1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hình tượng cái tôi trữ tình trong “ngư phong thi tập” của nguyễn quang bích

140 1,5K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 692,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Hình tượng cái tôi trữ tình trong Ngư phong thi tập của Nguyễn Quang Bích” chúng tôi muốn khám phá, tìm hiểu về con người của ông từ nhiều góc độ, đặt trong nhiều mối quan hệ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trần Nguyễn Thùy Dương

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH

CỦA NGUYỄN QUANG BÍCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trần Nguyễn Thùy Dương

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH

CỦA NGUYỄN QUANG BÍCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

- Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và nghiêm túc

Tác giả luận văn

Trần Nguyễn Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1- Lí do chọn đề tài 6

2- Lịch sử vấn đề 7

3- Phạm vi nghiên cứu 13

4- Phương pháp nghiên cứu 13

5- Đóng góp của luận văn 14

6- Cấu trúc luận văn: 14

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG BÍCH 16

1.1- Thời đại 16

1.1.1- Sự khủng hoảng suy vong của vương triều Nguyễn 16

1.1.2- Sự xâm lược của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân ta 20

1.2- Cuộc đời 24

1.3- Về khái niệm hình tượng cái tôi trữ tình 30

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG “NGƯ PHONG THI TẬP” CỦA NGUYỄN QUANG BÍCH 33

2.1- Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc: 34

2.1.1- Ý thức trách nhiệm cứu nước: 34

2.1.2- Lòng căm thù giặc và bè lũ tay sai bán nước: 45

2.2- Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với gia đình, đồng chí, người dân 50

2.2.1- Tình gia đình 50

2.2.2- Tình đồng chí 56

2.2.3- Tình quan dân 60

2.3- Cái tôi trữ tình tự đối thoại với chính mình 64

2.3.1 –Cái tôi lạc quan, tự hào về phẩm chất của mình 65

2.3.2- Cái tôi yếu mềm, buồn lo 71

2.4- Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với thiên nhiên 78

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG “NGƯ PHONG THI TẬP” 86

3.1- Thể thơ 86

3.2- Ngôn ngữ nghệ thuật 94

3.1.1- Từ ngữ 94

3.1.2- Câu 103

Trang 5

3.2- Giọng điệu nghệ thuật 121

3.2.1- Giọng ngợi ca 124

3.2.2- Giọng thương cảm, chua xót 130

KẾT LUẬN 136

TÀI LIỆU THAM KHẢO 138

Trang 6

MỞ ĐẦU 1- Lí do chọn đề tài

Văn học là nhân học, một khoa học về con người Bất cứ một nền văn học nào cũng lấy con người làm đối tượng chủ yếu Chính việc quan tâm và

lí giải những vấn đề có liên quan đến con người làm nên đặc trưng của văn học nghệ thuật trong mối quan hệ so sánh với các bộ môn khoa học kĩ thuật Tìm hiểu việc văn học lý giải các vấn đề thuộc con người tự nó trở thành một nhiệm vụ quan trọng của các nhà nghiên cứu văn học Vấn đề con người cá nhân trong văn học từ lâu đã là đối tượng khảo sát và ngày càng thu hút mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới Bởi lẽ con người là chủ thể sáng tạo, đồng thời cũng là đối tượng nhận thức, phản ánh của văn

chương Nhận thức về điều này, Trần Đình Sử khái quát : “Không thể lý giải

một hệ thống văn, thơ mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó… Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” Trong các vấn đề văn học cần được nghiên cứu của thời kỳ trung

đại, vấn đề con người trong văn học có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Hình tượng cái tôi trữ tình của tác giả là một trong những vấn đề cần được khám phá và chiếm lĩnh

Nguyễn Quang Bích là một trong những tác giả lớn của văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX Lịch sử đã ghi nhận những đóng góp của ông cho phong trào Cần Vương kháng Pháp, văn học cũng ghi nhận những cống hiến của ông cho nền văn học của nước nhà Bên cạnh tư cách là một lãnh tụ nghĩa quân lặn lội chống Pháp tại núi rừng Tây Bắc, Nguyễn Quang Bích còn là một nghệ sĩ ngày ngày cầm bút khắc họa khung cảnh nên thơ của

Trang 7

chính địa bàn mà mình đã trường kì kháng chiến với tinh thần quyết tử Vì lẽ

đó không thể bỏ qua Nguyễn Quang Bích như một đại biểu quan trọng, một tiếng nói riêng độc đáo Cái tôi trữ tình trong tác phẩm là tiếng nói thể hiện những tâm tư tình cảm, những rung động thẩm mỹ của nhà thơ Với đề tài

Hình tượng cái tôi trữ tình trong Ngư phong thi tập của Nguyễn Quang Bích” chúng tôi muốn khám phá, tìm hiểu về con người của ông từ nhiều góc

độ, đặt trong nhiều mối quan hệ khác nhau để đi đến một cái nhìn thống nhất

về một tác giả lớn của văn học yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX

2- Lịch sử vấn đề

Trong công trình của nhiều tác giả giới thiệu về “Thơ văn Nguyễn

Quang Bích” (NXB Văn học, Hà Nội, 1973) có phần giới thiệu thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Quang Bích Phần đầu trình bày về Nguyễn Quang Bích với công cuộc chống Pháp Phần sau giới thiệu chung về thơ văn của Ngư Phong Về nội dung, các tác giả chỉ ra rằng tư tưởng yêu nước là tư tưởng chủ

đạo của Ngư phong thi tập và chia thành 4 nội dung lớn : “Một ý thức cứu

nước mãnh liệt”, “Một tình yêu thiên nhiên đất nước thắm thiết”, “ Một tình thương yêu đồng chí nồng nàn và một lòng căm thù giặc sâu sắc”, “Một sự gắn bó chân thành với nhân dân lao động” Về nghệ thuật, các tác giả nhận

định Ngư Phong thi tập có sự kết hợp đẹp đẽ giữa hai yếu tố hiện thực và trữ

tình

Nguyễn Lộc trong bộ sách “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX”

(Tái bản có bổ sung và sửa chữa), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1976 có một chương viết về Nguyễn Quang Bích (Chương

VI – Nguyễn Quang Bích) Trong tập sách này, Nguyễn Lộc đã giới thiệu sơ

bộ về nhà thơ - nhà yêu nước Nguyễn Quang Bích Phần đầu người viết giới thiệu về cuộc đời Nguyễn Quang Bích và phần sau giới thiệu nội dung thơ

văn Tác giả đã khẳng định giá trị của tập thơ Ngư Phong thi tập và giới thiệu

Trang 8

những nội dung chính của tập thơ Theo tác giả, Ngư Phong thi tập trước hết

cho thấy “con người Nguyễn Quang Bích” – “một người đi nhiều và dường như cũng là một người thích nói nhiều về những nỗi buồn hơn là niềm vui, trong một trạng thái cô đơn.” “Nhìn chung thơ Nguyễn Quang Bích thường nói nhiều đến tâm sự riêng của ông, thường than thở, giãi bày Nhà thơ than thở về nỗi bất lực của mình và giãi bày tấm lòng lúc nào cũng ưu ái đối với non sông đất nước.” Nguyễn Lộc còn chỉ ra một giá trị nữa cũng đặc biệt

đáng chú ý trong Ngư Phong thi tập là những bài thơ Nguyễn Quang Bích

viết về thiên nhiên và đời sống của nhân dân miền Tây Bắc Nguyễn Lộc cho rằng “Có lẽ Nguyễn Quang Bích là người đầu tiên đem đến cho văn học vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc (…) Nguyễn Quang Bích nói nhiều đến thiên nhiên mà không ai có cảm giác ông là nhà thơ sơn thủy, bởi vì thiên nhiên trong thơ ông thấm đượm một cái nhìn rất giàu chất thơ, rất giàu tình người.”

Như vậy qua công trình nghiên cứu của mình, Nguyễn Lộc đã đưa ra

được những nhận định khái quát về Ngư Phong thi tập của Nguyễn Quang

Bích, bước đầu khẳng định giá trị của tập thơ

Trong quyển “Lịch sử Văn học Việt Nam” (Văn học viết tập 4A, thời

kỳ II, giai đoạn I: 1858 – đầu thế kỷ XX) (In lần thứ 4 có sửa chữa), (NXB Giáo dục, 1976), ở Chương IV, Lê Trí Viễn đã trình bày ba luận điểm lớn khi

giới thiệu Ngư Phong thi tập Đó là : “Một cuốn nhật ký kháng chiến – một

tâm hồn lành mạnh nhưng không tránh khỏi bi quan”, “Vùng núi Tây Bắc trong thơ văn Nguyễn Quang Bích”, và “Nguyễn Quang Bích có tâm hồn một nhà thơ”

Có thể nói, trong công trình nghiên cứu này, Lê Trí Viễn đã có những

đánh giá rất xác đáng: “Đọc Ngư Phong thi tập người ta như thấy hiện lên

hình ảnh cuộc chống Pháp ở núi rừng Tây Bắc hồi thế kỷ trước Hình ảnh

Trang 9

chưa thật trọn vẹn, chi tiết chưa được phong phú, tác giả thiên về tâm tư riêng biệt của mình nhiều hơn là biểu hiện cuộc chiến đấu, đó là những hạn chế của

Ngư Phong thi tập Nhưng hơn trăm bài thơ trong đó cũng gợi lên được một

số nét tiêu biểu Người đọc Ngư Phong thi tập sẽ theo tác giả mà sống lại

những ngày kháng chiến ở Tây Bắc muôn thuở ấy (…) Từ những trang nhật

ký ấy nổi bật lên tính chất gian khổ của cuộc kháng chiến và mối tình của người kháng chiến với núi rừng và nhân dân Tây Bắc”

Lê Trí Viễn cũng có sự gặp gỡ với Nguyễn Lộc khi chú ý đến mảng đề

tài Tây Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích:“Trái với thành kiến hàng nghìn

năm phong kiến, Tây Bắc không phải là cảnh ma thiêng nước độc, mà là cảnh đẹp, cảnh hiền lành, thái bình (…) Tây Bắc còn xinh đẹp với núi sông hùng vĩ.” Còn về những người dân vùng Tây Bắc, tác giả cho rằng Nguyễn Quang Bích “mới nói đến cảnh làm ăn thái bình, sung túc, chứ chưa nói đến cái gian khổ, đói nghèo, lạc hậu của họ” Từ đó tác giả đi đến kết luận khái quát:

“Rừng núi Tây Bắc tuy chưa phải cùng người “đánh giặc” như rừng núi Việt Bắc trong thơ ca kháng chiến của ta gần đây, nhưng cũng đã đi vào văn thơ với những màu sắc quê hương, những mùi vị của đất nước tươi mát và đậm

đà, dưới ngòi bút của một nhà thơ thiết tha yêu nước.”

