1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái tôi trữ tình trong thơ nguyễn quang thiều

160 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Quang Thiều và những đổi mới trong cảm hứng sáng tác ...20 Chương 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU ..... Nhưng tôi khẳng định rằng sự đóng góp lớn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ NHIÊN

CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôitrong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiêncứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Tác giả luận văn

Lý Thị Nhiên

Trang 3

Lời cảm ơn!

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới:

- Các thầy cô giáo: khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học – Trường Đại học sưphạm Thái Nguyên, Viện văn học – Trường Đại học sư phạm Hà Nội Đã giảngdạy, động viên và khích lệ em trong quá trình học tập

- Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, người luôn quan tâm và giúp đỡ để emhoàn thành luận văn này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Điệp, người đã tận tìnhchỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luậnvăn này

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và đồng hànhcùng em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 5 năm 2015

Tác giả luận văn

Lý Thị Nhiên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 5 Phương pháp nghiên cứu

5 6 Đóng góp của luận văn

5 7 Cấu trúc luận văn

6 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 7

1.1 Khái niệm “cái tôi” và “cái tôi trữ tình” 7

1.1.1 Cái tôi 7

1.1.2 Cái tôi trữ tình

9 1.2 Sự vận động cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam

11 1.2.1 Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian

11 1.2.2 Cái tôi trữ tình trong văn học trung đại

12 1.2.3.Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại

13 1.3 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều 15

Trang 5

1.3.1 Khái quát về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều 15

1.3.2 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác 16

1.3.3 Quan niệm sáng tác và tư duy đổi mới thơ của Nguyễn Quang Thiều 17

1.3.3.1 Quan niệm sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều .17

1.3.3.2 Nguyễn Quang Thiều và những đổi mới trong cảm hứng sáng tác 20

Chương 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

NGUYỄN QUANG THIỀU 272.1 Cái tôi của những nỗi niềm muôn thuở 27

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

2.1.1 Cái tôi đa cảm 27

2.1.2 Cái tôi của những đối cực 36

2.2 Cái tôi của sự sáng tạo 40

2.2.1 Cái tôi của khát vọng kiếm tìm 41

2.2.2 Cái tôi của những miền tâm linh châu thổ 45

Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 53

3.1 Thể thơ 53

3.1.1 Thơ tự do 53

3.1.2 Thơ văn xuôi 58

3.2 Ngôn ngữ 61

3.2.1 Ngôn ngữ tự nhiên

62 3.2.2 Ngôn ngữ siêu thực, lạ hóa

65 3.3 Biểu tượng 68

3.3.1 Cánh đồng và dòng sông quê hương 69

3.3.2 Bóng tối và ánh sáng 72

KẾT LUẬN 77

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ tiên phong trên hànhtrình cách tân thơ Việt Việc hiểu và khám phá thơ Nguyễn Quang Thiều khôngphải là điều đơn giản, tuy nhiên những sáng tác của ông vẫn luôn giữ một vị tríđặc biệt trong lòng độc giả yêu thơ Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Quang Thiềukhông chỉ thể hiện qua những nội dung mà nhà thơ phản ánh về cuộc sống màcòn thể hiện qua những hình thức nghệ thuật (những hình ảnh biểu tượng,ngôn ngữ thơ) tạo nên một phong cách nghệ thuật riêng

Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ có bản lĩnh và tài năngsáng tạo nghệ thuật Ông đã có không ít tác phẩm ghi dấu những bước thànhcông trên văn đàn thi ca Việt Nam hiện đại sau năm 1975 Những tác phẩmthơ của Nguyễn Quang Thiều vẫn là mảnh đất cần khám phá các tầng ý nghĩasâu xa nên đòi hỏi phải có niềm đam mê và sự nỗ lực lớn Cái tôi trữ tình trongthơ Nguyễn Quang Thiều có nhiều biểu hiện mới mẻ được ẩn dấu đằng saunhững lớp ngôn từ nghệ thuật Trải qua chuyến hành trình dài gồm năm tập

thơ tiêu biểu, bắt đầu từ tập thơ Ngôi nhà tuổi 17 đến tập thơ Cây ánh sáng,

cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều cũng đã thực hiện chuyến mộthành trình đi tm những giá trị tinh thần chân chính Chính vì vậy việc nghiên

cứu tm hiểu về“Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều”là

một việc cần thiết để làm cơ sở khoa học nhằm nhận diện, đánh giá những nétđặc sắc, độc đáo của cái tôi trữ tình của nhà thơ Đồng thời làm sáng tỏ hơn sựđóng góp của nhà thơ đối với thi ca Việt Nam hiện đại qua những khắc họa rõnét, giáo dục sâu sắc

Chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu:“Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn

Quang Thiều”với mong muốn trau dồi thêm kiến thức về thơ hiện đại Việt

Nam sau 1975 nói chung và hiểu biết rõ hơn về thơ của Nguyễn Quang Thiềunói riêng Bên cạnh đó, đây sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho bạn yêu thơ vàgiảng dạy văn thơ Nguyễn Quang Thiều

2 Lịch sử vấn đề

Với sự xuất hiện của tập thơ Ngôi nhà tuổi 17 (1990) phong cách nghệ

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

thuật của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng dần được định hình qua sự nỗ lực

Trang 9

nhằm tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo Với những đóng gópmới mẻ, cùng những cách tân nghệ thật độc đáo Nguyễn Quang Thiều đã trở

thành một “hiện tượng thơ” Những cuộc tranh luận về hiện tượng thơ

Nguyễn Quang Thiều đã tạo thành hai xu hướng rõ rệt trên thi đàn và hìnhthành nên nhóm bài viết khá khu biệt Bên cạnh những đánh giá, phản ứng gaygắt là hàng loạt những bài viết cổ vũ sự khám phá, tm tòi của nhà thơ Năm

1992, tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời đã gây làn sóng dư luận mạnh mẽ

về “Tài và tâm của người viết phê bình” [57] Đã có không ít lời phê phán và cho rằng đây là thứ thơ “ngoại nhập” Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Thơ Nguyễn Quang Thiều non kém về mặt nghệ thuật”, là thơ “lai căng”, thơ “dịch sổi”, “Dịch tếng Việt sang tiếng ta”…[19, tr 82] Tuy nhiên, đó chỉ là những

quan niệm phiến diện chứa đầy mâu thuẫn khi đánh giá về thơ NguyễnQuang Thiều Nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học dưới đây đã đánh giárất đúng về nhà

thơ:

Trần Vũ Khang khẳng định: “ Nguyễn Quang Thiều phải được xem như

là cái đỉnh bất ngờ nhô lên giữa những ngọn đồi (…) đây là giọng thơ lần mẽ tới những cây bút thế hệ mới phía Bắc đến nỗi có thể vach một danh giới giữa nhóm làm thơ theo Thiều với nhóm làm thơ khác Thiều” [26].

Trong bài viếtNgười đi qua cơn khát của sa mạc thơ, tác giả Nguyễn

Việt Chiến nhận xét: Nguyễn Quang Thiều là “nhà thơ đầu tên bằng những

lỗ lực vượt bậc và tài năng suất sắc của mình đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt”, “thơ của anh như một bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm Nguyễn Quang Thiều đã âm thầm khắc họa bằng cảm xúc, bằng những liên tưởng thơ để tm ra cách nói riêng bằng ngôn ngữ hình ảnh đặc thù mà chỉ thơ mới có được”[4].

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Nhà thơ Nguyễn Quyến nhận xét về những nỗ lực sáng tạo của nhà thơ

Nguyễn Quang Thiều: “Nguyễn Quang Thiều đã có một cuộc vượt biển thực sự

Trang 11

trong tâm hồn mình khi ông xuất bản tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” Không cần nhắc lại chúng ta cũng biết sự đóng góp vô cùng lớn lao của tập thơ này đối với các trào lưu thơ ca hiện đại từ hình thức, ngôn ngữ đến ý tưởng hiện diện trong đó Nhưng tôi khẳng định rằng sự đóng góp lớn lao nhất của tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” không chỉ đối với thơ ca hiện đại nói riêng mà nó còn tác động nhiều đến mỹ cảm của người Việt hiện đại…”[46].

Thành công bước đầu của Nguyễn Quang Thiều đã tạo ra tếng vangmạnh mẽ, sức ngân vang ấy lan tỏa bởi cảm xúc chân thành mà nhà thơgửi gắm qua những thể nghiệm ngôn từ đầy sáng tạo Cùng thế hệ những nhàthơ trưởng thành trong sáng tác sau năm 1975, nhà thơ Mai Văn Phấn

nhận định:“Nguyễn Quang Thiều đã hoàn thành sứ mệnh của thi sĩ tiên phong trong thời đại thi ca còn dày đặc sương mù (…) Ông đã đem đến cho thơ Việt một cấu trúc thơ mới lạ, những hình ảnh rời, xa nhau trong những kết dính mờ nhạt, tnh thần phản tỉnh mãnh liệt làm đổ vỡ những trật tự

cũ, tường minh từng góc sâu tăm tối trong ký ức mỗi người, tạo những góc nhìn tỉnh táo, sắc lạnh vào đời sống hiện thực.” [42].

Trong bài viết Về biểu tượng lửa trong thơ Nguyễn Quang

ThiềuĐặng Vũ Hoàng đã khái quát chung về những cách tân trong thơ Nguyễn

Quang Thiều: “Là người được đánh giá là gặt hái được nhiều thành công trong thế hệ thơ thứ ba, Nguyễn Quang Thiều đầy nhiệt huyết trong việc tìm tòi và cách tân thơ ca Về mặt ngôn ngữ, không phải là những cách nhào nặn, sắp xếp kỳ khôi và rối rắm các con chữ kiểu Lê Đạt, Dương Tường, sự cách tân ngôn ngữ thơ của Nguyễn Quang Thiều là sử dụng thuần thục thể thơ văn xuôi để diễn đạt tân kỳ những câu thơ không vần điệu Về nội dung, đó là góc nhìn cận cảnh những mặt trái của xã hội trong thời kỳ đô thị hóa, là sự khai thác những hình ảnh thơ, những biểu tượng độc đáo, mới lạ: những người đàn bà góa, những con vật, lửa…” [22].

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Nghĩ về một số “Phản trường ca” Diêu Lan Phương còn ghi nhận nỗ

lực sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều khi ông và những nhà thơ khác đã mang

Trang 13

tới cho thể loại trường ca sự đổi mới quí báu: “Nguyễn Quang Thiều là một trong vài nhà thơ đương đại xuất sắc nhất Thơ anh thể hiện một nội lực dồi dào và đầy ám ảnh.Trong rất nhiều những thể nghiệm cách tân thì những cách tân về thể loại trường ca là vô cùng ấn tượng” [59, Tr 63].

Đỗ Minh Tuấn coi những nội dung mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phản ánh

đã “Phát lộ tâm thức thời đại” [57].Qua những vần thơ mang đặc điểm thi pháp hiện đại mới mẻ của Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Nguyễn

Quang Thiều đã phá bỏ lối đi quen, mở ra con đường mới chưa hề có” [60, Tr.171].

Mặc dù ủng hộ tinh thần đổi mới nhưng Trần Đăng Khoa và Đỗ Minh Tuấn chưa khơi lên được mạch nguồn mỹ cảm mới mẻ, chưa nhất quán trong việc đánh giá đặc trưng thơ Nguyễn Quang Thiều.

Có thể thấy, hầu như những bài viết này mới chỉ đưa ra những nhận định,

tm hiểu một cách khái quát về thơ Nguyễn Quang Thiều mà chưa đi sâu vàoviệc phân tích những cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều mộtcách hệ thống Tuy nhiên, những đánh giá nhận xét của những người nghiêncứu đi trước chính là con đường gợi mở vô cùng quý giá cho chúng tôi thực

hiện đề tài“Cái tôi trữ tnh trong thơ Nguyễn Quang Thiều”.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu những thành tựu trong sự nghiệp sángtác thơ ca của Nguyễn Quang Thiều Đặc biệt, đi sâu nghiên cứu một cách hệthống và toàn diện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều Từ đó,thấy

được giá trị của cái tôi trữ tnh, góp phần làm nên phong cách độc đáo trongsự

nghiệp sáng tác của nhà

thơ

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát quá trình sáng tác thơ của Nguyễn

Quang Thiều đã xuất bản đó là nghiên cứu tập thơ Châu thổ Đây là tuyển tập thơ gồm 6 tập thơ chính của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, gồm Ngôi nhà tuổi

17 (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông

(1995), Nhịp điệu châu thổ mới(1997), Bài ca những con chim đêm (1999),

Trang 15

Cây ánh sáng(2009) Bên cạnh đó còn tìm hiểu sáng tác ở các thể loại khác

của nhà thơ để hiểu rõ hơn hành trình sáng tạo của Nguyễn Quang Thiều

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu quan niệm và tư tưởng sáng tác của nhà thơ Nguyễn QuangThiều qua những phát ngôn, những bài viết, những tiểu luận… để hiểu được cáitôi trữ tình mà tác giả thể hiện qua các tác phẩm thơ

Qua những phân tích các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn QuangThiều giúp hiểu sâu sắc hơn nội dung để từ đó khái quát về cái tôi trữ tnhtrong thơ của ông Đồng thời khẳng định được những đóng góp của nhà thơNguyễn Quang Thiều đối với nền thơ đương đại

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tch, chứng minh, thẩm bình để

thấy rõ cảm hứng chủ đạo làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ Nguyễn Quang

Thiều

- Phương pháp đối chiếu - so sánh: Đặt tác giả trong sự tương quan vớicác nhà thơ khác để thấy rõ những yếu tố làm nên cái tôi trữ tình trong sángtác của Nguyễn Quang Thiều

- Phương pháp tểu sử: Nghiên cứu cái tôi trữ tnh tác giả làm nổi bật sựđộc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ nên đòi hỏi phải có phương pháp tiếpcận tác giả

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn chỉ ra sự khác biệt độc đáo cái tôi trữ tình của nhà thơ, làtài liệu tham khảo hữu ích cho độc giả quan tâm, yêu thích thơ Nguyễn QuangThiều nói riêng và cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trườngnói chung

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn được cấu tạo thành 3 chương:

Chương 1: Khái quát về cái tôi trữ tnh và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều.

Chương 2: Sự thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang Thiều.

Chương 3:Nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Quang

Thiều.

Trang 17

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

CỦA NGUYỄN QUANG THIỀU 1.1 Khái niệm “cái tôi” và “cái tôi trữ tình”

1.1.1 Cái tôi

Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thứcđẩu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình Từ đó, con người nhận ramình là một cá thể độc lập

Các nhà triết học duy tâm quan niệm về cái tôi như là phương diện trungtâm của tâm hồn con người, là cốt lõi của ý thức có khả năng chi phốihoạt động và là sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới:

Nhà triết học R Đề các (1596 - 1650) quan niệm: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” Ông cho rằng cái tôi thể hiện ra như một cái nhìn thuộc về thực

thể biết tư duy như càn nguyên của nhận thức duy lý, cái tôi mang tính độc lập

Theo Kant (1724 - 1804), cái tôi bao gồm hai phương diện: Cái tôi với tưcách chủ thể tư duy nhận thức thế giới và cái tôi với tư cách là khách thể củachính nhận thức Đồng thời ông cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhậnthức của cái tôi: tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chấtcủa nó mà trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức, của cái tôi

Hêghen (1770 – 1831) một mặt xem cái tôi như là sự tha hóa của “ý thức tuyệt đối” một mặt nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi.Cái tôi như là

trung tâm của sự tồn tại có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiệnmình trong hiện

thực

Becxong (1858 – 1941) đã chú ý đến cái tôi thuần túy trong ý thức khinhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân Theo ông, con người có hai cáitôi: đó là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Trong đó, cái tôi bề mặt là các

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

quan hệ của con người đối với xã hội; còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳmcủa ý thức Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật

Trang 19

Đối lập với những quan điểm tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân, tách nó

ra khỏi các mối quan hệ hiện thực xã hội, triết học Mác – Lênin xác định giátrị con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và kháchthể của các mối quan hệ xã hội Theo chủ nghĩa Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩanhư là một bộ mặt xã hội hóa, cá thể con người và cá nhân cùng tm thấymình trong xã hội Lý tưởng về giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự

do cho mỗi cá nhân trong tự do cho tất cả mọi người Đồng thời vai trò của cái

tôi cũng được khẳng định: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của

cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và chính bản thân mình”.

Quan niệm về cái tôi trong triết học và khoa học nhân văn hoặc đóng vaitrò phạm trù, hoặc có mối liên hệ chi phối, quen thuộc với cái tôi trữ tìnhtrong thơ của các thời đại

Trong văn học, người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức vàcắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con ngườithể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màumuôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh.Bởi vậy, tác phẩm văn học vừamang đậm tnh điển hình và mang đậm cá tnh tác giả khi vai trò của cá tnh

sáng tạo của “cái tôi” cá nhân được ý thức đầy đủ; đặc biệt là những tác phẩm

trữ tnh

Nếu tác phẩm tự sự lấy bức tranh hiện thực mang đậm tnh kháchquan và điển hình làm đối tượng phản ánh thì tác phẩm trữ tnh lại chọnbức tranh tâm trạng đậm tnh chủ quan và điển hình của chủ thể trữ tình làmđối tượng thẩm mỹ của mình Tác phẩm trữ tnh là sự thể hiện trực tiếp thếgiới chủ quan của con người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ…làm sốngdậy trong chủ thể thế giới của hiện thực khách quan như một phương diệnnăng động, sâu sắc, hấp dẫn của đời sống con người Trong tác phẩm trữ tnh,nội dung được thể hiện luôn gắn với hình tượng nhân vật trữ tnh Tình cảm

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

riêng của nhân vật trữ tnh trong tác phẩm cụ thể luôn nồng cháy, trực tiếp vàmãnh liệt, vừa có ý nghĩa khái quát, điển hình và có khả năng tác động mạnh

mẽ Tác phẩm trữ tình xuất hiện từ

Trang 21

rất sớm trong lịch sử văn học nhưng chỉ thực sự là tác phẩm khi con người ý

thức về cá nhân, khi “cái tôi” cá nhân tự ý thức Bởi vậy, “Cái tôi trữ tnh” là nguồn gốc của thơ trữ tnh Vậy “cái tôi trữ tnh” được hiểu như thế nào ?

1.1.2 Cái tôi trữ tình

Cái tôi trữ tình là sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối vớithế giới và con người thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữtình, tạo ra một thế giới tnh thần độc đáo mang tnh thẩm mĩ nhằm truyềnđạt tinh thần đến người đọc

Bản chất của cái tôi trữ tình là một khái niệm tổng hòa nhiều yếu tốhội tụ theo quy luật nghệ thuật bao gồm cả ba phương diện: bản chất chủquan cá nhân (đây là mối liên hệ giữa tác giả với cái tôi trữ tình thể hiệntrong tác phẩm); bản chất xã hội (là mối quan hệ của cái tôi trữ tình và cái tacộng đồng); bản chất thẩm mỹ (là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản) Cả

ba phương diện: Cá nhân, xã hội, thẩm mỹ đều nằm trong hình thức thể loạitrữ tnh

Theo GS Hà Minh Đức, “Thường thì cái tôi trữ tnh trong thơ dễ bộc lộ trực tếp trong trường hợp viết về chính bản thân mình và trong những quan

hệ riêng tư Với những loại đề tài này cái tôi trữ tnh trong thơ thường phổ biến là cái tôi của tác giả.”, “Trường hợp thứ hai là cảnh ngộ, sự việc trong thơ không phải là cảnh ngộ riêng của tác giả Nhà thơ nói lên cảm nghĩ về những

sự kiện mà mình có dịp trải qua hoặc chứng kiến như một kỷ niệm, một quan sát (…) Cái tôi trữ tình là nhân vật trữ tình chủ yếu của sáng tác.”, “Trường hợp thứ ba là những bài thơ trữ tình viết về một loại nhân vật nào đó (…) Đó

là nhân vật trữ tnh của sáng tác tồn tại bên cạnh cái tôi trữ tình của nhà thơ.”[13,

tr.89]

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Cái tôi trữ tình là trung tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình Nếuquan niệm một tác phẩm trữ tình là một hệ thống với các cấp độ, các yếu tốthì có thể nói mọi thành tố cấu tạo nên bài thơ, từ các biện pháp tu từ cho đếnthể thơ, nhịp và vần điệu… đều nằm trong ảnh hưởng của một trung tâm quychiếu

Trang 23

là cái tôi trữ tình Đó cũng là cơ sở để có thể nói đến các loại hình với tư cáchnhững đặc điểm hình thức têu biểu tương ứng với các kiểu cái tôi trữ tình.

Văn chương không chỉ là bức tranh đời sống mà còn là bức chân dungtinh thần của chủ thể sáng tạo Chủ thể không chỉ là người sáng tạo ranhững giá trị tinh thần mà còn là đối tượng miêu tả biểu hiện, chủ thể khôngchỉ được xem như là một yếu tố tạo nên nội dung tác phẩm mà còn được xemnhư là phương tiện bộc lộ nội dung của tác phẩm, là một thành tố của thế giớinghệ thuật do tác phẩm tạo ra Ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo độc đáo,dấu ấn của chủ thể còn in đậm trong từng từ, từng hình ảnh, từng dòng thơ,bài thơ

Cái tôi của nhà thơ có mối quan hệ trực tếp và thống nhất với cái tôi trữtình trong thơ Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi baoquát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động, tâm tình và kí ứctrong cuộc đời riêng cũng in đậm nét trong thơ Cái tôi của nhà thơ có lúcthể hiện trực tiếp qua những cảnh ngộ riêng, trực tếp giãi bày những nỗi niềmthầm kín Cái tôi của nhà thơ còn hiện diện qua các cách nhìn, cách nghĩ,qua tnh cảm thái độ trước thế giới Tuy nhiên cái tôi trữ tình trong thơ và cáitôi của nhà thơ không hề đồng nhất Cái tôi của nhà thơ ngoài đời thuộc phạmtrù xã hội học, còn cái tôi trữ tình trong thơ thuộc phạm trù nghệ thuật Cáitôi nhà thơ trong đời sống thực là sự hiện hữu của con người nhà thơ với dáng

vẻ, cử chỉ, điệu bộ và những mối quan hệ xã hội cụ thể Cái tôi trữ tình là cáitôi được nghệ thuật hóa theo quy luật sáng tạo nghệ thuật Nó thể hiện tưtưởng thẩm mỹ, quan niệm nhân sinh của nhà thơ về thế giới và nó có sựthống nhất cao độ về tư

tưởng đối với chủ thể sáng tạo

Cái tôi trữ tình được biểu hiện ở hai dạng: trực tiếp hoặc gián tếp thôngqua việc sử dụng những đại từ nhân xưng trong thơ Cùng với sự tài tnh

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

của nhà thơ trong việc tổ chức hệ thống ngôn từ, hình ảnh, biện pháp tu từ…Cái tôi trữ tình tạo nên giọng điệu riêng, góp phần thể hiện phong cách nghệthuật của các nhà thơ

Trang 25

1.2 Sự vận động cái tôi trữ tình trong thơ Việt Nam.

Lịch sử phát triển của thơ ca là lịch sử phát triển của cái tôi trữ tnh, là

sự thay đổi mô hình quan hệ giữa cái tôi trữ tình và đời sống.Trong thơ ca ViệtNam, cái tôi ngay từ đầu đã được các nhà thơ quan tâm thể hiện nhưngbối cảnh khác nhau nên quan niệm về cái tôi cũng vì thế mà thay đổi.Văn họctrung đại là văn học của những nhà nho nhằm thực hiện chức năng giáo huấnnhững chuẩn mực đạo đức, lễ giáo phong kiến Nó mang tính quy phạm và

tính “tôn sùng cổ nhân”, nó gò bó sự sáng tạo của cái tôi cá nhân Cái tôi trữ

tình trong thơ trung đại chưa có điều kiện để bộc bạch những nỗi niềm riêngcủa mình Phải tới những năm đầu thế kỷ XX, cùng với sự thay đổi lớn lao vềmôi trường xã hội – văn hóa thì cái tôi cá nhân mới có điều kiện để ca lênnhững cung bậc cảm xúc của cõi lòng Cái tôi cá nhân trong Thơ mới đượckhẳng định, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trên cả hai phương diện:

lịch sử và văn hóa “Thơ mới khẳng định cái tôi như một bản lĩnh tích cực trong cuộc sống, như một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật Lần đầu tiên có một cái Tôi cá thể hóa trong cách cảm thụ thế giới và tâm hồn”[2,

tr.80] Và cũng lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam có một thời đại mà

cái tôi cá nhân được cất cao tâm hồn trong “Cây đàn muôn điệu”, mở ra cuộc

cách tân trong văn học

1.2.1 Cái tôi trữ tình trong văn học dân gian

Nói đến cái tôi trữ tình trong văn học dân gian là chủ yếu nói đến cái tôitrữ tình trong ca dao, dân ca Đó là cái tôi tm thấy tếng nói chung của tậpthể Cái tôi ở đây không bộc lộ như một cá nhân riêng biệt, mà cơ thể chìm đi,biểu hiên cái tôi xã hội, cái tôi của tập thể.Tác giả dân gian bắt nguồn cảmhứng từ nhu cầu chia sẻ, giao hưởng và đồng vọng trong những cảnh ngộtương đồng Nhân vật trữ tnh trong văn học dân gian chủ yếu là những ngườilao động, là những người đang dãi nắng dầm mưa, là kẻ đang nhọc nhằn lênđồng xuống truông Không gian họ xuất hiện cũng gắn liền không gian lao độngsản xuất như: vườn chè, con đò, bến nước…

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

- Cô kia cắt cỏ bên sông

Trang 27

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây

- Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà

Cái tôi trữ tình dân gian về cơ bản là cái tôi phi cá thể hóa.Hình thức củaloại hình văn học dân gian là diễn xướng và truyền miệng.Thời gian và khônggian mang tnh ước lệ, làm cho thời gian cá thể hóa của cái tôi tác giả mờ nhạthẳn đi Không gian có thể thay đổi, chẳng hạn từ địa danh này sang địa danhkhác vì thế làm mất đi cá tính cụ thể của một hoàn cảnh cụ thể Diện mạo duynhất của cái tôi dân gian là cái chung

1.2.2 Cái tôi trữ tình trong văn họctrung đại

Trong thơ trung đại đã có sự bộc lộ “cái tôi” tác giả, tuy nhiên “cái tôi”của tác giả trung đại chỉ hiện ra trong khuôn khổ

đại.Chưa có được ý thức về sự tồn tại của mình như một cá thể độc lập, conngười trong văn học trung đại ẩn mình, hoà vào trong quan hệ cộng đồng.Con

người trong thơ trung đại luôn tm mọi cơ hội để tan biến vào thiên nhiên Do

đó, bối cảnh xuất hiện của “cái tôi” trong thơ ca trung đại là bối cảnh thiên nhiên.Xuất hiện trong bối cảnh ấy, “cái tôi” trong thơ trung đại là “cái tôi”

nhà nho ẩn dật Khi chốn quan trường lấm bụi trần với sự ganh đua danhlợi, các nhà nho thường trở về với thiên nhiên, hoà vào môi trường thiênnhiên thuần khiết Ở chốn thanh tịnh, không có một dấu vết nào của cuộc sống

xã hội, “cái tôi” nho sĩ thật sự gắn bó, thân thiết trong mối quan hệ đặc biệt

với thiên nhiên:

Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Côn Sơn như đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi đệm êm

Trang 29

Trong ghềnh thông mọc như nêm Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm Trong rừng có bóng trúc râm

Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

( Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi)

Sự thể hiện “cái tôi” trong thơ ca trung đại, “cái tôi” nhà Nho chủ yếu

xuất hiện ở tư cách nhà nho Họ xem mình là một bộ phận trong chỉnhthể thiên – địa – nhân và có một thiên sứ đặc biệt mà vũ trụ giao phó Ở thời

kì Trung Đại, những câu thơ có sự xuất hiện“cái tôi” trực tiếp trên câu chữ

là một điểm nhấn, báo hiệu biểu hiện “phản thi pháp văn học trung đại” đãđến

1.2.3.Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại

Khác với “cái tôi” trong văn học trung đại, “cái tôi” trữ tình trong văn

học hiện đại có sự chuyển mình rõ rệt qua từng giai đoạn Trước Cách mạng

tháng Tám năm 1945, “cái tôi” trữ tnh của tác giả là cái tôi cá nhân, mang dấu

ấn của tác giả Chẳng hạn, cái tôi trữ tnh rất “ngông” của Tản Đà:

Trời đất sinh ta rượu với thơ Không thơ không rượu sống như thừa Công danh hai chữ mùi men nhạt

Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

(Ngày xuân thơ rượu)

Trang 31

Đêm thu buồn lắm chị hằng ơi Trần thế em nay chán nửa rồi Cung Quế đã ai ngồi đó chửa ? Cành đa xin chị nhắc lên chơi

(Muốn làm thằng cuội)

Giai đoạn (1945 – 1954), gắn liền với hoàn cảnh và yêu cầu lịch sử, vănhọc lúc này đặt vấn đề dân tộc lên trên tất cả Do yêu cầu của Cách mạngnên cái tôi là cái tôi của quần chúng, nói tếng nói chung của giai cấp tầng lớpđịa chúng Cái tôi trữ tnh của tác giả hòa tan vào cái chung, nhập vai nhânvật quần chúng Ví dụ: thơ Tố Hữu, ChếLan Viên

Tôi đã là con của vạn nhà

Là anh của vạn kiếp phôi pha

Là em của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ

(Từ ấy – Tố Hữu)

Trong cái tôi mỗi người có cả một hệ thống cái tôi khác nhau, trong quátrình tự nhận thức trước cuộc sống, cái tôi nào đó được lựa chọn, vươn lên tựkhẳng định, cái tôi lúc này đã là cái tôi công dân xã hội, hướng về tình cảmchung của cộng đồng, cái tôi hòa hợp vào cái ta cộng đồng Nó khác với cái tôi

cá nhân phân biệt người này với người khác, cái tôi khẳng định sự chung sứcchung lòng cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước.Đến giai đoạn sau 1954, cái tôiriêng của tác giả xuất hiện trở lại, xu hướng trữ tình hướng nội đã tăng lên.Những cảm xúc cá nhân được quan tâm nhiều hơn:

Ngày mai tôi xa rồi Biết bao giờ trở lại

Ôi thành phố tôi yêu Dưới một trời nắng dãi (…) Ngày mai tôi xa rồi

Lòng tôi còn ở lại

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

(Gặp lại thành phố nắng – Xuân Diệu)

Trang 33

Giai đoạn sau năm 1975, cái tôi trữ tnh của tác giả là cái tôi đa diện.Chiếntranh đã lùi xa, đất nước vẫn chưa tìm được con đường đi đúng cho mình Cáitôi trong văn học được thể hiện nhiều nhưng là một cái tôi cô đơn, bângkhuâng trước dòng chảy của thời gian, của tình hình đất nước Sau năm 1986,đất nước bước vào thời kì cải cách mở cửa để tm ra con đường đi đúng đắncho toàn dân tộc, cái tôi tự do phát triển cùng thời đại.Thơ cũng bước vào thời

kì cách tân đi trước thời đại đề cao cái tôi cá nhân, lên tếng đòi cải cách thayđổi Hàng loạt những cây bút trẻ ra đời với những phong cách mới, thể hiệndấu ấn cá nhân đậm nét như: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Quang Thiều, ViThùy Linh

Tóm lại, cái tôi trữ tnh trong văn học hiện đại là một cái tôi đa diện, cáitôi ấy thay đổi theo từng giai đoạn trong tiến trình vận động của nền văn học

1.3.Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều

1.3.1.Khái quát về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Nguyễn Quang Thiều sinh ngày 13 tháng 2 năm 1957 tại làng Chùa, ven

bờ sông Đáy thuộc xã Sơn Công – huyện Ứng Hòa – tỉnh Hà Tây cũ (Naythuộc Hà Nội) Hiện giờ, ông sống ở thị xã Hà Đông – Hà Nội Ông xuất thântrong một gia đình viên chức, thủa nhỏ sống ở quê Sau khi tốt nghiệp đại học

ở Cu Ba, ông về nước công tác ở ngành an ninh một thời gian

Năm 1983 Nguyễn Quang Thiều bắt đầu viết văn và trở thành hội viênHội nhà văn Việt Nam từ năm 1991 Năm 1992 ông làm việc ở tuần báo vănnghệ - biên tập báo Văn nghệ của Hội nhà văn Việt Nam Năm 2007 ông cùngvới nhà văn, thiếu tướng công an Hữ u Ư ớ c s áng lập nên hai tờ báo: “An ninh thế giới cuối tháng” và “Cảnh sát toàn cầu”.

Tại Đại hội toàn thể Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII (8/2010)NguyễnQuang Thiều được bầu vào ban chấp hành Hiện nay, ông là phó chủ tịch Hộinhà văn phụ trách đối ngoại, đồng thời là ủy viên ban biên tập báo điện tử

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

Vietnamnet Cùng với ban chấp hành mới, trong bộn bề công việc với tráchnhiệm lớn lao nhưng ông vẫn luôn dành thời gian cho việc sáng tạo thơ ca

Trang 35

1.3.2 Những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác

Tới nay Nguyễn Quang Thiều đã xuất bản 10 tập thơ, 16 tập văn xuôi, 3tập sách dịch và hơn 300 bút ký, tiểu luận, phê bình, tản văn Những tác phẩmthơ và truyện ngắn của ông đã được xuất bản ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Na – uy,

- Tiểu thuyết: Cỏ hoang(1990), Vòng nguyệt quế cô đơn(1991), Tiếng gọi tình yêu(1992), Kẻ ám sát cánh đồng(1995).

- Truyện ngắn: Mùa hoa cải bên sông(Truyện ngắn, 1989),Thành phố chỉ sống 60 ngày (Bút kí, 1991), Cái chết của bầy mối (Truyện ngắn, 1991), Hai người đàn bà xóm Trại(Truyện ngắn, 1993), Người đàn bà tóc trắng(1993), Rùa trắng(Truyện thiếu nhi, 1995), Đứa con của hai dòng họ (1996), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều(1996), Người cha(Truyện thiếu nhi, 1997), Bí mật hồ cá thần(Truyện thiếu nhi, 1997), La Fille du Fleuve(Nxb Laube – Pháp, 1998), Lapetde Marchande ge Vermicelles(Nxb Laube – Pháp, 1998), Con quỷ gỗ (Truyện thiếu nhi, 2002), Người nhìn thấy trăng thật(2003), Ngọn núi bà già mù(2004), Có một kẻ rời bỏ thành phố (Tiểu luận và tản văn, 2010).

- Dịch thuật:Chó Dingô(Truyện ngắn Australia tác giả tham gia tuyển chọn, giới thiệu và tham gia dịch chung, 1992),Thế giới không kết thúc (Thơ đương đại Mỹ, 1995), Năm nhà thơ Hàn Quốc (dịch 2003), Khoảng thời gian không ngủ (Tập thơ Mỹ viết về chiến tranh và Việt Nam, tác giả tuyển chọn và

tham gia dịch chung, 1995)

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

* Giải thưởng văn học đã nhận:

Trang 37

Năm 1983 – 1984 đạt giải thưởng thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội với

tác phẩm Đêm trên sân ga Năm 1986 đạt giải thưởng thơ của Liên đoàn Thanh niên sinh viên Đại học Tổng hợp Lahabana với Trò chuyện với Hôxê Macti Năm

1989 – 1990 đạt giải thưởng tạp chí Văn nghệ Quân đội với tác phẩm truyện

ngắn Mùa hoa cải bên sông Năm 1991 đạt giải thưởng của Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm truyện ngắn Cái chết của bầy mối Giải

thưởng bút kí 1991 của tuần báo Văn nghệ (Hội nhà văn) với Thành phố chỉ sống 60 ngày Giải thưởng thơ hay 1993 của báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh với tác phẩm Những người đàn bà gánh nước sông Giải thưởng truyện ngắn (1993 – 1994) của tạp chí Văn nghệ Quân đội với Hai người đàn bà xóm Trại Giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam với tập thơ Sự mất ngủ của lửa(1993).

Tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều còn được dịch ra nhiều thứ tếng và

cũng nhận được nhiều giải thưởng ở ngoài nước Tiêu biểu là cuốn The Women Carry River Warter (Nxb Báo chí Massachu – Sertts and Amharst – USA, 1997) Đây là bản Anh ngữ của cuốn Những người đàn bà gánh nước sông

được University của Massachusetts Press xuất bản năm 1997 và được Thenatonal Translation Association of America trao giải thưởng vào năm 1998

1.3.3 Quan niệm sáng tác và tư duy đổi mới thơ của Nguyễn Quang Thiều.

1.3.3.1 Quan niệm sáng tác của nhà thơ Nguyễn Quang

Thiều.

Đặc tính quan trọng nhất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nóthể hiện bản lĩnh, tài năng và niềm đam mê đối với nghệ thuật của mỗi nhàthơ Trên hành trình đổi mới thơ ca, mỗi một nỗ lực cách tân nghệ thuật đềumang những quan niệm thẩm mỹ và hệ tư tưởng triết học riêng và nó đượcthể hiện qua những quan niệm và phương thức biểu hiện của mỗi cá nhânkhiến cho con

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

đường thơ ca luôn đa chiều, đa

sắc

Thơ Việt Nam hiện đại sau 1975 là hành trình đổi mới đầy nỗ lực củanhiều thế hệ thi sĩ, trước hết là cái nhìn mới trong quan niệm về thơ hiệnđại

Trang 39

Mỗi nhà thơ thể hiện cái tôi thông qua bản lĩnh, tài năng và niềm đam mê khác

nhau bằng những quan niệm thẩm mỹ, hệ tư tưởng và phương thức biểu hiện

Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện niềm say mê bất diệt ấy của mình qua

nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật khác nhau Theo nhà thơ: “Không ít văn nghệ sĩ thường nghĩ, có một cái gì đó giống như một sự xung đột hay sự mâu thuẫn giữa nghệ thuật trong cùng một con người sáng tạo ra nó Đấy là một sai lầm Bởi bản chất của mọi sáng tạo nghệ thuật là như nhau Chúng chỉ khác nhau về hình thức và ngôn ngữ thể hiện Hơn nữa, mọi loại hình nghệ thuật mà tôi sáng tạo chỉ nhằm tm đến nền tự do của tôi mà thôi Đấy là nơi chốn duy nhất vẫy gọi tôi.” [3] Nguyễn Quang Thiều hoạt động và sáng tác ở nhiều lĩnh

vực khác nhau như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch sân khấu, kịch bản phim, tiểuluận, báo chí Ở lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được những thành công Tuy

nhiên, thơ ca vẫn luôn là “miền đất thánh” vẫy gọi ông, là nơi duy nhất giải

phóng hữu hiệu sự sáng tạo của nhà thơ

Nguyễn Quang Thiều đã mang tới cho độc giả sự lôi cuốn không tưởngtrong những sáng tác thơ đầy chất mới mẻ Những phát ngôn mang khát vọngđổi mới tư duy thơ của ông được thể hiện chân thành qua những lời nhậnđịnh trong tác phẩm, những bài trả lời phỏng vấn Đây cũng là nhịp cầudẫn dắt

người đọc trên hành trình khám phá thơ Nguyễn Quang Thiều

Nguyễn Quang Thiều quan niệm làm thơ là “làm mới lại những gì đã cũ

và làm sống lại những gì đã chết” [21] Với nhà thơ: thế giới ngàn đời luôn tồn

tại như vậy, cái mới có hay chăng chính là cái nhìn mới của con người về cuộcsống? Bởi vậy, cái mới là những gì mà nhà thơ phát hiện trong đời sống củamình, hoặc một đời sống liên quan đến nhà thơ mà nhiều khi chính ông

tưởng đã cũ mèm Ông nói: “Với cá nhân tôi, khi tôi viết nghĩa là tôi đang hồi

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN ht t p : / / www l r c - t n u.edu.v n

tưởng về một đời sống tôi đã sống Tôi đang tự mang đến cho mình một nền tự do, một trí tưởng tượng và một giấc mơ” [16] Quan niệm này thể hiện

mạch cảm xúc chính trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Ngày đăng: 12/01/2019, 12:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, (2001), Văn học hiện đại nhận thức và thẩm định, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hiện đại nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NxbKHXH
Năm: 2001
2. Huy Cận – Hà Minh Đức, (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào thơ mới), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận – Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
3. Diễm Chi, Nguyễn Quang Thiều: “Chỉ có con người làm khổ conngười”, nguồn:htt p : / / e v a n . v n e x p re s s . n et Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ có con người làm khổ conngười”
4. Nguyễn Việt Chiến, (2009), Nguyễn Quang Thiều – Người đi qua cơn khátcủa sa mạc thơ, nguồn :h t t p: / / t a p c hi n h a v a n . v n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Quang Thiều – Người đi qua cơn khát"của sa mạc thơ
Tác giả: Nguyễn Việt Chiến
Năm: 2009
5. Đan Đan, (2009), Đôi điều về hành trình cách tân ngôn ngữ thơ Việt, nguồn: ht t p : / / www .luon o n gs on . n e t Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về hành trình cách tân ngôn ngữ thơ Việt, nguồn
Tác giả: Đan Đan
Năm: 2009
6. Phan Cự Đệ, (1997), Văn học lãng mạn 1930 – 1945, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: học lãng mạn 1930 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức, (2005), Văn học Việt Nam (1900 – 1945), Tái bản lần thứ chín, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 – 1945)
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
8. Nguyễn Đăng Điệp, (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
9. Nguyễn Đăng Điệp, (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tnh, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tnh
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
10. Nguyễn Đăng Điệp, Thơ Việt Nam sau 1975 – Từ cái nhìn toàn cảnh, Tạp chí NCVH số 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam sau 1975 – Từ cái nhìn toàn cảnh
11. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (Biên soạn 2010), Thi pháp học ở Việt Nam (Nhân 70 năm sinh GS. TS Trần Đình Sử), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ởViệt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
12. Hà Minh Đức, (2002), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
13. Hà Minh Đức, (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb KHXH, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1974
14. Đỗ Ánh Dương, (2010), Thơ Việt đương đại: Cái nhìn từ mô thức nhịpđiệu, nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt đương đại: Cái nhìn từ mô thức nhịp"điệu
Tác giả: Đỗ Ánh Dương
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w