1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn

108 2,4K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 542 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995 nhìn từ phương diện sự vận động của cái tôi trữ tình, Vũ Tuấn Anh đưa ra quan niệm về cái tôi trữ tình “đó là sự thể hiện một cách nh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN VĂN HẠNH

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1 CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ Ý NHI

12

1.1 Giới thuyết khái niệm cái tôi trữ tình 121.2 Cơ sở cho sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi 141.2.1 Hoàn cảnh xã hội 14

1.2.1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 15

1.2.1.2 Những năm tháng đổi mới sau chiến tranh 181.2.2 Cuộc sống và phẩm chất cá nhân 22

1.2.2.2 Phẩm chất cá nhân 24

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ Ý NHI

33

2.1 Cái tôi trữ tình công dân 342.1.1 Những trăn trở suy tư gắn với vận mệnh nhân dân, đất nước 342.1.2 Hạnh phúc, hân hoan trước những niềm vui của đất nước 382.1.3 Tình cảm da diết với những miền đất đã đi qua 402.1.4 Tiếng nói đấu tranh vì công bằng, lẽ phải 422.2 Cái tôi trữ tình đời tư thế sự, đời tư 46

2.2.2 Cái tôi chiêm nghiệm, suy tư về cuộc sống 562.2.3 Những chiêm nghiệm vế tình yêu, hạnh phúc 67

Chương 3 PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ Ý NHI

Trang 4

tả, tự đánh giá, tự ý thức của chính nhà thơ Đi vào nghệ thuật, cái tôi trữ tình

Trang 5

cũng đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật và là tiền đề tạo ra sự độc đáo, riêng biệt cho thơ mỗi nhà thơ nói riêng cũng như thơ trữ tình nói chung Vì vậy việc tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ là một cách đánh giá sáng tạo thơ ca từ góc độ thi pháp

1.2 Ý Nhi là nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống

Mỹ Bà viết từ khá sớm, viết nhiều Bên cạnh những nhà thơ cùng thời như Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phan Thị Thanh Nhàn,… Ý Nhi được xem là gương mặt tiêu biểu với một giọng điệu mới lạ Ngay từ những sáng tác đầu tiên, Ý Nhi đã cho thấy một bản lĩnh thơ luôn hướng tới những chân trời mới

của thi ca đương đại Ý Nhi từng được nhận Giải khuyến khích cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ 1969 Đặc biệt với sự xuất hiện của tập thơ Người đàn

bà ngồi đan (năm 1985), Ý Nhi được trao Giải thưởng loại A của Hội Nhà

văn Việt Nam Tập thơ ghi nhận những cố gắng đổi mới thơ Việt Nam hiện đại của Ý Nhi Một số nhà thơ, nhà phê bình coi sự xuất hiện của tập thơ như

là một nét chấm phá của thơ hiện đại Bởi lần đầu tiên trong hợp xướng ngợi

ca của thơ có “một giọng nói trầm lặng và hướng đến một đối tượng trữ tình không phải là đối tượng của dàn hợp xướng ấy” (Hoàng Đạt) Sau đó hàng

loạt các tác phẩm mới ra đời Ngày thường (1987), Mưa tuyết (1991), Gương

mặt (1991), Vườn (1998), Thơ tuyển (2000), Những gương mặt – Những câu thơ (2008),… đã tạo được sự thu hút rất nhiều từ các học giả đến các nhà lí

luận, phê bình, nhà văn, nhà thơ trong đời sống nghệ thuật đương đại Và đặc

biệt với sự xuất hiện của tập thơ mới nhất gần đây Ý Nhi tuyển tập (2010), Ý

Nhi đã ghi lại những nỗ lực cách tân trên các phương diện sác tác của mình hết sức mạnh mẽ Vì thế, một lần nữa Ý Nhi đã khẳng định được vị trí của mình trên thi đàn thơ ca đương đại

1.3 Trải qua nhiều chặng đường sáng tác, cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cái tôi trữ tình Ý Nhi

Trang 6

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Cái tôi trữ tình trong thơ

Ý Nhi với hy vọng góp phần nhận diện thơ Ý Nhi một cách hệ thống, sâu sắc

và bao quát hơn

2 Lịch sử vấn đề

Ý Nhi là một trong những nhà thơ nữ có vị trí đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Ý Nhi đã thu hút sự chú ý, quan tâm của giới nghiên cứu phê bình và đông đảo những người yêu thơ Nhiều công trình, bài viết dưới dạng này đã đề cập đến nhiều vấn đề trong thơ Ý Nhi

Trong công trình nghiên cứu Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại,

khi nói về thơ ca chống Mỹ, Hà Minh Đức, đã đánh giá cao tài năng, cá tính sáng tạo của đội ngũ những nhà thơ trẻ, trong đó có Ý Nhi Ông viết, “Rồi đây khi cuộc chiến tranh kết thúc họ sẽ là lực lượng chủ đạo trên thi đàn trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20 Những nhà thơ chiến sĩ như Nguyễn Duy, Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Phạm Tiến Duật… những tác giả nữ như Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đã có những đóng góp quan trong trong thơ thời kỳ đổi mới” [15, 119] Dù không viện dẫn, lí giải dài dòng nhưng những

gì Hà Minh Đức đánh giá đã phần nào cho người đọc thấy được vị trí, vai trò của Ý Nhi trong hành trình thơ ca Việt Nam hiện đại Năm 1969, Ý Nhi được giải thưởng khuyến khích cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ, đánh dấu con

đường thơ của chị Mười lăm năm sau, năm 1985, tập thơ Người đàn bà ngồi

đan của Ý Nhi ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đời thơ của

chị Tập thơ được trao Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam, ghi

nhận những cố gắng đổi mới thơ Việt của chị Bởi từ đây, trong thơ ca lần đầu tiên “xuất hiện một giọng nói hết sức trầm tĩnh”, một phong cách mới lạ và đầy sáng tạo trong thơ ca Nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học chuyên và không chuyên về thơ Ý Nhi đã lần lượt xuất hiện Trong đó, tiêu biểu là Chu Văn Sơn, Nguyễn Thị Minh Thái, Thúy Nga, Nguyễn Nhã Tiên, Lưu Khánh Thơ, Hà Ánh Minh, Nguyễn Hoàng Sơn, Anh Ngọc… Phần lớn qua các bài viết đều đánh giá cao thơ Ý

Trang 7

Nhi đồng thời qua đó cũng khẳng định được sự đóng góp của Ý Nhi với sự

phát triển của nền thơ ca Việt Nam Chu Văn Sơn trong bài viết Thơ của tâm

hồn xao xác giữa ngày yên, đăng trên báo Văn nghệ số 36 ngày 5 tháng 9 năm

1987, đã cho rằng, “Xét về toàn vẹn của việc khắc họa hình tượng nhân vật, thỉ phải nói là các nhân vật của Ý Nhi chưa thật sự nổi lắm Nhưng họ đều hiện lên như một chân dung đa diện, đa lẳng lặng sống, lẳng lặng làm việc với một nỗi lòng phức hợp” [61] Ông đã chỉ ra cái tôi trong thơ Ý Nhi hết sức thầm lặng và đa diện phức hợp và gọi tên tâm trạng đặc thù của cái tôi Ý Nhi

là “nỗi niềm không xác thực, một phức hợp những sắc thái đối cực của một trạng thái nội tâm” [61] Theo Chu Văn Sơn, “cái phức hợp ta bắt gặp ở cái tôi Ý Nhi không phải là một cái gì ngẫu nhiên, tự phát mà nó là kết tinh của quá trình nhận thức về cuộc sống lẫn quan niệm nghệ thuật về con người” [61] Từ đó, ông chỉ ra một trong những thao tác nghệ thuật thành công trong thơ Ý Nhi là “phân tích nội tâm với mọi đối cực” [61] nghịch lý trong cuộc sống thể hiện trong thơ Chính vì lẽ đó “đọc thơ Ý Nhi, càng trở lại đây người đọc càng mừng vì thấy chị càng tự tin hơn trên con đường riêng của mình Bằng một nội tâm mạnh mẽ, chị đã đồng hóa được thế giới bên ngoài để làm thành một cái tôi dồi dào phong phú, một cái tôi lúc nào cũng xáo động như

“cây trước thềm xao xác giữa ngày yên” để làm một trữ lượng thi liệu sáng tác lâu dài của chị” [61] Trong bài viết của mình, Chu Văn Sơn còn chỉ ra một trong những yếu tố dẫn đến sự thành công trong thơ Ý Nhi đó là “tăng cường chất nghĩ” [60] cho thơ Đặc biệt “những tư tưởng, ngẫm nghĩ, suy tư

đã được tâm trạng hóa… để trở thành cái tôi, sống trong cái tôi Chất nghĩ trong thơ sống nhờ vào chất hữu cơ của tâm trạng” [61] Mặt khác, để thể hiện cái tôi hơn nữa, cảnh vật thường được “biểu tượng hóa để trở thành một biểu tượng nào đó của cảnh quan nội tâm nhà thơ” [61] Năm 1992, trong

bài Sự giải tỏa bằng thơ, Chu Văn Sơn đã cho rằng, tập thơ Ngày thường của

Ý Nhi thêm một lần làm sáng danh cho định nghĩa “Thơ trước hết đó là sự giải tỏa tâm trạng” [63] và “chất thơ của tâm trạng các cá nhân có lẻ là đối tượng chị đang hướng tới” hay nói theo Ý Nhi “chị đang gắng hình dung ra

Trang 8

khuôn mặt tinh thần” của các cá nhân trong cộng đồng chúng ta Và những chân dung trong tác phẩm mà nhà thơ hình dung ra đó tất cả đều là bức “tự họa” của cái tôi tác giả vẽ ra Nhà phê bình còn chỉ thao tác chủ công của

Ngày thường là “phân tích nội tâm với mọi đối cực, đối lập quyết liệt của nó

rồi trình bày chúng như những nghịch lý bằng những câu, chữ, ý, hình đã được tôi kỹ trong suy tư, đến nỗi chúng ta đanh chắc, rắn sắc như văn xuôi, như chính luận” [63] với “giọng triết luận tâm tình khá riết róng” [63] Nếu ở tập trước, Ý Nhi đã phổ tâm trạng của mình vào cảnh vật thì ở giờ đây với tập

Ngày thường, tác giả đã chọn một lối thơ khác là “phổ cái tôi của mình vào

nhân vật, ngay cả những nhân vật vốn có, những số phận xác định” [63] Và

“tạo hình không còn là nhiệm vụ của toàn bài Nhiệm vụ đó “khoán” cho ít câu, ít đoạn với kỹ thuật ký họa nhanh, gắng chớp lấy những khoảnh khắc xuất thần trong hình thể nhân vật” [63] Ý Nhi từng phổ tâm trạng của mình

vào cảnh vật thì ở giờ đây với tập Ngày thường, tác giả đã chọn một lối thơ

khác là “phổ cái tôi của mình vào nhân vật, ngay cả những nhân vật vốn có,

những số phận xác định Tiếp đó, trong bài Đến với từng bông tuyết được

đăng trên tạp chí Tác phẩm mới, Chu Văn Sơn nhận định trong các tập thơ

Mưa tuyết và Gương mặt, thơ Ý Nhi là hành trình đang tìm đến với “những

bông tuyết nhẹ nhàng, tinh trong, buốt giá” và đến với “sự trầm tĩnh, chất thơ của sự trầm tĩnh” và thấy “thoang thoáng một khí vị thiền" [62] Trong bài

viết Thơ Ý Nhi - lời nguyện cho nỗi yên hàn (năm 2005) Chu Văn Sơn đã thể

hiện những cảm nhận hết sức tinh tế và sâu sắc về thơ Ý Nhi cả về phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật Theo ông, sự dày vò đeo đẳng Ý Nhi suốt mấy chục năm qua trên mọi chặng đường thơ là một “nỗi khát yên bình”