Công trình “Nguyễn Quang Bích nhà yêu nước nhà thơ” (NXB Khoa

học xã hội, Hà Nội, 1994) là kết quả tổng hợp của các lần kỷ niệm, khảo sát, điều tra và Hội thảo khoa học từ năm 1988 đến 1991 Cuốn sách chia làm ba phần lớn: Phần một – Tiến trình kỷ niệm Nguyễn Quang Bích; Phần hai – Chuyên khảo gồm ba chương (Chương mở đầu, Chương I : Gia đình, dòng

họ, quê hương và sự hình thành cốt cách Nguyễn Quang Bích, Chương II: Từ ông quan Tuần phủ Hưng Hóa đến một lãnh tụ Cần Vương, Chương III: Vị trí

của Ngư Phong thi văn tập); Phần ba – Thư mục, niên biểu và tư liệu Ở phần

hai có một chương quan trọng nghiên cứu thơ văn của Nguyễn Quang Bích

Trang 10

Trong đó có bảy tham luận khoa học của các tác giả nghiên cứu về thơ văn Nguyễn Quang Bích

Lại Văn Hùng có bài viết “Dáng vẻ tân kỳ trong thủ pháp tập cổ” Tác

giả đánh giá khá cao Nguyễn Quang Bích trên cái nền chung của thơ chữ Hán: “Nếu nhìn nhận trên ba bình diện : thể loại, ngôn ngữ và đề tài thì thơ Nguyễn Quang Bích cũng nằm trong dòng phát triển chung của thơ chữ Hán cuối thế kỷ XIX Điều ông khác với các tác giả khác chủ yếu nằm ở nội dung của sự phản ánh (…) Cũng là “tập cổ” nhưng thơ Nguyễn Quang Bích giàu chất hiện thực.” Cuối cùng tác giả đánh giá : “Vượt lên được quy phạm, thơ Nguyễn Quang Bích hướng cổ, tập cổ mà vẫn thoát ra được để bày tỏ cá nhân mình, thời đại mình.”

Cũng được tập hợp trong công trình trên, tham luận của Nguyễn Huệ Chi “Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Quang Bích” đã tinh tếchỉ

ra biểu hiện của cái cũ và mới trong tập thơ của Ngư Phong “Câu thơ của Ngư Phong vẫn nhẹ nhàng, trầm mặc, như âm vận muôn thuở của hình thức thơ luật cổ điển, có nơi còn phảng phất phong vị thơ Đường, nhưng thực ra đã chứa đựng một lượng thông báo mới so với thơ ca cổ truyền của thế kỷ XIX.”

Nguyễn Hữu Sơn cũng góp một bài nghiên cứu “Nhận diện con người

cá nhân trong Ngư Phong thi tập” Qua sự khảo sát tập thơ Ngư Phong thi tập của Nguyễn Quang Bích, tác giả đi đến các kết luận về đặc điểm sự xuất

hiện con người cá nhân : “Có một bộ phận thơ triết lý, đề vịnh, khẩu khí không xuất hiện trực diện con người cá nhân tác giả”; “Có một bộ phận thơ ca mang tính tự thuật, hành trạng cuộc đời và cho thấy phần nào hình ảnh con người cá nhân”; “Có một bộ phận thơ ca tự bộc lộ tâm trạng, cảnh ngộ riêng

tư và thể hiện khá rõ nét đời sống nội tâm tác giả.”

Bên cạnh đó còn có tham luận của Trần Đình Sử : “Cái buồn trong thơ

Nguyễn Quang Bích” Tác giả cho rằng cái buồn trong thơ Nguyễn Quang

Trang 11

Bích có những nét riêng cần được chú ý “Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích không phải do thoái chí, chán nản, bạc nhược mà do tình thế bi kịch khách quan tạo nên, vì thế không nên gọi là tiêu cực.” Tác giả cũng truy tìm nguồn gốc cái buồn: “Ý niệm số mệnh là nguồn gốc sâu xa nhất của tính bi kịch, của cái buồn”; “Ý niệm thời gian đời người ngắn ngủi, mau qua là một cội nguồn khác của cái buồn”; “Ý niệm về thực trạng xơ xác, tiêu điều, đói kém là cơ sở hiện thực của cái buồn”; “Ý niệm về sự bất lực, lão lai tài tận là

cơ sở chủ quan của cái buồn” Trần Đình Sử tỏ ra là người tri âm với Nguyễn Quang Bích khi cho rằng: “Hiểu cái buồn của Ngư Phong là hiểu cái chí chưa thành nhưng không bao giờ chết của thơ ông, cũng là hiểu cái hữu hạn của con người trong lịch sử.”

Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh với tham luận “Ngư Phong thi

tập - Những vần thơ “tâm ngữ tâm”” đi vào khía cạnh – tính chất độc thoại

của Ngư Phong thi tập Theo tác giả : “Nguyễn Quang Bích không viết những

lời kêu gọi, đả kích hay đối thoại với kẻ thù hoặc người không cùng chí hướng mà thơ ông chủ yếu là để mình tự nói với mình và ngoài ra, có chăng

cũng là để gửi gắm đôi chút nỗi niềm với hậu thế” “Ngư Phong thi tập là

“những vần thơ yên ngựa”, là một tác phẩm trong dòng văn thơ yêu nước nửa cuối thế kỷ XIX Thế nhưng Nguyễn Quang Bích đã đóng góp một phong cách riêng cho dòng văn học này và một điểm quan trọng làm nên phong cách riêng đó là tính chất “tâm ngữ tâm” của tập thơ.” Đó là khẳng định của tác giả khi đánh giá về vai trò, đóng góp của Nguyễn Quang Bích trong dòng văn chương yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX

“Núi rừng Tây Bắc trong thơ Nguyễn Quang Bích” là bài viết của Trần

Lê Văn trong công trình “Nguyễn Quang Bích nhà yêu nước, nhà thơ” Tác giả khẳng định : “Trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước, không

có nhà thơ nào sánh được với Nguyễn Quang Bích về khối lượng và chất

Trang 12

lượng thơ viết về núi rừng Tây Bắc Lịch sử đã tạo cho ông một hoàn cảnh đặc biệt là lấy vùng hiểm địa mà sơn kỳ thủy tú ấy làm đất dụng võ, cũng là đất dụng văn.” Người viết đã phân tích một số bài thơ của Nguyễn Quang Bích có hình ảnh núi rừng Tây Bắc Từ đó cho rằng thơ kỷ sự của Nguyễn Quang Bích “là những bức tranh phác họa vùng đất Tây Bắc ở những góc độ khác nhau: phong tục kinh tế, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần,…”

Cuối cùng là bài nghiên cứu “Chủ thể và khách thể - một phương pháp

tư duy truyền thống” của Trần Nho Thìn Trong bài viết này, Trần Nho Thìn

trình bày một số suy nghĩ về mối quan hệ chủ thể - khách thể trong thơ ông nhằm góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh của lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX: Tại sao các văn thân Cần Vương biết rằng cuộc chiến đấu không cân sức chống lại giặc Pháp xâm lăng khó có thể kết thúc thắng lợi

mà vẫn kiên quyết chiến đấu? Qua sự khảo sát sơ bộ thơ Nguyễn Quang Bích với hai nhóm “tức sự” và “ngôn hoài”, tác giả bài viết cho rằng mối quan hệ chủ thể - khách thể trong thơ Nguyễn Quang Bích mang đặc trưng của phương pháp tư duy truyền thống “Khách thể không phải là đối tượng cảm nhận, suy ngẫm, phát hiện và hiểu biết và có quan hệ biện chứng với chủ thể,

có thể tác động làm thay đổi chủ thể Trái lại chủ thể chỉ cần đến khách thể

như một chất xúc tác để bộc lộ bản chất của mình.”

