Đối với vụ án hình sự, việc xác định đốitượng nhận thức hay đối tượng chứng minh, lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn, vì nếu xác định không đúng đối tượng chứng minh, hoạt động của các c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ THOA
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ THOA
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MAI BỘ
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Thoa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 6
1.1.1 Khái niệm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 6
1.1.2 Đặc điểm của đối tượng chứng minh vụ án hình sự 11
1.2 Nội dung những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể 22
1.2.1 Giới hạn chứng minh trong vụ án Hình sự 22
1.2.2 Vấn đề xác định đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể .31 1.3 Phân loại đối tượng chứng minh 35
1.3.1 Căn cứ vào vị trí, ý nghĩa trong mối quan hệ với giải quyết vụ án hình sự 36 1.3.2 Căn cứ vào mối quan hệ với sự buộc tội 41
1.4 Ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 43
1.4.1 Trong xây dựng pháp luật 43
1.4.2 Trong áp dụng luật tố tụng hình sự 45
Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 48
Trang 52.1 Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượngchứng minh trong vụ án hình sự 482.1.1 Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượngchứng minh trong vụ án hình sự trong giai đoạn trước khi pháp điển hóa 482.1.2 Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượngchứng minh trong vụ án hình sự giai đoạn từ khi ban hành BLTTHS năm
1988 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 2003 522.1.3 Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượngchứng minh trong vụ án hình sự giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật TTHSnăm 2003 đến nay 552.2 Những quy định của luật TTHS một số nước trên thế giới về đối tượngchứng minh 692.2.1 Những quy định của luật TTHS Liên bang Nga về đối tượngchứng minh 692.2.2 Những quy định của luật TTHS của nước Cộng hoà nhân dân TrungHoa về đối tượng chứng minh 742.2.3 Những quy định của luật TTHS của nước Cộng hoà Pháp về đốitượng chứng minh 76Chương 3: THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH
SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNGQUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNGMINH TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 803.1 Thực tiễn thi hành Luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh trong
vụ án hình sự 80
Trang 63.1.1 Đánh giá sơ bộ về tình hình tội phạm ở nước ta trong 6 năm qua 803.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về đốitượng chứng minh trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng 843.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc áp dụng quy định của Luật tố tụnghình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh 1013.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam về đốitượng chứng minh 1013.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật tố tụnghình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh của các cơ quan có thẩm quyềnTHTT hình sự ở Việt Nam 107KẾT LUẬN 111TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 TAND Tòa án nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, việcxác định đối tượng nhận thức có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó xác định mụctiêu mà tri thức con người phải đạt tới Đối với vụ án hình sự, việc xác định đốitượng nhận thức hay đối tượng chứng minh, lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn,
vì nếu xác định không đúng đối tượng chứng minh, hoạt động của các cơ quan
có thẩm quyền THTT sẽ bị lệch hướng, lãng phí công sức tiền của vào việc xácminh, kiểm tra những tình tiết không liên quan đến vụ án, nhưng lại bỏ sótnhững tình tiết quan trọng có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm sáng tỏ vụ án.Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy do không xác định đối tượng chứng minh của từng
vụ án một cách chính xác nên dẫn đến việc Toà án hoặc Viện kiểm sát phải trả
hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, điều tra lại hoặc dẫn đến việcgiải quyết vụ án sai sót, không phù hợp với quy định của pháp luật, làm oanngười vô tội, bỏ lọt tội phạm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như:quy định của pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh còn có những điểm bấtcập, trình độ nhận thức chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm củangười có thẩm quyền THTT… cho nên việc nghiên cứu một cách toàn diệnnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong TTHS, đánhgiá thực trạng quy định của luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh vàthực tiễn hoạt động của các cơ quanTHTT hình sự để từ đó đề ra giải pháp hoànthiện về mặt lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giảiquyết vụ án hình sự là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, gópphần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự Do vậy tác giả chọn đề tài
“Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” cho luận văn tốt nghiệp.
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của khoa học Luật TTHS, đối tượngchứng minh trong tố tụng hình sự đã được nghiên cứu ở cấp độ giáo trình, sáchtham khảo, tạp chí, luận văn trong tốt nghiệp Đại học, Thạc sỹ luật học Cụ thể:
Ở cấp độ giáo trình, sách tham khảo, tạp chí có: Giáo trình luật TTHSViệt Nam của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật TTHS ViệtNam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, của Học viện cảnh sát, “Tài liệu tập huấn
chuyên sâu về Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của Hội đồng phối hợp công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật Bộ Công an, Hà Nội tháng 6-2004; “Một số vấn đề
về chứng minh trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần Quang Tiệp, tạp chí Kiểm
sát số 9, 2003; Nội dung của “Đối tượng chứng minh trong TTHS” trong các
giáo trình, sách tham khảo, tạp chí này mới đề cập mang tính giải thích, nêu kháiniệm, đặc điểm để phục vụ cho học viên hiểu về cơ bản về vấn đề
Ở cấp độ Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật học có: Đề tài: “Chứng
minh trong tố tụng hình sự Việt Nam”của tác giả Phạm Thế Lực K41B
-Khoa Luật - Đại học QGHN thì “ Đối tượng chứng minh trong TTHS” được
đề cập góc độ là một vấn đề của quá trình chứng minh, nêu đến khái niệm đốitượng chứng minh và phân loại đối tượng chứng minh nên việc nghiên cứumới dừng lại ở mức độ nhất định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề
Ở cấp độ Luận văn Thạc sỹ có: Đề tài: “Đối tượng chứng minh trong
vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên”của tác giả Nguyễn
Thị Diệu Hương, bảo vệ năm 2014, có đề cập đến một phần nội dung về đốitượng chứng minh trong vụ án hình sự - trong đó gồm các vấn đề: khái niệm,nội dung và phân loại đối tượng chứng minh – Tuy nhiên việc nghiên cứu
chưa thật sâu sắc và toàn diện Đề tài “Quá trình chứng minh trong tố tụng
hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lê Minh Ngọc - bảo vệ năm 2014.
Trang 11Trong các luận văn thạc sỹ nêu trên các tác giả mới chỉ đề cập đến: đối tượngchứng minh - nhưng đây không phải là đối tượng nghiên cứu chính của luận
án, nên các tác giả cũng chỉ giải quyết vấn đề một cách khái quát chung vàlàm rõ mối quan hệ của nó với các vấn đề khác trong luận văn để từ đó nhằmphục vụ cho việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề chính của luận án… Nhưvậy, có thể nói rằng chưa có nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về đốitượng chứng minh trong TTHS với quy mô là một đề tài độc lập, chuyên biệt
về vấn đề Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về đối tượng chứng minh trong vụ
án hình sự theo pháp luật TTHS là cần thiết
3 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn
đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS nước ta
về đối tượng chứng minh có so sánh với quy định của luật TTHS một sốnước trên thế giới về vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơquan có thẩm quyền THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượngchứng minh, tìm ra những điểm còn tồn tại, bất cập từ đó bước đầu đề xuấtmột số giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên quan đến đốitượng chứng minh và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đó gópphần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu
luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minhtrong vụ án hình sự;
+ Xem xét, đánh giá tính khoa học, tính pháp lý những quy định của luậtTTHS Việt Nam và luật TTHS của một số nước trên thế giới về đối tượng chứngminh trong vụ án hình sự;
Trang 12+ Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về đến đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự;
+ Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn áp dụng nhữngquy định đó của các cơ quan có thẩm quyền THTT hình sự ở Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: là những quy định của pháp luật
TTHS về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng cácquy định của pháp luật hình sự về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: là các quy định của pháp luật
TTHS Việt Nam từ 1945 đến nay, có sự so sánh đối chiếu với pháp luậtTTHS của một số nước trên thế giới; thực tiễn áp dụng quy định của pháp luậtTTHS về đối tượng chứng minh trọng vụ án hình sự trong một số năm gầnđây; đánh giá thực trạng hoạt động của các Cơ quan THTT hình sự Việt Namliên quan đến đối tượng chứng minh trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạmnói chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của cáckhoa học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, lôgic học, tội phạm học, điều trahình sự và các học thuyết chính trị pháp lý
- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn là thực tiễn hoạt động chứng minh,giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền THTT cũng như cácvăn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án hướng dẫn về hoạt động, điềutra, xử lý vụ án hình sự
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với một sốphương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: hệ thống, lôgic, phântích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh
Trang 13nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong tố tụnghình sự, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có
thể được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơquan có thẩm quyền THTT hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trongxây dựng, sửa đổi BLTTHS và một số văn bản pháp luật khác có liên quanđến đối tượng chứng minh để hoàn thiện hơn
- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan có thẩm quyền THTT có thể khai
thác vận dụng những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động của mình trong quá trình chứng minh, giải quyết
vụ án hình sự
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu còn thamkhảo, Luận văn gồm 3 chương :
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về đối tượng chứng minh trong
vụ án hình sự
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và
một số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
Chương 3: Thực tiễn thi hành quy định Luật tố tụng hình sự Việt Nam
về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự và một số giải pháp để nâng caohoạt động áp dụng quy định của Luật tố tụng hình sự về đối tượng chứngminh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG
CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu của từng lĩnh vực hoạt động nhậnthức cụ thể mà trong mỗi lĩnh vực của hoạt động nhận thức lại có đối tượngnhận thức riêng
Theo triết học Mác – Lênin, thì nhận thức là sự phản ánh biện chứngtích cực và là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biếtđến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao,
từ nông đến sâu để nắm được bản chất quy luật của sự việc và hiện tượng[10,
Tr 98] Trong thế giới khách quan, không có cái gì là con người không thểnhận thức được, mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được nhưngdần dần cũng sẽ nhận thức được
Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: thế giới thốngnhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vậthiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ, tác động với nhau, ràng buộclẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau Phép biện chứng cũng chỉ ra rằngphản ánh là thuộc tính của chung của mọi đối tượng vật chất, V I -Lênin viết:
“Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảmgiác, đặc tính phản ánh”[11, tr 104] Bởi vậy về nguyên tắc, hoạt động củacon người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vếttrong thế giới khách quan
Như vậy, theo nguyên lý của lý luận nhận thức thì không có sự vật,hiện tượng nào mà con người không nhận thức được, vì thế không thể có tội
Trang 15phạm không bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có vận dụng một cách kháchquan quy luật nhận thức trong quá trình chứng minh làm rõ vụ án hay không
Nhưng quá trình nhận thức sự thật khách quan của vụ án hình sự khôngphải là quá trình nhận thức trực tiếp mà là quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án.Bởi vì, khi đó sự việc phạm tội không phải là đang xảy ra một cách hiện hữu đểchúng ta nhận thức, mà trên thực tế sự việc phạm tội đã xảy ra, vì vậy các cơquan có thẩm quyền THTT phải nhận thức khôi phục lại nó thông qua việc pháthiện thu thập và đánh giá những dấu vết mà nó để lại trong hiện thực kháchquan Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng vậtchất hoặc được phản ánh ghi nhận trong trí nhớ của con người Dựa trên cơ sở
đó mà cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự cần phải tuân thủ những quy luật chung của quá trìnhnhận thức hiện thực khách quan để làm rõ sự việc phạm tội, người thực hiệntội phạm và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án một cách khách quan,
có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, làm cơ sở cho việc truy cứu tráchnhiệm hình sự người phạm tội Đó cũng chính là quá trình nhận thức và xácđịnh về đối tượng chứng minh
Bởi vậy, đối tượng chứng minh trong TTHS là tổng hợp những vấn đềchưa biết nhưng các cơ quan có thẩm quyền THTT cần phải biết để giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm và nhữngvấn đề này được luật TTHS quy định và các cơ quan có thẩm quyền THTTphải chứng minh làm rõ
Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh xảy ra trong từng vụ án hình sựkhông giống nhau nên đối tượng chứng minh ở mỗi vụ án có những phạm vi
và yêu cầu khác khác nhau Tuy vậy, tội phạm đều có những đặc điểm, quyluật chung giống nhau và được khái quát thành những vấn đề chung nhất mànhững vấn đề này đươc luật TTHS quy định một cách trực tiếp cụ thể hoặc
Trang 16quy định một cách gián tiếp và thường phải chứng minh trong bất kỳ vụ ánnào Theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam thì để truy cứu trách nhiệmhình sự người và một tội phạm cụ thể, cơ quan có thẩm quyền THTT phảichứng minh: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm vànhững tình tiết khác của hàng vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạmtội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không;mục đích, động cơ phạm tội; những tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bịcan, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiếtkhác có liên quan đến vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứngminh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng minh trong tất cả vụ ánnào Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh nhữnghoạt động tố tụng có liên quan Chẳng hạn như: những tình tiết là căn cứ ápdụng biện pháp tạm giam chỉ phải chứng minh nó khi các cơ quan có thẩmquyền THTT áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo
Trong TTHS, nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền THTT,người có thẩm quyền THTT… là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lýcông minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oanngười vô tội Đưa ra những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm để đấutranh chống và phòng ngừa tội phạm Một trong những nguyên tắc cơ bản củaluật TTHS Việt Nam là “trong quá trình THTT hình sự, Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạmtội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục vàngăn ngừa Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời về việc thực hiện yêu cầucủa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.” (Điều 27, BLTTHS Việt Namnăm 2003) Như vậy, trong quá trình THTT hình sự yêu cầu đặt ra cho các cơquan có thẩm quyền THTT là phải tìm ra các nguyên nhân và điều kiện phạm tội
Trang 17và đề ra các biện pháp, yêu cầu khắc phục Chính vì vậy, các cơ quan có thẩmquyền THTT, người có thẩm quyền THTT phải chứng minh làm rõ nguyên nhân
và điều kiện phạm tội - và đây là những vấn đề chứng minh không chỉ góp phần
để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự mà còn phục vụ chủ yếu cho công tácphòng ngừa tội phạm Nên theo chúng tôi đối tượng chứng minh trong vụ ánhình sự còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến vụ án và phục vụ cho việc
đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm
Theo nguyên tắc pháp chế trong Bộ Luật TTHS Năm 2003 thì: mọihoạt động TTHS của cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyềnTHTT và người tham gia tố tụng cũng phải tuân thủ những quy định của luậtTTHS và đương nhiên đối tượng chứng minh cũng phải được luật TTHS quyđịnh - tức là trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần phải chứngminh những vấn đề gì đều được luật TTHS quy định
Hiện nay trong một số giáo trình cũng như một số công trình nghiêncứu đó được công bố, có một số quan điểm về đối tượng chứng minh như sau:
- Quan điểm thứ nhất: "Đối tượng chứng minh là tổng hợp những vấn đềcần phải được xác định làm rõ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”[14, Tr 87]
- Quan điểm thứ hai: "Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự làtổng hợp tất cả các tình tiết thể hiện đầy đủ bản chất của sự việc liên quan đếntội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự" [7,Tr 166]
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bảnchất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết địnhphù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [8, Tr 165]
- Quan điểm thứ tư cho rằng: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản
Trang 18chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết địnhphù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòngngừa[12, Tr 24]
Các quan điểm trên đều xác định đối tượng chứng minh là "tổng hợp"những vấn đề hay những tình tiết cần phải xác định để giải quyết đúng đắn vụ ánhình sự Tuy nhiên, quan điểm thứ nhất về đối tượng chứng minh chưa bao hàmhết nội dung của đối tượng chứng minh Cụ thể là khái niệm chưa bao hàm nhữngvấn đề có liên quan đến vụ án cũng như đặt ra các biện pháp phòng ngừa là đốitượng chứng minh Ở quan điểm thứ hai, nội dung khái niệm mới chỉ mang tínhliệt kê những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh mà chưa thể hiện được bảnchất của đối tượng chứng minh trong khái niệm, chưa nhắc đến các biện phápphòng ngừa là một trong những vấn đề cần phải chứng minh khi giải quyết vụ ánhình sự Theo tôi, quan điểm thứ ba thể hiện được bản chất của đối tượng chứngminh - là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bảnchất của vụ án nhưng xét về nội hàm của khái niệm thì chưa được thật đầy đủ bởi
về nội dung khái niệm chưa bao quát các biện pháp phòng ngừa là một trongnhững vấn đề cần phải chứng minh khi giải quyết vụ án
Trong các quan điểm về đối tượng chứng minh, chúng ta thấy quanđiểm thứ tư tương đối hoàn chỉnh, thể hiện đầy đủ bản chất của đối tượngchứng minh trong vụ án hình sự, coi các biện pháp phòng ngừa là một trongnhững vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Như chúng ta đã biết,tội phạm là một hiện tượng xã hội, gắn với xã hội có giai cấp nên tội phạm có
sự vận động, biến đổi theo quy luật vận động của xã hội Vì vậy, cùng vớiviệc chứng minh tất cả những tình tiết làm sáng tỏ bản chất của vụ án, cơquan tiến hành tố tụng cũng phải nghiên cứu, xác định các biện pháp phòngngừa tội phạm cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội, đảm bảoyêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm
Trang 19Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra khái niệm về đối tượng
chứng minh trong vụ án hình sự như sau: Đối tượng chứng minh trong vụ án
hình sự là tổng hợp các vấn đề liên quan đến vụ án hình sự mà theo quy định của pháp luật TTHS thì cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền THTT phải làm sáng tỏ để ra các quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm
1.1.2 Đặc điểm của đối tượng chứng minh vụ án hình sự
Từ khái niệm đã được đưa ra nêu trên cho thấy đối tượng chứng minhtrong vụ án hình sự có một số đặc điểm như sau:
- Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là những vấn đề liên quan đến vụ án hình sự
Đó là sự tồn tại về mặt không gian, thời gian của sự việc phạm tội; nộidung sự việc phạm tội; người thực hiện hành vi phạm tội và ý thức chủ quancủa người đó khi thực hiện hành vi; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ do phápluật hình sự quy định; tính chất mức độ thiệt hại do tội phạm này gây ra
Như vậy ở phương diện chung nhất, để xác định được đúng và đầy đủđối tượng chứng minh trong vụ án cụ thể trước hết đòi hỏi phải nắm được đầy
đủ những vấn đề cần phải chứng minh do luật TTHS quy định cùng vớinhững quy định của luật hình sự về những vấn đề liên quan đến đối tượngchứng minh và căn cứ vào những quy định này để xác định những vấn đề phảichứng minh trong vụ án hình sự đã xảy ra Chúng ta không chỉ phải căn cứvào quy định của luật TTHS mà còn phải căn cứ vào quy định của luật hình
sự bởi lẽ: Bộ luật TTHS quy định những vấn đề phải chứng minh dưới dạngkhái quát chung, còn luật hình sự quy định cụ thể những nội dung của vấn đềcần phải chứng minh Chẳng hạn như: luật TTHS quy định phải chứng minhnhững tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo Nhưng
Trang 20những tình tiết nào là tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết nào là tình tiết giảmnhẹ TNHS lại do luật hình sự quy định mà chúng ta phải dựa vào những quyđịnh này để xác định, chứng minh tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết giảmnhẹ TNHS nào đối với bị can, bị cáo trong vụ án cụ thể Những quy định củaluật TTHS và luật hình sự chính là những căn cứ để chúng ta dựa vào đó vàđối chiếu, so sánh với vụ án cụ thể đã xảy ra để xác định được đối tượng cầnchứng minh trong vụ án đó, bảo đảm được đầy đủ, không bị sót thiếu vấn đề
gì Nhưng trên thực tế khi một vụ án xảy ra chúng ta không thể biết ngayđược nội dung và các tình tiết của vụ án đó mà đòi hỏi chúng ta phải chứngminh làm rõ những nội dung, tình tiết của vụ án có ý nghĩa pháp lý mà luậtquy định cần phải chứng minh Song nếu chúng ta cứ dựa vào những quy địnhcủa luật về đối tượng chứng minh và lần lượt chứng minh những vấn đề luậtquy định xem trong vụ án cụ thể có những tình tiết gì, không có tình tiết gì sovới quy định của luật là việc làm không hợp lý vì nó dẫn đến lãng phí về thờigian và chi phí cho việc điều tra, chứng minh Bởi vậy, căn cứ vào những quyđịnh của luật về đối tượng chứng minh, dựa vào tính chất, mức độ, hoàn cảnhcủa từng vụ án cũng như dựa vào những chứng cứ đã được thu thập, nhữngtình tiết đã được chứng minh trong quá trình chứng minh vụ án… nhữngngười có thẩm quyền THTT trong tư duy phải phân tích, đánh giá để xác địnhtrong vụ án đó phải chứng minh những vấn đề gì? Những vấn đề gì rõ ràngkhông xảy ra trong vụ án và không phải chứng minh Đồng thời phải biết xácđịnh những tình tiết quan trọng thể hiện bản chất của vụ án cần được chứngminh trước vì nếu có những tình tiết này thì mới phải chứng minh các tình tiếtkhác và ngược lại không có tình tiết này thì việc giải quyết vụ án có thể dừng ởgiai đoạn sớm hơn nên không phải chứng minh các tình tiết khác
Thông thường, khi nhận được tin báo tội phạm, các cơ quan có thẩmquyền THTT tiến hành kiểm tra, xác minh và xác định có hay không có dấu
Trang 21hiệu tội phạm Dấu hiệu của tội phạm phản ánh ở: hành vi nguy hiểm cho xãhội, hành vi nguy hiểm cho xã hội phải là hành vi có lỗi, hành vi nguy hiểmcho xã hội phải được quy định mà cơ quan có thẩm quyền THTT phải xử lý
về hình sự Nên khi xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu củatội phạm thì cơ quan có thẩm quyền THTT mới ra quyết định khởi tố vụ ánhình sự và khi đó mới phải tiến hành điều tra để chứng minh những vấn đềtiếp theo trong vụ án, ngược lại nếu không có dấu hiệu của tội phạm hoặc cónhững căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thẩm quyềnTHTT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và lúc này không đòi hỏiphải chứng minh tiếp những vấn đề khác, đồng thời quá trình tố tụng chấmdứt ở đó Cũng cần lưu ý rằng trong một số trường hợp tuy có dấu hiệu của tộiphạm nhưng luật TTHS quy định chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu củangười bị hại
Trong trường hợp có dấu hiệu của tội phạm và đã khởi tố vụ án hình
sự thì cơ quan có thẩm quyền THTT tiến hành chứng minh các vấn đề tiếptheo của vụ án Trong đó, nên tập trung vào chứng minh những vấn đề thểhiện bản chất của vụ án Tức là chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạmnhưng chỉ cần xác định được không có một trong các yếu tố cấu thành tộiphạm thì vụ án được đình chỉ điều tra và đương nhiên vấn đề chứng minhcũng không đặt ra nữa
Nếu trong vụ án có đủ yếu tố cấu thành tội phạm và cơ quan có thẩmquyền THTT phải tiếp tục tiến hành chứng minh các vấn đề khác có liên quanđến vụ án thì cần lưu ý là phải biết dựa trên cơ sở những nội dung, tình tiếtcủa vụ án đã được chứng minh và các chứng cứ đã thu thập được để xác địnhnhững vấn đề tiếp theo cần phải chứng minh và loại trừ những vấn đề rõ ràngkhông có trong vụ án và không phải chứng minh Chẳng hạn như: Tội phạmmới được thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì rõ ràng lúc này hậu quả
Trang 22của tội phạm chưa xảy ra nên đương nhiên không phải chứng minh hậu quảcủa tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả… Nếutội phạm chỉ do một người thực hiện thì chỉ phải chứng minh nhân thân,những tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS liên quan đến người
đó Còn trong trường hợp có đồng phạm thì phải chứng minh tính chất của đồngphạm, vai trò của từng người trong thực hiện tội phạm, nhân thân, các tình tiếttăng nặng TNHS, tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với từng người; Nếu ngườithực hiện tội phạm chưa thành niên thì phải chứng minh: tuổi, trình độ, phát triển
về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của họ, điều kiệnsinh sống và giáo dục… còn đối với người phạm tội đã thành niên thì khôngphải chứng minh những vấn đề đó hoặc khi đã chứng minh có các căn cứ miễnTNHS cho người phạm tội thì đương nhiên không phải chứng minh những tìnhtiết liên quan đến xác định TNHS và hình phạt…
- Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là những vấn đề liên quan đến vụ án hình sự đã xảy ra trong quá khứ mà cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền THTT chưa biết nên phải xác minh
Xét về mặt thời gian thì:
Việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, truy tố và xét xử vụ án hình
sự được thực hiện sau khi hành vi phạm tội được thực hiện Cơ quan có thẩmquyền THTT và người có thẩm quyền THTT khi nhận được các tin: Tố giáccủa cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;Tin báo trên phương tiệnthông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan cóthẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Ngườiphạm tội tự thú thì phải phân tích, đánh giá để đi đến những kết luận: Có sựviệc đã xảy ra hay không, thời gian, địa điểm, diễn biến sự việc… Sự việc có
đủ dấu hiệu một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự hay
Trang 23không ? Để từ đó làm căn cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong thời hạn
24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửiquyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyề̀n để tiến hành điều tra.Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quanđiều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phảigửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩmquyền để kiểm sát việc khởi tố Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự, Tòa án phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liênquan đến Viện kiểm sát cùng cấp" Quyết định khởi tố vụ án hình sự là hành
vi tố tụng hình sự của một pháp nhân (chủ thể tiến hành tố tụng) có thẩmquyền khởi tố vụ án hình sự biểu hiện bằng một văn bản tố tụng hình sự xácđịnh một sự kiện pháp lý xảy ra trong thực tế là có dấu hiệu của những tộiphạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự nhằm khởi phát những quan
hệ tố tụng, mở đầu cho việc thực hiện những hành vi tố tụng hình sự cần thiết
để làm rõ sự thật khách quan về sự kiện đó Quyết định khởi tố vụ án hình sự,xét từ giác độ giá trị pháp lý là văn bản pháp lý làm cơ sở ban đầu để tiếnhành một cách hợp pháp các hoạt động tiếp theo nhằm làm rõ vụ án hình sự
và là cơ sở pháp lý trực tiếp của các quan hệ tô tụng hình sự phát sinh liênquan đến việc giải quyết vụ án Tất cả các hoạt động tô tụng hình sự chỉ đượctiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự (trừ trường hợp khámnghiệm hiện trường, bắt khẩn cấp, tạm giữ và khám người trong các trườnghợp này thì được tiến hành trước khi quyết định khởi tố vụ án hình sự) Nhưvậy hành vi phạm tội được xảy ra trước đó và cơ quan có thẩm quyền THTT
và người có thẩm quyền THTT thực hiện các công việc để chứng minh hành
vi phạm tôi và người phạm tội
Để khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, truy tố, xét xử vụ án hình sựthì cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền THTT phải thu
Trang 24thập và đánh giá chứng cứ Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh,của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết vụ án hình sự.Thông qua các tài liệu, chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳngđịnh và đồng thời cũng phủ định, loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực
tế Rõ ràng vai trò, giá trị của chứng cứ là rất quan trọng, là cơ sở duy nhất, làphương tiện duy nhất để chứng minh trong vụ án hình sự Khi giải quyết vụ
án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra,viện kiểm sát và toà án cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạmđang được tiến hành xem xét, cần phải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy
ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu tráchnhiệm về hành vi đã thực hiện Tất cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phảiphù hợp với hiện thực khách quan Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tốtụng phải dựa vào chứng cứ Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hànhquyền công tố trước toà án đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bàochữa và thân chủ của họ có thể bác bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Việc nghiên cứu, xác định các sựkiện, tình tiết của vụ án được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉbằng cách dựa vào các chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cầnchứng minh trong vụ án hình sự Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét
và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ,đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ vàtoàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực
từ đó tìm ra chân lý khách quan Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là
cơ sở lý luận, định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểmtra, đánh giá chứng cứ Thông thường, một vụ án hình sự xảy ra bao giờ cũng
để lại dấu vết và những dấu vết đó được thể hiện dưới những hình thức khácnhau, mà những dấu vết này có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định có hay
Trang 25không có hành vi phạm tội Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vàonhững dấu vết đã thu thập được để khởi tố, truy tố hay xét xử một người đã cóhành vi phạm tội, những dấu vết đó được gọi là chứng cứ Theo quy địnhpháp luật thì: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do phápluật tố tụng hình sự quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùnglàm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành
vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn
vụ án Chứng cứ được xác định bằng:Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệuđiện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố,điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợptác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác Kết quả của các hoạt động tố tụng này
là dựng lại quá trình diễn biến của vụ án đã xảy ra trước đó Đây là vấn đề màkhi được giao nhiệm vụ điều tra, truy tố xét xử vụ án hình sự, người có thẩmquyền THTT chưa biết cho nên họ phải xác minh
Yêu cầu xác minh không phụ thuộc vào kết quả xác minh của giai đoạn
tố tụng trước mà phải được lập trong việc đánh giá chứng cứ
- Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền THTT quy định biện pháp giải quyết vụ án hình sự
Trong giải quyết vụ án hình sự, mục đích và yêu cầu đặt ra khôngnhững đòi hỏi phải làm rõ bản chất của vụ án và xử lý nghiêm minh ngườiphạm tội mà còn đòi hỏi toàn bộ quá trình giải quyết vụ án phải tuân thủ đúngquy định của luật hình sự, luật TTHS, việc giải quyết vụ án phải đảm bảođúng đắn khách quan bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người thamgia tố tụng và người có liên quan đến vụ án, khắc phục hậu quả của tội phạm,cũng như đề ra được các biện pháp phòng ngừa tội phạm Nói cách khác việcgiải quyết vụ án hình sự là việc đưa ra quy định hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 26do ai thực hiện và có phải là hành vi phạm tội được quy định tại một điều luật
cụ thể tại phần các tội phạm Bộ luật hình sự hay không Nếu có phạm tội thìhành vi phạm tội gì được quy định tại điều, khoản, điểm nào của BLHS.Trong phạm vi quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền THTT phải ápdụng mọi biện pháp để xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm
rõ chứng cứ xác định có tội, xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Trách nhiệm chứng minh tộiphạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tộikhông buộc phải chứng minh mình vô tội Muốn xác định một người bị có tộihay không thì phải dựa trên những chứng cứ thu được trong vụ án để xemxét Trong quá trình tiến hành tố tụng, điều tra viên, kiếm sát viên, thẩmphán, hội thẩm và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác khôngđược thiên vị, định kiến, phải thu thập và đánh giá chứng cứ của vụ án trên tất
cả các phương diện, cân nhắc mọi tình tiết có thể ảnh hưởng đến việc giảiquyết vụ án Dựa trên cơ sở những chứng cứ rút ra từ những lời khai củangười bị buộc tội, kết hợp với chứng cứ khác cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng xác định người bị buộc tội có tội hay không có tội
Việc chứng minh rõ các vấn đề: Có hành vi phạm tội xảy ra haykhông, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai làngười thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý;
có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhữngđặc điểm; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Để cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định, đưa ra các chế tài, biệnpháp tư pháp đối với người phạm tội The quy định của pháp luật hình sự ViệtNam thì chế tài gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt chínhlà: Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù
Trang 27chung thân và tử hình Hình phạt bổ sung là: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấmhành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một sốquyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất Trong đó, có 2 hình phạt
có thể là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung là phạt tiền và trục xuất.Các biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong
Bộ luật hình sự, do cơ quan có thẩm quyền THTT áp dụng đối với người thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt gồm:Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi; Bắt buộc chữa bệnh; Giáodục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào trường giáo dưỡng (chỉ áp dụng đối vớingười chưa thành niên phạm tội)
Chính vì vậy ngoài việc chứng minh những vấn đề liên quan đến việcxác định tội phạm, xử lý người phạm tội, còn phải chứng minh những vấn đềkhác để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn và phục vụcho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đó là bao gồm những vấn đề như:
Các tình tiết để xác định việc bồi thường thiệt hại hoặc để áp dụng cácbiện pháp tư pháp như: Mức độ thiệt hại gây ra, hoàn cảnh của nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự…
Tung tích của nạn nhân trong những vụ án mà người bị hại đã chếthoặc mất khả năng nhận thức và điều khiển năng lực hành vi…
Mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo hoặc với người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo
Những tình tiết là căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, là căn cứxác định thẩm quyền điều tra, giải quyết vụ án; những tình tiết là căn cứ tạmđình chỉ, đình chỉ vụ án
Hành vi phạm tội của người đó đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ
Trang 28vụ án có hiệu lực pháp luật không?
Người bị hại có yêu cầu khởi tố không? (trong một số trường hợp khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại)
Những tình tiết làm căn cứ cho việc xử lý vật chứng hoặc làm căn cứcho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tư pháp và các biện pháp tốtụng khác như: khi trả lại vật chứng cho chủ sở hữu phải chứng minh việc trả
đó không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án hoặc khi áp dụng biện pháp ngănchặn thì phải chứng minh bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội cũng như để bảo đảm thi hành án
- Việc chứng minh vụ án hình sự là nghĩa vụ của cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT và tuân thủ theo quy định của pháp luật TTHS
Chứng minh trong vụ án hình sự là hoạt động quan trọng trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, để có một bản án quyết định giải quyết vụ ánđúng đắn đòi hỏi việc chứng minh phải khách quan, trung thực chính xácnhằm xử đúng người đúng tội Việc chứng minh của cơ quan có thẩm quyềnTHTT và người có thẩm quyền THTT để quy định có truy cứu TNHS đối vớingười thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan có thẩm quyềnTHTT Bị can, bị cáo có quyền, nhưng không buộc phải chứng minh là mình vôtội Quan hệ pháp luật hình sự có nội dung là mối quan hệ giữa nhà nước vàngười phạm tội Nhà nước với tư cách là chủ thể tham gia pháp luật hình sự cóquyền quy định hành vi nào là tội phạm đồng thời buộc người có hành vi phạmtội gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi bằng bản án của Tòa án hoặc cácquyết định của cơ quan có thẩm quyền Trong xã hội phát triển, để truy cứu tráchnhiệm hình sự một người, nhà nước phải có những chứng cứ chứng minh hành
vi phạm tội của tội phạm, và đi ngược lại lợi ích của xã hội Nếu không đủ
Trang 29chứng cứ chứng minh thì không thể buộc tội và truy cứu TNHS họ, “chỉ ngườinào phạm một tội được pháp luật hình sự quy định mới phải chịu TNHS”.
Vì vậy, để có chứng cứ chứng minh hành vi của người nào đó là tộiphạm, nhà nước thành lập các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứngminh tội phạm Ở nước ta có các cơ quan: cơ quan điều tra, cơ quan được
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng,
Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công
an nhân dân, Quân đội nhân dân), Viện kiểm sát, Tòa án Các cơ quan đó
phải áp dụng mọi biện pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan,đầy đủ toàn diện, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những căn xácđịnh vô tội, những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bịcan, bị cáo Tuy nhiên, đối với trường hợp tội phạm xâm phạm đến danh dự,nhân phẩm người bị hại có thể lựa chọn cách thức bảo vệ và khôi phục danh
dự nhân phẩm bị tội phạm xâm hại trong đó có việc khởi tố hay không khởi tố
về hình sự Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bịhại cũng phải tuân thủ các quy định chung về xác định có dấu hiệu tội phạm.Ngoài người bị hại, pháp luật TTHS còn quy định cho người đại diện chongười bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặctinh thần được quyền yêu cầu khởi tố hay không khởi tố về hình sự tối với tộiphạm xảy ra Quy định này khác với quy định về nghĩa vụ chứng minh trong
vụ án dân sự, các đương sự phải đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình trước Tòa án
Các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,Tòa án có nghĩa vụ chứng minh nhưng
do chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan có thẩm quyền THTT khác nhau nênmỗi giai đoạn các cơ quan có phạm vi trách nhiệm chứng minh khác nhau Giaiđoạn khởi tố, điều tra, chủ thể chứng minh là Điều tra viên, Kiểm sát viên; còn ởgiai đoạn xét xử, trách nhiệm chứng minh thuộc về Hội đồng xét xử Để thực hiện
Trang 30nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan có thẩm quyền THTT, pháp luật quy địnhcho các cơ quan áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết phù hợp vớinghĩa vụ chứng minh tội phạm đồng thời đảm bảo tôn trọng các quyền tự do củacông dân.
1.2 Nội dung những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể
1.2.1 Giới hạn chứng minh trong vụ án Hình sự
Khái niệm giới hạn chứng minh: Để xác định các tình tiết, nhằm giải
quyết đúng đắn, khách quan vụ án cần phải có các chứng cứ để chứng minh
Bộ luật tố tụng hình sự quy định những vấn đề chứng minh trong vụ án hình
sự (đối tượng chứng minh) Tuy nhiên, trong thực tiễn tội phạm xảy ra vôcùng phong phú với các loại tội phạm khác nhau với đối tượng chứng minhkhác nhau; về phần mình mỗi loại tội phạm cũng được thực hiện trong cáchoàn cảnh cụ thể khác nhau (quả tang, đồng phạm, người phạm tội dùng thủđoạn xảo quyệt …) đòi hỏi tính chất và mức độ chứng minh khác nhau để xácđịnh được khách quan, toàn diện các tình tiết cần thiết cho việc giải quyết các
vụ án Hơn nữa, trong mỗi trường hợp cụ thể chứng cứ thu nhập được cũng cógiá trị chứng minh khác nhau Trong bối cảnh đó, việc xác định các loạichứng cứ được thu thập trong vụ án cần và đủ để xác định được đối tượngchứng minh có vai trò rất quan trọng
Giới hạn chứng minh là tổng hợp các chứng cứ được thu thập trong vụ
án hình sự Trong số những vấn đề cần chứng minh thì có vấn đề luật TTHSquy định trực tiếp một cách rõ ràng, có vấn đề luật TTHS quy định một cáchgián tiếp mà phải qua nghiên cứu điều luật này trong mối quan hệ tổng thểcủa luật TTHS chúng ta mới thấy được vấn đề cần phải chứng minh
- Trước hết, để giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề cốt lõi, cơ bản làphải xác định xem có tội phạm xảy ra hay không, đó là tội phạm gì, được quyđịnh ở điều, khoản nào của BLHS… để làm được việc đó các cơ quan có
Trang 31thẩm quyền THTT phải chứng minh làm rõ những tình tiết diễn biến trong vụ
án để so sánh sự phù hợp của tình tiết diễn biến của vụ án đó với khái niệm tộiphạm trong luật hình sự, cũng như với các quy định của luật hình sự về tội phạm
cụ thể Trên thực tế mỗi tội phạm xảy ra thường có những diễn biến khác nhau
mà không có tội phạm nào hoàn toàn giống tội phạm nào Nhưng những tộiphạm cụ thể đều có những yếu tố pháp lý đặc trưng được quy định trong luậthình sự- những yếu tố pháp lý đặc trưng này- được khoa học luật hình sự gọi làcác yếu tố cấu thành tội phạm Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự người
ta dựa vào các yếu tố cấu thành tội phạm để làm căn cứ pháp lý xác định tộiphạm cụ thể Vì vậy, trong giải quyết vụ án hình sự việc xác định có tội phạmxảy ra hay không? đó là tội phạm gì thuộc khung, điều luật nào?… Chính là việcxác định các yếu tố cấu thành tội phạm trong vụ án đó- hay nói cách khác là phảichứng minh trong vụ án đó có các tình tiết tương ứng với các yếu tố cấu thànhtội phạm hay không- tức là chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm
Các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm: khách thể của tội phạm; mặtkhách quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm
+ Chứng minh khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ, nhưng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ trực tiếpgây thiệt hại ở một chừng mực nhất định
Chứng minh khách thể của tội phạm tức là phải xác định được quan hệ
xã hội nào được hình sự bảo vệ nhưng bị tội phạm xâm hại Nếu không cóquan hệ xã hội bị xâm hại, hoặc tuy có quan hệ xã hội bị xâm hại nhưng quan
hệ xã hội đó không được luật hình sự bảo vệ thì sẽ không có tội phạm
Một hành vi phạm tội có thể xâm hại đến nhiều khách thể, mặt kháctrong một vụ án hình sự người phạm tội có thể thực hiện nhiều hành vi phạmtội Bởi vậy, trong những trường hợp này cần phải chứng minh làm rõ tất cảcác quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại
Trang 32Thường khách thể của tội phạm được xác định thông qua việc xácđịnh đối tượng của tội phạm Tuy nhiên, cùng một đối tượng tác động của tộiphạm nhưng những đối tượng này lại thuộc những khách thể của tội phạmkhác nhau Song trong một chừng mực nhất định, dựa vào khách thể của tộiphạm có thể phân được các loại tội phạm này với tội phạm khác.
Dựa vào khách thể của tội phạm mà xác định được tính chất, mức độnguy hiểm của hành vi phạm tội Khách thể càng quan trọng thì tính chất vàmức độ nguy hiểm càng lớn
Như vậy, chứng minh khách thể của tội phạm là xác định quan hệ xãhội nào được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại? Trong một vụ án cóthể phải chứng minh nhiều khách thể bị xâm hại Nếu khách thể không bị xâmhại thì không có tội phạm và khi đó sẽ không được khởi tố vụ án hoặc nếu đãkhởi tố thì phải đình chỉ
+ Chứng minh mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tộiphạm tác động vào quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ gây nên thiệt hạiđáng kể cho quan hệ xã hội đó
Khi chứng minh mặt khách quan của tội phạm phải chứng minh cácvấn đề sau: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; phương pháp, phương tiện, công
cụ, thủ đoạn để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; thời gian, địa điểm,hoàn cảnh, nơi xảy ra tội phạm…
Trong những vấn đề thuộc mặt khách quan của tội phạm như trên, cónhững vấn đề là dấu hiệu bắt buộc mà có dấu hiệu đó mới cấu thành tội phạm,chẳng hạn dấu hiệu bắt buộc ở mọi cấu thành tội phạm như: hành vi nguyhiểm cho xã hội Nếu khi chứng minh xác định được không có dấu hiệu nàythì không cấu thành tội phạm và sẽ không có tội phạm xảy ra Tuy nhiên hành
Trang 33vi nguy hiểm cho xã hội được coi là dấu hiệu mặt khách quan của tội phạmnếu hành vi đó được ghi nhận trong luật hình sự.
Chứng minh hậu quả nguy hiểm cho xã hội chính là chứng minh hậuquả của hành vi phạm tội - có ý nghĩa để làm căn cứ định tội, định khung hìnhphạt và quyết định hình phạt
Chứng minh những dấu hiệu khác của mặt khách quan của tội phạmnhư: công cụ, phương tiện, thủ đoạn, phương pháp thực hiện hành vi phạmtội; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh nơi xảy ra tội phạm; tình hình kinh tế,chính trị, xã hội khi xảy ra tội phạm là cần thiết và có ý nghĩa Bởi vì, trong số
đó có những dấu hiệu trong những trường hợp nhất định là dấu hiệu bắt buộctrong cấu thành tội phạm, chẳng hạn như: địa điểm thực hiện tội phạm là dấuhiệu bắt buộc trong tội hoạt động phỉ Trong một số trường hợp, những dấuhiệu này là những dấu hiệu cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹTNHS cho người thực hiện hành vi phạm tội, chẳng hạn như dấu hiệu: “Dùnghung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người” làdấu hiệu định khung tăng nặng trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khoẻ cuả người khác; có dấu hiệu còn có ý nghĩa để xác định thẩmquyền giải quyết vụ án như dấu hiệu địa điểm phạm tội; có dấu hiệu có ýnghĩa để xác định TNHS như: dấu hiệu thời gian phạm tội để xác định thờihiệu truy cứu TNHS
Trong một vụ án hình sự, có thể phải chứng minh làm rõ nhiều hành
vi nguy hiểm cho xã hội và cùng với nó, phải chứng minh các dấu hiệu khácthuộc mặt khách quan của tội phạm liên quan đến từng hành vi Điều này xảy
ra khi người phạm tội thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tộighép hoặc thực hiện nhiều tội phạm
Như vậy, chứng minh mặt khách quan của tội phạm bao gồm phảichứng minh nhiều dấu hiệu khác nhau, các dấu hiệu này đều có ý nghĩa đối
Trang 34với việc giải quyết đúng đắn vụ án, tuy nhiên ý nghĩa của các dấu hiệu cókhác nhau Trong một vụ án, có thể phải chứng minh mặt khách quan của cáctội phạm khác nhau.
+ Chứng minh chủ thể của tội phạm:
Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi con người cụ thể, bởi vậychứng minh chủ thể của tội phạm là chứng minh ai là người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội trái pháp luật hình sự, tức là ai là người thực hiện hành
vi phạm tội - thực hiện tội phạm Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội có năng lực TNHS không; có đủ khả năng nhận thức hành vi và khả năngđiều khiển hành vi của mình không? Họ đã đến tuổi chịu TNHS chưa? ở đâycần lưu ý: một người tuy có thể mất khả năng nhận thức và khả năng điềukhiển hành vi do bị say rượu hoặc dùng chất kích thích mạnh khác mà họ cólỗi đối với tình trạng say của mình thì luật hình sự vẫn thừa nhận họ là người
có đủ năng lực TNHS
Trong một vụ án hình sự có thể còn phải chứng minh ngoài ngườithực hiện hành vi phạm tội còn có ai tham gia vào việc thực hiện tội phạmnữa Năng lực TNHS và độ tuổi của những người cùng tham gia này như thếnào Tức là phải chứng minh những người đồng phạm trong vụ án hình sự
Trong luật hình sự còn có một số tội phạm khi cấu thành tội phạm, ngoàicác dấu hiệu bắt buộc của chủ thể: Năng lực TNHS, độ tuổi thì còn có các dấuhiệu khác mà khi cấu thành tội phạm đòi hỏi phải có Những chủ thể đòi hỏi phải
có thêm dấu hiệu đặc biệt gọi là chủ thể đặc biệt Trong những tội phạm đòi hỏichủ thể đặc biệt thì phải chứng minh thêm những dấu hiệu đặc biệt của chủ thể
đó như: Chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn trong tội tham ô tài sản, tộinhận hối lộ ; Chủ thể liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc trong tội viphạm các quy định về hàng không, tội vi phạm các quy định về hằng hải ; Chủthể liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện trong tội trốn tránh nghĩa vụ quân
Trang 35sự…; Chủ thể liên quan đến giới tính trong tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm…; Chủthể liên quan đến quan hệ gia đình, họ hàng trong tội loạn luân…
+ Chứng minh mặt chủ quan của tội phạm:
Mặt chủ quan của tội phạm là diễn biến bên trong phản ánh trạng tháitâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành
vi đó gây ra
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: lỗi; động cơ; mục đích phạm tội.Lỗi là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi phạm tội và hậuquả do hành vi đó gây ra Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩyngười phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Mục đích phạm tội là yêu cầu cầnđạt được và mong muốn đạt được của người phạm tội khi thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội
Chứng minh mặt chủ quan của tội phạm tức là chứng minh người thựchiện hành vi phạm tội có lỗi hay không có lỗi, nếu có lỗi thì do cố ý hay vô ý;Động cơ, mục đích phạm tội là gì
- Khi đã chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm mà qua việc chứngminh đó đã xác định được có tội phạm xảy ra, làm rõ đó là tội phạm gì, thuộcđiều khoản nào của Bộ luật hình sự, người thực hiện tội phạm là ai… thì tiếptục đặt ra việc phải xử lý người phạm tội Mà để xử lý người phạm tội thì phảichứng minh làm rõ các vấn đề như:
Người phạm tội có được hưởng thời hiệu truy cứu TNHS hay không?gồm các tình tiết như: tội phạm đó có được áp dụng thời hạn truy cứu TNHSkhông, thuộc loại tội phạm gì, đã xảy ra bao lâu; người phạm tội có trốn tránh
và bị truy nã không?
Nếu người phạm tội không thuộc trường hợp được hưởng thời hiệutruy cứu TNHS hoặc thời hiệu truy cứu TNHS chưa hết thì phải chứng minhxem họ có được miễn TNHS hay không, như: do chuyển biến của tình hình
Trang 36hành vi phạm tội hoặc người phạm tội còn nguy hiểm cho xã hội không, cóthuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không; người phạmtội có được đại xá không?
Chứng minh các tình tiết dẫn đến việc có thể được miễn hình phạtnhư: người phạm tội trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ,đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn TNHS
Nếu họ không được miễn TNHS và cũng không được miễn hình phạtthì tiếp tục phải chứng minh những vấn đề là căn cứ quyết định hình phạt như:chứng minh tính chất và mức độ của hành vi phạm tội Cần lưu ý rằng khi xácđịnh mức độ gây thiệt hại của hành vi phạm tội không chỉ có hậu quả trong mặtkhách quan của tội phạm mà còn bao gồm những hậu quả khác thể hiện tínhchất mức độ nguy hiểm của tội phạm, chẳng hạn: kẻ phạm tội vào một gia đìnhgiết chết hai vợ chồng chủ nhà và cướp tài sản, hai cháu nhỏ con của đôi vợchồng bị giết không ai chăm sóc, nuôi dưỡng sinh ra bệnh tật ốm yếu, xã hộiphải nuôi hai cháu nhỏ đến khi trưởng thành ở đây hậu quả của tội phạm đượccoi là dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm chỉ ở việc gây thiệt hại chotính mạng của đôi vợ chồng và tài sản của họ, còn việc hai cháu nhỏ không cóngười chăm sóc nên bệnh tật, ốm yếu chỉ là dấu hiệu đánh giá tính chất của tộiphạm chứ không phải dấu hiệu trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm;Chứng minh các tình tiết tăng nặng TNHS và các tình tiết giảm nhẹ TNHS.Thực tiễn cho thấy, trong số những tình tiết này có thể có tình tiết đã được làm
rõ khi chứng minh các yếu tố cấu thành tội phạm hoặc khi chứng minh tínhchất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng còn những tình tiết tăngnặng TNHS hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS khác cần phải chứng minh Cần lưu
ý rằng những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì khôngđược coi là tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS; Chứng minhnhững tình tiết về nhân thân người phạm tội; Nếu tội phạm được thực hiện dolỗi cố ý trực tiếp thì cần chứng minh tội phạm được thực hiện ở giai đoạn nào
Trang 37vì hình phạt áp dụng đối với người chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạtthấp hơn mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội ở giai đoạn tội phạmhoàn thành; Trong vụ án đồng phạm, còn phải chứng minh tính chất của đồngphạm, vai trò, tính chất và mức độ tham gia thực hiện tội phạm của từng ngườiđồng phạm…để cá thể hoá TNHS và hình phạt đối với họ
- Như chúng ta đã biết trong giải quyết vụ án hình sự mục đích và yêucầu đặt ra không những đòi hỏi phải làm rõ bản chất của vụ án và xử lýnghiêm minh người phạm tội mà còn đòi hỏi toàn bộ quá trình giải quyết vụ
án phải tuân thủ đúng quy định của luật hình sự, luật TTHS, việc giải quyết
vụ án phải đảm bảo đúng đắn khách quan bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của người tham gia tố tụng và người có liên quan đến vụ án, khắc phụchậu quả của tội phạm, cũng như đề ra được các biện pháp phòng ngừa tộiphạm Chính vì vậy ngoài việc chứng minh những vấn đề liên quan đến việcxác định tội phạm, xử lý người phạm tội, còn phải chứng minh những vấn đềkhác để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn và phục vụcho việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đó là bao gồm những vấn đề như:
Các tình tiết để xác định việc bồi thường thiệt hại hoặc để áp dụng cácbiện pháp tư pháp như: Mức độ thiệt hại gây ra, hoàn cảnh của nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự…
Tung tích của nạn nhân trong những vụ án mà người bị hại đã chếthoặc mất khả năng nhận thức và điều khiển năng lực hành vi…
Mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị cáo hoặc với người
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị can, bị cáo
Những tình tiết là căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự, là căn cứxác định thẩm quyền điều tra, giải quyết vụ án; những tình tiết là căn cứ tạmđình chỉ, đình chỉ vụ án
Hành vi phạm tội của người đó đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ
Trang 38vụ án có hiệu lực pháp luật không?
Người bị hại có yêu cầu khởi tố không? (trong một số trường hợp khởi
tố theo yêu cầu của người bị hại)
Những tình tiết làm căn cứ cho việc xử lý vật chứng hoặc làm căn cứcho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp tư pháp và các biện pháp tốtụng khác như: khi trả lại vật chứng cho chủ sở hữu phải chứng minh việc trả
đó không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án hoặc khi áp dụng biện pháp ngănchặn thì phải chứng minh bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội cũng như để bảo đảm thi hành án
Và những tình tiết có liên quan khác có ý nghĩa trong việc giải quyếtđúng đắn vụ án hình sự
- Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên thì còn phảichứng minh thêm các vấn đề như: tuổi, trình độ phát triển thể chất và tinhthần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; Điềukiện sinh sống và giáo dục của người chưa thành niên; Khi người chưa thànhniên thực hiện tội phạm có hay không có người thành niên xúi giục
Người chưa thành niên đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tínhnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và đôi khi còn bị tácđộng mạnh mẽ của những điều kiện bên ngoài, do ở lứa tuổi đó họ chưa pháttriển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức cũng nhưkinh nghiệm sống của họ còn bị hạn chế, khả năng tự kìm chế chưa cao…nên
họ dễ bị người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy vào việc phạm tội và thôngthường là ý thức phạm tội của họ chưa cao cũng như chưa chắc chắn nên cũng
dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ thành người có ích cho xã hội… chính sáchhình sự đối với người chưa thành niên chủ yếu là giáo dục giúp đỡ họ sửachữa những sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xãhội Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà người phạm tội
Trang 39là người chưa thành niên thì cần phải chứng minh làm rõ thêm những nộidung như đã nêu ở đoạn trên mới có thể xác định đúng bản chất của vụ án
- Đối với vụ án hình sự mà khi có căn cứ cho rằng người thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực TNHS do bị mắc bệnh tâmthần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành
vi của mình thì ngoài việc chứng minh hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy
ra còn phải chứng minh: tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người cóhành vi nguy hiểm cho xã hội; người đó có mất khả năng nhận thức hoặc điềukhiển hành vi của mình hay không Qua kết quả chứng minh những vấn đềtrên cho thấy người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không bị bệnhtâm thần, không mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì đươngnhiên cần phải chứng minh những nội dung khác như đối với những vụ ánthông thường và giải quyết theo thủ tục chung
Việc xác định đúng phạm vi giới hạn chứng minh có ý nghĩa quantrọng trong việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện, kịp thời vụ ánhình sự nhằm thực hiện nhiệm vụ tố tụng là xử lý tội phạm, người phạm tội vàgiáo dục phòng ngừa Việc xác định quá hẹp phạm vi giới hạn chứng minh,tức thung nhập không đầy đủ chứng cứ sẽ làm cho sự thật khách quan của vụ
án không được xác định đầy đủ, ảnh hưởng đến tính toàn diện, chính xáckhách quan trong giải quyết vụ án; việc xác định quá rộng phạm vi giới hạnchứng minh, thu thập những chứng cứ không cần thiết sẽ làm kéo dài vụ án,làm cho vụ án giải quyết thiếu kịp thời, thậm chí có trường hợp gây rối bậntrong quá trình chứng minh vụ án hình sự
1.2.2 Vấn đề xác định đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự cụ thể
Việc xác định đúng đối tượng chứng minh trong mỗi vụ án hình sự cụthể xảy ra trên thực tế có ý nghĩa rất quan trọng Nó vừa đảm bảo việc giảiquyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, vừa là cơ sở cho việc điều tra, chứng
Trang 40minh và giải quyết vụ án của các cơ quan có thẩm quyền THTT được tậptrung nhanh chóng và kịp thời, tránh được tình trạng thu thập chứng cứ vàchứng minh tràn lan cả những vấn đề không liên quan đến vụ án, từ đó rútngắn được thời gian cũng như chi phí cho việc điều tra, giải quyết vụ án…
Việc xác định đúng đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự làvấn đề rất khó Không thể đề ra những quy tắc hoặc phương pháp áp dụngchung trong quá trình giải quyết mọi vụ án hình sự Việc xác định đốitượng chứng minh trong vụ án hình sự nhanh hay lâu phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như tính chất phức tạp của vụ án, khả năng phân tích đánh giá vụ áncủa người có thẩm quyền THTT
Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật và thựctiễn giải quyết các vụ án hình sự, chúng tôi rút ra được một số yêu cầu cần đápứng và một số cách thức có thể sử dụng để việc xác định đối tượng chứng minhtrong vụ án hình sự cụ thể được đúng đắn và nhanh chóng, như sau:
Ở phương diện chung nhất, để xác định được đúng và đầy đủ đốitượng chứng minh trong vụ án cụ thể trước hết đòi hỏi phải nắm được đầy đủnhững vấn đề cần phải chứng minh do luật TTHS quy định cùng với nhữngquy định của luật hình sự về những vấn đề liên quan đến đối tượng chứngminh và căn cứ vào những quy định này để xác định những vấn đề phải chứngminh trong vụ án hình sự đã xảy ra Chúng ta không chỉ phải căn cứ vào quyđịnh của luật TTHS mà còn phải căn cứ vào quy định của luật hình sự bởi lẽ:
Bộ luật tố tụng hình sự quy định những vấn đề phải chứng minh dưới dạngkhái quát chung, còn luật hình sự quy định cụ thể những nội dung của vấn đềcần phải chứng minh Chẳng hạn như: luật TTHS quy định phải chứng minhnhững tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo Nhưngnhững tình tiết nào là tình tiết tăng nặng TNHS, tình tiết nào là tình tiết giảmnhẹ TNHS lại do luật hình sự quy định mà chúng ta phải dựa vào những quy