Từ đó, ông cho rằng, “Cái Tôi Ý Nhi có một diện mạo riêng là kẻ khát Yên bình Sống, đối với cái tôi ấy là lên đường tìm kiếm sự yên bình” [64] Và

“Hành trình của Cái Tôi là gắng bỏ miền khắc nghiệt để đến với chốn yên bình” [64] Vì vậy, nhà thơ luôn “yêu những phút giây yên ắng, trong lành dị ứng với những ồn ào, giả trá Gắng chịu đựng và vượt qua những nắng nôi, bỏng sôi, giông gió để đến với những cảnh giới u tĩnh, thanh nhàn” [64] Theo

Trang 9

hướng cảm nhận đó, tác giả đã phát hiện thế giới trong thơ Ý Nhi phân ra thành hai cực rõ rệt “miền yên bình” và “miền khắc nghiệt” Nghiên cứu về hình thức nghệ thuật thơ Ý Nhi, Chu Văn Sơn thường chú ý đến giọng thơ, lời thơ và hình tượng thơ Thơ Ý Nhi “Từ bỏ sự giãi bày nặng chất duy cảm buổi đầu, chị bước nhanh tới những lời thơ tiết chế nặng chất suy tư Thế là, chất nhạc tràn ra khiến cho thơ muốn cất thành lời hát giờ đã dần dần chìm vào để

biến thành lời nguyện” [64] Chẳng hạn, trong tập thơ Nỗi nhớ con đường và

Đến với dòng sông tác giả cho rằng “dòng tâm tình nghiêng về cảm xúc trực

quan, giàu tính mô tả vốn là chủ lưu… cứ chuyển dần thành dòng tâm tư, mà trong đó lời phân tích của một lý tính sắc sảo cứ chiếm dần ưu thế” [64] và

đặc biệt, trong tập thơ Người đàn bà ngồi đan tác giả còn cho rằng “nét trực

quan cảm tính và lời phân tích lý tính đã đạt tới sự hài hòa” [64] Chính vì thế,

cả lời thơ, thế giới hình tượng trong tập thơ hòa điệu trong một “chất giọng đặc thù của Ý Nhi: điềm tĩnh mà chua xót… Nhẹ nhàng, tinh trong mà buốt giá…” [64] Ngoài ra, Chu Văn Sơn còn chỉ ra thao tác nghệ thuật chi phối thơ Ý Nhi đó là “tượng trưng hóa” để trở thành biểu tượng trong thơ Ý Nhi và chính “khuynh hướng tượng trưng đã khiến thơ chị có độ nén hơn, nhiều dư vang hơn” [64]

Khi thơ đào sâu đến tận cùng diện mạo của cái tôi, của cái riêng, cái cá nhân, bao giờ người ta cũng bắt gặp chủ đề tình yêu Tình yêu cũng là một

chủ đề quan trọng trong thơ Ý Nhi Nguyễn Thị Minh Thái trong bài Thơ tình

Thành phố Hồ Chí Minh, đã nhận định “Ý Nhi có một lối thơ tình kín đáo,

dịu dàng và đắm đuối như hoa quỳnh hiếm hoi, nở muộn, chỉ nở một lần, thơm một lần vào thời khắc ngắn ngủi vào giữa đêm” [71] Và khi nhận xét về nghệ thuật thơ Ý Nhi, tác giả nhận xét, “Nếu có một thi pháp trong thơ Ý Nhi

thì có thể gọi là gián cách” [71] Nhà thơ Hoàng Hưng trong bài viết Thơ Ý

Nhi cũng đồng quan điểm trên khi bàn về thi pháp thơ Ý Nhi Ông viết, “thơ

Ý Nhi là một trữ tình gián cách, những ký ức đã tinh lọc, không ít bài thơ của chị vững trãi trên một cấu tứ khúc chiết, để bật ra bất ngờ ở cuối kết một

chiêm nghiệm” [24] Trong bài viết Thơ tình của một đời người (năm 1999),

Trang 10

Thúy Nga đã phát hiện tình yêu và nỗi buồn trong tập thơ Vườn mang một

tình yêu của buổi xế chiều nhưng “tình yêu đó lại đậm đặc, đậm đặc hơn tình yêu của những ngày trẻ” [38] và “một nỗi buồn không gào thét, không đau đớn vật vả, không gọi tên được, cứ âm ỉ ở trong lòng, cứ trong ngần những giọt nước mắt lặng lẽ” và ngay khi nói về niềm vui, Ý Nhi cũng nói bằng những “lời buồn” Đối với chị, dường như không có niềm vui nào trọn vẹn, không có nỗi buồn nào trọn vẹn Niềm vui đến thì nỗi buồn đang chờ đợi Tập

thơ Vườn là một trong những tập thơ của Ý Nhi được các nhà nghiên cứu

quan tâm, bên cạnh bài viết của Thúy Nga còn có những bài viết của các tác giả khác như Lưu Khánh Thơ, Việt Hà, N.T.K.C,… tất cả đều đánh giá cao

tập thơ này Lưu Khánh Thơ trong bài viết Nỗi khắc khoải từ miền ký ức, đăng trên báo văn nghệ ngày 19/8/2000, tác giả cho rằng, “Vườn” bộc lộ

nhiều khoảnh khắc của tâm trạng – tâm trạng được dồn nén bởi suy tư và cảm xúc” [74] Và theo chị, thành công của thơ Ý Nhi là “gia tăng chất nghĩ cho thơ”, nhịp thơ chính là “nhịp điệu của tâm trạng” được biểu hiện qua thứ ngôn

ngữ “chắt lọc, giàu suy tưởng và hết sức kiệm lời” [74] Trong bài viết Vườn

của Ý Nhi – xúc cảm về cuộc sống và tình yêu”, Việt Hà cảm nhận biểu hiện

về tình yêu Vườn là sự “dịu dàng, đằm thắm và đầy nữ tính” [74] Đó không

phải là một thứ tình cảm “ngòn ngọt” hay nồng nàn của cảm xúc, mà là một tình yêu đằm thắm mang vẻ đẹp trí tuệ, cảm xúc vọng tới từ sâu thẳm của nội

tâm Hà Ánh Minh trong bài viết Mạch đập thơ Ý Nhi dòng ưu tư chảy xiết

(năm 2001) được đăng trên tạp chí Nha Trang (số 72 tháng 9), đã cho rằng,

“Thơ Ý Nhi có dung lượng lớn, là những nỗi niềm tâm sự, là tấm phiên bản trung thành của nhà thơ” và nó như “một dòng chảy nham thạch cuộc tròn đỏ dưới ánh nắng chiều Ý Nhi không những viết bằng ngôn ngữ của cảm xúc mà chủ yếu bắng ngôn ngữ của trí tuệ” sức bút có được là nhờ vào “sự suy cảm

nội tâm mạnh mẽ” [36] Năm 2002, trong bài viết Mạch thơ Ý Nhi: Lửa từ

trái tim trần run rẩy…, đăng trên báo Văn hóa (số 126/21 – 10), Hà Ánh

Minh lý giải sự thành công của thơ Ý Nhi là ở “lối tư duy khúc chiết, mạch lạc, biết mình nói gì và biết cách làm cho sự việc từ chỗ mơ hồ, rối rắm trên

Trang 11

nên giản dị, dễ hiểu” [37] Cũng trong năm 2002, Ngô Thị Kim Cúc với bài

viết Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rẩy của số phận, đăng trên báo Thanh Niên (23/2)

đã nhận xét, “Thơ chị rất ít chữ, càng ít những từ bóng bẩy, nhưng câu thơ như được nén lại” [6] và trong thơ chị “vừa nữ tính đồng thời lại có chất trí

tuệ” [6] Nguyễn Hoàng Sơn trong bài viết Ý Nhi qua tuyển tập (năm 2002),

đăng trên báo Tiền phong (28/7), đã nhận định, “Thơ chị rất ngắn gọn, không

vần, lập tứ rất vững” [59] Năm 2008, Vũ Nho trong bài viết Một nhà thơ cá

tính và bản lĩnh, đăng trên Tạp chí Tác phẩm mới, đã cho rằng, trong thơ Ý

Nhi các sắc thái tình cảm bao giờ cũng trong trạng thái mâu thuẩn và nó cùng

“đồng hiện trong khoảnh khắc tạo sự nhòe mờ của một nỗi lòng không xác thực” [53] Mâu thuẩn trong thơ cũng chính là những mâu thuẩn trong tâm trạng Ý Nhi Ông còn khẳng định, “Thơ tình của Ý Nhi đằm thắm một vẻ đẹp trí tuệ … Thơ Ý Nhi có xu hướng nghiêng về triết luận” [53] Cùng có cùng

cách nhìn ấy, Lê Hồ Quang trong bài viết Thơ Ý Nhi – Hành trình trong lặng

lẽ, đăng trên Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam (số 3 năm 2010), cũng đã

cho rằng, thơ Ý Nhi “như một hành trình truy vấn tinh thần mà trong đó, cái tôi nhà thơ, lặng lẽ nhưng quyết liệt và bền bỉ, không ngừng tự ý thức nhằm tìm kiếm cái “bản lai diện mục” của tâm hồn” [57] Và với ý thức cá nhân tỉnh táo của một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn Ý Nhi “đã tạo nên chất “duy lí” độc đáo của thơ Ý Nhi giữa một nền thơ Việt hiện đại vốn nặng chất “duy tình”, “duy cảm” [57] Chất triết lí ấy cũng đã tạo nên nét riêng cho thơ Ý Nhi “không lạm dụng các mĩ từ kêu vang, nó toát ra từ một cái nhìn nội tâm trầm tĩnh, sâu sắc nhưng đầy khắc khoải của một con người đang trên hành trình tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời” [57] Khi nói về tình yêu trong thơ Ý Nhi, tác giả nhận xét, “Tình yêu trong thơ Ý Nhi đầy những phức hợp cảm giác, vừa ngóng trong vừa khắc khoải, vừa lo âu vừa hân hoan, vừa sướng vui vừa ngậm ngùi, vừa hạnh phúc vừa buồn khổ… Ngay cả khi viết về

sự hòa hợp và gặp gỡ trong tình yêu, những cảm giác đầy mâu thuẩn ấy vẫn không rời bỏ chị” [57] Lý giải điều này, theo Lê Hồ Quang, “Với Ý Nhi, những cảm xúc nồng nhiệt dường như luôn đi cùng với ý thức tiết chế, ngọn

Trang 12

lửa đam mê luôn song hành cùng niềm kiêu hãnh, sự truy vấn tỉnh táo, rạch ròi được nhìn nhận trong sự thấu đáo và cận nhân tình” [57] Vì thế cho nên

“Hình tượng “cái tôi” trong thơ Ý Nhi vừa là phương tiện đồng thời cũng chính là nội dung giao tiếp với cuộc đời của nhà thơ, nó trở thành điểm nhấn hết sức nổi bật trong diện mạo nghệ thuật của tác giả” [57] Ngoài những bài viết trên đây, trên các báo, tạp chí còn có nhiều bài viết về thơ Ý Nhi của các tác giả như Mã Giang Lân, Huỳnh Như Phương, Khánh Phương, Nguyễn Bảo Chân, Nhật Chung,Thanh Thảo…

Trong những năm gần đây ở các trường Đại học thơ Ý Nhi đã được nhiều sinh viên chọn làm luận văn Thạc sĩ Năm 2008, Đỗ Thị Hoa trong luận

văn tốt nghiệp với đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Ý Nhi (Khoa Ngữ văn, Đại

học Sư phạm Hà Nội) đã có một cái nhìn bao quát về thơ Ý Nhi, “Thế giới hình tượng trong thơ chị đặc sắc và đa dạng Một trong những hình tượng nổi bật trong thơ Ý Nhi là hình tượng cái tôi Qua hình tượng này người đọc thấy nhà thơ luôn có những băn khoăn về những vấn đề đạo đức trong đời sống xã hội Đó những trăn trở về chính mình, về nhân cách của người nghệ sĩ, về cầu thủ bóng đá… Chuẩn mực đạo đức trong thơ Ý Nhi là sự chân thực, trong sáng… Đấy chính là những khát vọng nhân văn rất đẹp trong thơ Ý Nhi”

[21] Trong luận văn Đặc sắc nghệ thuật thơ Ý Nhi Nguyễn Thị Ánh Tuyết

(Khoa Ngữ văn, ĐH Vinh, 2008) Trong kết luận của mình, tác giả nhận xét,

“Cảm hứng chủ đạo trong thơ Ý Nhi là cảm hứng phân tích – triết lí – chiêm nghiệm Bằng trái tim nhân hậu nồng ấm, luôn khao khát thấu hiểu, Ý Nhi luôn cố gắng nhìn nhận và lí giải cuộc sống trong chiều sâu bản chất của nó Cảm hứng sáng tạo có tính phổ quát này chi phối trên nhiều phương diện nghệ thuật thơ Ý Nhi, tạo nên nét độc đáo không thể trộn lẫn trong thơ chị… Với một lối tư duy hiện đại, mới mẻ, từ quan niệm thẩm mĩ đến thực tế sáng tác, Ý Nhi đã góp phần làm phong phú thêm nên thơ ca Việt Nam hôm nay” [75]

Điểm lại lịch sử nghiên cứu thơ Ý Nhi nói chung, cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi nói riêng có thể thấy, nhìn chung các ý kiến đều khẳng định vị trí,

Trang 13

vai trò và những đóng góp lớn lao của thơ Ý Nhi trong thơ ca chống Mỹ nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung Trong đó, nhiều ý kiến đã trực tiếp, hoặc gián tiếp bàn về cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi Tuy nhiên, qua các bài nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng hầu như các nhà phê bình chỉ mới đánh giá, nghiên cứu về thơ Ý Nhi ở một số phương diện nhất định nào đó chứ chưa có cái nhìn tổng quát, toàn diện, hệ thống về thơ Ý Nhi, đặc biệt là cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi Kế thừa những ý kiến mang tính gợi mở của những người đi trước, chúng tôi đi vào nghiên cứu một cách sâu, rộng và bao

quát hơn về Cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi Từ đó, chỉ ra được những nét

riêng, độc đáo của Ý Nhi trong thơ Việt Nam hiện đại

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích đã xác định trên, luận văn có nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra cơ sở hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

Thứ hai, chỉ ra được những nội dung biểu hiện của cái tôi trữ tình trong

thơ Ý Nhi

Thứ ba, chỉ ra được nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi4.2 Về phạm vi khảo sát, chung tôi tập trung khảo sát các tập thơ sau đây:

- Nỗi nhớ con đường (1974)

- Đến với dòng sông (1978)

- Cây trong phố - chờ trăng (1981)

- Người đàn bà ngồi đan (1985)

- Ngày thường (1987)

- Mưa tuyết (1991)

Trang 14

- Gương mặt (1991)

- Vườn (1998)

- Thơ Ý Nhi (2000)

- Ý Nhi tuyển tập(2010)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu, như: khảo sát, thống kê, phân loại; phân tích, tổng hợp; so sánh, đối chiếu

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Cơ sở hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

Chương 2: Những biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

Chương 3: Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

Chương 1

CƠ SỞ CHO SỰ HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ Ý NHI

1.1 Giới thuyết khái niệm cái tôi trữ tình

Thơ trữ tình là sự bộc lộ trự tiếp thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ trước một hiện tượng đời sống Vì vậy, nó luôn mang lại quan niệm về một cá nhân con người cụ thể, sống động, một cái “tôi” có nỗi niềm riêng Nhà thơ thổi hồn cho những câu thơ qua “cái tôi”, tâm trạng của chủ thể bộc lộ trong hoàn cảnh cụ thể nào đó, toát lên nhân cách của chủ thể trữ tình, tạo ấn tượng sâu đậm

Trang 15

Cái tôi là đơn vị tồn tại của chủ quan, là hình thức tự ý thức chủ quan của con người Khi đi vào nghệ thuật, cái tôi được nâng cao hơn, được trình bày với những màu sắc phong phú hơn và nó mang tính đặc thù của thể loại trữ tình Chính vì vậy, cái tôi ngày càng được chú ý trong nhiểu lĩnh vực khoa học triết học, tâm lí học…, đặc biệt trong lĩnh vực văn học, cái tôi được coi là

“nguồn gốc của mọi hoạt động thơ ca, như lõi cốt của loại thể trữ tình” Cái tôi thể hiện cá tính, cá biệt làm nên nét độc đáo riêng biệt của các tác giả trữ tình Theo cách nói của Hêghen, thơ ca bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình Điều này cho thấy một nhu cầu tự thể hiện mình của tác giả trong sáng tác thơ ca Đó là nhu cầu thể hiện cái tôi Viên Mai trong

Tùy viên thi thoại đã đề cao vai trò của cái tôi trong thơ, coi sự thể hiện của cá

nhân là gốc của thơ trữ tình: “Gốc của thơ là chỗ miêu tả cảnh ngộ của tính tình và linh cảm cá nhân” Bởi thế, làm thơ không thể không có cái tôi (Tác thi bất khả dĩ vô ngã) Thơ trữ tình là thể loại mang tính chủ quan nhất trong các thể loại văn học, mà trong đó cái tôi trữ tình bao giờ cũng là yếu tố trung tâm, bởi nó như một nhân tố khởi sự và hoàn tất của sáng tạo trữ tình Cái tôi trữ tình là “yếu tố thứ nhất”, cấp cho thơ trữ tình một sự thống nhất về nội dung và nghệ thuật Vậy cái tôi trữ tình là gì?

Từ đầu những năm 30 của thế kỉ XX, cái tôi đã được Hoài Thanh trực

diện đề cập đến trong bài Một thời đại trong thi ca (Thi nhân Việt Nam) có ý

nghĩa tổng kết phong trào Thơ mới Theo Hoài Thanh, chữ “tôi” xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đã đem lại một quan niệm hoàn toàn mới về con người

cá nhân, “Ngày thứ nhất ai biết đích xác ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” [73, 54]

Và theo ông, cái tôi là linh hồn của Thơ Mới, “Thời đại Thơ mới là thời đại của chữ tôi” [73] Khái niệm cái tôi cũng được Hoài Thanh vận dụng uyển chuyển để nhận dạng phong cách, hồn thơ của mỗi nhà thơ Cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, vấn đề về cái tôi thật sự được đặt ra như một đối

tượng nghiên cứu ở một số chuyên khảo về thơ Trong công trình Thơ và mấy

Trang 16

vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Hà Minh Đức kế thừa tư tưởng của

Hêghen, Belinski, Tsecnưsepski, đã bàn sâu về cái tôi trữ tình Theo ông,

trong thơ, vấn đề chủ thể, cái tôi trữ tình trong thơ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Ông quan niệm cái tôi trữ tình như là nội dung, đối tượng chính của thơ ca, là khái niệm mang tính bản chất của trữ tình với các biểu hiện qua các nhận vật trữ tình cụ thể Đồng thời trong công trình nghiên cứu này, tác giả còn chỉ ra mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và bản thân nhà thơ là thống nhất nhưng không đồng nhất “cái tôi trữ tình chính là cái tôi tác giả được nghệ

thuật hóa, lí tưởng hóa, điển hình hóa” Trần Đình Sử trong công trình Thi

pháp thơ Tố Hữu, đã tiếp cận cái tôi trữ tình như một hình tượng nghệ thuật

Đó cũng là một hình thức trực diện bàn về cái tôi trữ tình trong thơ Theo Trần Nho Thìn, “cái tôi” là hình tượng tác giả trong tác phẩm, là sự giãi bày thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư thầm kín của tác giả Nhìn tư góc độ phản ánh luận, thì cái tôi là đối tượng phản ánh, suy ngẫm của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả Đi vào nghệ thuật, cái tôi được nâng cao hơn, được trình bày với những màu sắc phong phú Trong bài

viết Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995 (nhìn từ phương diện sự vận động

của cái tôi trữ tình), Vũ Tuấn Anh đưa ra quan niệm về cái tôi trữ tình “đó là

sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo, mang tính thẩm mỹ, nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến người đọc” [2, 32] Trong một cách nói ngắn gọn, khái quát, Lê Lưu Oanh trong bài viết

Cái tôi trữ tình trong thơ (qua một số hiện tượng thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990) đã cho rằng, theo nghĩa hẹp, cái tôi trữ tình là hình tượng cái tôi, cá

nhân – cụ thể, cái tôi – tác giả – tiểu sử với những nét rất riêng tư; là loại nhân

vật đặc biệt khi tác giả miêu tả, kể chuyện, biểu hiện về chính mình Theo nghĩa rộng, cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng, phẩm chất của trữ tình

Từ các ý kiến trên đây về cái tôi trữ tình, có thể thấy, các ý gần như thống nhất với nhau về cách hiểu, coi cái tôi trữ tình bao giờ cũng là yếu tố

Trang 17

trung tâm, cốt lõi của vận động thơ trữ tình, “đó chính là sự tự ý thức của cái tôi được biểu hiện trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan niệm về cái tôi được thể hiện thông qua phương tiện trữ tình” Đó là “cái tôi nhà thơ được nghệ thuật hóa” (Hà Minh Đức) Vì vậy, trong thơ, cái tôi trữ tình là yếu tố trung tâm, một trong những điểm nhìn có ý nghĩa quan trong để khám phá thế giới trữ tình trong thơ

1.2 Cơ sở cho sự hình thành cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi

1.2.1 Hoàn cảnh xã hội

Trong văn học, con người được nhận thức như là một chỉnh thể sinh động, toàn vẹn trong các quan hệ đời sống Do đó con người trở thành trung tâm của các quan hệ hiện thực được phản ánh trong văn học, chịu sự chi phối của mạnh mẽ của đời sống hiện thực Như Bác Hồ đã nói “thời đại nào văn nghệ ấy” Thời đại góp phần hình thành quan điểm sáng tác cũng như hình thành cái tôi trữ tình của mỗi nhà văn trong văn học Cái tôi trữ tình bao giờ cũng là sản phẩm của một thời đại Với tư cách là một hiện tượng nghệ thuật,

nó có sự hình thành, phát triển, kết thúc hoặc chuyển hóa sang một dạng khác,

… đều phải chịu sự chi phối của một thời đại nhất định

1.2.1.1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những trang hào hùng nhất trong lịch sử giữ nước của dân tộc, tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của xã hội, trong đó có văn học nghệ thuật Không khí thời đại mang đến cho thơ một âm hưởng, diện mạo riêng Thơ chống Mỹ là một chỉnh thể thống nhất của nền văn học chiến tranh cách mạng, một nền thơ tương ứng với cấu trúc tinh thần dân tộc ở một tọa độ xã hội – lịch sử đặc biệt, thời kỳ toàn dân vượt qua những gian khổ hy sinh khốc liệt nhất trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước Thơ ca tập trung thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của toàn dân tộc, khám phá sức mạnh của con người Việt Nam, nhận thức và

đề cao sứ mệnh lịch sử, tầm vóc và ý nghĩa nhân loại của cuộc kháng chiến chống Mỹ Đó là điểm xuất phát và ảnh hưởng to lớn đến đời thơ Ý Nhi

Trang 18

Ý Nhi thuộc thế hệ các nhà thơ sống và trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ Cuộc đời của Ý Nhi đã từng trải nghiệm và cọ xát qua hai cuộc chiến tranh, nhưng tuổi trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ của Ý Nhi gắn liền với thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Sự nghiệp sáng tác của chị trải dài qua hai giai đoạn trước và sau năm 1975 Đây là thời điểm xã hội

có nhiều biến cố tác động rất lớn đối mọi mặt của đời sống xã hội nói chung, với cuộc đời, đời thơ Ý Nhi nói riêng Mười năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1964 – 1975) là một quãng thời gian không dài trong cả thế kỉ XX đầy biến động của dân tộc cũng như tiến trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại nhưng có ý nghĩa đặc biệt Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến vô cùng khốc liệt Với lòng yêu nước và truyền thống đấu tranh anh dũng, bất khuất, nhân dân ta đã đảm nhận một sứ mệnh lịch sử hết sức vẻ vang Trong cuộc chiến đấu hào hùng để giành lại và bảo vệ chủ quyền, độc lập của dân tộc và

tự do cho nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống trên chiến trường và đã trở thành tấm gương tiêu biểu cho thế hệ con người Việt Nam mới, trung thành với lý tưởng và hiến dâng thân mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vĩ đại Tất cả đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà Nó chính là nhân tố khách quan tạo nên diện mạo mới với những đặc điểm và quy luật vận động riêng của một giai đoạn văn học, trong đó có thơ ca Luôn đồng hành và gắn bó với vận mệnh của dân tộc, đi qua những bước thăng trầm của lịch sử và thời đại, văn học thực sự đã tạo ra được những biến đổi sâu sắc, toàn diện và đã tạo cho mình một diện mạo mới

trong giai đoạn mới Cũng như mọi lĩnh vực hoạt động văn hóa tinh thần

khác, thơ kháng chiến chống Mỹ đã được huy động vào cuộc chiến đấu của dân tộc, trở thành vũ khí tinh thần có sức mạnh to lớn trong việc khơi dậy lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí chiến đấu, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của mỗi người cũng như toàn dân tộc Việt Nam Thơ chặng đường này thể hiện rất rõ khuynh hướng mở rộng và đào sâu vào chất hiện thực, đồng thời tăng cường sức khái quát, chất suy tưởng, chính luận Điều này được ghi nhận qua sự xuất hiện và những đóng góp của thế hệ các

Trang 19

nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ cứu nước Thơ của họ giàu những chi tiết chân thực của đời sống chiến trường, phản ánh được một phần cái ác liệt, những hi sinh, tổn thất trong chiến tranh, đặc biệt là dựng lên được bức chân dung tinh thần của cả thế hệ trẻ cầm súng Họ đem đến cho nền thơ Việt Nam hiện đại một tiếng thơ mới mẻ, trẻ trung, sôi nổi thấm đượm chất suy tư, triết luận Đó

là Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ,… Có thể nói, mặc dù phát triển trong hoàn cảnh đặc biệt hết sức khó khăn, nhưng chưa bao giờ thơ lại đạt được thành tựu rực rỡ như ở thời kỳ này Nó không chỉ mang ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại,

mà còn là một hiện tượng nghệ thuật lớn, đặc sắc trong tiến trình thơ hiện đại Việt Nam Hướng vào đời sống xã hội rộng lớn với nhiều biến cố, sự kiện trọng đại, thơ phản ánh được hiện thực của đất nước trong thời kì lịch sử đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng hết sức vẻ vang của dân tộc ta, thực sự là tấm gương phản chiếu những phương diện cơ bản nhất của tâm hồn dân tộc

Ý Nhi tốt nghiệp khoa ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm

1968 Thời ấy đang chiến tranh phá hoại ác liệt, đế quốc Mỹ leo thanh chiến tranh bằng không lực, ném bom ra miền Bắc Ý Nhi theo trường sơ tán lên Đại Từ - Thái Nguyên, lúc đó chị chỉ mới học hết học kỳ I, năm thứ nhất trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Chính trong những thời khắc vô cùng gian khổ nhưng cũng vô cùng sôi nổi và đẹp đẽ ấy, Ý Nhi đã viết những bài thơ đầu tiên của tuổi trưởng thành, trong đó có nhiều trang viết giàu cảm xúc khi tái hiện lại không khí những ngày người và thơ xung trận Những câu thơ làm sống dậy tình cảm mạnh mẽ của một thời Chị thấu cảm, đau đớn trước những tang thương, mất mát hi sinh của đồng bào, đồng chí qua cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng và thống nhất đất nước Năm 1974, Ý Nhi cho ra mắt

tập thơ Trái tim và nỗi nhớ (in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ) Đây là tập thơ

được viết trong chiến tranh, vì thế có nhiều bài thơ viết về cuộc sống, con người trong chiến đấu Có thể nói rằng, đây là tập thơ đã góp phần không nhỏ dựng lên gương mặt của một nhà thơ nữ trẻ trung trong giới văn nghệ sỹ thời chống Mỹ lúc bấy giờ

Trang 20

Mặc dù đến với thơ từ rất sớm và viết nhiều, nhưng đỉnh cao thơ Ý Nhi

là vào những năm 80 của thế kỷ XX Đây là thời điểm gắn liền với những bước ngoặt quan trọng của lịch sử nước nhà Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã hoàn toàn kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào thời kì Đổi mới, dưới sự tác động của những chính sách kinh tế – xã hội của Nhà nước, sự mở rộng các sinh hoạt dân chủ trong đời sống văn hóa tư tưởng cũng như sự chín muồi về tài năng và sự tự ý thức về phẩm chất một nhà thơ, thơ Ý Nhi đã có nhiều biến đổi mới về nội dung và phương thức biểu đạt gớp phần tạo nên diện mạo mới của nền văn học Việt Nam

1.2.1.2 Những năm tháng đổi mới sau chiến tranh

Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc toàn thắng, lịch sử dân tộc ta chuyển sang trang mới Từ sau năm 1975, đất nước

từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, cuộc sống dần dần trở lại với những quy luật bình thường Đất nước đứng trước những vận hội mới, hứa hẹn một tương lai tươi sáng, nhưng cũng đứng trước khó khăn, thử thách cam go của thời kỳ hậu chiến.Tình hình đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của văn học, làm thay đổi quan niệm nghệ thuật của các nhà văn Sáng tác của Ý Nhi giai đoạn này cũng không nằm ngoài qui luật chung đó

Trong khoảng mười năm đầu sau chiến tranh (1975 – 1986), đất nước gặp vô vàn thử thách, khó khăn, nhất là khó khăn về kinh tế, rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Niềm tin vào cuộc sống mới đã ít nhiều giảm thiểu trong đông đảo nhân dân, đặc biệt là những người trí thức, nghệ sĩ Nền văn học cũng chững lại và không ít người viết lâm vào tình trạng bối rối, hoang mang, dao động, thậm chí mất niềm tin Ý thức nghệ thuật của số đông người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp thời với thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc Đây là khoảng thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “khoảng chân không trong văn học” Nhưng cũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời sống văn học, với những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng

Trang 21

mà quyết liệt ở một số nhà văn mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống, có tâm huyết và ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Họ luôn có ý thức tìm tòi, thể nghiệm, tự đổi mới tư duy nghệ thuật của mình Những cây bút có những bứt phá, đổi mới trong thơ có thể kể tới: Ý Nhi, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Nguyễn Trọng Tạo, Lâm

Thị Mĩ Dạ,… Nếu văn học 1945 – 1975, ngòi bút của các nhà văn nghiêng về

phản ánh những sự kiện lịch sử trọng đại có tính chất toàn dân thì văn học sau

1975 nghiêng về phản ánh những khía cạnh đời tư, đời thường, khía cạnh đời sống cá nhân phức tạp Cái tôi trữ tình trong thơ đã có nhiều thay đổi Trăn trở, suy tư, nghi ngờ và đời hơn Thơ đã trở về với con người cá nhân, cô đơn

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã chỉ rõ đổi mới là “nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc Từ năm 1986, công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh như một luồng gió mới mở ra một thời kì mới, phát triển cho đất nước Đất nước từng bước thoát ra khỏi thời kì khủng hoảng bước vào vào đời sống mới, phát triển mạnh mẽ và ngày càng ổn định về mọi mặt Kinh tế bao cấp được bãi bỏ từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa vận động theo hướng dân chủ hóa Đất nước mở cửa, tiếp nhận giao lưu đa phương Nền dân chủ được mở rộng, đặc biệt văn hóa nước nhà có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với nhiều nước trên thế giới, nền văn học giai đoạn này cũng có sự đổi mới toàn diện Phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã tạo điều kiện cho sự chuyển hướng văn học Công cuộc đổi mới do Đảng đề xuất trở thành “cú hích” kích thích hoạt động sáng tác Với sự quan tâm, khuyến khích của Đảng, các văn nghệ sĩ đã vô cùng phấn khởi và tự tin hơn vào những điều mình đã suy nghĩ và mạnh dạn đổi mới tư duy về cách viết của mình Đây có thể được xem là giai đoạn chuyển mình của văn học, như Phong Lê đã nhận xét, “Văn học có dấu hiệu chuyển lên một đường ray mới, có lúc ngập ngùng rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ, dẫu thế nào mặc lòng nó không còn chấp nhận

sự bình ổn, bình yên kiểu cũ” Có thể nói, năm 1986 với sự nghiệp đổi mới

Trang 22

diễn ra ở mọi cấp độ đã làm thay đổi diện mạo đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm và tư duy sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ cũng như các nhà nghệ sĩ nói chung “Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục

vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động” (Văn kiện Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ VI – Đảng Cộng sản Việt Nam) là định hướng

quan trọng cho mọi suy nghĩ và hành động Mấy chục năm trước do hoàn chiến tranh, đất nước tạm thời bị chia cắt cùng với những nhận thức ấu trĩ, cực đoan một thời, con người cá nhân, giá trị cá nhân chưa được quan niệm đúng đắn Giờ đây, đời sống văn học nghệ thuật có nhiều chuyển biến, cái tôi nhà thơ được khẳng định, cá tính sáng tạo được tôn trọng, con người cá nhân được đặt lên ở vị trí ưu tiên Bên cạnh giọng điệu ngợi ca, thơ mở ra và chấp nhận nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái tâm lý: nỗi buồn, cô đơn, tâm trạng xao xuyến không yên,… của thời mở cửa, kinh tế thị trường phát triển

Tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị về văn học, nghệ thuật

và văn hóa, “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và nhân văn”, và với cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987, tất cả những điều đó tác động trực tiếp vào đời sống văn học nghệ thuật nước nhà, mở ra một thời kì đổi mới của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới tư duy, nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Đó là những động lực tinh thần cho văn học của thời kì đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn học,

nó vừa là kết quả vừa là động lực cho những tìm tòi đổi mới trong sáng tác, nhưng đồng thời cũng chịu sự tác động mạnh của độc giả mang lại Trong hoàn cảnh hòa bình, nhu cầu thẫm mĩ của người tiếp nhận văn học đã thay đổi, công chúng đòi hỏi mỗi nhà văn phải đáp ứng sự tìm hiểu hiện thực cuộc sống của đất nước một cách toàn diện chứ không phải một chiều, một mặt như văn học trước đây Chính vì điều đó đã đòi hỏi nhà văn buộc phải thay đổi cách viết nếu như không muốn bị bạn đọc lãng quên

Trang 23

Sau năm 1986, cuộc sống trở về với qui luật đời thường của nó, con người trở về với mọi mặt đời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một giai đoạn có nhiều biến động, đổi thay của xã hội Chính bối cảnh ấy đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến mỗi người và từng số phận Cũng chính vì vậy, văn học trong giai đoạn này có sự mở rộng phạm trù thẩm mĩ Cuộc sống mới với cơn gió cơ chế thị trường đã thổi vào văn học Nhiều tác phẩm bắt đầu hướng vào khai thác mảng đời thường “ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ…” (Nguyễn Khải) Văn học khơi sâu vào cuộc sống đa chiều, về những cái nhỏ nhặt đời thường, những chuyện về đời tư, chuyện tình yêu, tình dục, tâm tư, nguyện vọng của từng số phận con người,… các nhà văn đã mở rộng tối đa khả năng tiếp xúc của văn học đối với đời sống Đặc biệt, thơ trữ tình trong giai đoạn này là sự bừng tỉnh ý thức về cái tôi cá nhân, một cái tôi chiêm nghiệm luôn tự mình đối diện với chính mình Điều này có thể tìm thấy trong thơ Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tạ Hữu Yên, Đoàn Thị Lam Luyến, Đinh Thị Thu Vân,… một thế hệ nhà thơ sung sức, mạnh khỏe, khao khát sáng tạo Các nhà thơ này nhìn cuộc sống một cách tỉnh táo hơn, duy lí hơn Thơ trở thành một hình thức tự vấn, phản tỉnh, có tính chất tự bạch Từ hướng ngoại thơ chuyển sang hướng nội, mỗi nhà thơ đều muốn vẽ, tạc chân dung đích thực của mình, nhà thơ Hoàng

Phủ Ngọc Tường đã viết: “Vẽ tôi một nét môi cười/ Một dòng nước mắt, một

đời phù du” Có thể nói, sự khám phá và thể hiện con người cá nhân là một

hướng đi tích cực cả về mặt xã hội, thẩm mĩ và nhân văn

Đến những năm 90 cũng trên tinh thần dân chủ, tự do sáng tạo, một diện mạo mới của thơ xuất hiện Trong xu thế đi tới sự ổn định của xã hội, văn học giai đoạn này trở về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, đồng thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới hơn bao giờ hết về hình thức nghệ thuật, phương thức biểu hiện của nhà văn để phù hợp với nguyện vọng của người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của nền văn học Tuy nhiên văn

Trang 24

học về cơ bản cũng trở lại những quy luật mang tính bình thường, nhưng không xa rời định hướng đổi mới đã hình thành từ giữa những năm 80.

Với cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, văn học thể hiện được những hình tượng cao đẹp về đất nước, về nhân dân, về các tầng lớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống, vừa mang đậm những nét mới của thời đại Đặc biệt từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, đổi mới quan niệm về nhà văn, về văn học và quan niệm nghệ thuật về con người, phát huy cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn với những tìm tòi, thể nghiệm mới tạo nên sự đa dạng

về cá tính sáng tạo, sự đa giọng điệu, đa phong cách của văn học góp phần tạo nên diện mạo mới cho văn học Việt Nam sau năm 1975

1.2.2 Cuộc sống và phẩm chất cá nhân

1.2.2.1 Đời sống cá nhân

Nhà thơ Ý Nhi tên thật là Hoàng Thị Ý Nhi, sinh năm 1944 tại Thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam Chị xuất thân trong một gia đình hoạt động văn hóa, cha là nhà nghiên cứu tuồng nổi tiếng Hoàng Châu Ký Ông rất say mê hát bội và thích làm thơ, vì thế từ rất sớm ông đã có những vần thơ rất tinh tế Ông là một người nhân hậu nhưng rất sâu sắc và nghiêm cẩn trong nghiên cứu khoa học Ý Nhi thừa hưởng được ở người cha lối tư duy khúc chiết, mạch lạc, biết mình nói gì và biết cách làm cho sự việc từ chỗ mơ hồ, rối rắm trở nên giản dị, dễ hiểu Mẹ Ý Nhi là một phụ nữ nội trợ nhưng cũng rất yêu thơ,

bà thuộc nhiều thơ của Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh, Có thể nói gia đình

đã là môi trường đầu tiên nuôi dưỡng và làm nảy nở hồn thơ ở Ý Nhi sau này

Tuổi thơ, Ý Nhi chịu nhiều vất vả, hằng ngày phải bưng rổ bánh đi bán rao để giúp mẹ Ý Nhi thuộc lớp người được sinh ra từ sau Cách mạng, trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Ngày từ những ngày còn thơ dại đã biết đến cảnh tản cư, tiêu thổ kháng chiến, đã sống trong thiếu thốn,

đã nhìn thấy những cảnh khốc liệt do đế quốc Mỹ gây ra, tất cả gớp phần hình thành cảm hứng trong thơ chị sau này Năm 1964, giặc Mỹ ném bom đánh phá ác liệt ở miền Bắc, lúc bấy giờ cô sinh viên Ý Nhi theo trường Đại học

Trang 25

Tổng hợp dời lên Thái Nguyên sơ tán Trong hoàn cảnh đó Ý Nhi cũng như các sinh viên khác phải tự lo xây nhà cửa, thư viện, lớp học (bằng tre , nứa) và vẫn phải bảo đảm chương trình học Cho đến năm 1968, Ý Nhi tốt nghiệp Đại học, chị về làm việc tại Viện Văn học rồi Nhà xuất bản Văn nghệ Giải phóng Trong thời gian chị làm việc tại Nhà xuất bản Văn nghệ Giải Phóng – Nhà xuất bản chuyên in tác phẩm của các nhà văn đang chiến đấu ở chiến trường như Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Anh Xuân, Chim Trắng Với tính chất của công việc và trách nhiệm của người làm biên tập viên, chị đã nhiều lần đặt chân trên vùng đất lửa Quảng Bình, Nghệ An Đặc biệt, chị đi vào công tác ở miền Nam rất sớm (trước tháng 4 năm 1975) để tìm hiểu thực tế ở chiến trường và chuẩn bị làm sách cho miền Nam Mỗi lần đi thực tế ở chiến trường về thế nào chị cũng mang theo những bài thơ mới Hàng loạt bài thơ của chị ra đời ghi dấu lại những địa danh mà chị từng đi qua ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Hà Nội, Quảng Bình, Tuy Hòa, Phú Yên,… in rõ dấu ấn của tâm hồn chị trong những năm tháng gian khổ, hào hùng nhưng cũng hết sức lạc quan và hy vọng

Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng 1975, chị làm cuộc thiên

di theo cơ quan vào Sài Gòn Trong thời gian này chị vẫn làm việc tại chi nhánh miền Nam của Nhà xuất bản, chị chủ trương in lại các tập thơ của

phong trào Thơ mới (vốn đã vắng bóng từ lâu), hồi ký của Vũ Hoàng Chương,

Mưa nguồn của Bùi Giáng,… Là người làm thơ nhưng đồng thời cũng có cái

may mắn làm biên tập thơ rất nhiều năm,Ý Nhi có cơ may đọc được rất nhiều thơ của các nhà thơ Việt Nam đôi khi biên tập những tập thơ dịch ra từ các nhà thơ nước ngoài đã tạo điều kiện cho cho nhà thơ học hỏi và tự mình sáng tác Đây chính là những tiền đề cho đời thơ Ý Nhi

Hiện nay Ý Nhi đã nghĩ hưu không còn công tác ở Hội nhà văn và đang cùng chồng là giáo sư Nguyễn Lộc sống ở Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.2.2 Phẩm chất cá nhân

Trang 26

Ý Nhi là một người phụ nữ quyết liệt, thẳng thắn và rất nghiêm khắc với bản thân lẫn trong thơ ca Khi nhận xét về chị, tác giả Vũ Nho đã viết,

“Chị là nhà thơ nữ bền bỉ sáng tạo và có cá tính mạnh cả trong cuộc sống lẫn trong thơ” Con người Ý Nhi luôn khiến người khác quý mến Bao giờ chị cũng rất nghiêm cẩn trong nghiên cứu, chị không bao giờ chấp nhận sự dễ dãi

dù bất cứ lí do gì Chị đã từng viết: Tôi không ưa đồ trang sức/ Kể cả nhẫn,

vòng và các chức danh (Tiểu dẫn) Mặt khác, Ý Nhi còn là người cương trực,

trước cái chết của một nhà thơ không phải là bạn mình nhưng là người tốt, chị không dấu được sự xót xa, tiếc nuối; trước sự bất công với một nhà thơ trẻ đang viết những câu thơ đầy dự cảm, chị đã không giấu sự phẫn nộ trong lòng Ý Nhi luôn đấu tranh tìm lẽ công bằng, bảo vệ đến cùng những giá trị

mà mình tôn thờ, và luôn chịu trách nhiệm những gì mình lựa chọn Phải chăng do cầu toàn, do thẳng thắn và cương trực như vậy cho nên chị không có

nhiều bạn? Trong bài Tiểu dẫn, nhà thơ đã bộc bạch triết lí sống đó:

Tôi rất ít bạn đôi khi tôi mất họ vì một lẽ nào đó ngoài 30 tuổi tôi không tìm thêm bạn mới

và không thương giao du với các đồng nghiệp Trong các nhà thơ mà tôi biết

tôi yêu thơ Nguyễn Du và Nguyễn Gia Thiều Tôi ngại các tiệc vui

nhiều khi tôi khóc vì chính cái khiến người quanh tôi vui sướng

và lại muốn thét lên khi mọi người yên lặng

Có thể nói, lúc bấy giờ đối với những người làm thơ trẻ thì hai từ Ý Nhi

đủ để họ có thể tin tưởng vào sự công tâm của nhà thơ trong nghệ thuật Mặc

dù rất khe khắt với chính mình, trong công việc chị luôn đòi hỏi sự tự lực, kiên trì của bản thân, nhưng lại hết sức nhân hậu và bao dung đối với các cây bút trẻ mới xuất hiện, nhất là những người làm thơ, Ý Nhi luôn giúp đỡ họ hết mình, luôn lắng nghe và cho họ những ý kiến hữu ích Đặc biệt chị rất hay thương xót và tìm đến với những người bạn văn chương gặp cảnh trớ trêu hay

Trang 27

gặp khó khăn trong cuộc sống để sẻ chia, giúp đỡ Nhưng khi họ khá giả, đã trưởng thành thì chị lại lặng lẽ lùi xa Ý Nhi là vậy, chị lặng lẽ sống, lặng lẽ sáng tác Đây chính là những điều đáng quý ở chị và đã đi vào thơ chị nhu một lẽ tự nhiên

Ý Nhi là một người phụ nữ điềm tĩnh, lịch thiệp, hiền từ và giản dị Chị rất yêu thơ nhưng rất coi trọng đời sống gia đình Là nhà thơ nhưng chị rất đảm đang trong việc tề gia nội trợ Cho dù bận bịu công việc đến mấy vẫn quan tâm đến chuyện bếp núc và chị chưa bao giờ sao nhãng chuyện chăm sóc chồng con và những người thân Chị làm tròn phận sự của một người vợ, người mẹ Nuôi chồng ốm yếu Bày dạy con cái… Tính cách chị vẫn quán xuyến quả quyết như thuở ban đầu Tuổi trẻ, chị luôn luôn chủ động trong mọi tình huống Bây giờ đã luống tuổi, chị vẫn vậy Vẫn hết lòng với thơ và trọn lòng với gia đình Những năm gần đây, Ý Nhi còn tham gia những sinh hoạt đáng chú ý như Chủ nhiệm CLB thơ nữ của thành phố Hồ Chí Minh, ban giám khảo, ban thẩm định trong các cuộc thi thơ, giải thưởng thơ bình chọn các nhà thơ trẻ Ngoài ra bà còn thường giới thiệu thơ của các nhà thơ khác trên báo, bằng mối quan hệ quen biết của mình, bà đã đưa các nhà thơ nữ của thành phố đi đọc thơ ở hầu hết các tỉnh phía Nam,…

Có thể nói, Ý Nhi là một người phụ nữ có tâm hồn cao đẹp, chị mang tất cả những phẩm chất của một con người thời kỳ hiện đại: thẳng thắn, quyết liệt, giàu cá tính và cương trực, nhưng đồng thời lại có những phẩm chất từ ngàn xưa, riêng biệt của nữ tính: bao dung, nhân hậu, dịu dàng và thủy chung

Và tất cả những phẩm chất ấy đều được chuyển hóa vào thơ, khiến cho thơ Ý Nhi không những từng bước chinh phục độc giả mà nó sống mãi với thời gian

1.3 Quan điểm thơ

Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo phương thức “cá thể”, được diễn ra muôn màu muôn vẻ Mỗi người quan điểm riêng trong cách làm cũng như trong cách sáng tạo, không ai bắt chước

ai được Tùy theo sự tích lũy vốn sống của mình mà có sự nhìn nhận, đánh giá

Trang 28

các hiện tượng cuộc sống, đồng thời định hướng cho mình một quá trình sáng tạo nghệ thuật riêng Mặc dù không thuộc vào số người tiên phong, nhưng trong hàng những nữ thi sĩ tiêu biểu thời chống Mỹ, Ý Nhi đã bộc lộ quan điểm về thơ ca hết sức sâu sắc, phong phú và đa diện.

Có thể nói trong số những gương mặt thơ nữ nổi trội thời chống Mỹ cứu nước, ngay từ những sáng tác đầu tiên, Ý Nhi đã cho thấy một quan điểm sáng tạo riêng của mình trong lĩnh vực thơ ca Theo chị thơ trước hết phải trung thực với mình, với đời, dù phải nói ra những gì xót xa thì cũng cứ bạo dạn, thành thật biểu hiện Trong một bài phỏng vấn, Ý Nhi đã khẳng định tâm niệm sáng tác của mình “chỉ nên viết khi nào cảm thấy có nhu cầu từ nội tâm” chớ không phải vì một lí do nào khác Đây là một phẩm chất cao đẹp của người cầm bút, và Ý Nhi luôn giữ vững nguyên tắc ấy, thơ thật sự chỉ đến với chị khi có sự “phát khởi trong lòng”, nó là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt được phát ra từ một trái tim chân thành tha thiết, nói như nhà thơ Lâm Thị Mỹ

Dạ, “Thơ là con đường quay về với chính mình, tự thú với chính mình – hạnh

phúc cũng như đau khổ” và Ý Nhi cũng vậy, sự chân thành bao giờ cũng là gốc trong thơ chị:

Dù chỉ một lần bước trên cát nóng chỉ một lần hiểu thấu khúc ca kia suốt đời tôi chẳng thể bao giờ đặt bút viết những lời dối trá.

(Cát)

Thơ Ý Nhi là nỗi niềm tâm sự, là tấm phiên bản trung thành của con người nhà thơ Rất ít nhà thơ “dám” thẳng thắn khắc họa tính cách mình như nhà thơ Ý Nhi Tất cả những phức tạp của tâm trạng, những suy tư trăn trở về cuộc đời, về đạo đức, về lẽ sống, về con người,… đều được gửi gắm qua những trang thơ của mình Đối với chị, “Thơ gần như là phương cách duy nhất để trang trải nỗi xao xác, giải thoát nỗi bồn chồn Mỗi lần ướm bút gieo chữ xuống trang thơ là một lần gửi vào đó những nguyện ước, những mong cầu được yên hàn” [64] Qua thơ, chị mong tìm cho mình một sự thanh lọc,

Trang 29

tinh khiết của tâm hồn, vì thế, thơ Ý Nhi chính “lời nguyện cho nỗi yên hàn”,

nó “nằm sâu trong tâm thức đã thành kẻ kiến tạo toàn bộ cõi thơ Ý Nhi” [64] Thơ cũng chính là một “hành trình truy vấn tinh thần mà trong đó, cái tôi nhà thơ, lặng lẽ nhưng quyết liệt và bền bỉ, không ngừng tìm kiến cái “bản lai diện mục” của tâm hồn” [57] Chính vì thế, khi đọc thơ Ý Nhi ta sẽ cảm nhận được rất giàu cảm xúc và sức sống nội tâm mạnh mẽ Cảm xúc tràn trên những câu thơ, che lấp chi tiết của đời sống đang hữu hiện Chẳng hạn khi viết về những

ký ức lúc trở về thăm trường học cũ ở Thái Nguyên sau 20 năm trời xa cách, chị không hề miêu tả ngổn ngang kỷ niệm mà chỉ bộc lộ nội tâm của một người đàn bà từng trãi với thời gian:

Tôi xa cách nơi này hai mươi nam thiếu nữ đã là người đàn bà ở tuổi bốn mươi cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản…

(Kỷ niệm về những cô thanh niên xung phong)

Từ tâm niệm đó, sáng tác thơ đối với chị còn là để thỏa mãn tình cảm của riêng mình Cho nên đối với nhà thơ “thơ gần như là phương cách duy nhất để trang trải nỗi xao xác, giải thoát nỗi bồn chồn Mỗi lần ướm bút gieo chữ xuống trang thơ là một lần gửi vào đó những nguyện ước, những mong cầu được yên hàn” [64] Nhìn chung dù viết về bất cứ vấn đề gì, đề tài nào nữa của đời sống thì dường như, Ý Nhi vẫn đang viết về chính mình và khắc họa tư tưởng của chính mình trong mạch chảy ngầm dưới các tầng chữ luôn được đổi mới và không chịu cũ mòn

Trang 30

Với Ý Nhi, thơ phải là tinh chất gạn lọc "từ bùn bẩn, từ đau thương,

cùng quẫn", nó gắn liền với cuộc sống và nó nhằm phục vụ cho đời sống của

con người Trong một lần phát biểu suy nghĩ về nghề văn, chị cho rằng:

“không có thứ thơ tách biệt hoàn toàn đời sống Vấn đề đặt ra là: Cách liên hệ giữa thơ và đời sống Cái cách của mỗi nhà thơ phụ thuộc vào tài năng, và bản lĩnh thơ của họ Có cái chung của những nhà thơ cùng thời, cùng khuynh hướng, cùng trường phái Nhưng trong mỗi nhóm này, cái cách của mỗi nhà thơ để giải quyết mỗi liên hệ giữa họ và đời sống phải độc đáo, riêng biệt…” Sáng tác văn chương là để tìm hiểu cuộc sống, phải hướng vào đời sống hiện thực, khám phá hiện thực với vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của nó Bởi làm thơ, làm nghệ thuật cũng chính là hành động tìm kiếm và sáng tạo cái đẹp Nhưng cái đẹp mà Ý Nhi luôn khao khát hướng tới không phải chỉ là một vẻ đẹp giản đơn mà nó phải là một vẻ đẹp đích thực và mang chân giá trị của cuộc sống

Đó là một công việc hạnh phúc và nhọc nhằn, bởi sáng tạo cũng đồng nghĩa

với việc phải biết "tự lìa bỏ/ những giá trị đã một đời xây đắp", phải biết "tự

bước ra khỏi lối mòn”, nó đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn là "một lương tâm trong sạch", một bản lĩnh "mạnh mẽ" Do đó nghệ thuật đích thực bao giờ

cũng hội tụ trong đó một vẻ đẹp phi thường, cao khiết:

Rồi ngày kia, có một câu thơ lan tỏa như sóng

quẫy cựa như sóng trắng xóa

và xanh biếc

(Tặng một người làm thơ trẻ) Cho dù, trong cái nhìn “ngày thường”, hành động sáng tạo hình ảnh,

ngôn từ, thi tứ,…được ví như hình tượng người phụ nữ đi chợ, tính toán, bán mua, pha chế thực phẩm thành những món ăn, bao giờ cái đích chị hướng tới

cũng là “vẻ đẹp thực chất” của bữa ăn – thi ca ấy, đó là “niềm hạnh phúc tôi

có thể đem lại cho mọi người” Đó là những tâm niệm hết sức chân thành,

nghiêm trang, mang đậm dấu ấn lí tưởng của môt thế hệ nghệ sĩ luôn gắn bó

Trang 31

đời mình với sự nghiệp chung của dân tộc Đồng thời, nó cũng bộc lộ những nhận thức độc lập, mới mẻ của một nhà thơ luôn ý thức về nghệ thuật như một hành động cách tân, sáng tạo Với Ý Nhi, mỗi bài thơ là một bức tranh, một khám phá, một thức tỉnh riêng biệt Nghệ thuật bao giờ cũng đòi hỏi sự sáng tạo bởi sáng tạo là bản chất của nghệ thuật, nói như Biêlinxki “tính nghệ thuật là sự sáng tạo” Với tư cách là một nhà thơ, ngay từ những sáng tác đầu tiên, nhà thơ luôn ý thức rất cao về nghệ thuật như một hành động cách tân, sáng tạo Tất nhiên, đây cũng không chỉ là lựa chọn riêng của Ý Nhi Sau

1975, đặc biệt là sau cái mốc Đổi mới và mở cửa, những tìm tòi theo hướng

mở rộng nội dung cũng như khung hình thức thơ cũng là một hướng đi của nhiều tác giả Về hình thức thể hiện, Ý Nhi cũng có những quan niệm hết sức tích cực Trong một bài phỏng vấn Ý Nhi đã trực tiếp bày tỏ quan niệm của mình, “Một tác phẩm hay không phụ thuộc vào việc anh viết gì mà là viết như thế nào” Bởi theo chị “hình thức là sự hiện diện nghệ thuật của từng nghệ sĩ Không có cái hình thức đó thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật” [21] Nhưng

đồng thời chị cũng cho rằng: “Những câu thơ hay nhất của mình/ lại vô cùng

giản dị” Hành trình của nghệ thuật bao giờ cuối cùng cũng là hành trình tước

bỏ những vướng bận để đạt tới sự giản dị, đặc biệt đối với thơ sự giản dị và trong sáng bao giờ cũng những tinh túy làm nên những đặc sắc chính của nó Chị còn cho rằng, ngôn ngữ thơ phải là ngôn ngữ giản dị và phải chân thật, tự nhiên, nó mang hơi thở nồng nàn của đời sống chớ không cần khoa trương cầu kỳ, cũng không tỏ ra sướt mướt ủy mị Tuy nhiên, ở đây ta cần phải hiểu đúng quan điểm của nhà thơ, giản dị ở đây không phải là sự đơn giản hay là

dễ giãi, mà nó có nghĩa là “không màu mè gọt giũa, không giả dối, nhưng có khả năng diễn tả một cách chính xác và ngắn gọn nhất bản chất của đối tượng” [75] Đồng thời ngôn ngữ đó phải là thứ ngôn ngữ đã được gạn lọc là

thứ ngôn ngữ đã được “gạn lọc” qua sự nếm trải, chứng kiến từ những đau

khổ, những cay đắng, chông gai của cuộc đời trước khi đi vào thơ Đồng thời, hình ảnh trong thơ dù khá phong phú và đa dạng, nhưng cũng là những hình ảnh đời thường và lại rất quen thuộc như trong cuộc sống thường nhật của

Trang 32

mỗi chúng ta, đó là: cây, cỏ, cát, nắng, gió, mưa, biển, dòng sông, mảnh vườn, mùa thu,… Với việc lược bỏ dứt khoát những từ ngữ, hình ảnh màu mè không làm cho thơ chị đơn điệu mà ngược lại nó mang đến cho người đọc một sự tiếp nhận mới, một cảm nhận rất thật mang hơi thở của cuộc sống vào trong thơ và đó cũng là cái đích lớn mà mọi nghệ thuật chân chính hướng đến.

Truyền thống thơ nước ta nói chung mang tinh thần duy cảm Thơ trước hết là tác động đến trái tim người đọc Nhưng thơ cũng phải là một hoạt động nhận thức, nó không chỉ phản ánh hay biểu hiện đời sống, mà còn còn đi sâu vào bản chất đời sống để thấy được vô vàn các mối tương quan, các quá trình, các hướng vận động tạo ra sự đa nghĩa và đầy sức gợi cho thơ… Vì thế, theo Ý Nhi thơ ngoài cảm xúc ra thì nó đòi hỏi phải có “lý trí” và cái lý trí này bao giờ cũng phải được nhào nặn trong tình cảm, có như vậy mới không phải để thơ vào cõi siêu hình huyền bí Chính ý thức tỉnh táo trong nhận thức, đánh giá cuộc sống trong chiều sâu bản chất của nó đã tạo nên chất “triết lí” trong thơ Ý Nhi Cũng chính chất triết lí ấy đã tạo nên nét riêng của thơ chị, trong thơ chị “không lạm dụng các mĩ từ kêu vang, nó toát ra từ một cái nhìn nội tâm trầm tĩnh, sâu sắc nhưng đầy khắc khoải của một con người đang trên hành trình tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời mình” [57]

Với sự tự ý thức và trách nhiệm cao đối với ngòi bút của một người nghệ sĩ, chị sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, kể cả sự nghèo khổ, cực nhọc thậm chí cả sự đơn độc trên hành trình sáng tạo để đến với lí tưởng của mình Hơn thế là một người luôn có tâm huyết thiêng liêng với nghề nghiệp, chị luôn tìm tòi, sáng tạo nhằm tìm ra vẻ đẹp đích thực của thơ Đối với chị thơ không chỉ mang vẻ đẹp giản dị, trong sáng mà nó phải gắn liền với cuộc sống, khám phá “cái đẹp từ trong trong các diễn biến sôi động của cuộc sống” Ý Nhi là vậy, với những quan niệm sâu sắc và toàn diện về thơ, chị đã gớp phần tạo thêm vẻ phong phú, đa dạng cho nền thơ hiện đại Việt Nam

Ý Nhi đã cho xuất bản nhiều tập thơ đáng chú ý như: Trái tim - nỗi nhớ (thơ, in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ, 1974), Cây trong phố chờ trăng (thơ, in chung với Xuân Quỳnh, năm 1981) Những tác phẩm in riêng gồm có: Ðến

Trang 33

với dòng sông (thơ, 1978); Người đàn bà ngồi đan (thơ, 1985); Ngày thường

(thơ, 1987); Mưa tuyết (thơ, 1991); Gương mặt (thơ, 1991); Vườn (thơ, 1998),

Thơ Ý Nhi (thơ , 2000),… Ngoài sáng tác thơ Ý, Nhi còn viết tiểu luận, tác

phẩm mới nhất của chị là Những gương mặt những câu thơ (chân dung văn

học, 2008) và viết truyện ngắn Những tác phẩm của Ý Nhi đầy nữ tính lại có chất trí tuệ, mang nỗi khắc khoải khôn nguôi của chị trước những gì trông thấy và cảm nhận

Nhà thơ đã được nhận Giải khuyến khích cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ năm 1969 Cho đến năm 1985, với sự xuất hiện của tập thơ Người đàn

bà ngồi đan Ý Nhi được nhận giải A của Hội Nhà văn Việt Nam Đây là tập thơ được các nhà thơ, các nhà phê bình coi như một nét chấm phá của thơ hiện đại, đồng thời đã khẳng định phong cách thơ Ý Nhi – một giọng điệu thơ mới lạ tạo nên bởi một bút pháp thơ riêng Cũng chính từ đây tên tuổi chị bắt đầu được khẳng định và tỏa sáng trên thi đàn Việt Nam đương đại

Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH

TRONG THƠ Ý NHI

Trong tác phẩm trữ tình, cái tôi trữ tình được xem là yếu tố trung tâm Thông qua những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình, người đọc không chỉ bắt gặp những những tâm trạng, cảm xúc, cảm nhận của riêng nhà thơ thể hiện trước cuộc đời mà ta còn đọc được những suy nghĩ, thái độ, tư tưởng của nhà thơ trước cuộc đời với những “mảng sáng, tối, hạnh phúc và nỗi đau,

Trang 34

niềm tin và sự đỗ vỡ” được phản chiếu trong một chỉnh thể của một tác phẩm nghệ thuật thông qua tiếng nói của cái tôi trữ tình Như vậy cái tôi trữ tình như một nhân tố “khởi sự và hoàn tất của sáng tạo trữ tình” tư tưởng này được quán xuyến và khẳng định ở hầu hết các quan điểm lý luận, từ mỹ học cổ điển cho đến những quan điểm lý luận hiện đại về thơ trữ tình Vì thế trong tác phẩm trữ tình, cái tôi trữ tình tồn tại với nhiều cấp độ khác nhau, nó vừa là một cách nhìn và cảm nhận thế giới của chủ thể, lại vừa yếu tố đóng vai trò sáng tạo, tổ chức các phương tiện nghệ thuật (thể thơ, hình ảnh, biểu tượng, vần, nhịp, ngôn ngữ,…) để vật chất hóa thế giới tinh thần thành một hình thức văn bản trữ tình

Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu những dạng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Ý Nhi – một hiện tượng nghệ thuật độc đáo với những nét đặc thù góp phần tạo nên phong cách của nhà thơ Đó là sự kết hợp của cái tôi trữ tình công dân, cái tôi trữ tình đời tư thế sự – những đặc điểm làm nên sắc thái riêng của thơ Ý Nhi, thể hiện một quan niệm mới mẻ của tác giả trong sự lĩnh hội đời sống

2.1 Cái tôi trữ tình công dân

2.1.1 Những trăn trở suy tư gắn với vận mệnh nhân dân, đất nước

Với thế hệ các nhà thơ chống Mỹ cứu nước, trữ tình công dân là mạch nguồn quan trọng Trong sáng tác, các tác giả thể hiện một thái độ, một rung động chân thành trước thực tế đất nước đang phải đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt Tình cảm công dân, tinh thần yêu nước lại bùng lên một cách

tự nhiên ở mỗi con người Mặt khác, những giá trị tinh thần cộng đồng được tồn tại bền vững qua nhiều thời gian, trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, càng được khẳng định chói sáng, không dễ dàng nhanh chóng bị phai nhạt Hơn nữa, chính các nhà thơ đã từng nếm trải những gian lao thử thách, hy sinh và tự nguyện, tự giác hòa chung một giọng điệu, cất cao lời thơ ca ngợi đất nước do những yêu cầu tất yếu của lịch sử Vì vậy,

Trang 35

thời hậu chiến, hoàn cảnh còn những tương đồng, tâm trạng ấy vẫn chưa thôi xúc động về Tổ quốc, nhân dân

Là một người sinh ra và lớn lên khi đất nước đã và đang trải qua những cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, Ý Nhi đã góp tiếng nói riêng của mình vào tiếng nói chung của thế hệ phản ánh hiện thực đất nước trong và sau chiến tranh Đồng thời với một cái tôi công dân đầy trách nhiệm, Ý Nhi luôn hướng

về những tình cảm chung của cộng đồng, dù viết về đề tài gì, thơ chị cũng ánh lên niềm tin, niềm hy vọng vào cuộc đời, vào con người, vào sự nghiệp chiến đấu của dân tộc Vì thế chúng ta thường cảm nhận được âm hưởng sử thi ngay trong cả những qua những sáng tác của chị Dù viết tâm tình của riêng chị nhưng cảm xúc của riêng chị lại là cảm xúc của nhiều người trước sự kiện lớn của dân tộc Thời hậu chiến, cảm hứng ấy vẫn được tiếp tục và ngày càng được đào sâu thêm thể hiện sự gắn bó sâu sắc với bộ phận nhân dân trong chiến tranh, cho nên “trong thơ, Ý Nhi luôn có sự đối sánh giữa thực tại và quá khứ của đất nước để nhớ về những gì con người đã trải qua trong quá khứ

và để hiểu, để trân trọng những giá trị chúng ta có trong thực tại” [21]

Đọc thơ Ý Nhi, điều đầu tiên ta nhận thấy là chị có một vốn sống dồi dào với một trái tim nhạy cảm trước mọi vấn đề của thời cuộc Chị viết rất nhiều

về vẻ mặt của quê hương đất nước qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Mặc dù bước vào thời hậu chiến nhưng trong nhiều bài thơ của chị, cái tôi trữ tình vẫn luôn hiện rõ là một cái tôi nghệ sĩ đầy tinh thần trách nhiệm trước cuộc sống, một cái tôi luôn trăn trở và gắn bó sâu sắc với vận mệnh của đất nước Chiến tranh đã qua, cuộc sống đời bình đã thực sự trở lại, nhưng những hình ảnh Tổ quốc, quê hương, những người đồng chí và đặc biệt dư âm về cuộc chiến tranh ác liệt chống Mỹ vẫn là một ám ảnh trong nhiều bài thơ của chị:

Những người còn sống khi đặt chân lên cát tưởng như mình chạm tới thịt xương

cát ròng ròng tuôn chảy dưới lòng chân cát như máu hai mươi năm đã đổ.

Trang 36

Trên nẻo đường hiểm nghèo của cuộc chiến tranh phút ghê gớm đối mặt cùng cái chết

những tan vỡ không thể hàn gắn được những bến bờ xa ngái, những chờ mong ánh mắt nhìn như đóm lửa trong đêm lời trăn trối trên môi người đồng chí tiếng sóng vỗ ngoài khơi thầm thĩ ngọn dương nào cao vút giữa xa xanh những xóm làng vùi lấp dưới tro than những ý nghĩ không cùng về hạnh phúc

đó là lời của bài ca dịu dàng, quyết liệt như là màu cát trắng quê hương.”

(Cát)

Hình tượng nhân dân hiện lên trong thơ Ý Nhi hết sức cụ thể sinh động

và sâu sắc Phẩm chất của mỗi cá nhân thể hiện và thử thách ở nhiều môi

trường, trạng thái tình cảm, có khi đến khốc liệt trong bom đạn của kẻ thù (Kỷ

niệm về những cô thanh niên xung phong, Người lính, Tưởng nhớ, Cát, Thư mùa đông,…) Lòng biết ơn, sự gắn bó, niềm tin về Nhân dân, Tổ quốc đã trở

thành một tâm niệm thiêng liêng trong thơ chị, vì thế dù cuộc sống đã trở về với cuộc sống vốn có của nó nhưng cái tôi Ý Nhi không khỏi ngậm ngùi, nhắn nhủ:

Đến ngày chúng tôi lớn lên đất nước vẫn còn chia cắt

ơn mãi câu thơ người viết dạy tôi biết giận biết yêu biết nghe cồn cào tiếng gió miền trung quê mẹ tôi nghèo.

(Qua Tuy Hòa)

Nhân dân hiện lên trong tác phẩm của Ý Nhi qua hệ thống hình tượng những người người lính, chị du kích, về người mẹ hay những người chồng,

Trang 37

người cha,… đã hi sinh khi tham gia cuộc chiến tranh chống Mỹ Đặc biệt khi

ca ngợi vẻ đẹp của nhân dân, chị chú ý nhiều trước sự hy sinh của những người vô danh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, họ chỉ là những “hạt cát” bé nhỏ giữa cuộc đời nhưng trong trong thơ chị hiện lên một vẻ đẹp chói ngời bởi một sức mạnh vô kỳ vĩ:

Có thể rất nhiều người trong số họ không còn tuổi tên trên sử sách

có thể họ đã chết bình thường, không chiến công hiển hách

có thể mai sau người ta dần quên nhưng họ đã thành hạt cát dưới bàn chân

thành miền đất chói ngời bên biển sóng.”

(Cát)

Nhà thơ còn nhìn nhận sâu hơn, đúng hơn và nói lên cái hiện thực nghiệt ngã mà nhân dân gánh chịu sự ba mươi năm để có chiến thắng Để có được ngày chiến công cái giá phải trả thật vô cùng to lớn, nó được đánh đổi bằng những mất mát, những hy sinh vô cùng to lớn của những người: “mẹ cha” của bao nhiêu trẻ nhỏ, có “chồng con của bao người góa bụa” và “những bạn bè, đồng chí” Đồng thời bằng tấm lòng thành kính, nhà thơ không quên ngợi ca những phẩm chất cao đẹp, tinh thần tiên phong cao đẹp của những người lính, họ phải đối mặt với những khó khăn gian khổ nhất trong những tình huống khốc liệt nhất của chiến tranh:

Trong những lán che, trong những căn hầm anh qua tháng ngày của mình trong đạn lửa trong cơn sốt, trong cái đói giày vò, trong làn súng

kẻ thù đe dọa anh giữ nơi tay ngọn cờ xung trận

(Người lính)

Ngoài ra, cái tôi trữ tình của nhà thơ không khỏi đau đớn khi viết về những hy sinh thầm lặng của những người mẹ, người chị ở mọi miền đất nước trong chiến tranh:

Trang 38

Những người đàn bà gánh trên vai hàng chục cái tang những trẻ sơ sinh chỉ một mình sống sót

những người yêu cách xa biền biệt những cụ già trơ trọi chẳng cháu con

là người giữ bài ca qua suốt tháng năm qua tất cả mọi buồn vui, bão sóng.

(Cát – Bài ca)

Có thể nói, đó không chỉ là nỗi đau, niềm tự hào của riêng chị mà còn là nỗi đau, niềm tự hào của dân tộc về một thời quá khứ đầy đau thương và mất mát Mặc dù quá khứ đã lùi xa cuộc sống đã trở về với sự bình yên, nhưng những vết thương của chiến tranh quá lớn không thể nào xoa dịu, hàn gắn được qua năm tháng của thời gian Nó vẫn còn vang vọng mãi đến ngày sau

và bật lên thành ý chí, khát vọng, niềm tin của mỗi người trong thơ chị vào cuộc đấu tranh cho thống nhất đất nước Giờ đây đất nước đã qua rồi những năm tháng ngặt nghèo chiến tranh, bom đạn, nó khoác trên mình chiếc áo mới, cái tôi công dân trong thơ Ý Nhi không khỏi tự hào, hân hoan trước sự hồi sinh của đất nước và đồng thời cái tôi nhà thơ cũng bộc lộ thái độ vững tin vào sự đổi đời của thế hệ trẻ ngày mai sẽ có nhiều thay đổi trên bước đường xây dựng cuộc sống mới:

Các cháu sẽ lớn lên những mùa thu sau những tháng năm sau rộng dài đất nước tuổi trẻ của chúng rồi sẽ khác

những năm này tuổi trẻ chúng ta nhưng phải đâu chỉ những bài thơ nhưng phải đâu chỉ những lời ca còn nhắc lại cánh rừng và trận đánh.

(Thư cho em)

2.1.2 Hạnh phúc, hân hoan trước những niềm vui của đất nước

Trang 39

Bên cạnh nỗi đau dành cho những con người đã hy sinh thân mình vì sự nghiệp cứu nước, cái tôi trong thơ Ý Nhi cũng không sao kìm nén được niềm xúc động trước niềm vui của ngày toàn thắng rực rỡ mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã toàn thắng, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn được thống nhất, người dân được sống trong niềm vui hoà bình, dân chủ Tất cả niềm vui, niềm hân hoan ấy đã được kết lại và cất lên thành bài ca qua từng câu thơ giàu cảm xúc:

Rồi ngày mai kia các con chúng ta

sẽ không có trong cuộc đời nỗi đau chia cắt

áo con trắng trắng trong câu hát con hãy nhớ về hôm nay

để hiểu mẹ cha

để lòng yêu đất nước gian nan bao tháng ngày cho đồng viên thống nhất.

Rồi ngày mai ngày kia…

đêm nay bao nhiêu người đã thức giữa anh và em

giữa bạn bè giữa bao miền đất

là Sài Gòn cháy rực một mặt trời tháng tư.

(Mặt trời tháng tư)

Trong thơ nhà thơ nói rất nhiều về niềm tự hào và niềm vui chiến thắng, nhưng chị còn nói nhiều hơn về những gian lao, sự chịu đựng và hy sinh của nhân dân, của đồng đội để hôm nay dân tộc đến cái đích cuối cùng của một hành trình dài đặc Có thể nói với nhu cầu nhận thức cuộc sống trong sự đối sánh giữa hiện tại và quá khứ là một đặc điểm trong thơ Ý Nhi nói riêng và trong thơ những năm hậu chiến nói chung, tác giả Mã Giang Lân nhận xét,

Trang 40

“chị hiểu thực tế bằng hai lần cảm nhận: Hiện thực và quá khứ Có lúc chị xót

xa nhưng bao giờ cũng chân thành Nhờ sự chân thành ấy mà chị tạo được sự thông cảm và tin yêu ở người đọc” [21] Có thể nói, dù sống ở hiện tại nhưng quá khứ đã trở thành một bài ca không bao giờ quên trong chị, Ý Nhi không quên nhớ về quá khứ để thấm thía những đau khổ, hy sinh cực kỳ lớn của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở đường và để từ đó thấm thía ân tình cách mạng và nó trở thành động lực, sức mạnh không nguôi nhắc nhở chị trong cuộc sống hiện tại:

Áo chói chang, mặt sáng ngời hạnh phúc

cô gái đi qua tôi dưới bóng những bờ cây sao tôi chẳng thể nào quên được

câu thơ viết về người đã khuất Những năm tháng chiến tranh thử thách mỗi người

ta lọc lại cho ta những gì trong sạch nhất sao tôi chẳng thể nào quên được

người nghệ sĩ đã ngã xuống bên con rạch gần cửa sông ánh chớp mìn clâymo bàn tay chầm chậm buông rời tàu

dừa nước (Thư mùa đông)

Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đã được nhà thơ lý giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mỹ và hàm chứa mối quan hệ Đất Nước – Nhân Dân không thể tách rời

2.1.3 Tình cảm da diết với những miền đất đã đi qua

Bằng một trái tim lớn, đa cảm, nhiều yêu thương, cùng với nỗi nhớ Ý Nhi không chỉ tái hiện lại hình ảnh con người và đất nước qua chiến tranh cũng như trong cuộc sống mới, mà bên cạnh đó những hình ảnh về những vùng đất xa xôi khác của Tổ Quốc – nơi chị đã từng đi qua đã để lại dấu ấn sâu sắc cùng với những tình cảm chân thành của chị Đó là Tuy Hòa, Hải Phòng, Thái Nguyên, Đà Lạt,… Trong đó, vùng đất Hà Nội là nơi ghi lại

Ngày đăng: 16/09/2015, 19:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2008), Người chở đò thời đại – Chân dung văn nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ XX (*), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người chở đò thời đại – Chân dung văn nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ XX (*)
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2008
2. Vũ Tuấn Anh (1998), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975- 2000 (chuyên luận), Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thơ Việt Nam 1975- 2000 (chuyên luận
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
6. Ngô Thị Kim Cúc (2002), Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rẩy của số phận, đăng trên báo Thanh Niên (23/2), Bản do tác giả Ý Nhi cung cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rẩy của số phận
Tác giả: Ngô Thị Kim Cúc
Năm: 2002
7. Lê Thị Khánh Chi (2004), Vần và nhịp trong thơ Xuân Quỳnh, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần và nhịp trong thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Lê Thị Khánh Chi
Năm: 2004
8. Lâm Thị Mỹ Dạ - Ý Nhi (1984), Nỗi nhớ con đường, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nỗi nhớ con đường
Tác giả: Lâm Thị Mỹ Dạ - Ý Nhi
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1984
9. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình (nhìn từ góc độ loại hình)
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
11. Hoàng Đạt (2004), “Nhà thơ Ý Nhi và câu chuyện Nàng Bân Mùa Hạ”, An ninh thế giới, (39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Ý Nhi và câu chuyện Nàng Bân Mùa Hạ”, "An ninh thế giới
Tác giả: Hoàng Đạt
Năm: 2004
12. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
13. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2004
14. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
15. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
16. Hà Minh Đức (1997), Một thời đại trong thi ca, Nxb Văn học, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
17. Hà Minh Đức (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
18. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
19. Nguyễn Văn Hạnh (2006), Rabindranath Tagore với thời kỳ phục Hưng Ấn Độ, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rabindranath Tagore với thời kỳ phục Hưng Ấn Độ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
20. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp thơ hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w