Như vậy, qua việc khảo sát lịch sử vấn đề ở trên, có thể thấy thơ văn Nguyễn Quang Bích đã ít nhiều được các nhà nghiên cứu chú ý nhưng khảo sát toàn bộ tập thơ một cách hệ thống để thấy được cái tôi trữ tình của nhà thơ vẫn là một công việc còn bỏ ngỏ

Trang 13

3- Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là toàn bộ tập thơ “Ngư Phong thi

tập” – gồm 97 bài thơ Văn bản mà chúng tôi lựa chọn là: Thơ văn Nguyễn Quang Bích, Nxb Văn học, Hà Nội, 1973 (In lần thứ hai, có sửa chữa)

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là khảo sát hình tượng cái tôi trữ tình trong Ngư phong thi tập của Nguyễn Quang Bích

4- Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống để nghiên cứu toàn bộ tác phẩm thơ Nguyễn Quang Bích, nhằm đem đến một cái nhìn toàn diện, khái quát về nội dung tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của ông Mặt khác, chúng tôi cũng đặt thơ Nguyễn Quang Bích trong hệ thống thơ ca trung đại Việt Nam nói chung và thơ ca Việt Nam cuối thế kỉ XIX nói riêng để tìm

ra những nét tương đồng và dị biệt Đối với từng tác phẩm chúng tôi cũng xem xét nó như một chỉnh thể nghệ thuật với sự thống nhất giữa các yếu tố nội tại

Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội cũng hết sức cần thiết cho chúng tôi khi nghiên cứu thơ Nguyễn Quang Bích Không ai có thể phủ nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa văn học với điều kiện lịch sử, xã hội sản sinh ra nó

Hơn nữa, thời đại mà ông sống là một thời đại đầy bão táp và tập thơ Ngư

Phong thi tập như lời của chính ông thực sự là một tập nhật kí bằng thơ về

cuộc đời ông cũng như về một giai đoạn bi tráng của lịch sử dân tộc Vận dụng phương pháp lịch sử xã hội không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tác phẩm mà qua đó còn thấy được những đóng góp của nhà thơ trong việc ghi lại hiện thực xã hội đương đời

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để đi

vào phân tích những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong việc biểu hiện

hình tượng cái tôi trữ tình ở các bài thơ trong “Ngư Phong thi tập” của

Trang 14

Nguyễn Quang Bích, từ đó thấy được cá tính sáng tạo, đóng góp của thơ ông đối với văn học trung đại Việt Nam

Các phương pháp trên được sử dụng một cách linh hoạt, kết hợp với các thao tác: thống kê và so sánh, đối chiếu

5- Đóng góp của luận văn

Luận văn khảo sát về hình tượng cái tôi trữ tình trong toàn bộ tập thơ

“ Ngư Phong thi tập” nhằm giới thiệu chân dung một nhà thơ, một con người

hiện thân của tinh thần chống Pháp của quần chúng và sĩ phu Bắc Bộ trong bối cảnh cuộc kháng chiến đặc biệt gay go, gian khổ của núi rừng Tây Bắc vào giai đoạn “khổ nhục nhưng vĩ đại của dân tộc” ở nửa cuối thế kỷ XIX Từ

đó, xác định vị trí thơ văn Nguyễn Quang Bích trong kho tàng văn học Việt Nam thời trung đại

6- Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương chính Chương 1- Giới thiệu chung về nhà thơ Nguyễn Quang Bích

Trong chương này, chúng tôi giới thiệu khái quát về thời đại, những biến cố lịch sử ở cuối thế kỷ XIX Bên cạnh đó là trình bày những nét chính

về cuộc đời, sự nghiệp văn học của Nguyễn Quang Bích Một phần không thể thiếu trong chương một là khái niệm về hình tượng cái tôi trữ tình – một tiền

đề lí luận để người viết tìm hiểu về cái tôi trữ tình trong “Ngư Phong thi tập”

của Nguyễn Quang Bích

Chương 2- Nội dung cái tôi trữ tình trong “Ngư Phong thi tập” của Nguyễn Quang Bích

Ở chương hai, chúng tôi khảo sát nội dung cái tôi trữ tình trong “Ngư Phong thi tập” , đặt cái tôi trữ tình trong các mối quan hệ khác nhau : Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc; Cái tôi trữ tình trong mối

Trang 15

quan hệ với gia đình, đồng chí, người dân; Cái tôi trữ tình tự đối thoại với chính mình; Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với thiên nhiên

Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong “Ngư Phong thi tập”

Đến chương ba, chúng tôi khảo sát về nghệ thuật biểu hiện cái tôi trữ tình trong “Ngư Phong thi tập” ở ba phương diện chính : thể thơ, ngôn ngữ nghệ thuật, và giọng điệu nghệ thuật

Trang 16

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ THƠ NGUYỄN QUANG BÍCH

1.1- Thời đại

Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng từ cuối thế kỷ XVIII Những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã xuất hiện ngày càng mâu thuẫn đối kháng với quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ, lạc hậu bao đời thống trị xã hội Việt Nam Nền kinh tế tiểu nông đang cần được phát triển nhưng bị chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiêm trọng Đây cũng là thời kỳ bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân trên một quy mô rộng lớn trên phạm vi cả nước Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi đã

mở ra nhiều triển vọng cho sự phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng tư bản chủ nghĩa Nhưng dựa vào thế lực tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đã đánh

thắng Tây Sơn

Ngay sau khi lên ngôi (1802), Nguyễn Ánh lấy niên hiệu là Gia Long

và các vua tiếp theo (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) vừa ra sức phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển từ thế kỷ XVIII Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn

Bộ máy chính trị triều Nguyễn ngay từ đầu đã mang nặng tính chất quan liêu, độc đoán Từ vua đến quan đều rất tự cao tự đại với mớ học thuyết Khổng Mạnh lỗi thời, xem trật tự phong kiến là bất di bất dịch, mãi đến lúc súng giặc nổ ầm bên tai mới bàng hoàng tỉnh giấc Trong hoàn cảnh đó, đời sống của người nông dân trong các thôn xã vô cùng cơ cực Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng Ruộng đất phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ Nông dân không có ruộng cày, đời sống vô

Trang 17

cùng cực khổ Hiện tượng nông dân không có ruộng đất cày cấy phải bỏ làng

đi tha phương cầu thực là nét phổ biến dưới triều Nguyễn Cộng thêm vào đó

là tô thuế rất nặng nề Đó là chưa kể tới tình trạng vỡ đê, lụt lội, mất mùa đói kém thường xảy ra, hầu như không năm nào không có Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ súng vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn nhân dân các tỉnh Trung Bắc Kì bị chết Đồng thời, cũng

do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị lúc bấy giờ, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người

Trong khi nông nghiệp lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy thì công nghiệp trong tay bọn phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế tắc Phong kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền; các xưởng nhỏ chuyên chế tạo

đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc; các công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do bộ Công của triều đình quản lý Chế

độ làm việc trong các công xưởng này là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất cưỡng bức lao động Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt về đây được biên chế thành đội ngũ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai thác mỏ Lối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch đã làm năng suất trong các công trường mỏ thường rất thấp Nhiều phép tắc vô lý làm hạn chế sự phát triển của ngành khai thác mỏ như quy định những khu vực cấm khai thác mỏ, giữ độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định

Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển Các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau với rất nhiều luật lệ cấm đoán của triều đình đã làm

Trang 18

cho sáng kiến, tài năng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn còn bị đình đốn vì nông dân đói khổ, li tán Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt

Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sút kém một cách rõ rệt Chính sách

“trọng nông ức thương” của triều đình đã kìm hãm thương nghiệp Về nội thương, một mặt chúng nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp vì

sợ nhân dân chế vũ khí chống lại Mặt khác, chúng đặt ra nhiều luật lệ chặt chẽ để hạn chế việc chuyên chở trao đổi giữa các vùng trong nước, cấm nhân dân họp chợ Việc giao lưu giữa các địa phương vì vậy gặp rất nhiều trở ngại, thị trường trong nước không tập trung và thống nhất Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền Chính sách bế quan tỏa cảng đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt

Nói tóm lại, nền kinh tế tài chính của nước ta trong nửa đầu thế kỷ XIX

đã suy đốn trầm trọng về mọi mặt nông, công thương nghiệp Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế, đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội lúc bấy giờ đều bị bóp nghẹt Nền kinh tế hàng hóa vì vậy đã bị co hẹp lại Trên cơ sở đó, nền tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ Đời sống nhân dân ngày càng cực khổ Mâu thuẫn giữa bọn phong kiến thống trị với nhân dân mà chủ yếu là nông dân đã trở nên vô cùng gay gắt và đã bộc lộ ra ngoài một cách sâu sắc với hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân suốt cả mấy đời vua triều Nguyễn

Để duy trì chế độ xã hội thối nát nhằm bảo vệ đặc quyền đặc lợi, phong kiến nhà Nguyễn đã ra sức củng cố trật tự bằng mọi cách

Về đối nội, triều Nguyễn ra sức đàn áp khủng bố các phong trào của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân trong biển máu Các cuộc hành quân liên miên một

Trang 19

mặt đã làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình suy yếu dần, mặt khác cũng làm hủy hoại khả năng kháng chiến lớn lao của dân tộc, càng tạo thêm điều kiện thuận lợi cho tư bản Pháp thôn tính nước ta

Về đối ngoại, triều đình đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia

và tài lực nhân dân bị khánh kiệt Còn đối với các nước tư bản phương Tây thì triều Nguyễn ban hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan tỏa cảng

và cấm đạo, giết đạo Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài – nhất là tư bản Pháp- phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh được nạn lớn Triều đình nhà Nguyễn không thấy được muốn bảo

vệ độc lập dân tộc, muốn giữ gìn đất nước trong điều kiện quốc gia và quốc tế bấy giờ, biện pháp thích hợp nhất là mở rộng cửa biển giao thương để duy tân

xứ sở, đẩy mạnh phát triển nông công thương trong nước, trên cơ sở đó nhanh chóng bồi dưỡng sức dân, sức nước để có thể đối phó kịp thời và hiệu quả với những âm mưu xâm lược ngày càng được đẩy mạnh của tư bản nước ngoài Trái lại càng đóng chặt cửa và càng cấm đạo, giết đạo lại càng tạo thêm lý do cho chúng nổ súng xâm lược sớm hơn

