Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nước gặp phải trong quá trình hoàn thiện pháp luật là bảo đảm sự cân bằng giữa các mục tiêu của tố tụng hình sự, đó là việc cân bằng giữa nhiệm
Trang 1Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS Mạc Giáng Châu Lê Thị Hồng Nhung
Bộ môn: Luật Tƣ pháp MSSV: 5095353
Cần Thơ, Tháng 5/2013
Trang 2
Trang 3
Trang 4
BLHS: Bộ luật hình sự
CQĐT: Cơ quan điều tra
Trang 5Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI TRONG TTHS 4
1.1 Khái quát chung về quyền im lặng của người bị tình nghi trong tố tụng hình sự 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1.1 Khái niệm chung về quyền con người 4
1.1.1.2 Khái niệm quyền im lặng 6
1.1.1.3 Khái niệm người bị tình nghi 8
1.1.2 Bản chất của quyền im lặng 13
1.2.3 Vai trò của quyền im lặng 15
1.2 So sánh cơ sở lý luận về quyền im lặng trong hoạt động tư pháp tố tụng hình sự 18
1.2.1 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức, Mỹ 18
1.2.1.1 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức 18
1.2.1.2 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Mỹ 20
1.2.2.Quyền im lặng trong BLTTHS Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN IM LẶNG 24
2.1 Các quy định mang tính nguyên tắc liên quan tới quyền im lặng 24
2.1.1 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án 24
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa 26
2.1.3 Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật 27
2.2 Các quy định cụ thể trong các giai đoạn tố tụng liên quan tới quyền im lặng 29
2.2.1 Quyền im lặng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 29
Trang 62.2.1.2 Quyền im lặng trong giai đoạn điều tra 30
2.2.1.3 Quyền im lặng trong giai đoạn truy tố 32
2.2.2 Quyền im lặng trong giai đoạn xét xử 33
2.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị xét xử 33
2.2.2.2 Giai đoạn tại phiên tòa 35
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI 40
3.1 Về mặt pháp lý 40
3.1.1 Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án 40
3.1.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội 41
3.1.3 Các quy định về quyền của người bị tạm giữ (Điều 48 – BLTTHS), bị can (Điều 49 – BLTTHS), bị cáo (Điều 50 – BLTTHS): 43
3.2 Về mặt thực tiễn 46
3.2.1 Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 46
3.2.2 Quyền trình bày lời khai 53
KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự là vấn đề đang được các quốc gia quan tâm Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nước gặp phải trong quá trình hoàn thiện pháp luật là bảo đảm sự cân bằng giữa các mục tiêu của
tố tụng hình sự, đó là việc cân bằng giữa nhiệm vụ xử lý tội phạm và duy trì tính nghiêm minh của pháp luật với việc bảo đảm và không vi phạm các quyền của người bị tình nghi Qua nghiên cứu cho thấy, ở không ít các quốc gia điển hình là nước Mỹ, Đức, thì pháp luật luôn bảo vệ quyền được im lặng của người bị tình nghi một cách trọn vẹn
Tại Việt Nam, thực tế giải quyết vụ án hình sự cho thấy vẫn còn tồn tại tình trạng oan sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi, Một trong số quyền đó, cụ thể là “quyền im lặng” trong các giai đoạn tố tụng hình
sự (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự) Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do những quy định của pháp luật còn bất cập, hạn chế (không quy định trực tiếp và rõ ràng)… Mặc dù, Bộ luật TTHS Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên cũng mới chỉ khắc phục được phần nào những bất cập còn tồn tại Chính vì vậy, quyền và lợi ích pháp lý của người bị tình nghi vẫn chưa được đảm bảo một cách trọn vẹn Trước tình hình đó, Nhà nước đã có những động thái thể hiện rõ quyết tâm sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng Tương tự nhiều nước trên thế giới, Việt Nam đã và đang tiến hành cuộc cải cách tư pháp toàn diện về tư pháp hình sự Nghị Quyết số 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị Quyết số 49/NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính Trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người”; Bộ Chính Trị đã chủ trương một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách đó là “mở rộng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự, trong đó, nhấn mạnh việc mở rộng hơn nữa quyền của người bào chữa và quyền của người bị buộc tội” Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng mới đây cũng tiếp tục đặt ra nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện
Trang 8chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”
Tuy nhiên, để tiến trình cải cách tư pháp trong lĩnh vực TTHS đạt hiệu quả cao, việc mở rộng hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
và hoạt động TTHS nói riêng là một tất yếu khách quan và phù hợp với xu thế hội nhập pháp luật Với mong muốn góp phần vào việc nâng cao hiệu quả xây dựng và hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của người bị tình nghi Vì
vậy, đây chính là lý do để người viết mạnh dạn chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật
TTHS Việt Nam về quyền im lặng của người bị tình nghi trong vụ án hình sự” để
nghiên cứu và tìm hiểu
2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, người viết tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan
đến quyền im lặng của người bị tình nghi như khái niệm, bản chất của quyền im
lặng, so sánh cơ sở lý luận về quyền im lặng trong hoạt động tư pháp TTHS ở Mỹ, Đức từ đó liên hệ đến pháp luật Việt Nam, làm rõ vai trò của quyền im lặng, để tạo nền tảng cho việc nghiên cứu quyền im lặng của người bị tình nghi trong hoạt động
tư pháp tố tụng hình sự Thông qua đó người viết đề cập đến những tồn tại về mặt pháp lý của Bộ luật TTHS Việt Nam, cũng như chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định về “quyền” của người bị tình nghi trên thực tế, từ đó đưa ra các giải pháp
cụ thể Người viết chỉ tập trung xoáy sâu vào các quy định của Bộ luật TTHS hiện hành và Bộ luật hình sự hiện hành về quy định quyền im lặng của người bị tình nghi trong các giai đoạn TTHS và các quy định mang tính nguyên tắc liên quan tới quyền
im lặng
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở là làm rõ những vấn đề lý luận chung về quyền im lặng của người
bị tình nghi trong hoạt động tư pháp tố tụng hình sự, đồng thời nghiên cứu thực tiễn quy định quyền im lặng ở nước Mỹ, Đức, từ đó liên hệ đến những quy định của pháp luật Việt Nam Thông qua đó, chỉ ra được những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về quy định quyền im lặng của người bị tình nghi, để đưa ra những
giải pháp mang tính cụ thể nhằm “Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền
im lặng của người bị tình nghi trong vụ án hình sự”, góp phần đảm bảo cho quyền
con người trong xã hội nói chung, quyền im lặng của người bị tình nghi trong TTHS nói riêng được bảo đảm tích cực hơn
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tìm hiểu, nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài, vận dụng các phương pháp khoa học như: phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin (phương pháp duy vật biện chứng), phân tích, so sánh, chứng minh, đánh giá, tổng hợp để làm rõ vấn đề Cụ thể, phương pháp duy vật biện chứng được sử dụng để làm rõ quan niệm của các nhà triết học về quyền con người Bên cạnh đó, tác giả tập trung phân tích, so sánh quy định về quyền im lặng của nghi phạm ở nước Mỹ, Đức và những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền im lặng của người bị tình nghi trong hoạt động tư pháp hình sự
5 Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia làm ba phần: lời mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó, phần nội dung được cấu trúc thành ba chương, cụ thể:
+ Chương 1: Những vấn đề chung về quyền im lặng của người bị tình
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA
NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI TRONG TTHS
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ TÌNH NGHI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Để có cái nhìn tổng thể về quyền im lặng của người bị tình nghi trong TTHS, trước tiên vấn đề cần làm rõ là khái niệm về quyền con người, quyền im lặng và người bị tình nghi, tiếp đó là làm rõ bản chất của quyền im lặng, và sau đó liên hệ
cụ thể đến cơ sở lý luận về quyền im lặng trong hoạt động tư pháp tố tụng hình sự, đồng thời làm rõ vai trò của quyền im lặng
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm chung về quyền con người
Quan niệm về quyền con người, trong lịch sử chính trị - tư tưởng của nhân loại, thuật ngữ quyền con người (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến nay chưa có quan niệm thống nhất Ngay từ thời cổ đại đã có sự bàn luận về các quyền Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các nhà
tư tưởng bàn đến như một học thuyết
- Quan niệm thứ nhất, cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên Trong ý nghĩa ban đầu, thuyết pháp luật tự nhiên ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tự do của con người; khẳng định quyền con người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quan niệm quyền con người tự do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho quyền tự nhiên
- Quan niệm thứ hai, xem con người cũng như quyền con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội Quyền con người với tính chất là thuộc tính bẩm sinh,
tự nhiên, không được đặt ra trong xã hội thị tộc khi chưa có sự vi phạm quyền con người Chỉ khi xã hội có giai cấp, Nhà nước có sự vi phạm quyền con người thì vấn
đề con người mới được đặt ra trước nhân loại
Học thuyết Mác – Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của con người Con người vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa
là sản phẩm của xã hội và là một thực thể thống nhất, một “sinh vật – xã hội” Do
đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một
Trang 11đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã hội”, sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
Vì vậy trong điều kiện ngày nay, việc đưa ra khái niệm đúng đắn về quyền con người phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và quyền lực, giữa quan
hệ quốc tế với lợi ích quốc gia, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên với những nổ lực chủ quan
Như vậy, ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa có thể nêu ra một số thuộc tính cơ bản của khái niệm quyền con người sau đây:
Một là, quyền con người là những giá trị gắn với mỗi con người vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng
Hai là, quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính…
Ba là, quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử… Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn Với ba yếu tố trên đây, quan niệm về quyền con người vừa khẳng định cơ
sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã hội – chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân tộc1
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau:
“Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định Quyền con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng; có tính phổ cập, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tính ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính”
1
Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004, tr 12-25
Trang 121.1.1.2 Khái niệm quyền im lặng
Quyền im lặng là quyền pháp lý cơ bản của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền này được ghi nhận rất sớm ở Anh vào thế kỷ mười sáu Nền tảng lý luận của quyền im lặng xuất phát từ quan điểm lịch sử về sự cân bằng giữa quyền lực Nhà nước và quyền công dân Theo đó, quyền im lặng là quyền tự do của mỗi cá nhân con người, và đây là một trong những quyền cơ bản của công dân, luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Mọi người đều có quyền nói và có quyền im lặng cho dù đó
là người có phạm tội hay không, không ai có thể buộc họ phải trả lời bất cứ câu hỏi nào nếu như họ không muốn trả lời, và đây cũng là quy định được cho phép ở các nước2
Nhà nước có quyền yêu cầu công dân phải thành khẩn khai báo, nhưng công dân cũng có quyền im lặng không trình bày, vì im lặng là quyền của công dân, Nhà nước tôn trọng quyền im lặng là tôn trọng quyền của công dân Trong quá trình nghiên cứu nhận thấy, pháp luật TTHS của hầu hết các nước đều ghi nhận quyền im lặng là quyền tố tụng cơ bản của người bị tình nghi Ví dụ: Ở Úc, Đạo luật hình sự của Bang và liên bang đều ghi nhận người bị tình nghi có quyền từ chối trả lời các câu hỏi đặt ra bởi cảnh sát trước phiên tòa và có quyền từ chối đưa ra các chứng cứ tại phiên tòa Ở Canada, quyền im lặng được bảo vệ bởi Điều khoản số 7 và số 11(c) của Hiến chương các quyền cơ bản và quyền tự do Theo đó, người bị buộc tội không buộc phải làm chứng chống lại anh ta trong quá trình TTHS và cảnh sát chỉ được sử dụng những lời khai tự nguyện từ phía người bị tình nghi để làm chứng cứ Tương tự, Hiến pháp Ấn Độ cũng ghi nhận tại Điều 20(3) với nội dung: “Không người bị buộc tội nào bị buộc phải làm chứng chống lại mình” Đặc biệt là ở nước Đức và Mỹ, quyền im lặng của người bị tình nghi cũng được ghi nhận dựa trên lập luận cho rằng: người bị tình nghi không có nghĩa vụ tuyên bố những chứng cứ chống lại chính anh ta và việc im lặng không có nghĩa là loại trừ nghĩa vụ khai báo3 Trong việc giải quyết vụ án hình sự, quyền im lặng là quyền không trình bày lời khai về bất kỳ tình tiết sự kiện nào của vụ án khi thấy lời khai của mình có thể được sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bản thân mình
2
Xem: Báo Pháp luật - xã hội, cho phép bị can, bị cáo được quyền im lặng – tại sao không, Phương Thảo,
Http://phapluatxahoi.vn/cho-phep-bi-can-bi-cao-duoc-quyen-im-lang-tai-sao-khong.htm, [ truy cập ngày 09/04/2013]
3
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật Tp Hồ Chí Minh – 2011, tr.229
Trang 13Khi tiến hành các hoạt động TTHS, người bị tình nghi có quyền trình bày lời khai4
về những vấn đề liên quan đến vụ án mà họ bị cơ quan Nhà nước nghi ngờ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự coi là tội phạm Nhiều khi người bị tình nghi đã sử dụng quyền này để khai báo những tình tiết có lợi cho mình với mục đích là chứng minh mình vô tội hoặc phạm tội ở mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố, hay đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Một khi cơ quan tiến hành tố tụng nghi ngờ họ phạm tội thì phải tiến hành tìm kiếm, thu thập các chứng cứ khác một cách hợp pháp theo quy định của pháp luật TTHS, để làm rõ những nghi ngờ về tội phạm chứ không chỉ phụ thuộc vào lời khai của họ Vì đây là “quyền” chứ không phải là nghĩa vụ bắt buộc
họ phải khai báo trước cơ quan có thẩm quyền, cho nên người bị tình nghi có quyền không trình bày các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ án Nhưng không phải vì thế mà cơ quan tiến hành tố tụng xem đó là tội lỗi của họ, ngược lại cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền im lặng của người bị tình nghi
Mặt khác, khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra người bị tình nghi, lúc này họ đang trong tâm trạng lo lắng, sợ hãi vì phải một mình đối diện với cơ quan điều tra được đào tạo bài bản và đầy kinh nghiệm, lại thêm sự thiếu hiểu biết về pháp luật nên khi bị lấy lời khai, thẩm vấn, họ rất dễ bị khai theo hướng “gợi ý” của người lấy lời khai thiếu công tâm, tới khi luật sư tiếp cận hồ sơ thì mọi việc đã rồi Người bị tình nghi tin tưởng rằng nếu họ thành khẩn khai báo các tình tiết liên quan đến vụ án thì họ sẽ nhanh chống được thả ra Họ không biết rằng lời khai của
họ ngày nay sẽ là chứng cứ để chống lại bản thân mình vào ngày mai Do đó, một khi người bị tình nghi im lặng trước mọi câu hỏi, trước sự đe dọa hay dụ dỗ của các điều tra viên, thì dần dần người bị tình nghi sẽ bình tĩnh trở lại và sẽ sáng suốt trong mọi tình huống Nếu người bị tình nghi càng trả lời các câu hỏi của điều tra viên trong khi họ thiếu bình tĩnh, thì họ sẽ càng bị dồn ép và dẫn tới việc trả lời bất lợi cho bản thân, cuối cùng tự mình kết tội mình Chính vì lẽ đó, để đảm bảo tốt hơn cho người bị tình nghi thì trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người bị tình nghi nên im lặng không khai báo về bất kỳ tình tiết, sự kiện nào liên quan đến
vụ án khi thấy lời khai của mình có thể được sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với bản thân mình
Tóm lại, “quyền im lặng là quyền pháp lý cơ bản của người bị tình nghi
Theo đó, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bắt buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc không buộc phải nhận mình phạm tội Nhà nước có nghĩa
4 Xem: Điểm c – khoản 2, Điều 48 và điểm c- khoản 2, Điều 49 của BLTTHS năm 2003
Trang 14vụ phải tìm kiếm chứng cứ để chứng minh những cáo buộc của mình về người bị tình nghi”5
1.1.1.3 Khái niệm người bị tình nghi
“Người bị tình nghi trong vụ án là người bị cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền tình nghi là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, bao gồm người có hành động phạm pháp bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền triệu tập làm việ bao gồm: người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo”
Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng, bao gồm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, sự tham gia của các chủ thể này nhằm làm rõ tính chất liên quan đến vụ án Trong đó, người bị tình nghi là một trong những chủ thể tham gia tố tụng xuyên suốt trong từng giai đoạn với tư cách pháp lý khác nhau Người bị tình nghi gồm những chủ thể đó là: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngoài ra người bị bắt cũng được xem là người bị tình nghi, nhưng chủ thể này tham gia các hoạt động tố tụng không nhiều, không xuyên suốt Để tìm hiểu lý luận về người bị tình nghi trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, mục đích là nhằm làm rõ khái niệm về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo – đây được xem là những đối tượng bị tình nghi với mức độ khác nhau
và tăng dần sự tình nghi đối với họ Từ đó, họ cũng xuất hiện với tư cách và vị trí pháp lý khác nhau khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự
a) Khái niệm người bị tạm giữ
Người bị tạm giữ được xem là người bị tình nghi, bị cơ quan tiến hành
tố tụng nghi ngờ cho rằng đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, và hành
vi đó xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đây là người đầu tiên mà cơ quan tiến hành tố tụng điều tra xem xét người đó có phạm tội hay không, cũng như mức độ phạm tội của người bị tạm giữ có thể bị CQĐT khởi tố hay không Tuy nhiên trong giai đoạn này người bị tạm giữ có thể là người có liên quan đến vụ án hoặc không có liên quan đến vụ án, mà CQTHTT chưa xác định được mức độ phạm tội hoặc chưa có đầy đủ chứng cứ để khởi tố người bị tạm giữ
Do chưa xác định chính xác người bị tạm giữ có liên quan đến vụ án hay không, cũng như thiếu chứng cứ buộc tội Vì vậy, người bị tạm giữ vẫn có thể
5 Xem: Điều 14.3 (g) Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/index.php/Cong-uoc-quoc-te-ve-cac-quyen-dan-su-va-chinh-tri-1966, [truy cập ngày 20/02/2013]
Trang 15được xem là người bị tình nghi, và mức độ tình nghi thấp hơn so với bị can, bị cáo
Theo quy định tại khoản 1, Điều 48 của Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Người bị tạm
giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” Theo quy định này thì người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi
tố (người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội
tự thú), cũng có thể là bị can, bị cáo (người bị bắt theo quyết định truy nã)
Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của người bị nghi ngờ là thực hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền có thời gian để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Từ đó có thể ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình
sự Chính vì lẽ đó, người bị tạm giữ vẫn chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố (người bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú trước khi hành
vi phạm tội bị phát hiện và bị khởi tố), đã có quyết định tạm giữ Mặc dù, họ chưa
bị khởi tố vụ án hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ Người bị tạm giữ sẽ bị hạn chế quyền tự do, nhưng trình bày lời khai là quyền chứ không phải là nghĩa vụ (theo điểm c- khoản 2 Điều 48, BLTTHS năm 2003)
Người bị tạm giữ cũng có thể là người bị khởi tố về hình sự là bị can,
bị cáo (người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ra đầu thú), và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Đó là trong trường hợp, một người đã thực hiện hành vi phạm tội và cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định khởi tố bị can, nhưng xét thấy họ không đủ điều kiện để tạm giữ , cho nên không áp dụng biện pháp tạm giữ đối với
họ, mà cho họ được tại ngoại và áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác (như cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền và tài sản có giá trị để bảo đảm…), họ cam kết là sẽ thực hiện đúng và sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Tuy nhiên, trong thời gian tại ngoại, họ bỏ trốn mà cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi
tố về hình sự trước đó chưa ra quyết định truy nã Trong lúc bỏ trốn đến địa phương khác họ lại phạm tội mới và bị cơ quan có thẩm quyền ở địa phương đó áp dụng biện pháp tạm giữ Lúc này, mặc dù người đó đã bị khởi tố về hình sự nhưng vẫn bị
cơ quan có thẩm quyền ở nơi người đó thực hiện tội phạm mới áp dụng biện pháp tạm giữ
Trang 16b) Khái niệm về bị can
Bị can cũng được xem là người bị tình nghi nhưng mức độ tình nghi của bị can cao hơn người bị tạm giữ Bởi vì, bị can tham gia tố tụng tương đối đầy
đủ hơn người bị tạm giữ Ở giai đoạn truy tố Viện kiểm sát sẽ dựa trên những chứng
cứ đã thu thập được từ CQĐT chuyển sang và khi đó VKS sẽ xem xét và ra quyết định truy tố hoặc không truy tố bị can Bị can tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm, nhưng đây chưa phải là giai đoạn định tội Chính vì lẽ đó, bị can chưa phải là tội phạm, các giai đoạn này chủ yếu vẫn còn đang trong quá trình được điều tra làm rõ Theo quy định tại khoản 1, Điều 49 của
Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự” Bị can là
người mà CQĐT có đủ căn cứ xác định rằng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
Đây là điểm khác biệt giữa bị can và người bị tạm giữ liên quan đến việc bảo đảm quyền con người của họ trong TTHS
Như vậy, theo quy định của pháp luật TTHS năm 2003 thì: bị can là người
bị khởi tố vụ án hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can, nên quyền và nghĩa vụ của bị can gắn liền với giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Vì thế, tư cách tố tụng của bị can chấm dứt khi Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) Với những phân tích trên, có thể đưa ra kết luận rằng bị can vẫn được xem là người bị tình nghi chứ không phải là tội phạm, cho dù đã có quyết định truy tố của Viện kiểm sát Vì, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (theo Điều 9, BLTTHS năm 2003)
c) Khái niệm về bị cáo
Bị cáo là đối tượng bị tình nghi cao nhất trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, mức độ tình nghi cao hơn nhiều so với bị can Vì, một điểm khác biệt quan trọng giữa bị can và bị cáo là bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế tố tụng hoàn chỉnh, đầy đủ những người tham gia tố tụng, các cơ quan, người THTT với chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử; thực hiện các quyền tố tụng của mình trong phiên tòa công khai, dân chủ và bình đẳng Rõ ràng, so với bị can tham gia tố tụng (nhất là hỏi cung) trong môi trường chỉ có người buộc tội, (trường hợp cá biệt mới
có người bào chữa, người chứng kiến), bị cáo tham gia tố tụng trong phiên tòa công
6 Xem: Khoản 1 – Điều 126, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 17khai, không chỉ có mặt những người tham gia tố tụng, mà còn có sự chứng kiến của công chúng Trong quá trình xét xử, người tiến hành tố tụng khó có khả năng sử dụng các biện pháp trái pháp luật, vi phạm quyền con người của bị cáo (như đe dọa bức cung, dùng nhục hình, mua chuộc nhận tội…); trong khi đó, đối với bị can thì tình trạng này dễ xảy ra hơn
Theo quy định tại khoản 1, Điều 50 của Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Bị
cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Sau khi CQĐT kết thúc điều
tra, thấy rằng có đủ chứng cứ để khẳng định bị can đã phạm tội do BLHS quy định thì đề nghị VKS truy tố ra trước Tòa án Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung, không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Từ thời điểm này, bị can trở thành bị cáo trong vụ án hình sự Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội Bị cáo là người bị Tòa án đưa ra xét xử, là người bị tình nghi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc xác định bị cáo là người có tội Theo quy định tại Điều 72 của Hiến pháp
năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), và Điều 9 của Bộ luật TTHS năm 2003 thì:
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật” Mặc dù, bị cáo là người đã thực hiện tội phạm, dẫn
đến hậu quả là đưa ra xét xử công khai, nhưng việc khẳng định bị cáo là người có
tội hay vô tội là do Tòa án quyết định Vì, chỉ có “Tòa án là cơ quan duy nhất có
thẩm quyền xét xử” 7 các vụ án hình sự, quyết định hình phạt đối với người phạm tội, và khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì bị cáo vẫn được xem là người bị tình nghi
Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét
xử cho đến khi có bản án kết tội hoặc tuyên bố vô tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, thì mặc nhiên có thể hiểu rằng đây là đối tượng bị tình nghi cao nhất so với người bị tạm giữ, bị can
Tóm lại, dù ở các mức độ khác nhau nhưng người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo đều chỉ là những người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm Họ là người tham gia tố tụng chiếm vị trí trung tâm trong TTHS; không có họ thì không thể tiến trình tố tụng hoàn chỉnh Đối với
họ có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS; các hoạt động TTHS động chạm đến quyền con người của họ nhiều nhất Tuy nhiên, vì chưa có bản án kết tội của
7 Xem: Điều 127, Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001
Trang 18Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với họ, cho nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa phải là người phạm tội Vì vậy, từ gốc độ bảo đảm quyền con người, các biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hạn chế tố tụng đối với họ chỉ ở mức cần và đủ để đạt được mục đích tố tụng là phát hiện nhanh chống, xử lý công minh tội phạm và người phạm tội
d) Người bị bắt
Người bị bắt cũng là đối tượng bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tình nghi về việc thực hiện tội phạm, để ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc ngăn ngừa tội phạm bỏ trốn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp bắt người, và đối với
họ đã có lệnh bắt
Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong TTHS, do người có thẩm quyền
áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật TTHS quy định, nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, cũng như yêu cầu của việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và việc bảo đảm các quyền dân chủ của công dân Bộ luật TTHS năm 2003 quy định có ba trường hợp bắt người sau:
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều 80 của BLTTHS năm 2003): là bắt người đã bị khởi tố bị can hoặc đã bị Tòa án đưa vụ án ra xét xử để tạm giam, nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 của BLTTHS năm 2003): là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của
họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm
- Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82 của BLTTHS năm 2003): là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt
Trang 19
1.1.2 Bản chất của quyền im lặng
Để có cái nhìn sáng tỏ hơn về quyền im lặng của người bị tình nghi thì việc đầu tiên là phải làm rõ mối quan hệ giữa quyền im lặng và các quyền cơ bản của người bị tình nghi, tiếp đó làm sáng tỏ nội dung của quyền im lặng
Quyền cơ bản của người bị tình nghi là quyền con người, là những giá trị gắn với một nhà nước nhất định và được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật của mình đối với người mang quốc tịch của nước mình Thể hiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể cho dù cá nhân đang phải chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng hình sự Có thể coi quyền cơ bản của người bị tình nghi là một bộ phận bị thu hẹp nằm trong các quyền công dân
Quyền im lặng và quyền cơ bản của người bị tình nghi là hai khái niệm mang tính độc lập vừa có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau Quyền im lặng
là một trong những quyền của con người, quyền im lặng có khái niệm hẹp hơn các quyền cơ bản của người bị tình nghi nên điều tất yếu là quyền cơ bản của người bị tình nghi sẽ rộng hơn và bao gồm cả quyền im lặng
Việc bảo vệ quyền im lặng của người bị tình nghi thường phản ánh nền văn minh của một quốc gia Khi cố gắng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, thì cần khẳng định rằng: im lặng là quyền của con người, ghi nhận người bị tình nghi được quyền im lặng là Nhà nước đã tôn trọng quyền con người của họ Phải nhận thức rõ ràng là quyền im lặng dành cho ai, cho thiểu số, cho đa số, hay cho toàn thể nhân dân Nói cách khác, không thể thảo luận vấn đề bảo vệ quyền con người (quyền im lặng) của người bị tình nghi chỉ trên quan điểm của chính họ mà cần xem xét vấn đề dựa trên quan điểm của cộng đồng, đặc biệt là trên quan điểm của người bị tình nghi
Phải thừa nhận rằng, việc ghi nhận quyền im lặng của người bị tình nghi chính là nhằm tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi trước pháp luật Tuy nhiên, việc người bị tình nghi im lặng trước các câu hỏi của cơ quan THTT, người THTT thì không phải vì thế mà cho là họ có hành vi “ngoan cố’, chống đối pháp luật
Nhìn nhận một cách toàn diện thì quyền im lặng không chỉ nhằm mục đích bảo vệ tốt hơn cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; thuận lợi hơn cho giới luật sư hành nghề; mà cơ quan điều tra cũng rất có lợi; đảm bảo khách quan, giảm vi phạm tố tụng, đồng thời còn giúp cho quá trình tố tụng nhanh hơn, không phải điều tra lại nhiều lần Mặt khác, quyền im lặng có vai trò rất quan trọng trong
Trang 20việc bảo vệ người bị tình nghi khỏi tình trạng điều tra viên dùng hình thức hỏi cung trái pháp luật xâm phạm về thân thể của họ (như tra tấn, móm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình), làm ảnh hưởng đến sức khỏe và danh dự của người bị tình nghi
Do đó, quyền im lặng được quy định trong BLTTHS là điều rất thiết thực
quyền của mình trước khi bị thẩm vấn, thì những tuyên bố của cảnh sát chống lại anh ta mới có giá trị Khi cảnh sát bắt giữ nghi phạm, câu nói bắt buộc đầu tiên là:
“Anh có quyền giữ im lặng Bất cứ điều gì anh nói có thể và sẽ được sử dụng để chống lại anh trước Tòa án Anh có quyền nói chuyện với luật sư, và có luật sư hiện diện trong quá trình xét hỏi Nếu anh không thể thuê luật sư, anh vẫn sẽ được cung cấp một luật sư bằng nguồn tài chính của Chính Phủ” 8
Câu nói này có tên là Miranda Warning (tạm dịch là Lời cảnh báo Miranda) Lời cảnh báo Miranda còn được cảnh sát Mỹ (nhiều nước khác cũng có câu nói tương tự) đọc lên với nghi phạm trước khi họ trả lời về việc phạm tội Nếu cảnh báo Miranda không được đọc cho nghi phạm thì những lời nói/ khai của nghi phạm sẽ không được sử dụng như là các chứng cứ buộc tội trước Tòa án Tuy nhiên, cảnh sát có thể hỏi các thông tin về cá nhân như: tên, tuổi, địa chỉ mà không cần phải đọc cảnh báo Miranda
“Quyền im lặng” nghe có vẻ lạ ở Việt Nam, nhưng đây là một quy định tiến
bộ, nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Nếu quy định cho đương sự
có quyền im lặng từ khi bắt đầu bị điều tra cho đến khi có luật sư thì đã bảo đảm được khách quan, bởi đến khi có luật sư thì những gì mà người bị tạm giữ, tạm giam phát biểu với CQĐT đều được sự tư vấn và chứng kiến của luật sư Và đây chính là
“gốc của vấn đề” để luật sư được tham gia vào quá trình tố tụng ngay từ những thủ tục đầu tiên Như vậy, nếu người bị tình nghi có quyền im lặng thì sẽ bảo vệ tốt hơn cho họ
Mặt khác, “quyền im lặng” của chúng ta chưa thể hiện thành một chủ trương hay một quy định rõ ràng - còn nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực thi nghiêm túc ngay từ khi quá trình TTHS được khởi động Do đó, khi một người phạm tội trên thực tế, nhưng nếu anh ta không được điều ta, truy tố
và xét xử theo đúng quy trình tố tụng, thì về mặt pháp lý anh ta có thể không bị
8 Xem: Báo Pháp luật, tìm hiểu quyền con người, quyền im lặng trong TTHS, Nguyễn Văn Đài,
http://www.VietnamHumanrightcommittee.phapluat.com/timhieuquyenconnguoi/quyenimlang trong Tố tụng hình sự, [ truy cập ngày 16/1/2013]
Trang 21buộc tội Có tội về mặt pháp lý khác với có tội về mặt thực tế Ví dụ: Vụ án xảy ra tại Mỹ, cảnh sát Williams nhìn thấy Peter Jones giật ví tiền của cô Virginia Spry và
bỏ chạy Cảnh sát Williams đã đuổi theo, bắt được Jones và tiến hành tra hỏi về vụ
này, với sự chứng thực của viên cảnh sát Wiliams, chúng ta có thể khẳng định là Jones đã phạm tội Nếu đối chiếu với pháp luật TTHS Việt Nam, thì tình huống này
có thể dẫn tới việc buộc tội và kết án một cách nhanh chống và dứt khoát đối với tội phạm quả tang của Jones Tuy nhiên, vì pháp luật TTHS Mỹ cho phép người bị tình nghi có “quyền im lặng” và cơ quan có thẩm quyền có nghĩa vụ phải giải thích cho
họ về quyền này, cho nên hành vi của viên cảnh sát sẽ được rà soát lại để xem xét tính hợp pháp Ví như, nếu xác định được rằng, Jones thú tội mà không được nhắc nhở trước về “quyền được im lặng” của anh ta, thì lời thú tội này sẽ không được sử dụng để chống lại anh ta Mà khi lời thú tội với tư cách là một bằng chứng đã không
có giá trị, thì vụ án xét xử Jones sẽ không buộc tội được anh ta hoặc bị bác bỏ Vì vậy, trong vụ án trên Jones không phạm tội về “mặt pháp lý” đối với tội cướp ví tiền, vì pháp luật bảo vệ “quyền được im lặng” của anh ta, và như vậy, pháp luật bảo vệ tính hợp nhất của quá trình tố tụng không được đưa vào áp dụng Việc
“phạm tội thực tế” có thể là hiển nhiên hay được phát hiện một cách hợp pháp, nhưng về “ mặt pháp lý” Jones không bị buộc tội chỉ vì lý do viên cảnh sát đã không thông báo “quyền được im lặng” cho Jones
1.2.3 Vai trò của quyền im lặng
* Thể hiện thái độ của Nhà nước đối với quyền của công dân
Dù với tư cách là bị can, bị cáo nhưng họ cũng cần phải được đối xử một cách công bằng, nhân đạo như một con người, trong đó nghĩa vụ chứng minh một người là có tội hay không có tội thuộc về Nhà nước
Qua đó, thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị tình nghi phạm tội, quyết định toàn bộ quy trình tố tụng hướng tới sự tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tố tụng hay là sự bảo vệ quyền lợi của công dân
* Tôn trọng quyền con người
Im lặng là quyền của con người, tôn trọng quyền im lặng là tôn trọng quyền con người Vì vậy, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chứng
9 Xem: Tạp chí ngiên cứu lập pháp số 134, tháng 11/2008, hai mô hình TTHS đặc trưng trên thế giới,
Nguyễn Hà Thanh, http://www.saigonminhluat.com/Hai-mo-hinh-to-tung-hinh-su-dac-trung-tren-the-gioi, [ truy cập ngày 10/02/2013]
Trang 22minh là mình vô tội (thành khẩn khai báo và bác bỏ những chứng cứ buộc tội), cũng
có quyền im lặng không khai báo bất cứ tình tiết, sự kiện nào liên quan đến vụ án vì
đó không phải là nghĩa vụ bắt buộc
* Nâng cao trách nhiệm của cơ quan THTT
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan THTT (CQĐT, VKS, Tòa án, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật Tất cả các hoạt động TTHS phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và thời hạn… phải tôn trọng các quyền của người tham gia tố tụng Cơ quan tiến hành TTHS, phải thực hiện trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình và phải chịu trách nhiệm về các hành vi đã thực hiện, các quyết định đã ban hành Có thể nói, đây là một bảo đảm pháp lý hết sức quan trọng giúp cho hoạt động TTHS được tiến hành đúng pháp luật, đặc biệt là đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi mà các quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị vi phạm nếu hoạt động tố tụng không được tiến hành đúng pháp luật
Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng của mình, cơ quan THTT phải nghiêm chỉnh chấp hành bao gồm không chỉ những quy định của BLTTHS khi xác định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự mà cả các quy định của BLHS khi xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và chính sách xử lý đối với từng đối tượng phạm tội cũng như hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, các quy định pháp luật về dân sự, hành chính, đất đai Mặt khác, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án, không được lấy việc bị can, bị cáo không chứng minh được là mình vô tội để làm căn cứ kết tội
họ Điều này nhằm bảo đảm cho việc xử lý tội phạm được công minh, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội
* Quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội
Một ai đó phạm tội, bị bắt giữ, nếu họ thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và của người khác (nếu có), thì hành vi này được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhưng cũng có trường hợp người bị bắt giữ, thậm chí là đã
bị khởi tố bị can, “im lặng ngay từ đầu”, không khai báo trình bày gì, vì họ cho rằng mình không phạm tội Và việc cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng họ phạm tội thì phải tìm chứng cứ để chứng minh theo đúng quy trình TTHS Trong trường hợp này, cơ quan bảo vệ pháp luật thường cáo buộc, nhận xét họ là có thái độ không hợp
Trang 23tác, ngoan cố, chống đối và đề nghị xử lý nghiêm theo luật định Nói là vậy, nhưng tình tiết im lặng, không khai báo chưa được nhà làm luật ghi nhận là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS hiện hành
Bên cạnh đó, suy đoán vô tội được hiểu là chưa bị coi là có tội, khi bản án kết tội của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật Một người dù rõ ràng đã thực hiện hành vi tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự, bị bắt và áp dụng biện pháp tạm giữ, bị khởi tố bị can, bị truy tố, bị đưa ra xét xử, họ vẫn chưa thể bị coi là có tội
Người bị bắt và tạm giữ, thường được gọi là người bị tình nghi phạm tội;
bị can là người bị cơ quan THTT xác định đã thực hiện hành vi phạm tội và đối với
họ đã có quyết định khởi tố bị can; bị cáo là người bị cáo buộc phạm tội và có quyết định của Tòa án đưa ra xét xử; ngay sau khi xử sơ thẩm, án chưa có hiệu lực pháp luật, người bị kết án vẫn tham gia TTHS với tư cách là bị cáo và có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm
Cả quá trình này, con người đã và đang tham gia tố tụng qua các giai đoạn chưa bị coi là có tội, nhưng đã bị coi là phạm tội Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 72 của Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
tại Điều 9 của BLTTHS năm 2003 thì: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Theo quy
định này, chúng ta có thể hiểu là: người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật; nghĩa
vụ chứng minh một người là có tội hay không có tội thuộc về bên buộc tội; người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội; mọi nghi ngờ về pháp luật, về chứng cứ phải được giải thích, xử lý, áp dụng có lợi cho người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo Vì vậy, nói một người phạm tội quả tang và bị bắt là đúng, nhưng nói người này có tội là chưa đúng Bởi vì, họ chưa bị xét xử và dù đã bị xét xử rồi, nhưng bản án kết tội của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật, thì họ được coi là chưa có tội
Nhận thấy, nguyên tắc suy đoán vô tội là một sự thể hiện của quyền im lặng Vì: một cá nhân không thể bị coi là có tội cho đến khi cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh được tội và không còn tồn tại bất cứ sự nghi ngờ cũng như chứng
cứ nào chứng minh rằng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội Điều này có nghĩa
là nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự được đảm nhiệm bởi cơ quan tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội, đồng nghĩa với việc họ có quyền giữ im lặng, không
Trang 24buộc phải khai báo những vấn đề liên quan đến vụ án, và nếu cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được họ có tội hoặc còn tồn tại bất cứ sự nghi vấn hay chứng cứ nào không củng cố cho sự chứng minh có tội thì người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo phải được xem là vô tội Như vậy, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội ( họ có quyền im lặng trong suốt quá trình tố tụng hình sự), việc chứng minh là trách nhiệm của Nhà nước, cho đến khi có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1.2 SO SÁNH CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN IM LẶNG TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.2.1 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức, Mỹ
1.2.1.1 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức
Khi nghiên cứu TTHS Đức về bảo đảm quyền của người bị buộc tội, nhận thấy, bản chất của việc quy định các cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội bị chi phối sâu sắc bởi đặc thù về mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống – nơi bắt nguồn của việc nhìn nhận vai trò tích cực của thẩm phán trong hoạt động chứng minh tội phạm
Tuy nhiên, giống với nhiều nước Châu Âu ngày nay, Đức được mô tả là quốc gia có mô hình tố tụng hỗn hợp, trong đó chứa đựng nhiều yếu tố vay mượn truyền thống tố tụng khác nhau Hiện tại đã có nhiều dấu hiệu của tố tụng đối tụng
án đã bớt năng động trong việc chứng minh tội phạm; việc trình bày chứng cứ được xem xét công bằng giữa công tố viên và người bào chữa; phiên tòa xét xử dựa trên cách thức của một phiên tòa tranh tụng và bắt buộc sự có mặt của người bào chữa… Mặc dù vậy, nhìn chung TTHS Đức vẫn duy trì các đặc điểm của mô hình thẩm vấn truyền thống11
Vì vậy, có thể nói TTHS Đức và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong cách thức giải quyết một vụ án hình sự Việc xét xử tại phiên tòa là sự tiếp tục điều tra những chứng cứ được thu thập bởi cơ quan cảnh sát và công tố trong giai đoạn tiền xét xử Điều này thể hiện vai trò tương đối mờ nhạt của người bào chữa tại phiên tòa Mặc dù ngày nay, các thủ tục tại phiên tòa trong cả hai hệ thống pháp luật Đức và Việt Nam đã có những bước cải tiến rõ nét về vai trò của người bào chữa,
Trang 25tuy nhiên những đặc trưng của hệ thống tố tụng thẩm vấn là điểm nổi trội trong cách thức chứng minh vụ án
Đặc điểm nổi bậc làm cho hệ thống TTHS Đức được xếp vào nhóm TTHS thẩm vấn chính là ở mục tiêu của quá trình điều tra cũng như xét xử nhắm vào việc xác định sự thật thực tế, sự thật có chứng cứ, chứ không phải sự thật dựa trên theo phiên bản của bên công tố hay bên bào chữa Tòa án không bị ràng buộc bởi bất cứ tuyên bố nào của các bên đồng thời tự mình điều tra các tình tiết sự kiện của vụ
Thêm vào đó, cũng giống với Việt Nam, thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS Đức cho thấy, quyền có người bào chữa không được bảo đảm một cách đầy đủ, đặc biệt là người bị buộc tội không có quyền có người bào chữa trong quá trình thẩm tra ban đầu bởi cảnh sát Ngay từ đầu, việc phân loại tư cách tố tụng giữa người bị tình nghi và bị can đã phản ánh phần nào phạm vi các quyền tố tụng mà họ được bảo đảm Khi cảnh sát tiến hành thẩm vấn, luật sư không được phép có mặt, tuy nhiên việc thẩm tra chỉ được tiến hành, trừ khi người bị buộc tội từ chối trả lời các câu hỏi không có sự tham gia của người bào chữa Sẽ không ngạc nhiên với ý kiến cho rằng trong TTHS Đức, quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra chỉ dành cho bị can, mà
Bên cạnh những điểm tương đồng thì TTHS Đức cũng có điểm khác biệt với TTHS Việt Nam ở chỗ là: không chỉ trong giai đoạn điều tra mà trong tất cả các giai đoạn tố tụng, việc thẩm vấn bị cáo phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền im
ta phải được thông báo đầy đủ về các quyền của mình, cũng như những thông tin
vì vậy, trong lần thẩm vấn đầu tiên trước thẩm phán, công tố viên hay nhân viên cảnh sát, người bị buộc tội phải được thông báo về “quyền giữ im lặng”, không buộc phải nói bất kỳ một vấn đề gì liên quan đến vụ việc Nếu bị cáo không được thông báo về những nội dung trên, chứng cứ buộc tội anh ta có thể bị loại bỏ, trừ khi bị cáo biết rõ quyền của mình hoặc chấp thuận các chứng cứ đó trước tòa
12 Xem: Điều 155,244 Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), su-Duc, [truy cập ngày18/01/2013]
http://tks.edu.vn/law-1028/Bo-luat-to-tung-hinh-13
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, tr.130
14 Xem: Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), Duc, [truy cập ngày 18/01/2013]
http://tks.edu.vn/law-1028/Bo-lua-to-tung-hinh-su-15
Xem: Điều 136 (1) và Điều 163 a (3), Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), lua-to-tung-hinh-su-Duc, [truy cập ngày 18/01/2013]
Trang 261.2.1.2 Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Mỹ
Một đặc điểm không thể bỏ qua khi nói về TTHS Mỹ, là hệ thống tố tụng tranh tụng Đây cũng là đặc điểm của hệ thống Thông luật truyền thống Từ gốc độ bảo vệ quyền, có thể thấy rằng đặc điểm này là một ưu điểm rất lớn của TTHS Mỹ, bởi nó bảo đảm được tính công bằng và bảo đảm một cách hiệu quả cho các quyền
và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội16
Cũng cần phải đề cập tới một đặc điểm khác của hệ thống tố tụng tranh tụng, đó là nguyên tắc suy đoán vô tội được áp dụng theo hướng có lợi cho người bị buộc tội, là việc Nhà nước đảm bảo cho người bị buộc tội quyền có người bào chữa Bất cứ sự cáo buộc nào do Nhà nước đưa ra đều phải được chứng minh một cách rõ ràng, vượt ra ngoài những nghi ngờ hợp lý Trách nhiệm chứng minh luôn thuộc về công tố viên Nếu công tố viên không thực hiện được trách nhiệm này thì người bị buộc tội phải được trả tự do Nguyên tắc “vượt qua những nghi ngờ hợp lý” đặt ra tiêu chuẩn cao hơn so với trách nhiệm chứng minh được quy định trong pháp luật
Vì vậy nguyên tắc này đã trở thành điểm nổi bật của hệ thống tranh tụng Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa TTHS Mỹ so với TTHS Đức và Việt Nam, những nơi
mà việc thu thập chứng cứ, chứng minh trong giai đoạn tiền xét xử được coi là trách nhiệm của CQĐT Điểm quan trọng nhất của hệ thống TTHS Mỹ là ở chỗ nó xác định sự thật khách quan trong quá trình xét xử với việc bên công tố và người bào chữa tranh tụng với nhau trong khi có thẩm phán bảo đảm cho cuộc đấu tranh công bằng và tuân thủ các nguyên tắc đặt ra
Tố tụng công bằng hay “thủ tục công bằng của pháp luật” là khái niệm cơ bản được ghi nhận từ rất lâu trong thực tiễn của hoạt động tư pháp Mỹ Khái niệm này có nghĩa là mọi công dân có quyền được hưởng một thủ tục công bằng khi tham
người cáo buộc trước tòa án, có quyền được giữ im lặng và có người bào chữa, và được xét xử với sự tham gia của bồi thẩm đoàn Vì vậy, khái niệm về thủ tục công bằng là nền tảng cho việc bảo vệ các quyền con người trong TTHS
Tuy nhiên, giống với Đức và khác với Việt Nam, người bị buộc tội ở Mỹ có quyền im lặng Quyền im lặng là quyền Hiến Pháp căn bản, quyền lợi này xuất xứ
từ bản Hiến Pháp của Mỹ: “Anh có quyền giữ im lặng Nếu anh từ bỏ quyền đó,
16 Như đã đề cập cả hệ thống tố tụng hình sự của Việt Nam và Đức mang đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn Thẩm phán và công tố viên đóng vai trò chính trong quá trình buộc tội và trình bày chứng cứ Vì vậy, khó có thể nói là có tranh tụng bình đẳng, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử
17
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật TP Hồ Chí Minh, 2011, tr.161
Trang 27những gì anh nói có thể được dùng làm bằng chứng chống lại anh tại tòa án Anh
có quyền có luật sư đại diện Nếu anh không có tiền thuê luật sư, tòa án sẽ bổ nhiệm một luật sư để đại diện cho anh miễn phí…” 18 Đây là tóm tắt của những quyền căn bản và quan trọng mà mọi người cần phải biết về hệ thống pháp luật tại Mỹ, mỗi khi cảnh sát bắt giữ một ai họ hay đọc những câu như trên Bởi vì, nếu cảnh sát không theo đúng thủ tục này, tất cả những lời khai của nghi can được xem như không có giá trị trước tòa và phạm nhân có thể được tha bổng vì không có đủ bằng chứng khác để buộc tội họ Tu Chính Án thứ năm cho phép mọi người có quyền từ chối tự thú tội hay cung cấp những lời khai khi bị cảnh sát điều tra Bộ quy tắc về TTHS
Mỹ có nêu: người bị buộc tội có quyền tiếp xúc với người bào chữa trong mọi giai đoạn TTHS, bắt đầu từ buổi xuất hiện đầu tiên của người bị buộc tội trước cơ quan
tố tụng có thẩm quyền Nếu người bị buộc tội yêu cầu sự có mặt của người bào chữa trong quá trình thẩm tra của cảnh sát, cảnh sát viên buộc phải chấm dứt việc xét hỏi cho đến khi có mặt người bào chữa Bên cạnh đó, trong cảnh báo Miranda (Miranda Warning), Tòa án tối cao Mỹ đã khẳng định cảnh sát có nghĩa vụ phải thông báo và giải thích cho người bị tình nghi rằng họ có “quyền im lặng” cho đến khi có mặt người bào chữa, sẽ có thể là chứng cứ để chống lại anh ta
Tóm lại, mặc dù nền công lý của Mỹ chưa thật sự hoàn hảo, nhưng nhìn chung thì không thể phủ nhận quốc gia này là nơi mà quyền căn bản của con người rất được tôn trọng Một người bị truy tố hình sự vẫn được xem là vô tội cho đến khi
bị kết án bởi bồi thẩm đoàn tại tòa án Nhà chức trách không thể cầm giữ tính mạng,
tự do hay tài sản của bất cứ ai mà không theo các tiến trình quy định bởi pháp luật
Và trong khuôn khổ các quy định của Bản Hiến Pháp, luật hình sự của Mỹ rõ ràng được soạn thảo với chủ trương thà rằng thả lầm một kẻ có tội, hơn là kết án một người vô tội19
1.2.2.Quyền im lặng trong BLTTHS Việt Nam
Khác với Đức và Mỹ, BLTTHS Việt Nam không quy định trực tiếp và rõ ràng là người bị tình nghi có quyền im lặng Do đó, cũng không có điều luật nào quy định trách nhiệm của cơ quan THTT, người THTT về việc giải thích quyền này cho họ Nhưng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị
18 Xem: Http://www.thangbommagazine.com/vn/printNews.php, [ truy cập ngày 25/01/2013]
19 Xem: Báo Pháp luật-xã hội, nét đặc trưng của công lý Hoa Kỳ,
http://www.baocalitoady.com/net-dac-trung-cua-cong-ly-Hoa-Ky: Tha lầm hơn phạt lầm, [ truy cập ngày 20/01/2013]
20 Xem: Điều 10, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 28vào đó, người bị tạm giữ, bị can, có quyền “trình bày lời khai”21 Theo quy định này thì người bị tạm giữ, bị can có “quyền” nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình không phạm tội Vì vậy, họ hoàn toàn có quyền im lặng không trả lời bất cứ vấn đề gì với cơ quan điều tra và nêu yêu cầu được có người bào chữa khi CQĐT tiến hành lấy lời khai Bên cạnh đó, BLTTHS hiện hành cũng có đề cập đến quyền được từ chối trả lời những câu hỏi liên quan đến vụ án, khi tiến hành xét hỏi bị cáo tại tòa án: “Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiếp tục hỏi những người
“quyền im lặng” thành một điều luật cụ thể, nên dựa vào các quy định rời rạc nêu trên, chúng ta có thể hiều là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn có quyền im lặng trong quá trình TTHS
Nhận thấy việc ghi nhận người bị tình nghi có quyền im lặng có mối quan
hệ mật thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền của người bị tình nghi khi tham gia các hoạt động TTHS Rõ ràng, trong cả tố tụng hình sự Đức và
Mỹ, quyền im lặng đều được bảo đảm thông báo tới người bị tình nghi cho đến khi
có người bào chữa Việc thẩm tra thiếu vắng người bào chữa được cho là sự đối đầu không cân xứng giữa một bên là cơ quan nhà nước có thẩm quyền với một bên là cá nhân người phạm tội Điều này cho thấy, sự tham gia muộn màng của người bào chữa (nếu có) sẽ khó có thể bảo vệ được người bị bị tình nghi khi mà các chứng cứ buộc tội đã được mặc định bởi các cơ quan điều tra trong suốt quá trình thẩm vấn không có sự trợ giúp của người bào chữa Và đây là một thiếu sót của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, cần sớm được bổ sung hoàn thiện để đảm bảo quyền con người
Tóm lại, trong TTHS, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng chiếm vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án Họ là người bị cơ quan tiến hành tố tụng nghi ngờ là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, và hành vi của họ xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ Tuy nhiên, tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý của người
Xem: Điểm c- Khoản 2- Điều 48, Điểm c- khoản 2- Điều 49, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
22 Xem: Khoản 4- Điều 209, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 29đó so sánh cơ sở lý luận về quyền im lặng của người bị tình nghi ở nước Mỹ, Đức,
từ đó liên hệ đến các quy định về quyền im lặng của người bị tình nghi ở Việt Nam, nhằm để so sánh sự khác biệt về quy định quyền con người trong tố tụng hình sự ở mỗi nước
Trang 30CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUYỀN IM LẶNG
Mặc dù, ở Việt Nam, “quyền im lặng” không được quy định thành một điều
luật cụ thể và rõ ràng trong BLTTHS năm 2003, nhưng lại được quy định một cách gián tiếp thông qua nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (bị can, bị cáo có “quyền” nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội), quyền đưa ra lời khai, đồ vật, tài liệu, yêu cầu…( là “quyền” chứ không phải là nghĩa vụ) , quyền được im lặng và nhờ người bào chữa nói thay mình và khi tiến hành thủ tục xét hỏi bị cáo tại phiên tòa (bị cáo có quyền không trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, của người bào chữa)
Bên cạnh đó, ở mỗi giai đoạn tố tụng, bị can, bị cáo có quyền và nghĩa vụ khác nhau Bị can tham gia tố tụng từ khi khởi tố vụ án hình sự nên quyền và nghĩa
vụ của bị can gắn với giai đoạn điều tra và truy tố Mặt khác, quyền của bị can là quyền của con người (bao gồm quyền im lặng), cho nên quyền im lặng của bị can cũng gắn liền với giai đoạn điều tra và truy tố Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì vậy, quyền và nghĩa vụ của bị cáo khi tham gia tố tụng gắn với từng thủ tục của quá trình xét xử, bao gồm quyền im lặng của bị cáo trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, quyền im lặng của bị cáo trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa
2.1 CÁC QUY ĐỊNH MANG TÍNH NGUYÊN TẮC LIÊN QUAN TỚI
và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo (theo Điều 10 BLTTHS năm 2003)
Trang 31Vì các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm cho nên trách nhiệm chứng minh tội phạm một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan này có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động nhằm làm sáng tỏ mọi chứng cứ, tình tiết của tội phạm, xác định người phạm tội Từ đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Điều tra viên,
định sự thật của vụ án, Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS 2003)
quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố
tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”
Theo quy định này, có nghĩa là bất kỳ công dân nào khi bị tạm giữ, tạm giam, bị đưa ra xét xử không cần thiết phải đưa ra những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh là mình vô tội Bị can, bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh là mình không liên quan đến thời gian, địa điểm hay nghi can của một vụ án nào đó Tức là không có nghĩa
vụ trả lời các câu hỏi của cơ quan điều tra như: Ngày hôm đó anh, chị ở đâu và làm
gì, hôm đó anh, chị đi đâu và gặp ai hay có biết người này, người kia không,…Và những câu hỏi tương tự như vậy Đó là việc của cơ quan điều tra phải đưa ra chứng
cứ để chứng minh rằng ngày đó, vào thời điểm đó người đang bị điều tra có mặt hay
có liên quan đến địa điểm và thời gian xảy ra một vụ án nào đó, có liên quan đến một nghi can nào đó
Mặt khác, việc xác định sự thật của vụ án là một nguyên tắc rất quan trọng của TTHS, bảo đảm việc xử lý vụ án được công minh, không để lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội Vì thế, nguyên tắc trên còn nhấn mạnh rằng cơ quan THTT trong quá trình điều tra phải gánh vác nghĩa vụ chứng minh từng vấn đề một liên quan đến tội phạm Bị can, bị cáo có quyền chứng minh là mình vô tội, nhưng họ cũng có “quyền im lặng” không phải chứng minh sự vô tội của mình, vì đây là “quyền” chứ không phải là nghĩa vụ bắt buộc họ Trong trường hợp bị can, bị cáo không đưa ra hoặc không đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vô tội thì không phải vì thế mà có thể coi là họ đã phạm tội Do đó, muốn xác định một người là có tội hay không có tội thì các cơ quan THTT phải có những chứng cứ chứng minh tội phạm của người đó
Bên cạnh đó, quy định trên còn thể hiện thái độ của Nhà nước đối với quyền của công dân Dù với tư cách là bị can, bị cáo nhưng họ cũng cần phải được đối xử một cách công bằng, nhân đạo như một con người, trong đó nghĩa vụ chứng
23
Xem: Bộ tư pháp- Viện khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, , Nxb tư
pháp Hà Nội, năm 2005, tr.26,27
Trang 32minh một người là có tội hay vô tội thuộc về Nhà nước Điều luật quy định về
“quyền” chứng minh vô tội cho bị can, bị cáo mà không phải là nghĩa vụ đã thể hiện
sự tôn trọng quyền con người và đây chính là biểu hiện của “quyền im lặng” tồn tại trong chuẩn mực pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) quốc tế (BLTTHS năm 2003 chưa quy định chính thức về quyền im lặng của bị can, bị cáo, mà chỉ gián tiếp thừa nhận “quyền im lặng” của bị can, bị cáo) Tuy nhiên, nguyên tắc tại Điều 10 lại không đặt ra đối với người bị tình nghi (thường được coi là người bị bắt và bị tạm giữ) Sau khi bắt và tạm giữ người, cơ quan điều tra củng cố tài liệu, chứng cứ buộc
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa
Đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 132 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 11
BLTTHS năm 2003 theo đó: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào
chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Đây là một quyền quan trọng của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Vì vậy, ngay sau khi ra quyết định tạm giữ cơ quan điều tra phải có trách nhiệm giải thích cho họ biết rõ về quyền và nghĩa
vụ của mình khi tham gia TTHS, trong đó, họ có “quyền” tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa thay Quyền này luôn luôn có hai cách thực hiện:
Một là, người bị tình nghi có “quyền” tự mình bào chữa, có nghĩa là họ có quyền dùng những lý lẽ và chứng cứ để gỡ tội và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong quá trình tham gia tố tụng Quyền tự bào chữa không phải là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của người bị tình nghi, mà quyền tự bào chữa chính là tổng hòa các quyền của người bị tình nghi trong TTHS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bởi vì, khi tham gia vào quá trình tố tụng, ngoài việc người bị tình nghi đưa ra những lý lẽ, chứng cứ để gỡ tội cho mình, thì
họ còn có thể thực hiện quyền tự bào chữa của mình thông qua việc thực hiện các quyền như: quyền trình bày lời khai, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu… tuy nhiên, đây là “quyền” chứ không phải là nghĩa vụ của họ Vì vậy, họ có quyền im lặng không nhất thiết phải trình bày lời khai, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội của mình Việc thực hiện các quyền này của người bị tình nghi không chỉ nhằm gỡ tội cho họ, mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các hoạt động TTHS Thông qua quyền tự bào chữa của người bị tình nghi, thì Nhà nước đã cho phép họ tự vệ, chống lại sự buộc tội của cơ quan THTT, người
24
Xem: Võ Thị Kim Oanh – Nguyễn Ngọc Kiện, Hoàn thiện các quy định về người bị tình nghi trong Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4 (189), tháng 2 năm 2011, tr.28
Trang 33THTT Mặt khác, pháp luật TTHS năm 2003 quy định: tự bào chữa là “quyền” chứ
không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với người bị tình nghi, cho nên người bị tình
nghi cũng có “quyền im lặng” nếu thấy không cần thiết phải thực hiện quyền tự bào
chữa của mình
Hai là, vì pháp luật TTHS đảm bảo cho người bị tình nghi được “quyền” nhờ người khác bào chữa thay mình, cho nên nếu người bị tình nghi không muốn tự mình bào chữa hoặc không có khả năng tự bào chữa (người chưa thành niên, người
có nhược điểm về thể chất lẫn tinh thần) thì họ có quyền “im lặng” để nhờ người
bào chữa nói thay mình hoặc tòa án sẽ cử người bào chữa thay cho họ Do đó, để tôn trọng quyền bào chữa của người bị tình nghi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong TTHS, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, toàn diện và đầy đủ, ngăn ngừa sự phiếm diện, chủ quan Nếu người bị tình nghi không muốn tự mình bào chữa khi tham gia các hoạt động TTHS, thì Nhà nước phải tôn trọng “quyền được im lặng” của họ và tạo điều kiện để người bị tình nghi được
“quyền” nhờ người khác bào chữa thay, hoặc Tòa án sẽ cử người bào chữa thay cho
họ (trong trường hợp người bị tình nghi là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất lẫn tinh thần) để trợ giúp cho họ về mặt pháp lý và tham gia tranh luận tại phiên tòa công khai Theo khoản 1 Điều 56 Bộ luật TTHS năm 2003 thì người bào chữa thay cho bị cáo là: luật sư, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bào chữa viên nhân dân Có như vậy, thì pháp luật mới đảm bảo cho người bị tình nghi
có quyền bào chữa (quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa thay) Nhận thấy pháp luật TTHS Việt Nam đảm bảo được quyền bào chữa của người bị tình nghi, đồng thời Nhà nước còn tôn trọng sự lựa chọn của họ, đó là người bị tình nghi có “quyền” tự bào chữa hoặc “quyền” nhờ người khác bào chữa thay mình Qua đó, có thể khẳng định rằng tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa là “quyền” chứ không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với người bị tình nghi Do
đó, người bị tình nghi có “quyền im lặng” để nhờ người khác nói thay mình vì Nhà nước đã đảm bảo quyền bào chữa cho họ
2.1.3 Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chƣa có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật
Nguyên tắc này không còn là riêng biệt trong pháp luật của mỗi quốc gia
mà nó đã được toàn cầu hóa Cụ thể được ghi nhận ở:
Điều 11 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền quy định:
Trang 341 Bất kỳ một người nào bị cáo buộc trong việc thực hiện tội phạm đều có quyền được coi là chưa có tội khi lỗi của họ chưa được chứng minh bằng một phiên tòa công khai theo một thủ tục do pháp luật quy định và tại phiên tòa đó họ được hưởng tất cả những bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của mình;
2 Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt bởi một hành vi mà Bộ lật hình sự không coi là tội phạm tại thời điểm thực hiện hành vi đó
Điều 6.2 Công ước Châu Âu về quyền con người ghi nhận nguyên tắc này với nội dung: “Bất cứ người nào bị cáo buộc đã thực hiện hành vi phạm tội sẽ được coi là không có tội cho đến khi chứng minh được anh ta phạm tội theo quy định của pháp luật” Như vậy, theo Công ước thì nguyên tắc này được coi là sự đảm bảo tố tụng đầu tiên khi bắt đầu khởi động hoạt động TTHS Nguyên tắc này áp đặt nhiệm
vụ đối với những người có thẩm quyền giải quyết vụ án với một thái độ nghiêm túc
và hợp pháp
Khía cạnh quan trọng và nền tảng nhất của nguyên tắc suy đoán vô tội đó chính là sự buộc tội Điều này gắn liền với việc xem xét công bằng, không phiếm diện của Tòa án Tòa án phải xem xét vấn đề theo hướng có lợi cho bị cáo mà không bị ràng buộc bởi bất cứ định kiến nào và chỉ có thể kết tội bị cáo trên cơ sở
đã xem xét, đánh giá các chứng cứ được xem là hợp pháp và được thu thập theo một trình tự, thủ tục luật định Như vậy, thì việc một người bị coi là có tội chỉ khi có sự kết tội của Tòa án và sự kết tội này phải dựa trên việc xem xét, đánh giá khách quan các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp Điều này có thể hiểu, nếu Tòa án coi bị cáo đã là người có tội, thì tại phiên tòa xét xử, tòa án sẽ không khách quan trong việc đánh giá các chứng cứ, đánh giá ý kiến tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra Và như vậy, quyền lợi của bị cáo sẽ không được đảm bảo
Nếu một người bị cáo buộc là phạm tội mà Tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền hiển nhiên coi người đó là có tội, hoặc sự phán quyết chỉ đơn thuần dựa trên lời nhận tội của bị cáo thì điều đó có nghĩa là nguyên tắc suy đoán vô tội đã bị vi
phạm Như vậy, vấn đề cốt lỗi và cơ bản của nguyên tắc chính là ở chỗ “mọi nghi
ngờ phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi” Thẩm phán
không thể bắt đầu nhiệm vụ với sự suy đoán rằng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mà họ bị cáo buộc
Đây cũng là nguyên tắc quan trọng đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận tại Điều 72 Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 9 BLTTHS năm 2003, phản ánh sự đổi mới trong tư duy