1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này

73 544 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 778,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Thực hiện đề tài : “Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này” trong quá trình nghiên cứu bên cạnh việc người viết tậ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Trang 3

…o0o…

Cần Thơ, ngày tháng năm 2014

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

MỤC LỤC

Lý do chọn đề tài 1

Mục tiêu nghiên cứu 2

Phạm vi nghiên cứu 3

Phương pháp nghiên cứu 3

Bố cục đề tài 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI 1.1 Những quy định chung về biện pháp ngăn chặn 6

1.1.1 Sơ lược hình thành các quy định về biện pháp ngăn chặn 6

1.1.2 Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn 7

1.2 Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn bắt người 9

1.2.1 Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt người 9

1.2.2 Đặc điểm về biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự 13

1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự 14

1.3 Vai trò và ý nghĩa của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự 16

1.3.1 Vai trò của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự 16

1.3.2 Ý nghĩa của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự 17

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP BẮT NGƯỜI 2.1 Các trường hợp bắt người trong tố tụng hình sự 19

2.1.1 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam 19

2.1.1.1 Khái niệm về biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam 19

2.1.1.2 Đối tượng,điều kiện áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam 19 2.1.1.3 Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can ,bị cáo để tạm giam 20

2.1.1.4 Trình tự, thủ tục tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam 22

2.1.2 Bắt người trong trường hợp khẩn cấp 23

2.1.2.1 Khái niệm về việc bắt người trong trường hợp bắt người khẩn cấp 23

2.1.2.2 Đối tượng về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp 24

2.1.2.3 Những trường hợp áp dụng biện pháp bắt người khẩn cấp 25

2.1.2.4 Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp 27

2.1.2.5 Trình tự,thủ tục tiến hành bắt người khẩn cấp 28

Trang 5

2.1.3 Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã 29

2.1.3.1 Khái niệm bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã 29

2.1.3.2 Đối tượng áp dụng trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã 29

2.1.3.3 Những trường hợp áp dụng bắt người phạm tôi quả tang hoặc bị truy nã 29

2.1.3.4 Thẩm quyền áp dụng bắt người phạm tội quả tang hoặc bị truy nã 31

2.1.3.5 Trình tự, thủ tục tiến hành bắt người phạm tội quả tang hoặc bị truy nã 31

2.2 Bắt người trong một số trường hợp đặc biệt 32

2.2.1 Bắt Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân 32

2.2.1.1 Khái niệm về Đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân 32

2.2.1.2 Trường hợp áp dụng bắt đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân 32

2.2.1.3 Trình tự, thủ tục tiến hành bắt đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân34 2.2.2 Bắt người chưa thành niên phạm tội 35

2.2.2.1 Khái niệm về người chưa thành niên phạm tội 35

2.2.2.2 Trường hợp áp dụng bắt người chưa thành niên phạm tội………36

2.2.2.3 Trình tự, thủ tục bắt người chưa thành niên phạm tội……….…37

2.2.3 Bắt người nước ngoài phạm tội 38

2.2.3.1 Khái niệm về người nước ngoài phạm tội 38

2.2.3.2 Trường hợp bắt người nước ngoài phạm tội 39

2.2.3.3 Trình tự, thủ tục bắt người nước ngoài phạm tội 40

2.3 Những việc cần làm sau khi bắt người hoặc nhận người bị bắt 43

2.4 Quyền và nghĩa vụ của người bị bắt 46

2.4.1 Quyền người bị bắt 46

2.4.2 Nghĩa vụ của người bị bắt người 47

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 3.1 Thực tiễn áp dụng bắt người trong tố tụng hình sự 48

3.2 Vướng mắt, bất cập của việc bắt người trong tố tụng hình sự 51

3.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về việc bắt người trong tố tụng hình sự 56

3.3.1 Hoàn thiện một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự 56

3.3.2 Hoàn thiện về mặt thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người 60

Trang 6

PHẦN KẾT LUẬN

Kết luận 63

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, vì nó giúp cơ quan tiến hành tố tụng có điều kiện thuận lợi để giải quyết vụ án hình sự Xuất phát từ những đặc trưng của quan hệ xã hội

là đối tượng điều chỉnh của luật tố tụng hình sự Đó là những quan hệ luôn có một bên

là quyền lực cơ quan nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn giải quyết các vụ án hình

sự, mặt khác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nguy hiểm cho lợi ích chung của cộng đồng, do vậy trong tố tụng hình sự các cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tác động tới đối tượng Đặc biệt, hiện nay cải cách tư pháp đang được đảng, nhà nước ta quan tâm coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để tạo

điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình

sự quy định cho cơ quan tố tụng được áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau trong đó có biện pháp ngăn chặn Những biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẻ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp và văn bản luật khác Đặc biệt nó được quy định tại chương VI Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và nó mang những đặc tính riêng:

Thứ nhất, bắt người luôn là một vấn đề nhạy cảm trong đời sống, chính trị, xã hội, bắt người đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan sai có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, liên quan đến đời sống, đường lối chính sách Đảng, Nhà nước Việc bắt một số đối tượng đặc biệt về chính trị-xã hội, ở trong nước hay ngoài nước các đối tượng là người nước ngoài phạm tội còn ảnh hưởng

đến chính sách đối nội và quan hệ đối ngoại của nhà nước ta Vì vậy việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội

phạm,ngăn ngừa kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án được thuận lợi Ngược lại, việc bắt người không đúng pháp luật sẽ gây

ra thiệt hại nhiều như xâm phạm tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang cho người dân

Thứ hai, đây là biện pháp để cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền

có thể tác động một cách hợp pháp đến một số quyền cơ bản của công dân và bảo hộ

Trang 8

nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa tội phạm trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn trong tố tụng hình sự cũng còn là một phương tiện góp phần đảm bảo thực hiện các quyền tự do dân chủ công dân, hạn chế và ngăn ngừa sự xâm phạm một cách tùy tiện trái pháp luật

Thứ ba, biện pháp ngăn chặn bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn

có ý nghĩa quan trọng để ngăn chặn tội phạm, xử lý người phạm tội và giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả vụ án hình sự Nó còn là một phương tiện ngăn chặn kịp thời

và hiệu quả các hành vi phạm tội Góp phần giảm bớt hậu quả của tội phạm và có thể hạn chế và ngăn chặn hậu quả do tội phạm gây ra Bảo vệ kịp thời những đối tượng mà tội phạm tác động đến

Thứ tư, biện pháp ngăn chặn bắt người có những hạn chế nhất định cũng là vấn

đề đáng quan tâm: tình trạng bắt giữ sau không xử lý được, phải trả tự do hoặc đình

chỉ điều tra còn nhiều, số lượng án tạm đình chỉ với lý do bị can trốn, chưa bắt được còn phổ biến, đặc biệt tinh thần tham gia của quần chúng trong công tác ngăn chặn tội phạm còn yếu… biện pháp bắt người còn tồn tại những khó khăn vướng mắc nhất định cùng với nhận thức của những người áp dụng biện pháp này và cũng còn tồn tại những trường hợp áp dụng không phù hợp với quy định của pháp luật ảnh hưởng đến quyền

và lợi ích hợp pháp của người dân

Những tồn tại này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó những bất cập từ các quy định của pháp luật, hạn chế trong công tác tổ chức, chỉ đạo điều hành, năng lực của cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên là những nguyên nhân chính Để nâng cao chất lượng bắt người, phục vụ việc giải quyết vụ án nhanh chóng, thuận lợi, tiếp tục hoàn thiện pháp luật kết hợp với các giải pháp về tổ chức, đào tạo, nâng cao năng lực, tuyên truyền pháp luật, xây dựng mối quan hệ phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan luôn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng Thấy được tầm quan trọng đó mà người viết muốn nghiên cứu các quy

định của pháp luật về biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự và hướng

hoàn thiện biện pháp này như thế nào là việc làm cần thiết cho cải cách tư pháp hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

Dựa trên các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong bộ luật tố tụng hình sự người viết nghiên cứu về biện pháp ngăn chặn bắt người, từ đó xây dựng nên những khái niệm, những quy định hợp lí Nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về biện pháp ngăn chăn bắt người để thấy được những tồn tại, vướng

Trang 9

mắc của luật Từ đó giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát hơn về thẩm quyền, trình

tự, thủ tục bắt người trong tố tụng hình sự để có thể đảm bảo quyền tự do thân thể của công dân Đồng thời, người viết còn đưa ra những nhận xét, kiến nghị hướng hoàn thiện pháp luật về biện pháp ngăn chăn bắt người

3 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài : “Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này” trong quá trình nghiên cứu bên cạnh việc người viết tập trung phân tích các quy định của Hiến pháp 2013 cũng như pháp luật về các trường hợp bắt người trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, các văn bản luật liên quan Nghiên cứu việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn còn gặp những bất cập nào, từ

đó đề ra phương hướng giải quyết để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này

4 Phương pháp nghiên cứu

Người viết dựa trên những kiến thức đã học vận dụng tổng hợp, thu thập tài liệu

có liên quan để làm rõ vấn đề Trong quá trình thực hiện đề tài “Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này”.Người viết

đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, phương

pháp tổng hợp, phương pháp liệt kê Ngoài ra người viết còn tổng hợp các nguồn từ sách, báo và từ các trang thông tin điện tử, tạp chí nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

5 Bố cục đề tài

Đề tài “Bắt người trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp

dụng biện pháp này” được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn bắt người

Ở chương 1 thì người viết hình thành nên những cơ sở lý luận về mặt pháp lý

hình thành nên các biện pháp ngăn chặn bắt người Đưa ra những khái quát lịch sử hình thành nên các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp bắt người Ngoài ra cũng đưa ra những khái niệm chung nhất về biện pháp ngăn chặn từ đó làm tỏ và đưa

ra những khái niệm chung nhất về biện pháp ngăn chặn bắt người Ở chương này người viết cũng đề cập cụ thể những đặc điểm chung nhất nổi bật của biện pháp ngăn chặn bắt người này Cũng đưa ra các nguyên tắc khi áp dụng biện pháp bắt người để có thể áp dụng một cách hiệu quả đúng theo quy định pháp luật Bên cạnh đó, người viết cũng làm sáng tỏ những vai trò cũng như ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt người

Trang 10

này về các mặt pháp lý cũng như trong thực tiễn xã hội Cũng như góp phần thấy

được tầm quan trọng khi áp dụng các biện pháp bắt người này

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các trường hợp bắt người

Bên cạnh những lý luận về sự ra đời các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp ngăn chặn bắt người Ở chương 2 thì người viết tập trung đưa ra cụ thể từng trường hợp bắt người cụ thể như bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường họp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt người trong một

số trường họp đặc biệt Người viết tập trung làm sáng tỏ các khái niệm của từng trường hợp bắt người cụ thể, các đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người khi phạm tội Những trường hợp áp dụng bắt người khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội đối từng trường hợp cụ thể Bên cạnh đó, người viết cũng trình bày những thẩm quyền cũng như trình tự, thủ tục khi áp dụng các biện pháp bắt người này đối với mỗi loại trường hợp phạm tội được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự Ngoài ra, đối với từng trường hợp bắt này thì ở chương này thì cũng đưa ra các việc cần làm sau khi tiến hành bắt người cũng như tiến hành giao nhận người đối từng trường hợp bắt cụ thể Để có thể làm sáng tỏ rõ ràng hơn thủ tục sau khi bắt người và cũng như thấy được quyền và nghĩa vụ của người bị bắt sau khi bị áp dụng biện pháp bắt người Đưa ra những vấn đề đó để khai khác triệt để, để có thể áp dụng những quy định pháp luật một cách tốt nhất khi áp dụng các trường hợp bắt người trên

Chương 3 Thực trạng và hướng hoàn thiện biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

Trong chương 3 thì người viết tìm hiểu việc áp dụng trong thực tiễn của biện pháp ngăn chặn bắt người Qúa trình áp dụng những quy định của pháp luật trong thực tiễn như thế nào đối với từng trường hợp bắt người cụ thể Qua đó cũng đánh giá những trình tự, thủ tục khi áp dụng đối với từng địa phương, từng cấp xét xử, từng cơ quan điều tra để thấy được biện pháp bắt người được áp dụng có đúng quy định pháp luật hay không Cũng như để xem xét được những tình trạng bắt người sai trái như thế nào để có những biện pháp khắc phục Ngoài ra người viết cũng trình bày những vướng mắc, bấp cập khi áp dụng biện pháp bắt người này trong thực tiễn Những khó khăn, sai sót khi áp dụng những quy định pháp luật vào thực tiễn khi pháp luật đã quy

định rõ ràng nhưng người áp dụng lại có cách hiểu khác dẫn đến có cách áp dụng

không đúng gây ảnh hưởng lớn đến người được áp dụng Luật điều chỉnh vấn đề về biện pháp bắt người thì cũng còn có một số thiếu sót khi áp dụng vào thực tế, không

đáp ứng hết mọi trường hợp xảy ra trên thực tế Chính vì những bất cập đó mà người

Trang 11

viết cũng đưa ra những giải pháp để góp phần điều chỉnh những thiếu sót của những quy định pháp luật khi áp dụng ở chương 3 này Để có thể đáp ứng được những yêu cầu hợp lí khi áp dụng biện pháp bắt người trong thực tiễn

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI

1.1 Những quy định chung về biện pháp ngăn chặn

1.1.1 Sơ lược hình thành các quy định về biện pháp ngăn chặn

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng nhiều biện pháp, trong đó có biện pháp ngăn chặn Các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định pháp lí quan trọng được quy định tại Chương VI của bộ luật

tố tụng hình sự năm 1988 Việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy định và áp dụng

đúng đắn các biện pháp ngăn chặn là đảm bảo cần thiết cho việc thực hiện tốt các

nhiệm vụ của tố tụng hình sự để phát hiện nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong lịch

sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, mặc dù chưa có quy phạm định nghĩa về khái niệm biện pháp ngăn chặn, nhưng các biện pháp ngăn chặn đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự nước ta sau cách mạng tháng tám Trong Sắc Lệnh

số 13/SL ngày 14/1/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán, Sắc Lệnh số 131 ngày 20/7/1946 về bộ máy tư pháp, công an, Sắc Lệnh số 85/SL ngày 7/11/1950 về cải cách tư pháp và luật tố tụng, đều có quy định về thẩm quyền bắt người; đặc biệt sắc lệnh số 85/SL còn quy định cụ thể “ tư pháp Công an có nhiệm vụ bắt người phạm pháp và giao cho các tòa án xét xử” Luật số 103-SL/l.005 ngày 20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, thư tín, đồ vật nhân dân, Sắc Lệnh số 02-SL ngày 18/6/1957 của chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định những trường hợp phạm tội quả tang và trường hợp khẩn cấp và Sắc Lệnh số 02-SL ngày 15/3/1976 của chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã quy định các biện pháp ngăn chặn:bắt bình thường, bắt khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, tạm giam Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này không có định nghĩa về biện pháp ngăn chặn mà dùng những thuật ngữ biện pháp cưỡng chế để chỉ nội dung các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự hiện hành Trong bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 hiện hành bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, các biện pháp ngăn chặn đã được quy định thành một hệ thống hoàn chỉnh Những biện pháp này được áp dụng với mục đích ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý… Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bắt người như vậy nên thời gian trước đây, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự quy định chi tiết về việc bắt người như :Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957;Sắc luật

Trang 13

002-SLt ngày 18/6/1957 ; Sắc luật 02/SL ngày 15/3/1976, bộ luật tố tụng hình sự 1988

Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các quy định về bắt người trong các văn bản ngày càng hoàn thiện, từ những quy định đầu tiên mang tính nguyên tắc, khái quát các văn bản sau này đã có sự phân chia thành các trường hợp bắt người với các quy định về căn cứ áp dụng và thẩm quyền ra lệnh bắt người cũng như thủ tục bắt người ngày càng cụ thể, chặt chẽ

Thực hiện các quy định của các văn bản trên, việc bắt người đã phát huy vai trò

to lớn trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên việc vận dụng các quy

định trên trong một thời gian dài mà có ít sự thay đổi đã không tránh khỏi nhiều hạn

chế do sự phát triển không ngừng của đất nước và những diễn biến phức tạp của xã hội

và tình hình tội phạm Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh chống, phòng ngừa tội phạm, cũng như yêu cầu tăng cường của việc pháp chế xã hội chủ nghĩa và việc bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, kế thừa có chọn lọc về các quy định bắt người trong các văn bản pháp luật trước đây đặc biệt kế thừa Bộ luật tố tụng hình sự

1988, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ra đời quy định tương đối hoàn thiện các quy định

về biện pháp bắt người Quyết định bắt người liên quan trực tiếp quyền tự do thân thể một quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp Vì vậy, việc quy định cũng như áp dụng biện pháp bắt người phải trên cơ sở của hiến pháp về điều này Cũng từ đó quy định các quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người được áp dụng ngày càng phổ biến hơn

1.1.2 Khái niệm chung về biện pháp ngăn chặn

Ta có thể hiểu biện pháp ngăn chặn là “những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” 1

“Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền của mình hoặc người có thẩm quyền, áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị kết án hoặc đối với người chưa bị khởi

tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc đối với phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”.2

Trang 14

Bản chất pháp lí của biện pháp ngăn chặn là sự tạm thời hạn chế sự tự do của người bị áp dụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, mặc dù mức độ hạn chế

tự do của mỗi biện pháp ngăn chặn là khác nhau Các biện pháp ngăn chặn khác với các biện pháp cưỡng chế ở mục đích áp dụng chung Trong khi đó các biện pháp cưỡng chế về tố tụng khác như khám xét, xem xét dấu vết trên thân thể có mục đích

đảm bảo thu thập chứng cứ, các biện pháp kê biên tài sản… Các biện pháp ngăn chặn

không có tính chất trừng phạt, bởi lẻ đối với người bị áp dụng chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, chúng chỉ mang tính chất bảo đảm cho hoạt động

điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi Cơ sở pháp lí để cơ quan tiến hành tố tụng hoặc

người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn là những tài liệu, chứng cứ về việc

bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện phạm tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét

xử Bên cạnh đó những chứng cứ, tài liệu này phải thỏa mãn những căn cứ do bộ luật quy định Những biện pháp ngăn chặn là một trong những nhóm của biện pháp cưỡng chế Những biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để bảo dảm thi hành án Những biện pháp ngăn chặn đụng chạm trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp

Trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, những biện pháp cưỡng chế như bắt người tạm giam, tạm giữ, cấm đi khỏi cư trú, bảo lỉnh, đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm là những biện pháp ngăn chặn, do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố (như người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và trong trường hợp khẩn cấp), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Bản chất của biện pháp ngăn chặn là hạn chế tự do, thân thể, tự do đi lại, quyền về tài sản…trong một thời gian nhất định, vì vậy ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền tự do thân thể được quy định trong Hiến pháp Vì vậy, khi áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải cân nhắc thận trọng, tránh áp dụng tràn lan, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Ngoài ra, ta có thể thấy

được biện pháp ngăn chặn được hiểu cụ thể qua khái niệm: Theo như điều 79 bộ luật

tố tụng hình sự định nghĩa “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng

tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần đảm bảo thi hành án, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy

Trang 15

định của bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây :

bắt, tạm giam, tạm giữ, cấm đi khỏi cư trú, bảo lỉnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”.3

Biện pháp ngăn chặn là một chế định pháp lí quan trọng của luật tố tụng hình sự Trước đây, những biện pháp này được quy định trong luật 103-SL/005 ngày 20/5/1957, Sắc luật 002- SLt ngày 18/6/1957 và Sắc luật 02- SL ngày 15/3/1976 bao gồm việc bắt, giam, tha, khám xét và được gọi là những biện pháp cưỡng chế Những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự có nội dung rộng bao gồm ba nhóm hành vi

tố tụng: Nhóm 1 gồm những biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản bảo đảm; nhóm 2 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét, xem xét dấu vết trên than thể; nhóm 3 gồm những biện pháp bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như kê biên tài sản, áp giải bị can, những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên tòa Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn phải trên tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tội phạm đồng thời phải thận trọng và phải thực hiện đúng các thủ tục do Bộ luật quy định Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nào phải căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm, mức độ nguy hiểm của người phạm tội đó, đồng thời cũng phải chú ý về nhân thân, tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình của người có hành vi phạm tội

1.2 Khái quát chung về biện pháp ngăn chặn bắt người

1.2.1 Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt người

Có rất nhiều quan điểm về bắt người trong đó thì có một số quan điểm giúp cho

ta hiểu rõ hơn về khái niệm bắt người như:

Thứ nhất, “Bắt người không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự được áp dụng để tước

bỏ điều kiện gây ra tội phạm, chặn đứng hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng” 4

Các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về việc bắt người là một bộ phận rất quan trọng trong hệ thống thủ tục tố tụng hình sự Những hoạt động này trực tiếp đụng chạm đến những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp 2013 của

3

Xem điều 79 Của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tr 63

4

Tiến sĩ Trần Quang Tiệp: Về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố

tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội -2009

Trang 16

nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như quyền bất khả xâm phạm về thân thể…Vì vậy những hoạt động này phải tiến hành hết sức thận trọng Để việc bắt đúng

đối tượng, trước hết phải có những quy định cụ thể, đầy đủ và chặt chẽ, làm cơ sở cho

những hoạt động trong thực tiễn để tránh vận dụng một cách tùy tiện như bắt không

đúng đối tượng hoặc không đúng thủ tục Tại Khoản 1, 2 điều 20 Hiến pháp 2013 các

nguyên tắc chỉ đạo đã được quy định chặt chẽ :

“ Mọi người có quyền bắt khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về

sức khỏe, danh dự và nhân phẩm;không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam và giữ người do luật định”.5

Và ngay cả ở điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định : “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của tòa án, quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của bộ luật này Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”.6

Như vậy, tất cả các hoạt động bắt người đều được Hiến pháp và bộ luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể và đầy đủ Những kết quả đạt được bước đầu trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm về công tác bắt người góp phần không nhỏ vào việc tôn trọng và bảo đảm các quyền của công dân được Hiền pháp ghi nhận

Thứ hai, “Bắt người là biện pháp ngăn chặn, tạm thời hạn chế quyền bất khả xâm phạm thân thể một trong những quyền tự do cá nhân rất quan trọng của con người,

được Hiến pháp quy định và bảo đảm thực hiện, do đó trình tự, thủ tục áp dụng biện

pháp này được luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định rất chặt chẽ”.7

Trong lịch sử luật tố tụng hình sự Việt Nam, sắc lệnh số 40-SL ngày 29-3-1946

về bảo vệ tự do cá nhân là văn bản pháp luật tố tụng hình sự đầu tiên của nhà nước ta quy định về biện pháp bắt người Điều thứ 1 Sắc lệnh quy định “Chỉ trừ khi nào có sự phạm pháp quả tang về khinh tội hay trọng tội còn bao giờ bắt người cũng cần có pháp lệnh thẩm phán viên Lệnh đó phải ra viết giấy và bao giờ cũng phải do nhân viên của

Tiến sĩ Trần Quang Tiệp: Về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố

tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội -2009 tr 88

Trang 17

các cơ quan chính thức đem thi hành Ở nơi nào chưa đặt Thẩm phán viên thì chỉ có những cơ quan do luật pháp đã ấn định để thay cho thẩm phán viên, thì mới có quyền

ra lệnh bắt người Luật số 103/Sl/.005 ngày 20-5-1957 về bảo đảm quyền tự do than thể và quyền bắt khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân đã đề cập bắt người tại chương II- bắt người phạm pháp Điều 3 luật này quy định : “Ngoài những trường hợp phạm pháp quả tang và trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm đến pháp luật nhà nước phải có lệnh viết của cơ quan tư pháp từ cấp tỉnh hoặc thành phố trở lên nếu là thường dân phạm pháp, hoặc của tòa án binh nếu là quân nhân phạm pháp, hay là thường dân phạm pháp có liên quan đến quân đội nhân dân” Sắc luật số 2/02-SLT ngày 18-6-1957 quy định những trường hợp phạm pháp quả tang hoặc phạm tội khẩn cấp; Sắc luật số 02-SL/76 ngày 15-3-1976 của Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đề cập trình tự, thủ tục bắt người, nhưng chưa

có quy phạm định nghĩa về biện pháp ngăn chăn này

Biện pháp ngăn chặn bắt người thì có rất nhiều cách hiểu khác nhau, chẳng hạn:

Bắt theo nghĩa rộng : Bắt không phải là biện pháp trừng phạt của phát luật đối với người phạm tội mà là biện pháp ngăn chặn của hoạt động tố tụng hình sự Bắt đúng người, bắt kịp thời có tác dụng ngăn chặn mọi âm mưu và thủ đoạn chống đối của người phạm tội, không cho họ tiếp tục phạm tội và che giấu, trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc xác định sự thật của vụ án

Bắt người theo nghĩa hẹp: Đối với cá nhân người bị bắt là sự hạn chế một số quyền tự do cá nhân, là điểm khởi đầu của sự trừng phạt của pháp luật nếu người đó là người thực hiện hành vi phạm tội, bởi vì khi thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam

được khấu trừ vào thời gian thi hành án

Thứ ba, “Bắt người là giữ người phạm pháp lại, không cho tiếp tục tự do hoạt

động, chặn đứng hành vi phạm tội để phòng người đó lẩn trốn,tự sát, tiêu hủy chứng

cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội…”.8

“Quan điểm thứ nhất cho rằng, bắt người không phải biện pháp ngăn chặn độc lập, mà chỉ là hành vi tố tụng, bởi lẻ “muốn tạm giữ, tạm giam một người nào đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải bắt họ và vì vậy bắt không thể coi là một biện pháp ngăn chặn

8

Nguyễn Mai Bộ: Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội-

1997

Trang 18

Quan điểm thứ hai cho rằng, bắt người là biện pháp ngăn chặn độc lập Chúng ta

có thể đồng tình với quan điểm trên, bởi lẻ với việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc bắt người phạm tội quả tang, không phải trường hợp nào cũng đều áp dụng biện pháp tạm giữ Bắt bị can, bị cáo để tạm giam và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn được áp dụng kế tiếp nhau, sau khi bắt thì tạm giam ngay; mặt khác lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam không thể thay thế được lệnh tạm giam”.9

Trong đó thì tác giả thấy được cách hiểu mà ta có thể hiểu một cách cụ thể là khái niệm: “Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa

bị khởi tố (trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc trường hợp phạm tội khẩn cấp) theo những trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm chốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án”.10

Ta có thể thấy được thực chất của việc bắt người trong tố tụng hình sự là người

có thẩm quyền trực tiếp cưỡng chế một người khi có căn cứ của pháp luật, buộc họ phải về ngay trụ sở cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục luật định để phục vụ cho việc giả quyết vụ án hình sự Đồng thời hạn chế hạn chế các quyền tự do thân thể tiến hành

áp dụng bắt họ để ngăn cản hành vi phạm tội và đảm bảo cho trình tự thủ tục tố tụng

được tiến hành nhanh chóng và hiệu quả Nhằm mục đích đấu tranh có hiệu quả với tội

phạm, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, thực hiện mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật cũng như đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân,

Bộ luật tố tụng hình sự quy định các trường hợp bắt người bao gồm: Bắt bị can, bị cáo

để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người trong trường hợp phạm

tội quả tang hoặc đang bị truy nã; bắt người trong một số trường hợp đặc biệt Mỗi trường hợp bắt thì nó có đối tượng, điều kiện áp dụng khác nhau để có cách áp dụng khác nhau phù hợp với từng loại tội phạm

Bởi vậy, bắt người là những hoạt động tố tụng mang tính chất cưỡng chế, nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan

điều tra, Viện kiêm sát hoặc Tòa án có quyền quyết định việc áp dụng những biện

pháp nói trên Quyết định bắt người đụng chạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm

9

Nguyễn Mai Bộ: Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội-

1997, Nguyễn Ngọc Chí: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia, Hà

Nội-2001

10

TS Trần Quang Tiệp: Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị Quốc

Gia, Hà Nội-2011

Trang 19

về thân thể của công dân Vì vậy, cần phải hết sức thận trọng khi quyết định bắt người Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cho cuộc đấu tranh chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội cũng như hành vi trốn tránh pháp luật

1.2.2 Đặc điểm về biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, bắt người là một biện pháp ngăn chặn những hành vi phạm tội cụ thể,

rõ ràng phải nhiều công đoạn, trải qua quá trình điều tra, xác minh được quy định cụ thể trong bộ luật tố tụng hình sự Chính vì vậy, việc quy định các biện pháp ngăn chặn bắt người trong bộ luật tố tụng hình sự còn bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền

cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp như quyền bất khả xâm phạm thân thể, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việc quy định và áp dụng

đúng đắn các biện pháp này chính là sự đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện tốt

nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện nhanh chóng, xử lí kịp thời, chính xác kẻ phạm tội, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội, ngăn chặn không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội hoặc phạm tội mới đồng thời đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của công dân Nắm vững nội dung, phạm vi, quyền hạn, thủ tục của biện pháp này sẽ giúp cho cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng luật, không vi phạm các quyền công dân, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm Bên cạnh đó, nó còn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chế định biện pháp ngăn chặn bắt người và phục vụ cho các cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn áp dụng các quy định về biện pháp này một cách thống nhất

Thứ hai, bắt người mang tính cưỡng chế nghiêm khắc được quy định và áp dụng dựa trên những căn cứ pháp lý của pháp luật Trong nhóm các biện pháp cưỡng chế về

tố tụng hình sự, các biện pháp ngăn chặn bắt người có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, chúng đảm bảo cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt

động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi, thể hiện sự chuyên chính của

Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh chống tội phạm Việc quy định các biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự còn góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Bên cạnh đó, việc áp dụng tùy tiện các biện pháp ngăn chặn nhất là bắt oan người vô tội đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật Những hành vi vi phạm này không chỉ xâm hại hoạt động

đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, xâm hại quyền bất khả xâm phạm thân thể

và sinh mạng chính trị của công dân mà còn làm giảm uy tín của Nhà nước, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan thi hành pháp luật

Trang 20

Thứ ba, so với các biện pháp ngăn chặn khác thì biện pháp ngăn chặn bắt người

có một đặc tính nó biện pháp cưỡng chế hạn chế đi quyền tự do cá nhân, tự do về thân thể của người phạm tội Hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người không những thế mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cá nhân của người phạm tội Cho nên nếu áp dụng biện pháp này phải hết sức cẩn trọng phải có căn cứ pháp lý

rõ ràng những nguồn tin cơ sở pháp luật đúng đắn Trình tự áp dụng phải đúng theo quy định của pháp luật Nếu áp dụng không đúng cách có thể để xảy ra những hậu quả

đáng tiếc, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm cá nhân của một con người Xảy ra tình

trạng bắt người trái pháp luật ảnh hưởng đến quyền tự do của mỗi người Ảnh hưởng

đến lòng tin của người dân đối với những quy định của pháp luật được ban hành

Từ đó, ta có thể thấy khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người các chủ thể tiến hành tố tụng cần chú ý song song với việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước và xã hội cũng cần chú trọng bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp ngan chặn Bảo đảm thực hiện dân chủ, tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của công dân không để bất kì người nào bị hạn chế các quyền công dân, bị bắt một cách trái pháp luật Việc bắt người phải tuân thủ triệt để những pháp luật của

tố tụng hình sự về đối tượng áp dụng, trình tự thủ tục trường hợp nào có lệnh bắt, trường hợp nào không có lệnh bắt, trường hợp nào tiến hành vào bắt ban đêm, trường hợp nào thì được phép tiến hành, rồi thẩm quyền ra lệnh bắt

1.2.3 Nguyên tắc áp dụng biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

Để bảo đảm quyền bắt khả xâm phạm về thân thể của người bị bắt cần có những

nguyên tắc áp dụng cụ thể:

Thứ nhất, thừa nhận, tuân thủ và bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người nói chung, của người bị bắt nói riêng Khi tiến hành bắt, trong trường hợp, lực lượng bắt cần phải đảm bảo và tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị bắt;tính mang, tài sản của nơi nhân dân tiến hành bắt Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về than thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kì hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, danh dự hay nhân phẩm Ai cũng có quyền

tự do thân thể, không ai có thể bị bắt hay giam cầm, bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ trường hợp và theo những thủ tục luật định Do đó, bất kì người nào xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân thong qua hành vi bắt người trái pháp luật tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đều phải xử lý Chính vì thế cần phải đảm bảo tuân thủ theo nguyên tắc này khi bắt người

Trang 21

Thứ hai, khi áp dụng phải tuân theo những quy định nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật để đảm bảo pháp chế, biện pháp bắt được quy định chặt chẽ trong bộ luật tố tụng hình sự là cơ sở cho hoạt động bắt trên thực tiễn, tránh vận dụng biện pháp bắt một cách tùy tiện, dẫn đến bắt oan sai người vô tội, bắt không đúng thủ tục, bắt trái thẩm quyền Do tính hệ trọng của việc bắt, khi áp dụng biện pháp này cơ quan điều tra phải

có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật cho từng trường hợp bắt cụ thể (các điều 79,

80, 81, 82 của bộ luật tố tụng hình sự), cũng như các quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt, trình tự, thủ tục tiến hành bắt (từ các điều 80 đến điều 85, bộ luật tố tụng hình sự)

Thứ ba, nghiêm cấm hành vi bắt người trái pháp luật Pháp luật quy định hệ thống các biện pháp bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người Việc tạm thời hạn chế quyền tự do thân thể của người bị bắt chỉ tiến hành khi có căn

cứ, điều kiện áp dụng được pháp luật quy định cụ thể Yêu cầu đòi hỏi thực tế với lực lượng bắt khi đứng trước quyết định bắt một đối tượng là cần phải tổng hợp, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá xem đã có đủ tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng hay chưa, bên canh đó còn phải căn cứ vào yêu cầu của hoạt động điều tra Cho nên khi bắt cần phải theo trình tự, thủ tục rõ ràng để đảm bảo tính nghiêm minh, chính xác của pháp luật Trường hợp bắt đối tượng là Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội

đồng nhân dân thì việc tuân theo các điều 79 đến điều 85 của bộ luật tố tụng hình sự,

lực lượng tiến hành cần phải tuân theo các quy định khác có liên quan đến việc bắt, giam, truy tố…các đối tượng này được quy định tại Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Bên cạnh đó, cũng cần hết sức lưu ý ảnh hưởng của việc bắt tới chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng

Thứ tư, cơ quan tiến hành tố tụng : cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là những cơ quan tham gia áp dụng các biện pháp ngăn chặn Cho nên việc bắt người phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, chịu sự giám sát chặt chẽ của Tòa án, Viện kiểm sát Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn tội phạm, bảo vệ lợi ích nhà nước và nhân dân, Bộ luật quy định là đối với người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì bất kì người công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công

an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân gần nhất Trong trường hợp khẩn cấp, ngoài các cán bộ có thẩm quyền của cơ quan điều tra, Bộ luật còn quy định cho người chỉ huy của đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy biên phòng ở hải đảo và biên giới được quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Thứ năm, phải tuyệt đối đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ, bí mật bất ngờ là yếu tố quan trọng bảo đảm cho việc bắt người được tiến hành một cách hiệu quả nhất, không thể tiến hành bắt người đạt hiệu quả khi mà lệnh bắt chưa được thi hành thì đối tượng

Trang 22

bắt đã biết, bỏ trốn, gây cản trở cho cuộc bắt hoặc tiêu hủy chứng cứ Yếu tố bắt người

được biểu hiện trong kế hoạch bắt như: bí mật về thời gian, địa điểm sẽ tiến hành bắt đối tượng, bí mật về sự chuẩn bị bắt… và biểu hiện ở việc áp dụng các biện pháp

nghiệp vụ như : thu thập thông tin về nơi đối tượng có thể ẩn náu, thu thập xác minh

về các mối liên hệ của đối tượng, sử dụng lực lượng trinh sát theo dõi chặt chẽ tình hình biến đổi của đối tượng… Bí mật là yếu tố bắt ngờ, cần thiết cho thành công của cuộc bắt, làm sao để cho đối tượng bắt chỉ biết là chúng bị bắt khi lực lượng bắt tiến hành bắt, triển khai lệnh bắt

1.3 Vai trò và ý nghĩa của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

1.3.1 Vai trò của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

Có thể thấy rõ một thực tế là, việc bắt người phạm tội có một vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động điều tra cũng như việc đấu tranh và phòng chống tội phạm

Thứ nhất, biện pháp ngăn chặn bắt người bảo đảm cho việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng được thuận lợi; thể hiện sự chuyên chính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh chống tội phạm Góp phần giảm bớt đi số lượng tội phạm cũng như ngăn chặn hành vi phạm tội kịp thời không để cho nó xảy ra hậu quả nghiêm trọng

Thứ hai, quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do; thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa

Điều 50 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định : “Ở nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền về con người chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa , xã hội được tôn trọng thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong những vai trò hết sức quan trọng khi áp dụng biện pháp bắt người Khi áp dụng biện pháp bắt người bảo vệ được nhanh chóng những chủ thể bị xâm phạm, đảm bảo được quyền của công dân

Thứ ba, khi áp dụng biện pháp bắt người nhanh chóng kịp thời sẽ đảm bảo cho người dân ít bị tổn hại, không gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đáng tiếc Từ đó làm cho người dân tin tưởng vào pháp luật cũng như tin tưởng vào đường lối chủ trương, chính sách của Nhà nước Người dân sẽ chủ động và tích cực hơn trong công tác tham gia vào pháp luật Tuân thủ và sẽ thực hiện nghiêm chỉnh hơn các quy định pháp luật ban hành

Trang 23

1.3.2 Ý nghĩa của biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự

Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm; việc kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để tội phạm xảy ra hoặc hoàn thành hay không để người phạm tội có điều kiện kết thúc hành vi phạm tội của mình là việc làm cấp bách và rất cần thiết Vì thế biện pháp ngăn chặn bắt người mang ý nghĩa to lớn về nhiều khía cạnh cụ thể

Thứ nhất, đối với quá trình giải quyết vụ án:

Một là, ngăn chặn bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử; sự có mặt của bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng là rất cần thiết Nếu họ trốn tránh hoặc hành vi xóa dấu vết, tiêu hủy vật chứng, chứng cứ… sẽ làm cho vụ án gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc bắt người sẽ đảm bảo thuận lợi, khách quan cho quá trình thu thập chứng cứ cho vụ án, loại trừ những khó khăn mà họ có thể xảy ra

Hai là, Ngăn chặn để bị can, bị cáo không thể tiếp tục phạm tôi; để tránh áp dụng biện pháp bắt người tràn lan, không cần thiết, Bộ luật tố tụng hình sự quy định không phải bất kì bị can, bị cáo nào cũng có thể bắt để tạm giam

Ba là, Ngăn cản hành vi gây khó khăn, cản trở cho việc thi hành án; Thi hành án

là giai đoạn cuối cùng của tố tụng hình sự Việc tạo điều kiện để đảm bảo cho việc thi hành án đạt hiệu quả không chỉ cần thiết khi kết thúc hoạt động xét xử tại phiên tòa mà

được thực hiện ngay từ thời điểm vụ án chưa xét xử và còn có thể thực hiện bằng biện

pháp ngăn chặn bắt người Đồng thời thông qua điều 79 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ta thấy được rõ mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người đó là: Ngăn chặn không cho tội phạm tiếp tục xảy ra gây thiệt hại cho xã hội, không để người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án như không để người phạm tội có thể xóa bỏ dấu vết phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, làm giả chứng cứ : thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng

Thứ hai, về mặt cơ quan tố tụng thì biện pháp ngăn chặn bắt người mang lại rất nhiều ý nghĩa:

Một là, biện pháp ngăn chặn bắt người là phương tiện giúp việc ngăn chặn tội phạm được kịp thời và hiệu quả Việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm bớt hậu quả của tội phạm, kịp thời ngăn chặn tội phạm không những bảo vệ được đối tượng tác

động của tội phạm mà còn ngăn chặn và hạn chế hậu quả do tội phạm gây ra

Trang 24

Hai là, biện pháp ngăn chặn bắt người đảm bảo cho cơ quan tiến hành tố tụng

được thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

Trong nhiều vụ án do tính chất phức tạp, người phạm tội cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Việc bắt các đối tượng này là phương tiện hữu hiệu góp phần quan trọng hạn chế tình trạng đó

Ba là, việc quy định một cách cụ thể, rành mạch các trường hợp bắt người về đối tượng, về thẩm quyền, căn cứ và thủ tục bắt còn có ý nghĩa là cơ sở pháp lý để xử lý những hành vi vi phạm phap luật khi áp dụng biện pháp bắt người

Thứ ba, về mặt xã hội thì nó mang lại không ích ý nghĩa như:

Một là, đảm bảo cho việc thực hiện dân chủ trong pháp luật, thể hiện sự tôn trọng bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định

Điều này thể hiện ở chỗ áp dụng hay không áp dụng biện pháp bắt người không xuất

phát từ ý chí chủ quan của cơ quan Nhà nước mà xuất phát từ pháp luật và sự đòi hỏi của phát luật

Hai là, biện pháp ngăn chặn bắt người thể hiện sự chuyên chính của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm Thể hiện đường lối, chính trị của nhà nước trong việc xử lý hành vi phạm tội Việc quy định biện pháp bắt người thể hiện thái độ kiên quyết, triệt để của nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm

Ba là, việc quy định các biện pháp ngăn chặn bắt người trong Bộ luật tố tụng hình

sự còn góp phần tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Bên cạnh đó, việc quy định biện pháp ngăn chặn bắt người còn đảm bảo sự dân chủ, tôn trọng các quyền cơ bản của công dân cũng như quyền bất khả xâm phạm thân thể, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việc quy định đúng dắn các biện pháp này chính là sự đảm bảo chắc chắn cho việc thực hiện tốt nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng, không làm oan người vô tội,

đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp của công dân Bên cạnh đó nó còn có ý nghĩa cung

cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chế định các biện ngăn chặn và phục vụ cho các cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn áp dụng các quy định về các biện pháp này một cách thống nhất Chính vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn còn

có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ CÁC

TRƯỜNG HỢP BẮT NGƯỜI

2.1 Các trường hợp bắt người trong tố tụng hình sự

2.1.1 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam

2.1.1.1 Khái niệm về bắt bị can, bị cáo để tạm giam

“Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với người đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị Tòa án quyết

định đưa ra xét xử nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án bắt”.11

Hay Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Như vậy người có thể bị bắt để tạm giam phải là bị can,

bị cáo, nghĩa là người đã có quyết định khởi tố về hình sự hoặc là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Chỉ quyết định bắt bị can, bị cáo trong những trường hợp quy

định ở điều 80

2.1.1.2 Đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm

giam

Đối tượng của việc bắt người chỉ có thể là bị can (người đã bị khởi tố về hình sự)

hoặc bị cáo (người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử) Người chưa bị khởi tố với

tư cách là bị can hoặc người không bị Tòa án quyết định quyết định đưa ra xét xử thì không bị bắt để tạm giam Tuy vậy không phải tất cả bị can, bị cáo đều bị bắt để tạm giam mà chỉ bắt để tạm giam những bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; hoặc bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng

mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người

đó có thể trốn tránh hoặc cản trở việc điều tra, xét xử,… hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Những bị can, bị cáo không thuộc các trường hợp kể trên hoặc bị can, bị cáo là phụ nữ

có thai hoặc đang thời kỳ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng, có nơi cư trú rõ ràng thì không cần bắt để tạm giam mà có thể áp dụng các biện

11

TS Trần Quang Tiệp: Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nhà xuất bản chính trị Quốc Gia, Hà Nội-2011

Trang 26

pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh… trừ trường hợp đặc biệt

Từ những vấn đề trên đây thì thấy việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam cần phải có

đủ những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người bị bắt là bị can, bị cáo; một người chỉ có thể bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành

vi phạm tội Việc xác định người có tư cách bị can từ khi nào rất quan trọng Bởi vì, khi một người phát sinh tư cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ có các quyền

và nghĩa vụ của bị can Người đó sẽ bị cơ quan tố tụng áp dụng biện pháp tố tụng được phép tiến hành Khi Viện kiểm sát quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì người đó mới được coi là bị can và bị áp dụng các biện pháp tố tụng như bắt Điều đó

có nghĩa là đối với ngưới chưa bị khởi tố về hình sự, Hoặc người chưa bị Tòa án quyết

định đưa ra xét xử, thì không thể bị bắt để tạm giam

Thứ hai, người đó phạm tội rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù, hoặc

đặc biệt nghiêm trọng như phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt trên 15

năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt

đến 15 năm tù Hoặc tuy phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng nhưng Bộ

luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, xét xử…hoặc có thể tiếp tục phạm tội

Thứ ba, đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng thì không bắt để tạm giam, trừ trường hợp bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không bắt để tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia Thiếu một trong hai điều kiện đây thì không được áp dụng biện pháp để tạm giam Mọi hành

vi bắt người để tạm giam mà không đầy đủ hai điều kiện trên đều bị coi là trái pháp luật

2.1.1.3 Thẩm quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người Và vì việc bắt người là một việc rất quan trọng cho nên pháp luật quy định rất chặt chẽ những người có quyền quyết định việc bắt người

Trang 27

Cụ thể thì tại điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rõ thẩm quyền

ra lệnh bắt người như sau:

“Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự

các cấp;

Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân cấp và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên chủ tọa phiên tòa;

Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”.12

Qua quy định của luật thì ta thấy được:

Một là, về cơ quan kiểm sát thì chỉ có viện trưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hoặc Viện kiểm sát quân sự các cấp mới có quyền quyết định việc bắt người Các kiểm sát viên không có quyền đó Cho nên trong giai đoạn truy tố, việc bắt bị can

để tạm giam do Viện trưởng, Phó Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm

sát quân sự các cấp quyết định

Hai là, về cơ quan xét xử thì những người có quyền quyết định việc bắt người là Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án quân sự các cấp;Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên chủ tọa phiên tòa.Tinh thần của những quy định này là quy định việc bắt người để tạm giam trong khi điều tra, truy tố và trước khi xét xử Do đó, nếu vụ án được đưa xét xử tại phiên tòa

mà cần phải bắt người thì lại phải áp dụng Điều 172 về quyền của chủ tọa phiên tòa của Tòa án các cấp được quyết định bắt người vi phạm nghiêm trọng trật tự tại phiên tòa Điều 202 quy định là Hội đồng xét xử được quyết định bắt ngay bị cáo được tại ngoại sau khi tuyên án Về việc bắt giam để bảo đảm cho việc xét xử sơ thẩm và việc bắt giam để chuẩn cho việc xét xử phúc thẩm Cho nên trong giai đoạn xét xử : Việc bắt bị cáo để tạm giam do Chánh án, Phó chánh án Tòa án nhân dân các cấp;Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên được phân công làm chủ tọa phiên tòa quyết định Lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam trong giai

đoạn xét xử không cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước cũng như sau khi tiến

Trang 28

Ba là, về các cơ quan điều tra thì chỉ có những người sau đây mới có quyền bắt : Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan

điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng , Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong

Quân đội nhân dân Lệnh bắt của những người nói trên phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Cho nên trong giai đoạn điều tra: Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam

do Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;Trưởng công an, Phó công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp trong quân

đội nhân dân quyết định Nếu cơ quan điều tra ra lệnh bắt người thì việc bắt phải được

Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, đây là thủ tục pháp lý bắt buộc, bảo đảm hiệu lực của lệnh bắt Những lệnh bắt của cơ quan điều tra không có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp sẽ không có giá trị thi hành

2.1.1.4 Trình tự, thủ tục tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam

Đối với việc bắt bị can, bị cáo nó hết sức quan trọng cho nên sẽ trải qua trình tự,

thủ tục như sau:

Thứ nhất, phải xin được lệnh bắt người Điều 80 khoản 2, khoản 3 Bộ luật hình

sự có quy định: “Lệnh bắt phải ghi rõ ngày tháng năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt Lệnh bắt phải có chữ ký của người

ra lệnh bắt và có đóng dấu Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền

và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến Khi tiến hành tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại điều 81 và 82 của Bộ luật này”.13 Điều luật quy định : Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải có lệnh của người có thẩm quyền; lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng , năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lí do bắt Lệnh bắt phải có chữ kí của người ra lệnh và có đóng dấu của cơ quan Lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải bảo đảm yêu cầu pháp lí nêu trên mới có giá trị thi hành Lệnh bắt người vi phạm thủ tục do luật định như bắt người theo lệnh miệng, lệnh bắt của người không có thẩm quyền, lệnh không ghi rõ ngày, tháng, năm họ tên,chức vụ của người ra lệnh, lệnh không có chữ kí của người có thẩm quyền, không đóng dấu cơ quan, lệnh bằng thư

13

Xem điều 80 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Trang 29

tay, lệnh bắt của cơ quan điều tra không có phê chuẩn của Viện kiểm sát đều không có giá trị thi hành

Thứ hai, phải tiến hành đọc lệnh và lập biên bản Trước khi bắt, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh bắt, giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị bắt nghe Người bị bắt có quyền yêu cầu người thi hành lệnh bắt đọc toàn văn lệnh bắt và giải thích lệnh Trong trường hợp có nghi ngờ về lệnh bắt, người bị bắt có quyền yêu cầu cho xem lệnh bắt Những yêu cầu đó phải được chấp nhận Khi tiến hành phải lập biên bản bắt người Biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh bắt, thái độ của người bị bắt trong việc chấp hành lệnh bắt, những đồ vật, tài liệu có liên quan được phát hiện, bị tạm giữ và những yêu cầu, khiếu nại của người bị bắt Biên bản phải được

đọc cho người bị bắt và những người chứng kiến nghe Người bị bắt, người thi hành

lệnh bắt và người chứng kiến phải cùng kí tên vào biên bản Nếu có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì họ có quyền ghi vào biên bản và kí tên

Thứ ba, tiến hành bắt bị can, bị cáo Khi tiến hành bắt người tại nơi cư trú của họ phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi làm việc của họ phải có mặt đại diện của

cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt làm việc chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người

bị bắt chứng kiến

Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam không mang tính chất cấp bách như bắt người trong trường hợp phạm tội khẩn cấp, phạm tội quả tang hay truy nã, vì vậy đảm bảo chính đáng quyền lợi của người bị bắt, của nhân thân, cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, tránh gây căng thẳng do việc bắt người gây ra khoản 3 điều 80 quy định

“Không bắt người vào ban đêm trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang”

Điều luật này quy định nhằm bảo đảm việc bắt được tiến hành công khai, bảo đảm trật

tự yên tĩnh trong ban đêm và phòng ngừa kẻ xấu lợi dụng danh nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng bắt người vào ban đêm để làm điều phi pháp Ban đêm được tính từ 22 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau Việc quy định và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định nêu trên về việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam vừa thể hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tội phạm vừa là sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, tránh mọi tác động trái pháp luật tới các quyền này

2.1.2 Bắt người trong trường hợp khẩn cấp

2.1.2.1 Khái niệm về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Trang 30

Thông qua quy định tại điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 ta có thể thấy rõ hơn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp Từ đó có thể hiểu rõ hơn thông qua khái niệm:

“Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là việc bắt người khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc có căn cứ để cho rằng sau khi thực hiện tội phạm, người đó có hành vi bỏ trốn, cản trở việc điều tra khám phá tội phạm”.14

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn mang tính cấp bách, qua xác minh ban đầu đã có tài liệu khẳng định một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiệm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hoặc khẳng định một người đã thực hiện tội phạm hay bị nghi thực hiện tội phạm, mà xét thấy cần ngăn chặn họ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi thực hiện tội phạm, người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Đây là trường hợp bắt người có tính chất cấp bách nếu không thực hiện sẽ không kịp thời ngăn chặn việc thực hiện tội phạm, không chặn đứng được hành vi trốn tránh, gây khó khăn, cản trở điều tra.Trường hợp bắt khẩn cấp là trường hợp tội phạm đang hoặc đã

được thực hiện mà cơ quan điều tra qua sự theo dõi kiểm tra, xác minh nguồn tin, thấy

cần phải cấp bách ngăn chặn kẻ phạm tội gây thiệt hại cho Nhà nước hoặc nhân dân, ngăn ngừa kẻ phạm tội chạy trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ

2.1.2.2 Đối tượng về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Đối tượng áp dụng của bắt người trong trường hợp này là người chưa bị khởi tố

về hình sự và bắt người trong trường hợp khẩn cấp được áp dụng đối với những người

đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

Những người đã thực hiện tội phạm có hành vi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Nhưng bên cạnh đó cũng không ngoại trừ cả những người đã bị khởi tố hay

đã bị Tòa án đưa ra quyết định xét xử với tư cách là bị can, bị cáo của vụ án khác nếu

hành vi của họ thuộc một trong ba trường hợp tại điều 81 của Bộ luật tố tụng hình sự làm căn cứ để bắt khẩn cấp

Bắt khẩn cấp chính là bắt những đối tượng có hành vi phạm tội mà gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà nhiều người xét thấy cần phải bắt ngay để có thể ngăn chặn kịp thời Có nhiều người chứng kiến hành vi đó và trong thấy họ đang thực hiện và gây

ra nhiều vụ việc đáng tiếc cần thiết phải bắt khẩn cấp ngay

14

Hỏi đáp về thủ tục bắt, tạm giữ, khám xét và kê biên tài sản, Nhà xuất bản Công an nhân dân- 2003

Trang 31

2.1.2.3 Những trường hợp áp dụng biện pháp bắt người khẩn cấp

Trường hợp khẩn cấp thứ nhất : Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn

bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đạc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin biết người đó đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm được thực hiện.Việc bắt trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau:

Một là, có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm Những căn cứ này có thể do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác định qua việc theo dõi đối tượng hoặc qua việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp đã khẳng định người đó (hoặc những người đó) đang tìm kiếm công

cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm như bàn mưu, tính kế, lập kế hoạch, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm Những hành vi nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng đã đặt các lợi ích cho cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác định qua việc theo dõi đối tượng hoặc qua việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp

đã khẳng định người đó ( hoặc những người đó ) đang tìm kiếm công cụ, phương tiện

hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm như bàn mưu, tính

kế, lập kế hoạch, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm Những hành vi nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa, cần thiết phải được bảo vệ kịp thời

Hai là, tội phạm đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chuẩn bị thực hiện tội phạm còn một khoảng cách nhất

định với việc thực hiện tội phạm đều cần truy cứu trách nhiệm hình sự Do vậy, muốn

bắt khẩn cấp một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì phải xác định tội phạm họ đang chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ( các tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội) Theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là lên tới mười lăm năm tù, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức khung hình phạt cao nhất là trên mười lăm năm tù, tù chung thân Do đó mà người chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng sẽ không áp dụng biện pháp ngăn chặn này Bởi vì theo quy định của điều 17 Bộ luật hình sự thì “chỉ người nào chuẩn bị thực hiện

Trang 32

phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” Theo điều 17 của Bộ luật hình sự, chuẩn bị thực hiện tội phạm là việc một người hay một nhóm người nào đó tiến hành tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Ngoài ra điều 17 Bộ luật hình sự còn quy định “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện” Do vậy đối với trường hợp này nhà làm luật chỉ quy định khi có căn cứ để cho rằng ai đó đang chuẩn bị thực hiện tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới có quyền bắt khẩn cấp

Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trong thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn Đây là trường hợp tội phạm xảy ra nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay Sau một khoảng thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trong thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm, nếu cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp Trong trường hợp này tính chất của tội phạm

mà người phạm tội đã thực hiện không đóng vai trò quyết định trong việc xác định lí

do bắt khẩn cấp Lí do phải bắt đối với người phạm tội ở đây chính là việc có đủ cơ sở

để khẳng định người đó đã thực hiện tội phạm và nếu không bắt ngay họ sẽ trốn

Việc bắt người trong trường hợp này phải đảm bảo hai điều kiện sau:

Một là, phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc người khác đã chính mắt trông thấy người phạm tội

và hành vi phạm tội được thực hiện và trực tiếp xác nhận với cơ quan có thẩm quyền

đúng là người đã thực hiện tội phạm Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định,

chứ không thể “hình như” hoặc “nhìn giống như” người đã thực hiện tội phạm Nếu việc xác nhận không phải do người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội thì không coi

là điều kiện để bắt khẩn cấp, bởi lẽ nếu bắt trong trường hợp đó dễ dẫn đến việc bắt nhầm người không thực hiện tội phạm

Hai là, xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Những căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn thường là: Đang có hành động bỏ trốn, đang chuẩn bị trốn; không có nơi cư trú rõ ràng; có nơi cư trú nhưng ở quá xa; là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn; chưa xác định được nhân thân của người đó Đối với trường hợp khac thì vẫn tiến hành giải quyết vụ án mà không cần bắt khẩn cấp

Trang 33

Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người

đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ

tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thực hiện tội phạm nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thê hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì bắt khẩn cấp Việc bắt trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau:

Một là, khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi ngờ thực hiện tội phạm Qua những hoạt động như khám chỗ ở, khám người, xem xét dấu vết trên thân thể, kiểm tra, kiểm soát hành chính…cơ quan có thẩm quyền tìm thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm Những dấu vết của tội phạm được tìm thấy có thể là những vật chứng như công cụ phương tiện phạm tội, đối tượng của tội phạm… cũng như dấu vết của tội phạm trên thân thể của người bị nghi thực hiện tội phạm Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm chỉ được coi là một điều kiện để bắt khẩn cấp

Hai là, cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng

cứ Khi có căn cứ cho rằng người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng

cứ thì cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp Những căn cứ cho rằng người bị nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn cũng tương tự như căn cứ cho rằng người phạm tội trong trường hợp khẩn cấp thứ hai bỏ trốn Tuy nhiên, nếu xác định người bị nghi thực hiện tội phạm không bỏ trốn nhưng lại có căn cứ cho rằng người đó đang tiêu hủy chứng cứ như đang xóa dấu vết tội phạm, đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang tấu tài sản vừa lấy được hoặc đang có hành vi phạm tội làm giả chứng cứ làm sai lệnh các tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội gây khó khăn cho việc điều tra xác định tội phạm thì những hành vi đó vẫn được coi là điều kiện để bắt khẩn cấp

2.1.2.4 Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Theo khoản 2 điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự thì những người có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

Tại điểm a khoản 2 điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự “Thủ trưởng, Phó thủ trưởng

Cơ quan điều tra các cấp” Như vậy ta có thể thấy Thủ trưởng, Phó thử trưởng các cơ quan điều tra các cấp sẽ có thẩm quyền áp dụng và ra lệnh bắt các đối tượng phạm tội trong trường hợp khẩn cấp để có thể ngăn chặn tội phạm Kịp thời bắt những đối tượng

có hành vi phạm tội nghiêm trọng gây ra hậu quả nghiêm trọng

Trang 34

Tại điểm b khoản 2 điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự “Người chỉ huy đơn vị quân

đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo

và biên giới” Những người này sẽ có thẩm quyến bắt khẩn cấp trong trường hợp mà

vụ việc xảy ra Thông thường thì quân đội là một cơ quan có quy định sẽ được giải quyết những người trong cơ quan quân đội của mình, vì thế mà họ cũng được trao những thẩm quyền riêng biệt đó Cho nên khi hành vi phạm tội xảy ra mà nó hậu quả nghiem trọng thì những người giữ chức vụ trên có quyền tiến hành bắt khẩn cấp

Tại điểm c khoản 2 điều 83 Bộ luật tố tụng hình sự “Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng” Tương tự như các cơ quan quân đội thì những người chỉ huy các lĩnh vực được đề cập cũng được trao những thẩm quyền riêng biệt Họ có thể bắt ngay những đối tượng có hành vi phạm tội gây hậu quả lớn để kịp thời ngăn chặn tội phạm

đủ những nội dung: “Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người

ra lệnh; Phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt; Phải có đủ chữ ký của người ra lệnh, đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền”

Thứ hai, phải tiến hành đọc lệnh và lập biên bản Khi tiến hành bắt khẩn cấp, người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh bắt cho người bị bắt; phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt, cư trú hoặc làm việc và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến( trừ trường hợp bắt khẩn cấp đối với người cư trú ở nơi khác, hoặc không có nơi cư trú rõ ràng, không xác định được nơi cư trú) Sự vắng mặt của những người nói trên làm cho việc bắt người trong trường hợp này nói chung không bảo đảm tính hợp pháp Tùy theo thời gian và địa điểm bắt mà sự tham dự của họ có thể khác nhau: Nếu người bị bắt là cán bộ, nhân viên của một cơ quan nhà nước, đang trong giờ làm việc thì việc bắt phải

có đại diện của cơ quan và một người cùng làm việc với người bị bắt chứng kiến; nếu người bị bắt không phải là cán bộ, nhân viên nhà nước hoặc tuy là cán bộ, nhân viên

Trang 35

Nhà nước nhưng đã rời nơi làm việc về nơi cư trú, thì việc bắt phải có đại diện của chính quyền xã, phường hay thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến

2.1.3 Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

2.1.3.1 Khái niệm về bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc

đang bị truy nã

“Bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải

Bắt người đang bị truy nã là bắt bị can, bị cáo hoặc người bị kết

án trốn tránh việc điều tra truy tố xét xử và thi hành án đang lung bắt theo quyết định truy nã của cơ quan điều tra được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết công khai tại trụ sở chính quyền xã phường , thị trấn, và các nơi công cộng

Từ đó ta có thể hiểu bắt người phạm tội quả tang là trường hợp bắt người khi này

đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực

hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Bắt người đang bị truy nã là bắt người

đã thực hiện tội phạm, đã bị khởi tố bị can, đang trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét

xử, thi hành án và đã bị cơ quan có thẩm quyền ra lệnh truy nã, thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết công khai tại trụ sở chính quyền xã, phường, thị trấn và các nơi công cộng để truy bắt

2.1.3.2 Đối tượng áp dụng trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị

truy nã

Bất kể người nào đang thực hiện tội phạm, thực hiện hành vi gây án hoặc sau khi thực hiện tội phạm bị phát hiện và đuổi bắt Những người này bị cơ quan chức năng phát hiện và bị đuổi bắt hoặc bị người dân phát hiện hành vi phạm tội tiến hành bắt giữ

Những đối tượng này là người đã bị cơ quan Công an ra quyết định truy nã hoặc theo quy chế về công tác truy nã của Bộ Công an Bao gồm những bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết ở đâu; người bị trục xuất, người chấp hành án phạnt trục xuất bỏ trốn; người bị kết án phạt tù bỏ trốn; người bị kết án tù bỏ trốn

2.1.3.3 Những trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

Điều 82 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định những trường hợp phạm tội quả

Trang 36

Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện Người

đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong

Bộ luật hình sự nhưng chưa hoàn thành tội phạm hoặc kết thúc việc phạm tội thì bị phát hiện Hành vi đang thực hiện tội phạm có thể đã gây ra hậu quả vật chất như đã hủy hoại được một phần tài sản của người khác và vẫn đang hủy hoại tiếp Trong trường hợp hành vi đang thực hiện một tội phạm có cấu thành hình thức thì mặc dù hậu quả vật chất chưa xảy ra vẫn coi là hành vi đang thực hiện tội phạm Ví dụ : Hành

vi đang đe dọa nạn nhân bằng dao, sung hoặc có thủ đoạn khác làm cho người đó lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm cướp tài sản nhưng chưa chiếm đoạt

được Hành vi đang thực hiện tội phạm có thể diển ra trong một ngắn như hành vi trộm

cắp, cướp tài sản nhưng cũng có thể diễn ra trong một thời gian dài như hành vi tang trữ vũ khí quân dụng

Trường hợp thứ hai: Ngay sau khi thực hiện tội phạm xong thì bị phát hiện Đây

là trường hợp vừa thực hiện tội phạm xong, người phạm tội chưa kịp chạy trốn hoặc

đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang xóa những dấu vết của tội phạm

trước khi chạy trốn thì bị phát hiện Trong trường hợp người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm phát hiện ngay thì mặc dù không có vật chứng để lại cũng được coi là phạm tội quả tang Ví dụ: Vừa đâm chết người đang nhét xác chết vào bao tải nhằm đưa đi chon giấu thì bị người thân thích của nạn nhân phát hiện Trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm người không thực hiện tội phạm Ví dụ: Người vừa cướp giật túi xách của người khác bị người đó phát hiện hô hoán nên bỏ chạy, bị đuổi bắt và bắt được ngay lúc đó Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về thời gian so với hành vi chạy trốn thì không

được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp Ví dụ: Người vừa

móc túi lấy ví tiền của người khác bị người đó phát hiện và hô hoán nên bỏ chạy và bị

đuổi bắt nhưng người đó đã chạy thoát, vìa hôm sau người bị hại gặp lại người này tại

bến xe khách Trường hợp này người bị hại không được bắt ngay người đó mà phải báo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét và có thể bắt khẩn cấp trong trường hợp thứ hai

Đối với trường hợp bắt người đang bị truy nã thì cũng được hướng dẫn thông qua

thông tư 13/2012/TTLT- BCA- BTP-VKSNDTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một

số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và luật thi hành án hình sự về truy nã Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2003 không quy định người đang bị truy nã là trường hợp phạm tội quả tang mà là một trường hợp riêng biệt Bởi vì, người đang có lệnh truy nã là người thực hiện hành vi phạm tội đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w