Rõ ràng là với những chính sách nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu

về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây Đặc biệt đối với tư bản Pháp từ lâu đã có cơ sở bên trong nước ta nhờ sự hoạt động ngấm ngầm và liên tục của bọn gián điệp đội lốt con buôn và giáo

sĩ Lịch sử lúc này đã đi tới một bước ngoặt Một là triều Nguyễn bị đánh đổ

và thay thế vào đó là một triều đại khác tiến theo hướng mới của tư bản chủ nghĩa có khả năng duy tân đất nước và bảo vệ nền độc lập dân tộc Hai là nước Việt Nam bị mất vào tay tư bản Pháp để trở thành một xứ thuộc địa Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng khi tiếng súng xâm lược của tư bản Pháp bùng nổ, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phân hóa ra hai phái chủ chiến và

Trang 20

chủ hòa, phái chủ hòa gồm phần đông bọn đại phong kiến và quan lại lớn với

Tự Đức đứng đầu sẽ nhanh chóng câu kết với bọn cướp nước để làm tay sai cho chúng đàn áp và bóc lột nhân dân cả nước

dân ta

Tiếng súng bắn vào cửa biển Đà Nẵng ngày 31 tháng 8 năm 1858 mở màn cho cuộc xâm lược của thực dân Pháp đồng thời báo hiệu một sự chuyển biến lớn lao trong lịch sử dân tộc ta Từ đó đến cuối thế kỷ, theo quan điểm của bọn thực dân là thời kỳ “chinh phục và bình định” Đứng về phía ta mà nói thì đó là thời kỳ nhân dân ta đứng lên với tư cách người dân một nước độc lập, đương diện đấu tranh gìn giữ Tổ quốc chống bọn xâm lược nhưng rồi thất bại

Trong việc chinh phục nước ta, đế quốc Pháp theo chiến lược tằm ăn lá dâu, đánh chiếm dần từng mảnh: Nam kỳ, Bắc kỳ rồi toàn quốc Trước sức tấn công ồ ạt của Pháp, ngay từ đầu, giai cấp phong kiến cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ độc lập dân tộc đã tỏ ra hèn nhát và bất lực, trong nội bộ đã sớm

có sự phân hóa thành hai phái chủ chiến và chủ hòa Tiếng súng xâm lược của giặc đã nổ ầm ầm bên tai mà triều đình còn bận bàn cãi, nghị luận lung tung,

kẻ hòa, người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hòa không ngã ngũ Nhưng tựu trung, ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hòa Điều đó khẳng định một thực tế là ngay từ đầu, đại bộ phận hàng ngũ phong kiến cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại và có tư tưởng sợ giặc Trong thời kỳ đầu, vì quyền lợi giai cấp bị trực tiếp đụng chạm nên họ có phản ứng lại Nhưng vì bất đắc dĩ phải chống cự lại quân thù nên sức chống cự rất hạn chế, để rồi đầu hàng từng bước trước kẻ thù, cuối cùng dâng toàn vẹn lãnh thổ cho chúng Trong lúc đó, nhân dân ta với truyền thống bất khuất của dân tộc, cương

Trang 21

quyết chống lại sự đầu hàng phản bội của triều đình, đứng dậy kháng chiến anh dũng và bền bỉ

Sau 5 tháng tấn công ở bán đảo Sơn Trà, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào phía Nam nơi mà theo tính toán của họ, do xa xôi cách trở với triều đình, lại ở chỗ đất rộng người thưa, có thể dễ dàng chiếm giữ Những toan tính xảo quyệt của giặc Pháp xem ra không phải không có cơ sở Khác với tình hình chiến sự tại mặt trận miền Trung, ở Nam Kì, quân Pháp không quá khó khăn trong việc phá vỡ thế trận phòng thủ của triều đình Tuy nhiên,

có một điều chúng không thể ngờ tới là sự phản kháng mãnh liệt của người dân địa phương Trong khi các đồn lũy triều đình nhanh chóng bị tan vỡ trước sức tấn công của đội quân xâm lược thì nhân dân lục tỉnh, dưới sự chỉ huy của những thủ lĩnh danh tiếng như Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Thành

Ý, Phan Trung, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Trung Trực, Đốc binh Kiều vẫn kiên cường tiếp tục cuộc kháng chiến Cuộc chiến tranh du kích do những người dân Nam kì tiến hành liên tục trong một thời gian dài đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho đội quân viễn chinh Quân Pháp lâm vào tình trạng khốn đốn bởi một mặt, cục diện chiến trường diễn biến theo hướng bất lợi, không thể thực hiện được ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh; mặt khác, tại châu Âu, cuộc chiến tranh Pháp - Ý chống lại Áo bùng nổ (4-1859) khiến cho lực lượng quân sự Pháp bị phân tán Viễn cảnh về một thế trận sa lầy đã hiện rõ trước mắt người Pháp; chủ trương ngừng giao tranh để bước vào thương thuyết được đặt ra

Trong bối cảnh này, nhà cầm quyền Việt Nam đã đưa ra những quyết sách rất lạ lùng Thay vì củng cố lực lượng, tổ chức dân binh thừa cơ giặc lúng túng mà dấn tới thì vua tôi lại chủ trương hòa nghị với giặc Đây là lúc triều Nguyễn bộc lộ sự yếu kém toàn diện của mình trong quản lý và điều hành đất nước, trong những quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh

Trang 22

quốc gia Những kinh nghiệm triều chính cổ truyền đã không còn giúp ích gì cho vua tôi lúc này Họ cũng không còn đủ tỉnh táo để nắm bắt tình hình, không còn chút niềm tin nào vào khả năng của chính mình Trước những ý kiến trái ngược nhau của quần thần, một ông vua vốn thông minh, nhạy cảm như Tự Đức cũng trở nên rối trí Triều đình đã không nhận thấy cái hào khí dân tộc vốn tiềm tàng qua nghìn đời nay vẫn đang trào dâng mãnh liệt trong mỗi con người Việt Nam Vua tôi chỉ còn biết thủ hòa và trông chờ sự cứu giúp từ bên ngoài; cụ thể là mượn uy vũ của thiên triều Mãn Thanh để chống lại "rợ Tây" Điều trớ trêu là ở chỗ nhà Mãn Thanh - nơi trông cậy cuối cùng của Tự Đức - cũng chỉ là một miếng mồi đang bị phương Tây xâu xé Trong cơn tuyệt vọng vì không còn chỗ trông cậy từ bên ngoài, triều đình quay ra thỏa hiệp với giặc Các hiệp ước và hàng ước (vào các năm 1862, 1864, 1867) liên tiếp được kí kết để thừa nhận quyền cai trị của Pháp tại Nam kì

Năm 1873, khi đã chiếm cứ được các vùng đất phương Nam, Pháp bắt đầu đánh rộng ra miền Bắc Phong trào kháng Pháp của văn thân, quân nghĩa

xứ Đàng Ngoài nổ ra rộng khắp Lại một lần nữa, cuộc kháng chiến chống giặc của nhân dân bị triều đình Huế cản trở Trong khi quân Pháp lao đao vì tổn thất, chính quyền Pari chủ trương rút lực lượng đồn trú, trao trả cho đối phương những vùng đất tạm chiếm vì không thể nào chịu nổi những thiệt hại

ở chiến trường mới này thì triều đình Huế lại cũng ra lệnh triệt binh, buộc các lực lượng chống Pháp ở đây phải giải tán

Trên thực tế, trước sức ép và uy lực của kẻ thù, triều đình nhà Nguyễn

đã phân rã và tê liệt từ rất sớm Với thái độ lúng túng và thiếu quyết đoán, thậm chí là nhu nhược của người cầm đầu, bộ máy chính quyền đã hoàn toàn

bị rối lọan Trước diễn tiến mau lẹ và phức tạp của thế cuộc, các phe phái với những luận thuyết và kế sách khác nhau xuất hiện ngày càng nhiều: có xu hướng ôn hòa, bất bạo động; có xu hướng quyết liệt, khẳng khái; có cả xu

Trang 23

hướng thân Pháp, đầu hàng Các phe nhóm ra mặt bài xích, chống đối nhau ngày càng gay gắt, không thể dung hòa được nữa Trong bối cảnh đó, những

nỗ lực tuyệt vọng của phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu nhằm

giành lại ưu thế tại kinh đô đã không thu được kết quả; cuộc phản công lớn với mục đích đánh úp lực lượng Pháp bất thành Mượn cớ này, quân Pháp quyết định chấm dứt tình thế giằng co bằng những trận đánh dồn dập vào kinh thành Huế Không thể cầm cự lâu hơn, vua Hàm Nghi buộc phải rời bỏ kinh thành, phát hịch Cần vương (1885), lấy núi rừng Hà Tĩnh làm căn cứ địa kháng chiến Phong trào Cần vương do các sĩ phu nhiệt huyết nhóm lên ở Trung kì đã làm sôi động không khí đấu tranh trong mấy năm trời Cho đến

1888, khi vua Hàm Nghi bị bắt, sau đó bị đày biệt xứ, các chính quyền thân Pháp (Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại) liên tục được dựng lên thì chút hào khí Cần Vương cuối cùng cũng tắt hẳn Thế cuộc càng lúc càng trở nên ảm đạm, thê lương Đây đáng được coi là thời khắc bi tráng nhất của lịch sử dân tộc

