây ra còn rất
nhiều ý kiến khác nhau Ý kiến thứ nhất, cho rằng nguyên đơn dân sự chỉ là người bị thiệt hại do người phạm tội trực tiếp gây ra Ý kiến thứ hai, cho rằng
nguyên đơn dân sự còn là người không bị người phạm tội trực tiếp gây thiệt hại nhưng bị thiệt hại vì tội phạm gây ra Vấn đề này đến nay vẫn chưa có hướng dẫn chính thức, vì thế thực tiễn xét xử mỗi nơi xác định khác nhau, đa số Tòa án xác định người bị thiệt hại do tội phạm gián tiếp gây ra là người có quyền lợi liên quan đến vụ án, có Tòa án xác định họ là người bị hại, và một số ít Tòa án xác định họ là nguyên đơn dân sự
Trang 24Căn cứ vào khoản 1 Điều 52 BLTTHS năm 2003 thì cần phải hiểu thiệt hại do tội phạm gây ra bao gồm những thiệt hại do người phạm tội trực tiếp gây
ra và những thiệt hại do người phạm tội gián tiếp gây ra11
Ví dụ: A tham ô số tiền là 500.000.000 đồng và do hành vi này của A nên đã gây thiệt hại cho công
ty không hoàn thành kế hoạch sản xuất, nợ ngân hàng quá hạn không trả phải chịu lãi suất cao, tính ra thiệt hại do việc A tham ô lên tới 200.000.000 đồng Công ty có đơn yêu cầu Tòa án buộc A phải bồi thường 500.000.000 đồng A tham ô và 200.000.000 đồng là thiệt hại gián tiếp do hành vi tham ô của A gây ra Trong trường hợp này Tòa án buộc người phạm tội là A phải bồi thường cho công ty (nguyên đơn dân sự) 500.000.000 đồng A trực tiếp gây ra và 200.000.000 đồng A gián tiếp gây ra Người viết đồng tình với cách giải quyết như trên của Tòa án Bởi vì, thiệt hại do tội phạm gây ra sẽ bao gồm những thiệt hại do người phạm tội trực tiếp gây ra và những thiệt hại người phạm tội gián tiếp gây ra
Đối với trường hợp thiệt hại do người có hành vi phạm tội trực tiếp gây ra nhưng thiệt hại về vật chất đó không phải là hậu quả của tội phạm do người có hành vi phạm tội thực hiện mà đó chỉ là thiệt hại do hành vi thực hiện một tội phạm khác gây ra, thì người bị thiệt hại cũng được coi là nguyên đơn dân sự Ví dụ: Một số người gây gổ đánh nhau trong rạp hát, trong lúc đánh nhau đã dùng gạch đá ném làm một số người bị thương nhẹ phải nằm viện điều trị và không xác định được ai đã gây ra thương tích cho những người này Các người gây gổ đánh nhau bị kết án về tội gây rối trật tự công cộng, còn đối với những người bị thương nhẹ đều có đơn yêu cầu phải bồi thường thiệt hại do hành vi gây rối trật
tự công cộng gây ra, những người này phải được xác định là nguyên đơn dân sự Hiện nay các Tòa án thường xác định họ là người có quyền lợi liên quan chứ không xác định họ là nguyên đơn dân sự
Việc xác định không thống nhất thế nào là thiệt hại do tội phạm gây ra đã đặt ra một vấn đề là tội phạm phải bồi thường những thiệt hại nào? Tội phạm chỉ bồi thường thiệt hại do hành vi của mình trực tiếp gây ra hay là cả những thiệt hại không do họ trực tiếp gây ra nhưng lại phát sinh bởi chính hành vi của họ Những thiệt hại được bồi thường phải là thiệt hại gây ra cho người trực tiếp gánh chịu hậu quả của sự kiện làm phát sinh thiệt hại Một người nhận bảo lãnh không thể kiện người gây ra tai nạn khiến người bảo lãnh chết, với lý do nếu người bảo lãnh
11 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, 2004, tr 97
Trang 25còn sống thì người này sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và người nhận bảo lãnh sẽ không bị mất tài sản Trái lại, những người thân thuộc được người bảo lãnh cấp dưỡng có thể kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại bởi do cái chết của người này mà
họ lâm vào cảnh sống khó khăn Cần nhấn mạnh rằng người trực tiếp chịu thiệt hại không nhất thiết là người trực tiếp bị xâm hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, việc một người bị xâm hại có thể dẫn đến việc một người khác bị thiệt hại trực tiếp12 Như vậy, thiệt hại do tội phạm gây ra sẽ bao gồm thiệt hại do tội phạm trực tiếp gây ra và thiệt hại do tội phạm gián tiếp gây ra nhưng cả hai trường hợp này thì người bị thiệt hại sẽ được xác định là người trực tiếp gánh chịu hậu quả
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết thì tội phạm phải bồi thường những thiệt hại do họ trực tiếp gây ra và những thiệt hại do họ gián tiếp gây ra
Nói tóm lại, điều kiện bị thiệt hại do tội phạm gây ra là điều kiện bắt buộc
để xác định một chủ thể có phải là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự hay không Nếu đã đáp ứng được điều kiện này nhưng người bị thiệt hại không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì cũng không phải là nguyên đơn dân sự trong
vụ án hình sự
1.2.2.2 Có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại
Người bị thiệt hại thì có quyền khởi kiện người phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó để yêu cầu bồi thường Tuy nhiên, nếu bị thiệt hại bởi tội phạm gây
ra thì không khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu bồi thường mà phải làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại để trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Theo khoản 1 Điều 52 BLTTHS năm 2003 thì đây là điều kiện bắt buộc để được xác định là nguyên đơn dân sự Tuy nhiên, đây chỉ là quy định mang tính hình thức Bởi lẽ, không phải trường hợp nào yêu cầu của nguyên đơn dân sự đều được thể hiện bằng hình thức đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại mà có thể thể hiện yêu cầu bồi thường của mình trong đơn trình báo hoặc cơ quan điều tra sẽ ghi nhận yêu cầu của họ qua lời trình bày về thiệt hại do tội phạm gây ra và có thể hiện yêu cầu bồi thường13
BLTTHS năm 2003 không quy định hình thức, trình tự, cách thức gửi đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại như thế nào và phải gửi cho cơ quan nào để yêu cầu bồi thường Trong khi đó nguyên đơn trong vụ án dân sự thì có quyền khởi kiện
12 Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình luật dân sự 2, Nxb Đại học Cần Thơ, tr 55
13 Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2007, tr.52
Trang 26tại Tòa án để yêu cầu bồi thường BLTTDS năm 2004 đã dành riêng một chương
từ Điều 161 đến Điều 171 để quy định cụ thể về hình thức đơn khởi kiện, cách thức, trình tự và thời hiệu để khởi kiện vụ án dân sự Thực tiễn cho thấy, người bị thiệt hại bởi hành vi có dấu hiệu tội phạm thường đến cơ quan điều tra để trình bày yêu cầu của mình
Người bị thiệt hại bởi tội phạm sẽ được giải quyết yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự, thông qua yêu cầu bồi thường của họ Tuy nhiên, không phải trường hợp nào người bị thiệt hại cũng bắt buộc phải làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Bởi vì, có trường hợp nguyên đơn dân sự là cá nhân và họ đồng thời là
người bị hại “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do
tội phạm gây ra” (Điều 51 BLTTHS năm 2003) Nếu nguyên đơn dân sự đồng
thời là người bị hại thì thì họ sẽ có cả quyền của người bị hại và quyền của nguyên đơn dân sự khi tham gia tố tụng, nhưng họ chỉ cần sử dụng quyền của người bị hại là đủ14 Ví dụ: Một người bị người khác cố ý gây thương tích có tỷ
lệ thương tật là 61% họ tham gia tố tụng vừa với tư cách là người bị hại, vừa với
tư cách là nguyên đơn dân sự vì họ bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra (tiền thuốc chữa bệnh, các khoản tiền chi phí sau khi vết thương đã được điều trị, v.v…) Thực tiễn xét xử thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ cần xác định họ là người bị hại mà không cần xác định họ là nguyên đơn dân sự vì không cần thiết Người bị hại không cần phải làm đơn yêu cầu bồi thường thì họ vẫn được bảo vệ
và được bồi thường thiệt hại Vì vậy, nếu nguyên đơn dân sự đồng thời là người
bị hại thì họ không cần phải làm đơn yêu cầu bồi thường Người bị hại dù có đơn yêu cầu bồi thường hay không thì họ vẫn được xác định là người bị hại, còn nguyên đơn dân sự không có đơn yêu cầu bồi thường thì cơ quan tiến hành tố tụng không được xác định họ là nguyên đơn dân sự Đây là một trong những tiêu chí để phân biệt cá nhân là nguyên đơn dân sự và người bị hại
Nói tóm lại, đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại là điều kiện bắt buộc để trở thành nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cơ quan tiến hành tố tụng cũng áp dụng cứng nhắc quy định này mà phải tùy vào từng trường hợp cụ thể nhằm đảm bảo các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự và đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn dân sự khi tham gia tố tụng
14 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ
Chí Minh, 2004, tr 96
Trang 271.2.3 Phân biệt nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và nguyên đơn trong
vụ án dân sự
Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không hoàn toàn giống nguyên
đơn trong vụ án dân sự “Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện,
người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”15 Nguyên đơn trong vụ án dân sự yêu cầu bồi thường thiệt hại chủ yếu và phổ biến là do bị đơn đã có hành vi vi phạm hợp đồng (nếu là trong hợp đồng) hoặc có hành vi trái pháp luật (nếu là ngoài hợp đồng) Có trường hợp nguyên đơn trong vụ án dân sự là người đi kiện người khác và họ trở thành nguyên đơn nhưng không nhất thiết họ là người bị thiệt hại
và nếu bị thiệt hại thì nhất thiết không phải do tội phạm gây ra, ví dụ: xin ly hôn, xin xác nhận cha cho con, xin chia thừa kế, v.v… Ngược lại, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự chỉ có thể là người bị thiệt hại và thiệt hại đó nhất thiết là phải do tội phạm gây ra Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự có phạm vi tư cách rộng hơn nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Thiệt hại mà tội phạm gây
ra cho nguyên đơn dân sự là trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự, tùy trường hợp có thể được giải quyết trong cùng vụ án hình sự hoặc tách ra để giải quyết bằng vụ án dân sự Nếu phần dân sự được giải quyết đồng thời với việc giải quyết trách nhiệm hình sự thì nó sẽ được tiến hành theo thủ tục tố tụng hình sự Điều này ảnh hưởng đến bản chất của quan hệ dân sự, vì quan hệ dân sự được điều chỉnh bởi phương pháp định đoạt, thỏa thuận, bình đẳng để điều chỉnh mối quan hệ giữa các đương sự Chính vì vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự có thể
tự thỏa thuận với chủ thể mình khởi kiện và thỏa thuận đó sẽ được Tòa án tôn trọng Hơn nữa, trong tố tụng dân sự thì Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải
và tạo điều kiện cho các đương sự thỏa thuận với nhau và đây là thủ tục bắt buộc
Tại Điều 10 BLTTDS năm 2004 quy định “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà
giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Ngược lại, quan hệ tố tụng
hình sự được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh và quyền uy nên mặc dù trách nhiệm mà nguyên đơn dân sự yêu cầu bồi thường là trách nhiệm dân sự nhưng vẫn không được tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn dân sự và người gây thiệt hại Tòa án sẽ quyết định mức bồi thường dựa vào kết quả điều tra và kết quả xét xử tại phiên tòa
15 Điều 161, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trang 28Nguyên đơn trong vụ án dân sự khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi thì người này phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Tòa án sẽ đóng vai trò trung gian để xem xét và đánh giá chứng cứ mà các bên đã cung cấp Điều này tạo điều kiện cho họ chủ động đưa ra những chứng cứ xác thực nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Ngược lại với nguyên đơn trong vụ án dân sự, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không được quyền thu thập chứng cứ, mà việc thu thập chứng cứ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Điều này đã làm cho nguyên đơn dân sự thụ động, đợi chờ vào kết quả của cơ quan THTT Trong khi đó, nguyên đơn dân sự là chủ thể bị thiệt hại, lẽ ra họ phải
có quyền đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình
Như vậy, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không đồng nghĩa với nguyên đơn trong vụ án dân sự Thực tế hiện nay cho thấy do thiếu hiểu biết nên nhiều người dân bị xâm hại bởi hành vi trái pháp luật nhưng họ lại nghĩ là do tội phạm gây ra nên không khởi kiện đến Tòa án mà đến trình báo tại cơ quan công
an, có trường hợp thì cơ quan này giải thích và chỉ dẫn họ khởi kiện vụ án dân sự nhưng cũng có trường hợp công an đã hình sự hóa quan hệ dân sự làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thiệt hại Vì vậy, việc làm rõ khái niệm nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và phân biệt chủ thể này với nguyên đơn trong vụ án dân sự góp phần rất lớn vào việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân
1.3 Cơ sở lý luận về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
1.3.1 Khái niệm
Quyền là một cái gì đó vô hình mà mỗi người có và nó cho phép người ấy được đòi một người khác phải làm hay không làm một việc gì đó cho mình Quyền xuất phát từ hai nguồn: Một là, quyền tự nhiên (nhân quyền) sinh ra là có như quyền ăn uống, ngủ, nghỉ, v.v Ai cũng cần có những quyền này để sống và
ai cũng được công nhận như nhau Hai là, quyền do xã hội ban tặng cho, gọi là dân quyền, và chúng được pháp luật ghi nhận, quy định một cách rõ ràng và có quy tắc16
Như vậy, quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không phải sinh ra là đã có mà là do pháp luật quy định, cụ thể là được quy định trong BLTTHS năm 2003 Theo đó, nguyên đơn dân sự cũng là một chủ thể tham gia
tố tụng hình sự, bởi vì nguyên đơn dân sự là chủ thể bị thiệt hại, bị xâm phạm
16 Nguyễn Ngọc Bích, Tài ba của luật sư, Nxb trẻ, 2010, tr.62
Trang 29nên pháp luật quy định cho nguyên đơn dân sự có những quyền nhất định để yêu cầu đối tượng gây thiệt hại phải bù đắp tổn thất họ đã gây ra Quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 40 BLTTHS năm 1988 và hiện nay được quy định tại Điều 52 BLTTHS năm 2003
1.3.2 Nội dung
Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLTTHS năm 2003 thì nguyên đơn
dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền: quyền đưa ra tài liệu, đồ
vật, yêu cầu, quyền được thông báo về kết quả điều tra, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này, quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, quyền tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại
Nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng hình sự với những quyền cơ bản được quy định tại Điều 52 và những quyền này sẽ được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những chủ thể tham gia tố tụng khác tôn trọng trên cơ sở quy định của pháp luật
1.3.3 Các nguyên tắc đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
Bên cạnh việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng của công dân khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, BLTTHS còn quy định những bảo đảm cần thiết để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Các biện pháp bảo đảm pháp lý cho công dân khi tham gia tố tụng hình sự chính là các quy định về trình
tự, thủ tục tố tụng, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và quan trọng nhất
là các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự Dưới đây là những nguyên tắc đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
1.3.2.1 Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân
Tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản là những khách thể được luật hình sự bảo vệ Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân Nếu
có hành vi xâm phạm đến các khách thể trên thì sẽ bị xử lý theo quy định của
pháp luật Điều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyền bất khả
Trang 30xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm, v.v ” Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân thì BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân tại Điều 7 Nội dung nguyên tắc này thể hiện công dân phải được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản Trong quá trình tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không được có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của những người tham gia tố tụng, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để bảo vệ kịp thời người tham gia tố tụng
Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân
là một nguyên tắc Hiến định, quy định này được cụ thể hóa thành một nguyên tắc
tố tụng, có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua nguyên tắc này thì những người tham gia tố tụng, trong đó
có nguyên đơn dân sự sẽ ý thức hơn về quyền lợi của mình và có quyền yêu cầu CQTHTT và người THTT tôn trọng và bảo vệ Đồng thời nguyên tắc này cũng
đã khẳng nghĩa vụ của các CQTHTT và người THTT là phải tôn trọng và bảo vệ người TGTT
1.3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
Đây là nguyên tắc Hiến định được quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm
1992 “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Nguyên tắc này được phát
triển và cụ thể hóa trong lĩnh vực tố tụng hình sự BLTTHS năm 2003 đã quy định nguyên tắc này thành hai nguyên tắc cơ bản (Điều 5 và Điều 19) Theo đó, khi tham gia tố tụng hình sự, người có địa vị pháp lý như nhau thì đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không ai có thể được loại trừ hoặc được áp dụng những
ưu đãi ngoài những trường hợp do pháp luật quy định Nguyên tắc này xác định
vị trí như nhau của mọi công dân khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình
sự, bình đẳng trước Tòa án “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.(Điều 19
BLTTHS năm 2003)
Trang 31Nguyên tắc này đã khẳng định quyền bình đẳng của mọi công dân khi
tham gia tố tụng hình sự, bình đẳng trước Toà án, quy định Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện và giúp đỡ các chủ thể như nhau để họ thực hiện tốt quyền
và nghĩa vụ cuả mình Tòa án không được coi trọng người này hơn người kia, không để tư tưởng bị chi phối bởi địa vi xã hội của những người tham gia tố tụng
Có thể nói nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn đối với nguyên đơn dân sự, tạo điều kiện cho nguyên đơn dân sự có thể thực hiện quyền của mình trong việc đưa ra tài liệu, đồ vật, hay tranh luận trước phiên tòa, v.v nhằm làm rõ sự thật của vụ án và bảo vệ lợi ích chính đáng của nguyên đơn dân sự
1.3.2.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố
cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của
cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” Để cụ thể hóa quy định của Hiến pháp thì BLTTHS năm 2003 đã
ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự (Điều 31) Theo đó, công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động TTHS của cơ quan và người có thẩm quyền hoặc của cá nhân thuộc cơ quan đó Đây là nguyên tắc đảm bảo cho người tham gia tố tụng, trong đó có nguyên đơn dân sự nếu thấy quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan THTT và người THTT là trái pháp luật ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của mình thì có quyền khiếu nại với cơ quan đã ra quyết định hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo đó và phải thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết
Trang 32
1.3.2.4 Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Luật tố tụng hình sự Việt nam từ năm 1945 đã quy định vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm được giải quyết đồng thời với TNHS trong cùng vụ án hình sự, nhưng chỉ đến BLTTHS năm 2003 mới được coi là một nguyên tắc cơ bản
Nội dung của nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm:
Thứ nhất, việc giải quyết vấn đề dân sự đồng thời với việc giải quyết vụ án hình sự Vấn đề dân sự được giải quyết cùng với những vấn đề của trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án hình sự Theo đó, ngoài việc chứng minh, xử lý những vấn đề của trách nhiệm hình sự thì CQTHTT còn phải chứng minh, xử lý những vấn đề thuộc trách nhiệm dân sự của những chủ thể tham gia tố tụng
Thứ hai, là việc tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết bằng
một vụ án dân sự Điều 28 BLTTHS năm 2003 quy định “ Trong trường hợp vụ
án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách
ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự ” Nội dung này được làm rõ trong
Công văn 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình
sự Theo đó thì căn cứ để tách phần dân sự trong vụ án hình sự là: phần dân sự được tách không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm, việc xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; chưa tìm được nguyên đơn dân sự, bị hại; bị hại hoặc nguyên đơn dân sự chưa có yêu cầu, v.v Tóm lại chỉ được tách phần dân
sự trong vụ án hình sự khi nó không liên quan đến cấu thành tội phạm hay các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc chưa có điều kiện chứng minh phần bồi thường
Việc quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản không những có ý nghĩa quan trọng đảm bảo tính khách quan, nhanh chóng, kịp thời trong việc giải quyết vụ án, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng mà còn có ý nghĩa tích cực trong đấu tranh và phòng chống tội phạm Khi thực hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu TNHS, mặt khác họ còn phải chịu trách nhiệm dân sự với tính chất một chế tài được áp dụng đối với người gây thiệt hại Do đó, khi áp dụng
Trang 33trách nhiệm dân sự đối với người phạm tội không chỉ làm tăng khả năng trừng trị
mà còn có ý nghĩa giáo dục đối với bản thân họ
Việc ghi nhận giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một nguyên tắc cơ bản đã làm cho vấn đề dân sự được quan tâm nhiều hơn đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể yêu cầu bồi thường thiệt hại, đặc biệt là nguyên đơn dân sự Quy định có thể tách phần dân sự để giải quyết bằng một vụ án dân sự cũng góp phần rất lớn vào việc bảo vệ lợi ích chính đáng cho các chủ thể tham gia tố tụng, trong đó có nguyên đơn dân sự, trong trường hợp nguyên đơn dân sự chưa có điều kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại hay chưa cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ, v.v thì sau này họ vẫn có thể khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại
Có thể nói các nguyên tắc trên là một cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo quyền cho nguyên đơn dân sự khi tham gia tố tụng hình sự Các nguyên tắc này
là một tư tưởng chủ đạo góp phần định hướng trong suốt quá trình giải quyết vấn
vì lẽ đó, để đảm bảo tôn trọng và thực hiện quyền con người cũng như cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về đảm bảo quyền công dân thì BLTTHS năm 2003 đã quy định quyền cho các chủ thể tham gia tố tụng cùng với các biện pháp bảo đảm pháp lý cho các chủ thể tham gia tố tụng, đó là các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, các quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Quyền của nguyên đơn dân sự được ghi nhận tại Điều 52 BLTTHS năm 2003 Theo đó, khi một chủ thể bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản bởi hành vi có dấu hiệu tội phạm thì có quyền làm đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, có thể tham gia tố tụng ngay khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án,
có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật; có thể tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, v.v…
Nguyên đơn dân sự là chủ thể tham gia tố tụng hình sự với mục đích, yêu cầu được giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự, mà bản chất của quan hệ dân sự là thỏa thuận, bình đẳng và tự định đoạt Tuy nhiên, trách
Trang 34nhiệm dân sự trong vụ án hình sự là một quan hệ dân sự rất đặc biệt vì được tiến hành trong vụ án hình sự, theo thủ tục tố tụng hình sự Là một quan hệ dân sự nhưng phải tham gia vào một quan hệ pháp luật bất bình đẳng và dễ bị tổn thương thì việc ghi nhận và đảm bảo cho nguyên đơn dân sự thực hiện quyền của mình là điều thật sự cần thiết Giả sử, luật tố tụng hình sự không ghi nhận quyền cho nguyên đơn dân sự khi tham gia tố tụng hình sự thì có thể dẫn đến hậu quả là chủ thể này bị vi phạm quyền con nguời hai lần, đó là bị xâm phạm về thể chất
và tinh thần, tài sản bởi tội pham và rất có thể bị vi phạm quyền một lần nữa bởi
cơ quan THTT và người THTT Điều này là không phù hợp với quy định của Hiến pháp và mục tiêu chung của cộng đồng thế giới về việc tôn trọng và đảm bảo quyền con người
Tóm lại, việc đảm bảo quyền của những người tham gia tố tụng hình sự nói chung, nguyên đơn dân sự nói riêng có một tầm quan trọng vô cùng to lớn Điều này không những đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về việc tôn trọng và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân mà còn thực hiện mục tiêu chung của cộng đồng thế giới là tôn trọng và đảm bảo quyền con người
1.4 Lƣợc sử hình thành quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1988
Trong thời kỳ thực dân pháp xâm lược, có ba BLTTHS khác nhau được áp
dụng tại Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Trong đó, theo Điều 20 và Điều 31 BLTTHS tại Bắc kỳ đã phân loại người tham gia tố tụng thành: bị can, bị cáo, người làm chứng, người bị hại, không có quy định nào ghi nhận nguyên đơn dân
sự trong vụ án hình sự Trong thời kỳ nước ta chưa thống nhất thì nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự đã được đề cập đến trong Thông tư 16/TATC ngày 27/9/1974 của Tòa án tối cao, nhưng quyền của nguyên đơn dân sự chưa được quy định cụ thể, Thông tư chỉ ghi nhận nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003
BLTTHS năm 1988 ra đời ngày 28-6-1988 là BLTTHS đầu tiên của nước
ta kể từ khi thống nhất nước nhà Bộ luật này là kết quả của quá trình đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng của nước ta Khái niệm nguyên đơn dân sự và quyền của nguyên đơn dân sự được ghi nhận tại Điều 40 BLTTHS năm 1988 Mặc dù
có nhiều điểm tiến bộ nhưng do Bộ luật này ra đời vào những năm đầu của thời
kỳ đổi mới - thời kỳ đất nước đối mặt với nhiều thử thách nên chỉ sau một thời
Trang 35gian ngắn Bộ luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế và đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào những năm 1990, 1992 và 2000 Khái niệm nguyên đơn dân sự và quyền của chủ thể này cũng có những hạn chế nhất định và đã được khắc phục khi BLTTHS năm 2003 ra đời
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
BLTTHS năm 2003 ra đời thay thế BLTTHS năm 1988 và đã khắc phục được những hạn chế của BLTTHS năm 1988 về khái niệm nguyên đơn dân sự và quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự, đặc biệt bổ sung quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa đã khẳng định địa vị pháp lý của nguyên đơn dân sự Tuy nhiên, trong thời gian qua thì quyền lợi của nguyên đơn dân sự chưa thật sự được đảm bảo và quan tâm đúng mức
1.5 Sự cần thiết nghiên cứu về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự
1.5.1 Về mặt lí luận
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và nguyên đơn dân sự nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong định hướng cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình
sự ở nước ta hiện nay Bởi lẽ, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là người
mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm bởi tội phạm, chịu thiệt thòi rất nhiều bên cạnh người bị hại Vì vậy, nguyên đơn dân sự cần được bảo vệ kịp thời, một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ nguyên đơn dân sự
đó là pháp luật TTHS BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận hệ thống quyền của nguyên đơn dân sự tại Điều 52 Tuy nhiên, nhiều quy định của luật còn bỏ ngỏ hoặc có quy định nhưng chưa thật sự khả thi Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự nhằm làm sáng tỏ về mặt lí luận là rất cần thiết cho việc đảm bảo quyền của chủ thể này và hướng đến mục tiêu đề cao quyền con người theo tinh thần của định hướng cải cách tư pháp
1.5.2 Về mặt thực tiễn
Thực tế cho thấy, vì nhiều lí do khác nhau mà quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự chưa được bảo vệ tốt và kịp thời, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự dường như cơ quan có thẩm quyền chưa xem nguyên đơn dân sự như một bên của quá trình tố tụng để có sự quan tâm cần thiết Trong nhiều trường hợp quyền lợi của nguyên đơn dân sự chưa được tôn trọng và đảm
Trang 36bảo thực hiện Cụ thể là pháp luật quy định cho nguyên đơn dân sự có quyền được thông báo về kết quả điều tra, nhưng trên thực tế rất nhiều trường hợp nguyên đơn dân sự không được thông báo kết quả liên quan đến việc giải quyết
vụ án Một ví dụ điển hình là vụ án cố ý gây thương tích ở Sóc Trăng, Cơ quan điều tra đã xác định bà Nguyễn Thị Riều là nguyên đơn dân sự trong vụ án, nhưng qua hơn hai năm vụ án bị “chìm xuống” Bà Riều đã nhiều lần yêu cầu
cơ quan điều tra cho biết kết quả và tiến trình điều tra vụ án nhưng bà Riều vẫn không nhận được bất kỳ thông báo nào17 Ngoài ra, một số quyền khác của nguyên đơn dân sự cũng chưa được đảm bảo, chẳng hạn như nguyên đơn dân sự
có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất ít trường hợp đề nghị của nguyên đơn dân sự được Hội đồng xét xử chấp nhận, v.v Chính vì lẽ đó, nguyên đơn dân sự cần được bảo vệ quyền lợi trên thực tế
Việc nghiên cứu về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa thực tiễn to lớn đó là đưa ra các luận cứ khoa học và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao quyền của nguyên đơn dân sự
Qua phân tích trên cho thấy, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là chủ thể bị thiệt hại bởi hành vi của kẻ phạm tội và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, hiện nay việc xác định tư cách tố tụng của nguyên đơn dân sự còn rất nhiều quan điểm khác nhau BLTTHS năm 2003 đã quy định những bảo đảm cần thiết để nguyên đơn dân sự có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Những bảo đảm pháp lý này được quán triệt thực hiện trong suốt quá trình tố tụng hình sự, qua các giai đoan tố tụng hình sự từ khởi tố, điều tra, truy tố cho đến xét xử Mặc dù có nhiều điểm tiến bộ hơn so với BLTTHS năm 1998 nhưng bản thân BLTTHS năm 2003 cũng có những hạn chế nhất định trong việc quy định và đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Vậy quyền của nguyên đơn dân sự có cơ chế đảm bảo hay không? Những quy định của pháp luật có tính khả thi hay chưa? Có những vướng mắc nào về quyền của chủ thể này? Chúng ta sẽ thảo luận vấn đề này một cách cụ thể trong Chương 2 “Quy định của pháp luật về quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự”
17 Báo pháp luật TP Hồ Chí Minh, Công an cố tình ém nhẹm một vụ án,
http://phapluattp.vn/2011101310483968p0c1063/cong-an-xu-an-dan-su.htmtruy, [truy cập ngày 20-8-2011]
Trang 37CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGUYÊN ĐƠN
DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
Nguyên đơn dân sự là chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra, họ gặp khó khăn không nhỏ trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, là một trong những đối tượng dễ bị xâm phạm quyền con người trong TTHS Vì vậy, BLTTHS năm 2003 đã quy định một hệ thống quyền nhằm bảo
vệ nguyên đơn dân sự, đồng thời tạo điều kiện cho họ tích cực tham gia tố tụng Chương này tập trung phân tích hệ thống các quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Thông qua đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế ở khía cạnh ban hành pháp lụật và đánh giá tính khả thi của những quyền này trên thực tế nhằm đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm đảm bảo quyền của nguyên đơn dân sự cũng như góp phần hoàn thiện pháp luật
2.1 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Trong tố tụng dân sự thì một chủ thể muốn khởi kiện một chủ thể khác thì phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình, tức là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về đương sự Theo quy định tại Khoản 1 Điều 79 BLTTDS
năm 2004 thì “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp” Còn trong tố tụng hình sự thì việc thu thập chứng cứ thuộc về trách
nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng Điều 65 BLTTHS năm 2003 quy định về trách nhiệm thu thập chứng cứ như sau:
1 Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của
Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án
2 Những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án
Nguyên đơn dân sự có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật nhưng không có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ Để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể tham
gia tố tụng thì BLTTHS năm 1998 đã ghi nhận tại Điều 40 “Nguyên đơn dân sự
có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu…” BLTTHS năm 1998 xem những
tài liệu, đồ vật mà nguyên đơn dân sự đưa ra là chứng cứ Điều này là hợp lý vì
Trang 38nếu quy định cho nguyên đơn dân sự có quyền thu thập và đưa ra chứng cứ thì sẽ tạo điều kiện cho nguyên đơn dân sự chủ động và tích cực hơn trong việc tham gia giải quyết vụ án Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 đã thay thế quy định này
bằng quy định nguyên đơn dân sự có “Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu”
Theo đó, khi tham gia tố tụng, nguyên đơn dân sự có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật (ví dụ như hình ảnh, băng đĩa, những tư liệu viết, v.v…) để cơ quan THTT thu thập, bổ sung chứng cứ Đồng thời, nguyên đơn dân sự có quyền yêu cầu HĐXX triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu để xem xét Trong trường hợp có người tham gia tố tụng vắng mặt thì chủ tọa phiên tòa cũng phải hỏi nguyên đơn dân sự hay những người tham gia tố tụng khác có yêu cầu hoãn phiên tòa hay không18
Những quy định trên đã tạo điều kiện cho nguyên đơn dân sự tích cực tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, qua đó bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Giả sử tội phạm chưa được chứng minh mà nguyên đơn dân sự hoàn toàn thụ động mà không có đưa ra tài liệu, đồ vật hoặc bất kỳ yêu cầu nào thì quyền lợi của họ cũng không được đảm bảo Nếu nguyên đơn dân sự có yêu cầu bồi thường nhưng không cung cấp được những thông tin cần thiết chứng minh cho yêu cầu của mình mà phần yêu cầu của họ không liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự của tội phạm thì phần dân sự sẽ được tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Trong trường hợp này thì nguyên đơn dân sự phải chờ đợi đến khi nào phiên tòa diễn ra, Tòa án quyết định tách phần dân sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, rồi sao đó mới tiến hành khởi kiện vụ án dân sự thì mất rất nhiều thời gian và công sức Hoặc nếu phần dân sự của nguyên đơn dân sự liên quan trực tiếp đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự thì cơ quan THTT vẫn có trách nhiệm chứng minh, dù nguyên đơn dân sự không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Trong trường hợp này nếu nguyên đơn dân sự thụ động đợi chờ vào cơ quan THTT thì quyền lợi của họ sẽ không được đảm bảo Chính vì vậy, nguyên đơn dân sự cần chủ động đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình Chẳng hạn, kế toán của một công ty đã tạo ra hàng loạt các khoản chi khống nhằm trục lợi cho riêng mình, kết quả là công ty đó thất thoát hàng tỷ đồng Cơ quan điều tra đã vào cuộc để làm rõ Trong trường hợp này nếu công ty đó chủ động cung cấp những bằng chứng chứng minh cho thất thoát tài chính của mình thì quyền lợi của công
ty sẽ được đảm bảo Trên thực tế do không hiểu biết về quyền của mình nên
18 Điều 205, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 39nguyên đơn dân sự cứ chờ đợi vào kết quả điều tra của cơ quan có thẩm quyền thay vì tự mình đưa ra những chứng cứ xác thực cho vụ án