Có thể nói rằng lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX là lịch sử của phong trào đấu tranh chống xâm lược, vì độc lập dân tộc - một cuộc kháng chiến lâu dài và khốc liệt Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình vận động cũng như đặc điểm, tính chất của văn học nước nhà Văn học giai đọan này phát triển trong sự gắn bó chặt chẽ với các diễn biến của lịch sử, chịu sự chi phối sâu sắc của đời sống chính trị xã hội Đây là lúc mà tính thời sự, thế

sự trong văn học trở thành một đặc điểm vượt trội Nó được thể hiện ở nhiều khía cạnh: những nội dung chủ yếu trong tác phẩm; mục tiêu, đối tượng hướng tới của văn học; vị thế của văn học trong sinh họat cộng đồng Đời sống văn học giai đọan này trở nên sôi động khác thường; những biến đổi sâu sắc diễn ra theo nhịp điệu ngày càng nhanh Vấn đề nóng bỏng nhất, cấp bách nhất lúc này của cả dân tộc chính là "việc nước", là sự tồn vong của giang sơn

Trang 24

xã tắc Đây vốn là chuyện quốc gia đại sự, chuyện của triều đình nhưng vào thời điểm này, nó lại nhanh chóng trở thành vấn đề chủ yếu, thường trực của văn học Dấu ấn thời cuộc đã in đậm vào văn chương, chi phối sâu sắc đến đặc điểm, tính chất của văn chương Nó được biểu lộ qua những dự cảm, những thấp thỏm âu lo sự thế, nỗi day dứt về vận nước của các nhà nho tâm huyết, những chuyện gay cấn, gai góc nơi chính trường; xung đột xung quanh chuyện chiến hay hòa, duy tân hay thủ cựu Đây là chuyện của đời sống thực

tế mà cũng là chuyện văn chương, chuyện của văn nhân nho sĩ Và cũng thật

tự nhiên, quá trình vận động đã tạo ra những xu hướng, những dòng mạch văn chương rất khác nhau Lịch sử văn học giai đọan cuối thế kỷ XIX diễn ra hết sức sinh động, đa dạng, phong phú

1.2- Cuộc đời

Nguyễn Quang Bích (1832-1889) tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh ngày 8 tháng 4 năm 1832 ở làng Trình Phố, huyện Trực Định, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định ( nay thuộc tỉnh Thái Bình ) Thuở nhỏ rất chăm học nhưng đỗ muộn Năm 26 tuổi (1858) ông mới đỗ tú tài Năm 1861 ông đỗ cử nhân và được bổ làm Giáo thụ phủ Trường Khánh ( Ninh Bình ) Được hơn một năm, cụ thân sinh mất, ông xin cáo quan về nhà cư tang mở trường dạy học Về quê, tận mắt chứng kiến cảnh nhân dân địa phương thường bị nạn ngập lụt, đời sống rất khó khăn, ông đi xem xét địa thế rồi đứng ra quyên tiền mua của làng Vũ Lăng bên cạnh hơn mười mẫu ruộng đắp bờ dẫn nước, giải quyết nạn úng thủy trong vùng

Năm Kỷ Tỵ đời Tự Đức thứ 22 (1869), nhân có ân khoa, ông thi đỗ Đình nguyên Hoàng giáp tiến sĩ, lúc đó ông 37 tuổi Vinh quy xong, ông được

bổ làm Tri phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Sau đó ông lần lượt giữ các chức Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc tử giám tại kinh đô Huế, Án sát Bình Định…Trong thời gian làm Tế tửu, mùa xuân năm Ất Hợi (1875), ông được

Trang 25

vua giao cho việc duyệt pho sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Hai năm sau, khi triều đình mở doanh điền ở Hưng Hóa, Tự Đức lại cử ông làm chánh sứ sơn phòng, rồi năm sau (1876) ông kiêm luôn chức tuần phủ Hưng Hóa Ông làm quan thanh liêm và có lòng thương dân, được nhân dân xưng tụng là “Phật sống” Đó là lòng ái mộ chân thành của nhân dân đối với một người suốt đời chăm lo đến đời sống của quần chúng Cuộc đời làm quan trong sạch ân đức đó đã báo trước những hành động cao đẹp sau này của ông khi nước nhà bị quân thù xâm lược

Khi dự kỳ thi khoa Kỷ Tỵ, ông đậu Đình nguyên Hoàng giáp thì ba tỉnh miền Đông và ba tỉnh miền Tây đã mất vào tay thực dân Pháp Sáu năm sau, thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai Ngày 25 tháng 4 năm 1882, thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết Ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức mất thì triều đình Huế cũng ký hàng ước xác định quyền bảo hộ của Pháp ở Việt Nam Tháng 3 năm 1884 hầu hết Bắc kỳ lọt vào tay quân Pháp Trong số căn cứ quan yếu chỉ còn Hưng Hóa Hay tin quân Pháp cử đại binh tiến đánh, quân Thanh, quân của Hoàng Tá Viêm đều rút lui, chỉ còn một số ít quân của Lưu Vĩnh Phúc và quân Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích giữ thành, khi thế sắp nguy, ông định quyên sinh, nhưng tả hữu không cho, giục lên ngựa, phá vòng vây chạy lên Cẩm Khê Ở đây có quân của bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp đến hiệp lực cùng chống giặc

Muốn giành thế chủ động, đêm 4 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết

hạ lệnh tấn công vào căn cứ giặc nhưng thất bại Kinh thành Huế rơi vào tay Pháp Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi chạy ra sơn phòng Quảng Trị và

hạ chiếu Cần Vương vào ngày 13 tháng 7 năm 1885 Từ đây với danh nghĩa là

Lễ bộ thượng thư sung Hiệp thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, tước Thuần trung do vua Hàm Nghi phong, Nguyễn Quang Bích vừa chịu trách nhiệm về quân sự ở Bắc Kỳ vừa trở thành nhà chính trị, nhà ngoại giao, đóng góp tích

Trang 26

cực cho phong trào chống Pháp của nhân dân ta những năm sau đó Hơn một tháng sau khi có chiếu Cần Vương, Nguyễn Quang Bích vâng mệnh triều đình cầm quốc thư sang nhà Thanh cầu viện Năm 1886, trong dịp Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn sang Trung Quốc cầu viện, vua Hàm Nghi lại cử Nguyễn Quang Bích đi Vân Nam, nhưng cả hai lần đều không đạt được kết quả vì Pháp đã ký ước với nhà Thanh Tuy vậy trong hai chuyến đi ấy, ông đã gây được cảm tình của một số quan lại Trung Quốc Bằng sự giúp đỡ thiết thực, Tổng đốc Vân Quý là Sầm Dục Anh đã gửi vũ khí, đạn dược và vật phẩm sang để khích lệ tinh thần kháng chiến của quân dân ta

Sau chuyến đi sứ lần thứ hai trở về không mang lại kết quả, Nguyễn Quang Bích quyết tâm tập hợp các đạo quân, phát súng đạn, luyện tập đêm ngày, chuẩn bị mọi mặt, chờ thời cơ giết giặc cứu nước Bằng tài trí và uy tín

cá nhân, dựa vào dân và địa hình rừng núi, Nguyễn Quang Bích đã tổ chức được nhiều trận mai phục, tập kích phối hợp với nhiều lực lượng trên nhiều địa bàn Sự phối hợp chia lửa, nghi binh, đánh lạc hướng quân địch trong đợt phản công tháng 2 năm 1886 giữa các lực lượng của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp, Đèo Văn Trì (tại châu Lai Châu ) trên một địa bàn rộng lớn từ căn cứ Than Quang (Yên Bái), qua Cẩm Khê (Sơn Tây), Văn Chấn (Nghĩa Lộ) tới Lào Cai, Phong Thổ… khẳng định khả năng liên kết, tổ chức, tập hợp lực lượng của Nguyễn Quang Bích Năm 1887, địa bàn hoạt động của nghĩa quân vượt ra ngoài vùng Tây Bắc và Bắc Kỳ, vào tận Nghệ An để mở rộng phong trào chống Pháp ở vùng dân tộc thiểu số Cuối năm 1886 đầu năm

1887 là thời gian có những trận phối hợp tác chiến tuyệt đẹp của các lực lượng Nguyễn Văn Giáp, Lãnh binh Vương, các động Mèo, Dao…

Có thể nói, trong giai đoạn thứ nhất của phong trào Cần Vương, trên địa bàn Sơn – Tuyên – Hưng, thực dân Pháp ngại nhất là Bố chánh Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Quang Bích và các dũng tướng của ông

Trang 27

Cuối năm 1887, Nguyễn Văn Giáp từ trần Đó là một tổn thất lớn cho nghĩa quân Từ đây, Nguyễn Quang Bích và lực lượng của ông bước vào một

giai đoạn hoạt động khó khăn Tuy nhiên với tư tưởng “thà chịu tội với nhất

thời, quyết không chịu tội với vạn thế” ( Thư trả lời quân Pháp của Hiệp thống

Bắc Kỳ quân vụ đại thần Thuần trung tướng Nguyễn Quang Bích ) Nguyễn Quang Bích không hề nhụt chí Trái lại, những hoạt động chống Pháp không ngừng tăng lên Đặc biệt, trong đội hình chiến đấu của Nguyễn Quang Bích, ngoài những sĩ phu trung kiên một lòng một dạ phục vụ sự nghiệp giết giặc cứu nước, nhân dân các dân tộc Mường, Mán, Dao… vẫn tiếp tục về tụ họp dưới ngọn cờ nghĩa của ông

Quân Pháp vừa đánh vừa dụ hàng, Nguyễn Quang Bích kiên quyết chống lại Trước những giọng điệu đường mật cũng như cáo buộc nham hiểm của kẻ thù, ông đã quật trả bằng những lời lẽ sắc sảo Ở vào thời điểm khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa, người Pháp thông qua quan lại triều đình

đã liên tục gửi thư từ để dụ dỗ, dọa dẫm, kể cả bức bách nhằm lung lạc ông Nhưng ông vẫn ngoan cường chống xâm lược, chống đầu hàng cả nơi chiến trường cũng như trên mặt trận văn bút Trong bức thư trả lời quân Pháp dụ

hàng, Nguyễn Quang Bích đã vạch trần luận điệu của chúng: "Khi quý quốc

sang đây, một rằng hòa hiếu, hai rằng bảo hộ, để rồi chiếm thành trì chúng tôi, đuổi vua đuổi tướng chúng tôi, để rồi lại còn tự quyền lập vua Đồng Khánh, chẳng qua đó chỉ là cái kế bịt tai ăn trộm chuông thôi Lợi quyền chính trị đều về tay quý quốc nắm cả Văn thần võ tướng đều bị quý quốc câu thúc trói buộc ( ) Giả sử có một nước lớn khác đến kinh lý nước quý quốc cũng như quý quốc đã làm ở nước chúng tôi thì quý quốc cũng phục tùng theo ư? Hay là cũng nghĩa khí ở lòng căm giận lộ ra rồi quý quốc cũng làm như chúng tôi đang làm? ( ) Thà chịu tội với quý quốc, quyết không chịu tội với vua nhà, thà chịu tội với nhất thời, quyết không chịu tội với vạn thế Một chữ

Trang 28

"thú" từ nay xin quý quốc đừng có nhắc lại nữa, xin đừng có khuyên bừa Chúng tôi cam lòng chịu chết vì nghĩa vua tôi Xin quý quốc tự trù tính lấy"

Bức thư toát lên cái tư thế, phong thái của người nắm chắc trong tay chính nghĩa Khẳng khái đanh thép nhưng vẫn điềm tĩnh, sâu sắc Cái lời lẽ, khẩu khí trên thể hiện nhân cách, bản tính của người quân tử

Tháng 10 năm 1887 quân Pháp đánh úp nhưng bị quân của Nguyễn Quang Bích đánh lui Tháng 3 năm 1888 quân Pháp lại tấn công và lọt được vào căn cứ nghĩa quân Ông phải rút quân về Phù Ninh Nghĩa quân cầm cự với giặc thu được nhiều thắng lợi Nhưng giặc thi hành những thủ đoạn phong tỏa khắc nghiệt làm cho tình hình nghĩa quân ngày càng khó khăn Một mặt

do kẻ địch quyết truy kích nghĩa quân đến cùng Mặt khác qua chiến đấu dài ngày, lực lượng nghĩa quân ngày càng mỏng dần, Nguyễn Quang Bích phải chuyển căn cứ kháng chiến liên tục Tháng 10 năm 1889 ông chỉ thị tướng lĩnh tất cả các nơi chuẩn bị năm sau đại tấn công nhưng ông bỗng nhiên lâm bệnh và mất vào cuối năm 1889 Cái chết của Nguyễn Quang Bích là một mất mát lớn lao cho đất nước Nguyễn Quang Bích tiêu biểu cho một lớp nhà nho yêu nước, gặp lúc đất nước nguy nan, vẫn giữ được khí tiết trọn đời Lúc còn sống, ông không chịu tuân theo lệnh bãi binh của triều đình, ở lại lập căn cứ, nhận trách nhiệm trước nhân dân, tổ chức chiến đấu, một phen sống mái với quân thù Ông là con người của nhân dân, và được dân tin yêu, mến phục Ở con người Nguyễn Quang Bích đã hội tụ đầy đủ những phẩm chất của đạo lý triết học Khổng Tử, cùng với những phẩm chất đạo đức truyền thống Cuộc chiến đấu bi tráng của ông đã trở thành thiên anh hùng ca bất tử Ở đây không còn là sự “lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh” mà là cuộc đụng độ giữa hai nền chính trị : một bên là phong kiến già cỗi, lạc hậu phương Đông chọi với

tư bản phương Tây mới trỗi dậy có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến; giữa súng kíp, hỏa mai địch với tàu chiến, đại bác của kẻ thù xâm lược Cái lớn lao và vĩ

Trang 29

đại của ông là vì đại nghĩa mà đứng lên chống giặc, bởi đó là nhiệm vụ thiêng liêng với dân tộc! Bức thư Nguyễn Quang Bích trả lời Pháp có lẽ là một trong những áng hùng văn kim cổ Suy cho cùng, tất cả các giai đoạn bi hùng của đất nước đều xuất hiện những hào kiệt, những anh hùng lưu danh muôn thuở Thời Nam Hán xâm lược có Ngô Quyền, thời Tống xâm lược có Lý Thường Kiệt, khi quân Nguyên tràn sang có Trần Hưng Đạo, đến giặc Minh ta có Lê Lợi, Nguyễn Trãi Thời Pháp xâm lược, Nguyễn Quang Bích là một trong những con người tiêu biểu cho ý chí bất khuất của dân tộc Nếu dựng tượng đài về cuộc khởi nghĩa của ông, ta phải lấy chủ đề bất khuất; nếu chọn hình tượng điển hình ta phải lấy câu của Tiến sĩ Tống Duy Tân – người cùng thời

và là người kế tục sự nghiệp của ông :

Cột cao giữa sóng chặn dòng sâu

Đáng tiếc ông sinh vào thời đại phong kiến suy tàn, không có được bậc minh quân như các thời đại trước đó, lại gặp một đối thủ khác hẳn là thực dân

tư bản nên ông chỉ còn biết mang tấm thân đền nợ nước Sau khi ông qua đời, ngọn cờ cứu nước của ông vẫn được giương cao Ông đã để lại cho phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX một đội ngũ tướng tài, binh giỏi Phong trào chống Pháp sau năm 1891 trên chiến trường Tây Bắc dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh do Nguyễn Quang Bích đào luyện là sự phản ánh và là hệ quả tất

Trang 30

yếu của phong trào yêu nước chống Pháp giai đoạn trước đó mà Nguyễn Quang Bích là ngọn cờ đầu

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Quang Bích: Trong những ngày lãnh đạo nghĩa quân chống giặc ở Tây Bắc, Nguyễn Quang Bích sáng tác

nhiều thơ văn Tác phẩm của ông được sưu tập lại trong “Ngư Phong thi văn

tập” (tất cả đều bằng chữ Hán) gồm một số thư từ, văn tế, và khoảng gần 100

bài thơ Tập thơ “Ngư Phong thi tập” trước hết là tâm tình của Nguyễn

Quang Bích, một nhà thơ, đồng thời là một lãnh tụ nghĩa quân Cần Vương, trong những ngày chống giặc gian lao giữa vùng núi rừng ngút ngàn của miền

Tây Bắc Trong lời tựa “Ngư Phong thi tập”, Nguyễn Quang Bích đã viết :

Tôi không biết làm thơ, lại không hay làm thơ Đấy là bẩm chất của trời sinh, không thể chối cãi được Nhưng vì thời gian binh hỏa lưu ly, hoặc thấy vật mà sinh cảm tình, hoặc nhìn việc mà có ghi nhớ, hoặc lúc đi đường, lúc ở nhà trọ, khi đêm khuya vắng vẻ, ngọn đèn tàn mờ, buồn bã lắm mà không tự

an ủi mình được, cảm xúc thì làm thơ, rồi lại tùy bút điểm duyệt Đấy cũng như giống trùng theo khí hậu, giống chim theo thời tiết, tự kêu rồi lại tự thôi,

để tiêu khiển cảm hoài, chứ có dám nói là thơ đâu.” Qua tập thơ, con người

Nguyễn Quang Bích đã được biểu hiện một cách chân thực Và qua con người của Nguyễn Quang Bích, chúng ta ngày nay có thể thấy rõ nét “con người chung” của những sĩ phu yêu nước chống Pháp bấy giờ

1.3- Về khái niệm hình tượng cái tôi trữ tình

Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dung tinh thần của chủ thể sáng tạo Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện; chủ thể không chỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xem như

là một phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm, là một thành tố của thế giới nghệ thuật do tác phẩm tạo ra Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo,

Trang 31

dấu ấn của chủ thể càng in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ, bài thơ,…

Vấn đề cần giới thuyết ở đây là mối quan hệ giữa chủ thể với hình tượng nhân vật trữ tình, là những hình thức biểu hiện của chủ thể với tư cách

là hình tượng trung tâm của tác phẩm thơ trữ tình Để thấy rõ mối quan hệ

này, cần thiết phải phân biệt chủ thể và cái tôi, cái tôi của nhà thơ và cái

Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tiếp và thống nhất với cái tôi trữ tình trong thơ Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động, tâm tình và kí

ức trong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ Cái tôi của nhà thơ có lúc thể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tiếp giãi bày những nỗi niềm thầm kín Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua cách nhìn, cách nghĩ, qua tình cảm thái độ trước thế giới Tuy nhiên, cái tôi trữ tình trong thơ và cái tôi của nhà thơ không hề đồng nhất Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạm trù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đã được nghệ thuật hoá và trở thành một yếu tố nghệ thuật phổ quát trong thơ trữ tình, là một thành tố trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Hình tượng cái tôi là một kiểu nhân vật trong thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Khi nói về nguồn gốc nảy nở và lịch sử phát triển của thơ ca Hêghen

Trang 32

phát biểu: “Thơ bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần sự bộc lộ mình”

Ý kiến đó, phần nào nói lên được tính đặc trưng của thơ trữ tình

Thơ trữ tình là tiếng nói trực tiếp biểu lộ những cảm xúc suy tư, chiêm nghiệm: Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là dấu hiệu cơ bản của thơ trữ tình Với thơ, thi sĩ giãi bày những tư tưởng, những cung bậc cảm xúc trong thế giới nội tâm của mình

Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn Hình tượng cái tôi có mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ tình đang tự bộc lộ với toàn bộ sức mạnh nhân cách với mọi khả năng của nó Hình tượng cái tôi này là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ, mang vẻ đẹp độc đáo, không lặp lại

Hình tượng cái tôi là sự hiện thực hóa, khách thể hóa cái tôi trữ tình trong thế giới nghệ thuật thơ Hình tượng cái tôi không hoàn toàn đồng nhất với con người tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ nghe thấy mình trong người khác, với người khác và cho người khác Khi sáng tác nhà thơ đã tạo nên một thế giới nghệ thuật riêng thì tất yếu trong thế giới nghệ thuật ấy có hình tượng cái tôi và hình tượng này đóng vai trò nhân vật trung tâm

Trang 33

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG “NGƯ PHONG THI TẬP” CỦA NGUYỄN QUANG BÍCH

Đọc Ngư Phong thi tập không ai mà không nhìn nhận đó là những vần

thơ hay Thơ của Nguyễn Quang Bích xúc động đến đáy lòng ta không phải bởi những hình thức nghệ thuật điêu luyện hay ngôn từ mỹ lệ mà ở sự tinh tế

và chân thực của một hồn thơ chân tài.Bằng vài nét chấm phá đơn sơ, tác giả

đã làm hiện lên trước mắt người đọc một thế giới Tây Bắc chỉ riêng ông nhìn

ra nó, một thế giới Tây Bắc như ánh xạ qua tâm hồn một con người đang đi vào cuộc chiến đấu trọng đại, đang phấn đấu từng bước để nhận thức ra sứ mệnh lịch sử của mình, cũng tức là nhận thức ra cái sức mạnh nội tại gắn bó con người và xứ sở Tây Bắc với chính mình Có thể nói, vai trò của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Bích làm cho câu thơ của ông tăng thêm sức nặng, như có một sự vấn vương gì đấy làm thức dậy cái đẹp, cái tiếng nói chân thực trong tâm hồn sâu thẳm của mọi chúng ta Hình tượng trung tâm,

khi ẩn khi hiện nhưng lúc nào cũng có mặt trong suốt tập thơ – đó là hình tượng cái tôi trữ tình của chính tác giả Nhờ cái tôi trữ tình thấp thoáng và được vận dụng như một biện pháp nghệ thuật thống nhất mà tất cả những nét

vẽ khác nhau của Ngư Phong thi tập : xù xì, gai góc, đơn sơ, hùng vĩ, lạc

quan, bi quan… đều kết hợp lại Nguyễn Quang Bích đã sáng tạo nên một nhân vật trữ tình tiêu biểu, con người hiện thân của tinh thần chống Pháp của quần chúng và sĩ phu Bắc Bộ trong bối cảnh cuộc kháng chiến đặc biệt gay go gian khổ của núi rừng Tây Bắc vào những ngày đang ngả sang tàn cuộc của phong trào Cần Vương Chính bối cảnh có ý nghĩa đặc trưng nói trên làm cho hình tượng nhân vật được điển hình hóa bằng những chi tiết đặc trưng nhất,

và luôn luôn được tái hiện lại dưới nhiều dạng vẻ: quanh năm suốt tháng là những chuyến lội suối trèo đèo không ngừng nghỉ nhưng trong cuộc hành

Trang 34

trình muôn phần nhọc mệt và ngỡ như bất tận ấy, con người đó sẽ từng bước vượt lên mình, để hiểu ra vẻ đẹp của núi non, làng bản, dân chúng và bền lòng tin vào lý do tồn tại của chính mình Nhìn trong thế cân bằng của một cuộc chiến tranh tự vệ của cả dân tộc giữa vùng núi và vùng xuôi, cực Nam và cực Bắc, những đóng góp này của Nguyễn Quang Bích là một thành tựu không thể phai mờ, một nét điểm xuyết tuyệt diệu làm hoàn chỉnh bức tranh Cần Vương chống Pháp lẫm liệt và bi tráng của lịch sử và văn chương Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ

2.1- Cái tôi trữ tình trong mối quan hệ với quốc gia, dân tộc:

Đọc Ngư Phong thi tập rất dễ nhận thấy một tư tưởng hằn lên rõ nét

đến trở thành trăn trở, nhức nhối trong Nguyễn Quang Bích, đó là ý thức trách nhiệm đối với sự nghiệp cứu nước Có một tứ thơ cứ phảng phất như đã từng gặp trong thơ Ức Trai : niềm canh cánh vì “nợ quân thân” chưa trả “Quân thân chưa báo lòng canh cánh” Nhiều lần Nguyễn Quang Bích nhắc đến “ơn sâu” của vua của nước và sự “báo đền” của kẻ sĩ Trong bài thơ họa lại bài

“Quan đà mã hữu cảm” (Xem ngựa thồ cảm xúc) của Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Quang Bích đã bày tỏ rõ nỗi lòng của mình:

Ngư xa dẫn tải vị vi bì, Bối phụ lao lao khởi bất tri

Nhàn dưỡng ân thâm tư báo thiết, Giã tằng cốt tướng tự tiền di

(Ngư Phong họa thi V)

( Trâu kéo xe tải còn chưa cho là khó nhọc, / Trên lưng đeo nặng có phải ngựa thồ này không biết thế đâu? / Chỉ vì ngày thường được chăm nuôi, ơn sâu ấy phải báo đáp, / Vả chăng xương vóc này vốn di truyền từ trước)

Trang 35

Ông nhận thức rõ cái gánh nặng mà mình đang đeo mang, “há lại không biết sợ gian khổ” nhưng vì nợ nước thù nhà, phải trả cho đặng cái ơn sâu của vua, phải báo đền cho quốc gia, vả chăng cũng là tiếp nối truyền thống của cha anh ngày trước Ơn nước chưa đáp đền thì nói chi đến hạnh phúc của riêng mình Lý tưởng cứu nước soi sáng trên đầu, lúc nào cũng canh cánh bên lòng nhà văn thân yêu nước:

Vị hữu quyên ai năng báo quốc, Khả kham bôn thoán cận toàn thân

(Tống quy nhân, cảm tác)

(Ơn nước báo đền chưa được mảy may./ Sao đành lẩn lút để bảo toàn riêng lấy thân mình?)

Trong một đêm mưa không ngủ được, bao nỗi băn khoăn, trăn trở giày

xé cõi lòng vị chiến tướng Và trên hết vẫn là cái ơn sâu xa như biển cả vẫn chưa tròn vẹn

Đính đái thù triêm thâm tự hải, Đầu lô bán bách hạo thành sương

Cái ơn sâu đó không hẳn là chỉ gói gọn trong hai chữ “hiếu trung” như quan niệm phong kiến, không phải chỉ là cái ơn mưa móc của vua đối với quan mà đối với Nguyễn Quang Bích, cái ơn sâu ấy còn là cái tình đối với nước, cái ơn đối với nhà Ngày đêm lo nghĩ việc nước, khiến cho người tóc bạc như sương

Trang 36

Quyên ai vị báo gia hà hữu,

(Tống quy nhân)

(Nợ nước chưa báo đền mảy may, nói gì đến nhà,)

Lý tưởng cứu nước thực sự chiếm một phần quan trọng trong tâm tư tình cảm của ông Nó luôn khuấy động, gây sóng gió trong tâm hồn ông, len lỏi vào tình cảm của ông bất kể lúc nào:

Nhất ngộ lao tao bi bút mặc, Bách ưu ngộ mỵ thả phong ba

Liên dư diệc thị cô cùng khách, Thiên bất tòng nhân thả nại hà?

(Độc Hồng Đậu thi tập, cảm tác)

(Mỗi lần gặp bước long đong bút mực cũng buồn thương,/ Trăm lo dồn đến nên thức hay ngủ cũng sóng gió hãi hùng./ Thương thay ta cũng là một kẻ cô cùng,/ Trời chẳng chiều người, vậy biết làm sao?)

Nguyễn Quang Bích là một trí thức yêu nước nhưng cũng là một sĩ phu phong kiến Quan điểm đánh giặc cứu nước của ông là quan điểm phong kiến, nhưng đánh giặc cứu nước vẫn là hành động tiến bộ, có giá trị thực tiễn Do

đó ông có thực tế của chiến đấu và thực tế ấy là một thực tế gian khổ nhưng lành mạnh Gian khổ thì nhiều, nhưng trong gian khổ vẫn thấy nhiệm vụ to lớn của mình Bất kỳ lúc nào ông cũng đều canh cánh bên lòng bổn phận đối với nước với vua Đi đường gian nan, ông tự an ủi mình:

Kỳ khu mạc phạ lộ hành nan,

Đồ báo dư sinh thệ thốn đan

Đầu thượng quân thân thiên nhật chiếu, Giang sơn đáo xứ hộ bình an

(Sơn lộ hành tự ủy)

Trang 37

(Gập ghềnh, chẳng sợ đường khó đi,/ Kiếp sống thừa thề đem tấc son để lo toan báo nước./ Quân thân đặt trên đầu, có mặt trời soi xét,/ Khắp non sông, đến nơi nào cũng được phù hộ bình yên.)

Nghe chim đa đa kêu ông nghĩ thầm:

Nhĩ thân tuy tiểu thanh hoàn lệ, Nhược vị hành nhân tố bất bình

(Kiên giá cô)

(Thân mày tuy bé nhưng tiếng kêu lại gắt,/ Phải chăng đang vì kẻ chinh nhân

mà tỏ giùm nỗi bất bình.)