Việc quy định đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu là quyền chứ không phải nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng đã khẳng định nghĩa vụ của cơ quan THTT, nhằm tạo tâm lý cho những người THTT tích cực hơn trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ sự thật của vụ án, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia tố tụng Tuy nhiên, quy định này đã làm cho những người tham gia tố tụng trong đó có nguyên đơn dân sự thụ động, ỷ lại và chờ đợi vào cơ quan THTT và những người THTT Còn về phía cơ quan THTT thì không xem trọng những tài liệu, đồ vật mà nguyên đơn dân sự đưa ra Thông thường thì những gì
mà các bên cung cấp không được thừa nhận là chứng cứ của vụ án Điều này đã làm cho việc tranh luận trước Tòa án của các bên bị hạn chế Tham khảo những nước có truyền thống về tố tụng tranh tụng cho thấy chứng cứ cũng là nhân tố quan trọng để đảm bảo tranh tụng19 Tại khoản 2, Điều 86 BLTTHS Liên bang
Nga có quy định “Người bị tình nghi, bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự và những người đại diện của họ có quyền thu thập và đưa ra những tài liệu bằng văn bản và những vật để đưa vào hồ sơ vụ án với tư cách là chứng cứ” 20
BLTTDS năm 2004 đã quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về đương sự, Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết do đương sự yêu cầu Điều này làm cho đương sự chủ động đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và đảm bảo cho việc tranh luận trước Tòa án đạt hiệu quả cao hơn Bởi vì, trong trường hợp họ tự thu thập chứng cứ thì họ đã làm chủ được thông tin nên sẽ chủ động hơn khi tham gia tranh luận So với nguyên đơn trong vụ án dân sự thì quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự có phần hạn chế hơn Bởi lẽ, nguyên đơn trong vụ án dân sự có quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập21
, còn nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự thì không được quyền sao chép những tài liệu có trong hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra Điều này đã làm cho nguyên đơn dân sự gặp khó khăn trong việc tiếp cận vụ
án và hoàn toàn bị động và phụ thuộc vào cơ quan THTT Nếu không chủ động tiếp cận được những tài liệu liên quan đến vụ án thì nguyên đơn dân sự sẽ gặp
19 Trần Đại Thắng, Mô hình TTHS thẩm cứu và đề xuất hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam, Tài liệu Hội
thảo khoa học mô hình TTHS Việt Nam, VKSND TC, tháng 12/2009, tr.54
20 Điều 86, BLTTHS Liên bang Nga, Nxb Prôxpec, Matxcơva, 2001, tr.27
21 Điều 58, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
Trang 40khó khăn khi tham gia tố tụng ở những giai đoạn tố tụng tiếp theo, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử
Theo quan điểm của người viết thì việc không quy định quyền thu thập chứng cứ cho nguyên đơn dân sự cũng như không cho phép nguyên đơn dân sự
được “quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên
quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự sau khi kết thúc điều tra” là một
hạn chế của pháp luật thực định
Giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và trải qua nhiều giai đoạn, để tạo điều kiện cho nguyên đơn dân sự tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án thì BLTTHS năm 2003 còn quy định quyền được thông báo về kết quả điều tra
2.2 Quyền đƣợc thông báo về kết quả điều tra
Giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi phải trải qua nhiều giai đoạn từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử Trong đó, giai đoạn điều tra là giai đoạn quyết định tìm ra sự thật của vụ án và chứng minh hành vi của kẻ phạm tội Dựa vào kết quả điều tra Tòa án sẽ tiến hành xét xử để đưa ra quyết định cuối cùng là có hay không có tội phạm Tiến trình điều tra vụ án hình sự có thể rất nhanh chóng hoặc thời gian kéo dài tùy vào mức độ tinh vi của tội phạm Vì vậy, trong khoảng thời gian đó những người tham gia tố tụng phải chờ đợi nên họ cũng cần phải được biết về tiến trình điều tra vụ án, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Vì thế mà tại Điểm b Khoản 2 Điều 52 BLTTHS năm
2003 đã quy định nguyên đơn dân sự có “quyền được thông báo về kết quả điều
tra” Kết quả điều tra được hiểu ở phạm vi hẹp có thể chỉ bao gồm những nội
dung được nêu ra trong bản kết luận điều tra khi kết thúc điều tra Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng có thể được hiểu ở phạm vi rộng hơn, bao gồm bản kết luận điều tra (kèm theo đề nghị truy tố hoặc kèm quyết định đình chỉ điều tra22
), lý do
và quyết định tạm đình chỉ điều tra23
, quyết định tách, nhập vụ án để điều tra, kết quả thực hiện các hoạt động điều tra có liên quan đến nguyên đơn dân sự mà không thuộc bí mật điều tra (ví dụ kết quả giám định thương tật của nguyên đơn dân sự, kết quả giám định tài sản thiệt hại…)24 Nếu được thông báo về kết quả điều tra, nguyên đơn dân sự có điều kiện tiếp cận quá trình giải quyết vụ án,
22 Xem phụ lục 1
23 Xem phụ lục 2
24 Lê Nguyên Thanh, Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ người bị hại trong tố tụng hình sự Việt
Nam, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr.152