Có lúc buồn ông lại càng lo:

Trù trướng ngô sinh mệnh bất du, Bất năng nhất tử bội thiên ưu

Đồng tâm sơn khả di, Ninh vấn lộ hành lao

(Đăng Thái Bình sơn)

(Đồng lòng chung sức thì núi cũng có thể dời,/ Xá kể gì đến chuyện đường xa khó nhọc.)

Thái độ ung dung trong gian khổ ở bài thơ chạy giặc sau đây rất có ý nghĩa:

Bôn tẩu thâm lâm quá tiểu khê,

Trang 38

Liên triêu phong vũ bội hàn thê

Cáp phùng giai tiết nghi bồ ẩm, Bất yếm quy lai mãn tụ huề

(Đoan dương nhật tỵ địch ngộ vũ, quá tiểu khê thái xương bồ quy ẩm)

(Lật đật trong rừng sâu, qua một con khe nhỏ,/ Mưa gió mấy ngày liền, càng thêm lạnh lẽo./ Vừa gặp tiết đẹp, cần có rượu xương bồ để uống,/ Hái mấy ống tay áo mang về vẫn không thừa.)

Hiện lên trong bài thơ là thái độ xem khinh mọi gian khổ, hiểm nguy Giặc đuổi, mưa dồn nhưng khi chạy qua suối thấy cỏ xương bồ vẫn ung dung

hái đầy tay áo đem về ngâm rượu

Nhân dân ta từ Bắc chí Nam, trước dã tâm xâm lược của bọn thực dân cường bạo, đã biểu thị một thái độ dứt khoát: kháng chiến giữ nước đến cùng Tiếng nói chân chính của thời đại bấy giờ là tiếng nói kêu gọi nhân dân đứng lên giết giặc cứu nước Cuộc đời chiến đấu của Nguyễn Quang Bích gắn liền với cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân, tiếng nói của ông vì vậy cũng là tiếng nói chân chính của thời đại Đó là tiếng nói của lòng thiết tha yêu quý non sông đất nước đang bị giặc ngoại xâm giày xéo, lòng mong mỏi quét sạch

bè lũ ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, tâm trạng băn khoăn làm sao đóng góp phần

xứng đáng vào công cuộc giết giặc cứu nước

Qua văn thơ Nguyễn Quang Bích, chúng ta thấy rõ tư tưởng và tình cảm của ông bắt nguồn sâu từ trong truyền thống vĩ đại không có gì quý hơn độc lập tự do của dân tộc ta trong lịch sử Tư tưởng “định phận tại thiên thư” của Lý Thường Kiệt được tiếp nối trong những vần thơ của Ngư Phong Một lòng tự hào chính đáng về đất nước, về ông cha đã toát ra từ nhiều câu trong tập thơ:

Nam thiên định phận đế vương châu, Tiền sử chiêu chiêu vũ liệt ưu

Trang 39

(Ngư Phong họa thi I)

(Nước Nam là đất đế vương, trời đã phân định,/ Sử sách trước đây còn rực rỡ

những võ công oanh liệt.)

Nhược ngộ đồng tâm thoại bôi tửu, Ngã Nam thiên định Lạc Hồng sơ

(Tiễn Ninh Bình Nguyễn tán tương hồi Nam)

(Nếu gặp bạn đồng tâm nhắp chén chuyện trò,/ Cũng nên nhắc nhở nhau rằng đất nước Nam sách trời đã định từ thuở Hồng Lạc.)

Chính vì vậy mà tư tưởng và tình cảm của ông luôn luôn gắn chặt với vận mệnh đất nước, với tiền đồ Tổ quốc Trên đường lánh giặc, ông đương băn khoăn buồn bực, nhưng chợt nhận được tin thắng trận của nghĩa quân thì nỗi buồn bực, mối băn khoăn đó phút giây tan biến mất, và tiếp theo là một sự lạc quan, phấn khởi dào dạt:

Thoái xá sơn đồn tọa tịch huy,

Tự lân điều độ thất tiên ky

Gia N guyên tiệp hỷ liên thời đáo, Thập giải phiên đầu mã tự phi

(Văn Dụ Phong tiệp báo)

(Lui về ở đồn trên núi, ngồi dưới bóng mặt trời xế,/ Tự phàn nàn trong việc điều động để lỡ mất thời cơ./ Bỗng tin thắng trận ở Gia Nguyên liên tiếp báo về,/ Mười giải thưởng lấy được đầu giặc, ngựa phóng tới như bay.)

Xây dựng lực lượng bên trong, tập hợp nghĩa quân tiến hành đấu tranh

vũ trang là niềm quan tâm lớn nhất, nhưng Nguyễn Quang Bích cũng như tất

cả các sĩ phu yêu nước chống Pháp thời đó đều muốn tranh thủ sự giúp đỡ của bên ngoài Ông đặt nhiều hy vọng vào việc cầu viện Trung Hoa Vì vậy cứ mỗi khi nhận được thư Tôn Thất Thuyết gửi về là mỗi lần ông lại thấy lòng đầy vui mừng, tin tưởng:

Trang 40

Phong trần cảnh huống thái tiêu sơ, Phỏng đáo sàng kim phạp nhất trừ

Lâm cốc tạm thê mao trúc ổn, Giang sơn bằng hựu chưởng ma trừ

Liên thiên thảo sắc kinh xuân hậu, Mãn nhãn tình quang cửu ế dư

Tối thị hóa cơ hồi chuyển xứ,

Hỉ tâm bất tận nhạn thanh sơ

(Ngư Phong họa thi VII) (Dầu dãi phong trần, tình cảnh quá ư xơ xác,/ Hỏi đến số tiền ở đầu giường đã hết sạch./ Chốn rừng hang tạm ở yên trong căn nhà tre lợp cỏ,/ Nhờ có non sông che chở, tiêu trừ hết hơi độc ma thiêng./ Trải tiết xuân về, sắc cỏ non xanh rợn đến chân trời,/ Đầy mắt, ánh mặt trời lóe ra sau bao ngày u ám./ Đó chính là hiện tượng xoay chuyển lại của cơ trời,/ Lòng hân hoan khôn xiết khi nghe tiếng chim nhạn bắt đầu kêu.)

(Tiễn Ninh Bình Nguyễn tán tương hồi Nam)

(Tấm giấy của Nguyên nhung, tin chắc không thể giả mạo được,/ Người tựa quả lớn còn đó, khiến mọi người trông cậy./ Chuyến đi này, Nam Ninh là nơi

có nhiều nghĩa sĩ,/ Phép dùng binh của Phạm công từ lâu đã thành sách.)

Ông phấn khởi, vui sướng biết bao khi được người giúp đỡ trong công cuộc giết giặc cứu nước:

Quốc loạn dân sầu bất tận ai,

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Nguyễn Huệ Chi, “Từ điển văn học”, tập II, NXB KHXH, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Nhà XB: NXB KHXH
2- Nguyễn Đăng Điệp, Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Nhà XB: Nxb Văn học
3- Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học (bộ mới)
Nhà XB: Nxb Thế giới
5- Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Lí luận văn học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6- Nguyễn Lộc, “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX” (Tái bản có bổ sung và sửa chữa), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX”
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
7- Nguyễn Đăng Mạnh, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn , Nxb Giáo dục, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
8- Lạc Nam, Tìm hiểu các thể thơ từ thơ cổ phong đến thơ luật, Nxb Văn học, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các thể thơ từ thơ cổ phong đến thơ luật
Nhà XB: Nxb Văn học
9- Bùi Văn Nguyên, “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam”(Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX), NXB Văn học, Hà Nội, 1964 : Chương II mục IV Nguyễn Quang Bích Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam”(
Nhà XB: NXB Văn học
10- Nguyễn Hữu Sơn, Vấn đề con người cá nhân trong văn học cổ - nhìn từ góc độ lí thuyết, Nxb Văn học, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người cá nhân trong văn học cổ - nhìn từ góc độ lí thuyết
Nhà XB: Nxb Văn học
11- Trần Đình Sử, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nx b Đại học quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
12- Trần Đình Sử, “Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích”, Tạp chí văn học, số 4, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái buồn trong thơ Nguyễn Quang Bích”
13- Bùi Duy Tân, Vấn đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ, Nxb Văn học, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ
Nhà XB: Nxb Văn học
15- Lê Trí Viễn, Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam , Nxb KHXH, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb KHXH
16- Lê Trí Viễn, Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam, Nxb ĐHTHCN, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam
Nhà XB: Nxb ĐHTHCN
18- Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên) , Văn học trung đại Việt Nam , NXB Giáo dục, TP. HCM, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
20- Nhiều tác giả, “Danh nhân Thái Bình”, Sở Văn hóa thông tin Thái Bình xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Danh nhân Thái Bình”
21- Nhiều tác giả, “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam”, (Tập IV: 1858-1920, Quyển I), NXB Văn học, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hợp tuyển thơ văn Việt Nam”
Nhà XB: NXB Văn học
22- Nhiều tác giả, “Lịch sử cận đại Việt Nam” (Tập II), NXB Giáo dục, Hà Nội, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử cận đại Việt Nam” (
Nhà XB: NXB Giáo dục
23- Nhiều tác giả, “Lịch sử Việt Nam” (Tập II), NXB KHXH, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam”
Nhà XB: NXB KHXH
24- Nhiều tác giả, “Nguyễn Quang Bích nhà yêu nước nhà thơ”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Bích nhà yêu nước nhà thơ”
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH - hình tượng cái tôi trữ tình trong “ngư phong thi tập” của nguyễn quang bích
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH (Trang 1)
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH - hình tượng cái tôi trữ tình trong “ngư phong thi tập” của nguyễn quang bích
HÌNH TƯỢNG CÁI TÔI TRỮ TÌNH (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm