Trong nền thi ca đó, cái tôi trữ tình là một nét độc đáo vừa mang dáng dấp hiện thực cuộc sống vừa mang phong cách đặc trưng riêng của từng tác giả; vừa là sự hòa quyện giữa cái tôi cá n
Trang 1Nguyễn Thị Thu Hiền
TIẾNG NÓI CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ HỮU THỈNH
TRƯỚC NĂM 1986
- MỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2Nguyễn Thị Thu Hiền
TIẾNG NÓI CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ HỮU THỈNH
TRƯỚC NĂM 1986
- MỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi Trong quá trình nghiên cứu, những số liệu, kết quả thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguy ễn Thị Thu Hiền
Trang 4Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ và quan tâm tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phòng Sau Đại học, Khoa
Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi
học tập và nghiên cứu khoa học
Quý thầy, cô giảng viên đã tận tình truyền đạt những tri thức quí báu, dìu dắt giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Thành Thi, người hướng dẫn khao học, đã động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu, đồng thời đã hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quí báu để tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này Trân trọng cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 8
1.1 Thơ trữ tình và cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại 8
1.1.1 Khái niệm thơ trữ tình và thơ trữ tình hiện đại 8
1.1.2 Nội dung và phương thức trữ tình 14
1.2 Một số đặc điểm và dạng thức biểu hiện cơ bản của cái tôi trữ tình trong thơ 22
1.2.1 Cái tôi và đặc điểm, biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ 22
1.2.2 Chủ thể trữ tình 26
1.2.3 Mối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình 26
1.3 Thơ Hữu Thỉnh và thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bối cảnh thơ Việt Nam thời chiến và thập niên hậu chiến 28
1.3.1 Một cái nhìn toàn cảnh thơ Việt Nam thời chiến và thập niên hậu chiến 28
1.3.2 Nhìn chung về thơ Hữu Thỉnh 31
1.3.3 Nhìn chung về thơ Nguyễn Khoa Điềm 35
Chương 2 TIẾNG NÓI CỦA CÁI TÔI TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ HỮU THỈNH: NHỮNG ĐỐI SÁNH TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TRỮ TÌNH 39
2.1 Cái tôi tự ý thức về bổn phận đối với đất nước 39
2.1.1 Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 39
2.1.2 Trong thơ Hữu Thỉnh 45
2.2 Cái tôi dấn thân và hành động 50
2.2.1 Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 50
2.2.2 Trong thơ Hữu Thỉnh 55
Trang 62.3.2 Trong thơ Hữu Thỉnh 67
2.4 Cái tôi tình nghĩa, gắn bó máu thịt với quê hương 71
2.4.1 Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 72
2.4.2 Trong thơ Hữu Thỉnh 74
2.5 Bước chuyển từ cái tôi trong cảm hứng sử thi sang cái tôi trong cảm quan thế sự 79
2.5.1 Cảm hứng trữ tình mỗi người một cách, nhưng đều áp sát thực tế đời sống với những trải nghiệm cá nhân 79
2.5.2 Cảm hứng trữ tình luôn bắt nguồn từ những cảm xúc, tình cảm lớn lao cao cả song cũng hết sức thực tế, gần gũi 86
Chương 3 TIẾNG NÓI CỦA CÁI TÔI TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ HỮU THỈNH: NHỮNG ĐỐI SÁNH TRÊN BÌNH DIỆN PHƯƠNG THỨC TRỮ TÌNH 97
3.1 Phương thức thể hiện tiếng nói của cái tôi trong thơ trữ tình của Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh 97
3.1.1 Sự hòa phối điểm nhìn cá nhân và điểm nhìn thế hệ như là một phương thức trữ tình 97
3.1.2 Sự hòa phối trữ tình sử thi và trữ tình lãng mạn như là một phương thức biểu đạt tiếng nói của cái tôi 102
3.1.3 Cách vận dụng thể thơ và tạo tác giọng điệu, ngôn từ 105
3.2 Phương thức thể hiện tiếng nói của cái tôi trong trường ca của Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh 115
3.2.1 Trường ca của Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh trong dòng mạch trường ca Việt Nam hiện đại 115
3.2.2 Phương thức biểu đạt cái tôi trữ tình trong trường ca của Nguyễn Khoa Điềm (Mặt đường khát vọng) và Hữu Thỉnh (Đường tới thành phố, Trường ca biển, Sức bền của đất.) 121
KẾT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Thực tiễn đất nước Việt Nam trước năm 1986 tác động sâu sắc đến đời sống văn học: đó là hiện thực gian lao, khốc liệt của chiến tranh trước năm 1975, là hiện
thực đời sống hậu chiến thập niên sau 1975, là hiện tình đất nước thời đổi mới với
những trăn trở của cuộc chuyển đổi đầy ngổn ngang và những va đập của các giá
trị Đông – Tây Tất cả đã tác động sâu sắc đến đời sống văn học
Thơ ca những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một nền thơ chiến đấu, tràn đầy tinh thần cách mạng Đó là tiếng nói vọng từ tâm hồn một đội ngũ nhà thơ
trẻ với sức sáng tạo thơ ca phong phú và đa dạng
Trong nền thi ca đó, cái tôi trữ tình là một nét độc đáo vừa mang dáng dấp
hiện thực cuộc sống vừa mang phong cách đặc trưng riêng của từng tác giả; vừa là
sự hòa quyện giữa cái tôi cá nhân và cái tôi thế hệ; vừa là sự hòa phối giữa cảm
hứng trữ tình và cảm quan chính trị,… Tiêu biểu cho sự hiện hữu của “Cái tôi trữ tình” ấy trong thơ ca Việt Nam trước 1986 là trường hợp sáng tác của Hữu Thỉnh
và Nguyễn Khoa Điềm Cả hai nhà thơ đều có những sáng tác nổi bật ở thơ trữ tình
ngắn và trường ca Mỗi nhà thơ có một phong cách và một nét độc đáo riêng Nghiên cứu, đối sánh “Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm” có thể giúp chúng ta nhận thức rõ điều đó Những tương đồng, khác biệt trong tiếng nói của cái tôi trữ tình trong thơ hai ông cũng phần nào cho thấy tính
thống nhất mà phong phú đa dạng của thơ ca Việt Nam đương thời
Mặt khác, tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh không chỉ nhận diện mỗi nhà thơ có chất giọng riêng mà còn có ý nghĩa góp phần tìm hiểu, đánh giá thành tựu của nền thơ Việt Nam hiện đại trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Từ nhiều năm nay một số bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh đã được đưa vào chương trình sách giáo khoa nhà trường Vì vậy, tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm
và Hữu Thỉnh sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc giảng dạy văn học ở trường Trung Học Phổ Thông sau này
Là lớp người thuộc thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tôi muốn tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm, thơ Hữu Thỉnh nói riêng và thơ ca những năm chống Mỹ, cứu
Trang 8nước nói chung như tìm đến tâm hồn thế hệ trẻ Việt Nam trong một chặng đường lịch
sử, từ đó giúp những cảm nhận của mình về cuộc sống, về tình yêu, về tuổi trẻ, về khát vọng của một thế hệ sâu sắc hơn mà mình chưa có dịp trải qua
2 Lịch sử vấn đề
Thơ ca từ những năm đầu kháng chiến chống Mỹ đến 1986 là một giai đoạn có nhiều đóng góp không nhỏ cho nền thi ca dân tộc Trong đó biểu hiện cái tôi trữ tình của đội ngũ nhà thơ trẻ được xem như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong giai đoạn này Vấn đề này đang nhận được nhiều sự quan tâm của giới phê bình, nghiên
cứu Khi nói đến cái tôi trữ tình của các nhà thơ trẻ trong giai đoạn này, Hữu
Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm được xem như hai đại diện tiêu biểu Có khá nhiều tác phẩm phê bình, nghiên cứu bàn về thơ ca của hai nhà thơ trẻ này
Với Nguyễn Khoa Điềm một số nhà phê bình, nghiên cứu đã có những bàn
luận như:
Hà Minh Đức trong bài viết “Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm” [34], đề
cập đến nội dung và nghệ thuật của tập thơ, chỉ ra giọng điệu mới mẻ và những trăn trở của nhà thơ
Vũ Tuấn Anh với bài viết “Nguyễn Khoa Điềm từ mặt đường khát vọng đến
ngôi nhà có ng ọn lửa ấm” [2] đã nói đến những biến đổi trong tư duy thơ Nguyễn
Khoa Điềm, đi sâu vào nội dung và nghệ thuật hai tập thơ này Những cố gắng của nhà thơ khi đi tìm giọng thơ mới, nói về điều bình thường bằng một giọng bình thường Khẳng định Nguyễn Khoa Điềm như một cây bút trẻ đặc sắc nổi lên trong
thơ ca kháng chiến chống Mỹ: “Một tiếng nói trẻ trung vừa đồng thanh vừa đại
di ện cho thế hệ tuổi trẻ xuống đường và vào trận Triết lí và trữ tình, cuộn chảy
mà l ắng đọng, sự già dặn của nghĩ suy đan lẫn những nét tinh tế tài hoa”.[2,
tr.415]
Nguyễn Trọng Hoàn trong “Cảm nhận thơ Nguyễn Khoa Điềm” [47] đã chỉ ra
vẻ đẹp của những giá trị bền vững trong thơ ông như quá trình tích lũy vốn sống,
sự thăng hoa mãnh liệt trong cảm xúc nhân văn kết tinh trong ý tưởng mới lạ
Vũ Quần Phương lại khai thác ở một phương diện khác trong bài “Ngôi nhà có
ng ọn lửa ấm” [64] Ông đi sâu vào chất thơ, khái quát đặc điểm nội dung và nghệ
Trang 9thuật của tác phẩm Đó là bút pháp dùng cái đạm để vẽ cái nồng, không cao giọng lâm ly mà rất đời thường, là những câu thơ cô đọng hàm súc
Trong bài viết: “Nguyễn Khoa Điềm với những bài thơ viết từ chiến trường Bình
Trị Thiên” [ 59 ] Mai Quốc Liên đã đi vào phân tích một vài bài thơ tiêu biểu trong
sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm và đi đến nhận xét : “Sách vở đã cho anh một cách
nhìn, một cách suy nghĩ và tiếp nhận thực tại, và một phần nhờ thế mà thơ anh có lúc được mở ra theo nhiều bất ngờ , thú vị của tư duy…thơ anh giàu cảm xúc, cảm xúc ấy lại được nâng lên, chan hoà trong một nhận thức cuộc sống nhạy bén Cuộc sống ở chiến trường không những cho anh những xúc động dịu ngọt, đằm thắm, cuộc sống còn cho anh một dáng đứng, một cách nhìn cách nghĩ, thường là đúng và sâu.” [59,
tr.148]
Trong “Đặc điểm trường ca Nguyễn Khoa Điềm, Thu Bồn, Thanh Thảo” [5] của
Mai Bá Ấn đi vào tính đa tầng trong khả năng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người: Hiện thực cuộc sống – từ lý tưởng đến bản chất và chiêm cảm, con người – cái nhìn thống nhất và đối cực; Hiện thực máu lửa và khát vọng bình yên và đi vào những
biểu trưng nghệ thuật tiêu biểu; Tính phức hợp trong cấu trúc nghệ thuật; Sự đa dạng trong sử dụng các thể thơ; Sự phức hợp trong các kiểu cấu trúc tác phẩm; Sự vận động trong ngôn ngữ và giọng điệu thơ của trường ca Nguyễn Khoa Điềm
Trong luận văn thạc sĩ: “Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm” [54], Lưu Thị Lập
sau khi nêu lên những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống Mỹ đã đưa ra và phân tích những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về đất nước, con người trong và sau chiến tranh), tập trung phân tích những hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Nhà thơ Hữu Thỉnh lại được đề cập đến ở một số bình diện thi pháp, phong cách nghệ thuật Có thể kể ra đây một số công trình bài viết
“ Thi pháp thơ Hữu Thỉnh” [72] của Nguyễn Nguyên Tản chỉ ra những nét về
thơ Hữu Thỉnh, các khía cạnh con người được thể hiện trong thơ ông như con người tâm sự, con người tình nghĩa, con người cô đơn và thế giới thi pháp nghệ thuật như giọng điệu, nhạc điệu, ngôn ngữ Chuyên luận gồm 4 chương: “chương
th ứ nhất nhằm giới thiệu khái quát về thơ Hữu Thỉnh, còn lại ba chương là để lần
Trang 10lượt giải quyết ba nhiệm vụ quan trọng Thứ nhất, tìm hiểu con người với tư cách
là h ạt nhân cốt lõi của thế giới nghệ thuật; Thứ hai, tìm hiểu về không gian, thời gian, nh ững hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật; Và cuối cùng là tìm hiểu
nh ững phương thức và phương tiện tổ chức thế giới nghệ thuật như kết cấu, ngôn
ng ữ” [72, tr.179]
Trong bài viết “Thư mùa đông của Hữu Thỉnh” [41] Trần Mạnh Hảo đã đưa ra
những biểu hiện về sở trường và phong cách thơ Hữu Thỉnh Đó là chất dân gian,
là con người trong thơ ông
Lý Hoài Thu cũng góp thêm đánh giá, khám phá riêng của mình về thơ Hữu
Thỉnh trong bài viết “Thơ Hữu Thỉnh, một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc
đến hiện đại” [90] Tác giả đã có những đánh giá vô cùng quan trọng về một số thủ
pháp nghệ thuật thơ đặc trưng của Hữu Thỉnh: “Một trong những tiềm năng của
h ồn thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm của trực giác” [90] Người viết cho rằng: “Sự
k ết hợp giữa cái vô hình và cái hữu hình, cái cụ thể và cái trừu tượng không còn là thao tác xa l ạ đối với thơ hiện đại Điều quan trọng là anh phải tạo được cái riêng trên cơ sở của nguyên tắc chung ấy Hữu Thỉnh tỏ ra thuần thạo và có nhiều thành công trên phương diện này” [90]
Trong luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của Nguyễn Thị Hoa: “Phép lặp từ vựng và
lặp ngữ pháp trong thơ Hữu Thỉnh” [45] Trong công trình này, một cách hệ thống, tác
giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu hai phương diện nghệ thuật nổi bật trong ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh: phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp Một cách cụ thể và rõ ràng hơn, như sự
nhận xét của chính tác giả, chúng ta muốn gọi luận văn này là “sự vận dụng lí thuyết
ngôn ngữ về phép lặp từ vựng và lặp ngữ pháp vào việc nghiên cứu hai hiện tượng này trong thơ Hữu Thỉnh” [45, tr.108] Phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ dừng lại ở
tập “Từ chiến hào tới thành phố” của Hữu Thỉnh
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Thương về “Thế giới nghệ thuật thơ Hữu
Thỉnh”[93], đã cho ta thấy về các cảm hứng chủ đạo của nhà thơ như cảm hứng thế sự,
cảm hứng trữ tình; Các thế giới hình tượng quê hương, đất nước và con người trong chiến tranh cũng như trong thời bình Bên cạnh đó là các thủ pháp nghệ thuật ngôn ngữ, giọng điệu, cấu tứ,…ở trong cả thơ trữ tình ngắn và trường ca
Trang 11Như vậy các tác giả trên trong từng công trình, bài viết cụ thể của mình đã đề
cập đến thơ Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm ở các khía cạnh như thủ pháp nghệ thuật, phong cách thơ, nội dung cảm hứng, Tuy nhiên, hầu như các tác giả chưa
có điều kiện đề cập sâu đến cái tôi trữ tình trong sáng tác của hai nhà thơ này
Với đề tài “Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm trước
1986 – m ột cái nhìn đối sánh”, người viết muốn phát triển thêm những gì đã được
khám phá, tìm hiểu về thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh trên bình diện cái tôi
trữ tình và đi sâu đối sánh cái tôi trữ tình giữa hai nhà thơ để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện về cái tôi trữ tình nói chung cũng như của hai nhà thơ nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu và tìm hiểu “Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Khoa Điềm,
Hữu Thỉnh trước năm 1986 – một cái nhìn đối sánh” là một góc tiếp cận bản sắc
của thơ kháng chiến chống Mỹ – một giai đoạn hào hùng của thơ ca dân tộc Nghiên cứu đề tài này cũng cho chúng ta thấy phong cách riêng, tiếng nói riêng
của hai nhà thơ trong dàn đồng ca chung của thế hệ, đồng thời cũng giúp đi sâu khám phá những dạng biểu hiện của cái tôi trữ tình của hai nhà thơ để thấy được hoàn cảnh lịch sử và bối cảnh đời sống luôn chi phối đến đời sống văn học, phong cách, lí tưởng, thẩm mĩ, Qua sự đối sánh cái tôi trữ tình trong thơ của hai tác giả
để thấy rõ hơn cái tôi trữ tình của hai nhà thơ cũng như những điểm khác nhau để
thấy được sự vận động của cái tôi trữ tình trong giai đoạn văn học chống Mỹ trước
1986
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các tác phẩm thơ của hai nhà thơ Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm trước năm 1986 trong đó tập trung vào các tác phẩm thơ:
- Nguyễn Khoa Điềm: Đất ngoại ô (1973)
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986)
Mặt đường khát vọng (Trường ca - 1974)
- Hữu Thỉnh: Âm vang chiến hào (1976)
Khi bé Hoa ra đời (Thơ, in chung)
Trang 12Từ chiến hào tới thành phố (1985) Một số bài trong tập thơ “Thư mùa đông” (thơ, viết 1982
- in 1994) Sức bền của đất (Trường ca – 1977) Đường tới thành phố (Trường ca -1985) Trường ca biển (Trường ca - viết 1981- in 1994)
của hai nhà thơ
5.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu
So sánh các dạng biểu hiện của cái tôi trữ tình của hai tác giả Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm với các tác phẩm trong từng giai đoạn khác nhau qua đó kiến
giải những nét tương đồng, khác biệt giữa hai tác giả
6 Những đóng góp mới
Khảo sát “Cái tôi trữ tình trong thơ Hữu Thỉnh và Nguyễn Khoa Điềm trước
năm 1986 – một cái nhìn đối sánh” là góp phần làm rõ hơn bản sắc thơ trẻ Việt
Nam giai đoạn trước năm 1986 hướng tới khái quát một cách toàn diện chân dung cái tôi trữ tình và nhận diện một cách rõ nét đặc điểm nội dung cũng như phương
Trang 13thức nghệ thuật của thơ trẻ Việt Nam trước năm 1986, đặc biệt là giai đoạn chống
Mỹ cứu nước Qua sự đối sánh của cái tôi trữ tình giữa hai nhà thơ về “nội dung
tr ữ tình và phương thức trữ tình”, từ đó luận văn cho chúng ta thấy rõ hơn mối liên
hệ và những tác động sâu sắc của hiện thực xã hội đến sáng tác của các nhà thơ cũng như tấm lòng của tác giả gửi gắm thông qua các tác phẩm Thấy rõ cái tôi trữ tình cũng như những điểm khác biệt của cái tôi ấy giữa hai nhà thơ mà gần như chưa công trình nào đề cập tới
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đối tượng
Ở chương này người viết sẽ đi vào tìm hiểu các khái niệm về thơ trữ tình, thơ trữ tình hiện đại, nội dung trữ tình, phương thức trữ tình Biểu hiện của chúng trong thơ trữ tình hiện đại Việt Nam Bên cạnh đó là các khái niệm về cái tôi, chủ thể trữ tình, mối quan hệ giữa cái tôi và chủ thể trữ tình Cái nhìn toàn cảnh về thơ Việt Nam thời chiến và thập niên hậu chiến Nhìn chung về thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh
Chương 2 Tiếng nói của cái tôi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh:
Những đối sánh trên bình diện nội dung trữ tình
Ở chương này người viết sẽ đối sánh trên các nội dung như: Cái tôi ý thức về bổn phận đối với đất nước; Cái tôi dấn thân và hành động; Cái tôi khát vọng tình yêu hạnh phúc gắn với lí tưởng của cộng đồng; Cái tôi gắn bó máu thịt với quê hương; Bước chuyển từ cái tôi sử thi sang cái tôi thế sự
Chương 3 Tiếng nói của cái tôi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh: Những đối sánh trên bình diện phương thức trữ tình
Nội dung chủ yếu của chương này là đi vào so sánh trên hai khía cạnh: thơ trữ tình ngắn và trường ca của Nguyễn Khoa Điềm và Hữu Thỉnh Ở thơ trữ tình ngắn chủ yếu so sánh trên các bình diện như sự hòa phối điểm nhìn cá nhân
và điểm nhìn thế hệ; Sự hòa phối trữ tình sử thi và trữ tình lãng mạn; Tạo tác giọng điệu, ngôn từ, thể thơ Ở trường ca chủ yếu đi vào đối sánh ở cấu trúc;
Việc vận dụng thể thơ, tạo tác giọng điêu, ngôn từ
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Thơ trữ tình và cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại
1.1.1 Khái ni ệm thơ trữ tình và thơ trữ tình hiện đại
1.1.1.1 Khái niệm thơ trữ tình
Trữ tình là một trong trong những phương thức phản ánh đời sống cơ bản của văn chương (tự sự, trữ tình, kịch) xét ở cấu trúc hai mặt nội dung - hình thức của tác phẩm
Ngày nay, nói đến thơ ca, ta nghĩ nhiều đến những bài thơ trữ tình - những tác phẩm giống như những lời bộc bạch tâm tư
Theo nghĩa từ nguyên, trữ tình (lyric) là bài hát được đệm bằng đàn lyr (đàn thất huyền) Nghĩa hiện tại là bài thơ không có tính tự sự (kể chuyện) không có tính kịch (được trình diễn bởi một diễn viên) nó là lời bộc bạch cảm xúc hoặc suy tư
Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Ở trữ tình, cái được đề
lên hàng đầu là chủ thể phát ngôn và thái độ của nó đối với cái được mô tả” [4]
Văn bản văn chương là sự hư cấu Bằng một bài thơ, tác giả trình bày một bức tranh về thế giới bằng ngôn ngữ nghệ thuật Thế giới đó thường có thể có hoặc không
có trong thực tế, cho nên, thơ trữ tình là thế giới khách quan được chủ quan hóa và được cá thể hoá Hêghen từng nhận xét: Tự sự là thế giới của khách thể, còn trữ tình là thế giới của chủ thể Như vậy, nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể Cái đặc biệt của một bài thơ trữ tình là luôn có một người nói bên trong về quan hệ của họ với thế giới (thiên nhiên, xã hội, gia đình, bạn bè, có khi đề cập cả tới những vấn đề lớn lao), về mối quan hệ của họ với con người (hi vọng, thất vọng, nỗi buồn, tình bạn, tình yêu, sự trung thành hoặc phản bội) Trong thơ trữ tình, tình cảm có vai trò hết sức quan trọng Vì thơ thường ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch) nên các tác giả có thể thể hiện cảm xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên, tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ
Trang 15thường lời ít, ý khôn cùng "Hãy biết rằng chính quả tim ta đang nói và thở than lúc
bàn tay đang viết, nhà thơ không viết một chữ nào nếu cả toàn thân không rung động"
(Alfret de Mussé) Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc phát hiện đời sống
Nó động viên người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ Thơ còn giúp cho người đọc nhận thức được các phạm trù thẩm mĩ như: Cái đẹp, cái cao thượng, cái hài hoà, cái xót thương Thơ còn giúp người đọc cảm nhận được âm điệu của ngôn ngữ khiến người ta có thể đọc, ngâm, thậm chí hát
Thơ trữ tình thường có sự hiện diện của cái tôi Cái tôi trữ tình lẽ dĩ nhiên là một hiện tượng nghệ thuật
Ai cũng biết thơ trữ tình luôn gắn liền với cái tôi song cho đến nay vấn đề cái tôi trữ tình vẫn ít được nghiên cứu Nhiều từ điển văn học, sách chuyên khảo, giáo trình lí luận văn học thiếu vắng mục từ hoặc chuyên mục bàn về khái niệm này
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng: “Trong phương thức trữ tình, cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp, duy nhất của nội dung tác phẩm Cái tôi trữ tình thường xuất hiện dưới dạng nhân vật trữ tình” [38]
Đối với Hêghen thơ trữ tình được xem là sự biểu hiện của chủ thể và cảm thụ của chủ thể Ở thơ trữ tình cá nhân là trung tâm trong quan niệm và tình cảm nội tại của
nó G.N Pôxpêlốp xác định nội dung trữ tình là tính cách xã hội được biểu hiện qua nhân vật trữ tình
Cái tôi trữ tình trong thơ ca có chức năng duy trì sự bền vững bản chất cá nhân, nhân cách trước mọi biến động cuộc sống
Nói đến cái tôi trữ tình tức là nói đến con người bên trong, con người thật từ trong cách nghĩ – con người tiềm ẩn của nhà thơ
Nhân cách con người luôn luôn thay đổi và không ngừng hoàn thiện Cấu trúc của cái hạt nhân nhân cách chưa kết thúc luôn là trung tâm của chủ thể cảm hứng trữ tình Nhà thơ chân chính bao giờ cũng sáng tạo bằng cách của mình Chính nhân cách
ấy làm nền cho nhà thơ đứng vững, sống mãi trong lòng người đọc
Trang 16Nói đến cái tôi trong thơ tức là nói đến cái tôi ngoài đời đã được nghệ thuật hóa
Nó thể hiện ở hình thức cái nhìn, cách thức, giác độ miêu tả và ở nguyên tắc xây dựng tái tạo hình tượng mang cảm hứng, tư tưởng, lập trường của nhà thơ
Như vậy khi nghiên cứu cái tôi trữ tình tức là ta đi sâu vào nội tâm nhà thơ với những nét riêng nhất của tác giả (chủ thể sáng tạo)
Tự sự hướng về quá khứ, kể những gì đã xảy ra Trữ tình hướng về hiện tại, nắm bắt người nói trong tác phẩm vào lúc đương bộc bạch, biểu hiện Trữ tình không chỉ tái tạo lại những tình cảm của nhà thơ mà ở một mức đáng kể còn làm cho tình cảm ấy trở nên năng động, giàu có, sáng tạo lại những tình cảm ấy Cảm xúc trữ tình, vì vậy, có một cường độ, một bão hòa đặc biệt Nhà thơ dường như bị “cầm tù” bởi tình cảm mà anh ta đem thể hiện bằng thơ
Thơ trữ tình thường có địa chỉ rõ rệt, viết cho một người nào đó Ý kiến của John
Stuart Mill về thơ đặc biệt đúng với thơ trữ tình “Văn hùng biện được nghe, thơ được
nghe trộm Văn hùng biện giả định một cử tọa, đặc điểm của thơ nằm ở vô thức tuyệt đối của một người nghe của nhà thơ Thơ là nhu cầu mình tâm sự với chính mình những lúc cô đơn” [73] Tác phẩm trữ tình bao giờ cũng bao gồm việc nhà thơ lí giải
cuộc sống – đó sẽ là công việc của thế giới nội tâm của cá nhân nhà thơ Bởi vậy với tất cả sự đặc sắc độc đáo của trữ tình, vẫn hoàn toàn có thể đem áp dụng cho nó những khái niệm (đề tài, vấn đề, sự đánh giá một cách cảm xúc) mà người ta vừa dùng để soi nội dung một tác phẩm văn học
Đồng thời nội dung các tác phẩm trữ tình có một phẩm chất đặc biệt, rất cốt yếu với người đọc Nội dung của loại trữ tình là cuộc sống tinh thần, thế giới những tư tưởng, tình cảm của con người Ở đây chủ yếu là những trạng thái tâm hồn, những suy tưởng cảm xúc của cá nhân ẩn giấu bên trong con người Thông qua đó chúng ta có thể tìm hiểu được phẩm chất tâm hồn nhà thơ Không chỉ dừng ở đó, nhà thơ với tư cách chủ thể trữ tình còn suy nghĩ, nghiền ngẫm chính mình để tìm cho mình một hướng đi đúng, tạo cho mình một nhân cách tốt Thông qua đó, người tiếp nhận cũng bộc lộ thái
độ đồng tình hay phản đối, tiếp thu hay loại trừ
Theo Timofêep “Nếu con người được giới thiệu qua một trạng thái cá biệt nhất định không có cốt truyện thì trước mắt chúng ta là loại trữ tình Trong tác phẩm trữ
Trang 17tình bất cứ thuộc thời gian nào chúng ta đều thấy có một lối thể hiện con người, thể hiện tính cách hoàn toàn khác, ở đây con người được vẽ lên trong một tâm trạng cá biệt của mình” [51]
Không giống như các phương thức thể hiện đời sống khác, trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với cảm xúc và nhân sinh
Phương thức trữ tình cũng tái hiện các hiện tượng đời sống nhưng tái hiện này không mang mục đích tự thân mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc, chiêm nghiệm, suy tưởng của mình Nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình
Tác phẩm trữ tình trình bày trực tiếp cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người nên xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời hiện tại Nhờ đó những cảm xúc, rung động thầm kín của nhà thơ tác động đến người đọc tạo mối cảm thông, đồng điệu Tác phẩm trữ tình còn mang một ý nghĩa xã hội rộng lớn, nó thâm nhập và thẩm thấu vào những nhân lý phổ biến nhất của tồn tại con người Chính vì thế, sự phát triển của phương thức trữ tình luôn gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội
Tiếp nhận đầy đủ tác phẩm trữ tình – nghĩa là để cho tâm trạng của nhà thơ thấm vào mình, cảm thấy như một lần nữa sống qua các tâm trạng ấy như một cái gì của mình, một cái gì riêng tư, thân thiết của mình
1.1.1.2 Khái niệm thơ trữ tình hiện đại
Ở Việt Nam, thơ trữ tình hiện đại thuộc loại hình thơ mới, xuất hiện đầu thế kỷ
XX và phát triển cho đến ngày nay Do nhu cầu đề cao mạnh mẽ của cái tôi thi sĩ, nên màu sắc cá thể của cảm xúc in đậm trong mọi khía cạnh của ngôn từ như vốn từ, các biện pháp tu từ hay ngữ điệu, giọng điệu Lời thơ thường linh hoạt, uyển chuyển hơn
so với thơ cũ Hiện đại ở đây cần phải hiểu là hiện đại trong nghĩa đối lập, khu biệt với trung đại, không phải hiện đại theo kiểu chủ nghĩa hiện đại Theo đó, trữ trình hiện đại
có những nội dung, phương thức khác biệt với trữ tình trung đại và rộng hơn khác với trữ tình truyền thống Ví dụ thơ trung đại phi ngã thì thơ hiện đại đề cao cái “tôi” (duy
Trang 18ngã); Thơ trung đại uyên bác, sùng cổ thì thơ hiện đại giảm thiểu tính uyên bác sùng
cổ để hướng đến người đọc đại chúng, rà soát lại mọi khuôn vàng thước ngọc đề xuất chuẩn thẩm mỹ mới; Thơ trung đại ước lệ, cách điệu hóa cao thì thơ hiện đại chú trọng
tả thực, thích sự sống động, độc đáo, chủ thể trữ tình trong thơ trung đại thường hiện hữu cái tôi của người trí thức Nho học, cái tôi “siêu cá thể” thì trong thơ trữ tình hiện đại hiện hữu cái tôi thi sĩ trí thức Tây học;…
Thơ trữ tình hiện đại Việt Nam xuất hiện từ những thập niên đầu thế kỷ XX với phong trào thơ mới Với việc lấy cái tôi cá nhân làm cứu cánh, cùng tình yêu cảm xúc tha thiết tiếng Việt và phải kể thêm cộng với tài năng của nhiều thi sĩ có tầm cỡ lớn, thơ mới đã đóng vai trò to lớn, có thể nói là dứt điểm trong việc nâng quốc ngữ đạt đến trình độ ngôn ngữ của nghệ thuật thi ca Thơ mới đã chuyển toàn bộ tinh hoa của thơ
ca dân tộc và ngôn ngữ dân tộc cập bến hiện đại Đồng thời, nó cũng mở một số mũi thăm dò, thể nghiệm theo hướng hiện đại chủ nghĩa
Sự bế tắc và tàn lụi của thơ mới cũng có ý nghĩa tất yếu như một trào lưu văn học đã hoàn tất xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó và không còn đủ những điều kiện để phát triển tiếp Cái tôi cá nhân lãng mạn chủ nghĩa không có đủ cơ sở xã hội và tinh thần để nuôi dưỡng nó, trong hoàn cảnh đặc thù của dân tộc những năm 40 Thơ mới không giải quyết được và cũng không thể đòi hỏi hơn ở nó trong việc thanh toán một thiếu hụt khác của thơ ca truyền thống: đó là vấn đề tính hiện thực và tính xã hội của thơ Một số nhà nghiên cứu đã chú ý đến những đặc điểm của thơ trữ tình truyền thống của ta, chủ yếu được các nhà nho sáng tác: không nhằm theo hướng khai thác các khía cạnh đời sống hiện thực và không hướng thể hiện một cái tôi trữ tình mang tính xã hội Đặc điểm mang tính đặc thù này của thơ ca dân tộc trong bước chuyển mình của thơ đi vào hiện đại và trong đòi hỏi bức bách của đời sống tinh thần dân tộc đặt ra căng thẳng
và quyết liệt lúc đó, đã trở thành một nhược điểm của thể loại Thể loại thơ, cho đến điểm dừng của thơ mới vẫn còn có những thiếu hụt quan trọng Những thiếu hụt quan trọng của thơ – khả năng thâm nhập hiện thực, khả năng tham gia đời sống tinh thần của cộng đồng – đã từng bước được khắc phục song song với công cuộc xây dựng một nền thơ ca mới Sau 1945 xuất hiện một kiểu nhà thơ mới, một quan niệm mới về thơ
ca hiện đại Quan niệm ấy được soi rọi dưới ánh sáng đường lối văn nghệ của Đảng,
Trang 19với hướng đi dân tộc - khoa học - đại chúng được vạch ra từ đề cương văn hóa 1943 Quan niệm thơ ca hiện đại này phủ định quyết liệt thơ ca lãng mạn trước đó Nó từng bước xây dựng nền tảng một nền thơ ca mới mà tính chiến đấu cách mạng, tính đại chúng là những phẩm chất cơ bản của nó Bên cạnh đó cái tôi trữ tình – một cốt lõi làm thành một hành trình ráo riết, hòa nhập vào cái ta rộng lớn của cộng đồng, đưa cái tôi trở thành cái ta trữ tình Quá trình này diễn ra trên nhiều chặng, khởi đầu là cái tôi trữ tình hòa nhập vào khối đông quần chúng và đỉnh cao nhất của nó là cái tôi trữ tình
đã đủ tầm vóc và tư thế để phát ngôn nhân danh thế hệ, nhân danh dân tộc, nhân danh thời đại, thế kỷ Thơ có xu hướng trở thành những khúc ca chung ngay cả trong cảm hứng sáng tạo lẫn khâu tiếp nhận
Thơ trữ tình hiện đại vừa có xu hướng mở rộng thành phần cấu tạo, vừa có xu hướng trở về với dòng trữ tình nguyên chất Trong thơ trữ tình hiện đại, những thành phần chính luận, suy tưởng, tự sự được gia tăng thêm cho gần gũi và sát đúng hơn với đối tượng miêu tả và trạng thái cảm nghĩ của nhà thơ Về phía đối tượng miêu tả khách quan, nếu đó là một cảnh ngộ, một con người cụ thể thì người viết phải nắm bắt được những hình ảnh, những chi tiết chân thực, điển hình để cho đối tượng xuất hiện một cách sinh động, có không khí, có dáng dấp và màu sắc cụ thể, không rơi vào lối miêu
tả ước lệ chung chung Thơ ca cổ sử dụng nhiều đến những mô-típ ước lệ để biểu hiện những đối tượng khác nhau làm cho tính chân thực của đối tượng bị hạn chế rõ rệt
Sự có mặt và thâm nhập của chất tự sự vào trong thơ trữ tình tránh được lối kể có tính chất tự nhiên chủ nghĩa, lối miêu tả sáo mòn ước lệ, nắm bắt được những nét điển hình của hiện thực và thể hiện với những sắc thái sinh động nhất là một yêu cầu quan trọng đảm bảo cho tiếng nói thơ ca luôn mới mẻ, giàu sức sống
Một phương diện khác thuộc vai trò chủ quan của người viết: Trong thơ trữ tình hiện đại, tư duy của nhà thơ phải được bồi đắp từ nhiều phía để thật sự có nhiều năng lực Vừa nhạy bén về chính trị, sắc sảo trong phân tích bình luận, lại vừa giàu cảm xúc, suy tưởng Những năng lực đó của tư duy có thể được vận dụng từng mặt hoặc được tổng hợp để miêu tả đối tượng Một hơi thở thuần cảm xúc nhiều khi bị hạn chế
để ứng phó với nhiều yêu cầu để miêu tả những đề tài hiện đại
Trang 20Thơ ca hiện đại có xu hướng trở về với mạch trữ tình nguyên chất mà nội dung của nó là những cảm xúc và suy nghĩ quyện hòa phát triển Và một nhân tố hết sức quan trọng là sự vận động biện chứng của cảm nghĩ Nhà thơ phải nhận thức cuộc sống với cái nhìn động, rất động theo chiều hướng phát triển cách mạng Sự vận động cách mạng là cơ sở và phương hướng phát triển của cảm xúc và suy tưởng
Về hình thức, thơ trữ tình hiện đại đã mở rộng rất nhiều về ranh giới của hình thức thể loại: tận dụng và làm phong phú mọi thể thơ truyền thống, sáng tạo và phát triển các thể truyện thơ, trường ca, thơ văn xuôi, thơ tự do Ngôn ngữ thơ cũng biến đổi phong phú
1.1.2 N ội dung và phương thức trữ tình
1.1.2.1 Nội dung trữ tình
Nội dung trữ tình là gì? Nội dung trữ tình là những nội dung tình cảm phơi mở thế giới tinh thần của chủ thể trữ tình bao gồm cảm hứng, cảm xúc, thái độ, quan niệm cách nhìn thực tại đời sống,… của chủ thể trữ tình trước những vấn đề, hiện tượng, sự kiện hay phương diện của đời sống Nội dung trữ tình có thể quy tụ theo một số chủ đề lớn, phổ biến mang tinh thần thời đại (như trữ tình về đất nước, về nhân dân, dân tộc,
về con người kháng chiến với những tình cảm cách mạng, về thời đại, về khát vọng tự
do, hạnh phúc, về cuộc sống hòa bình, về tình yêu và khát vọng của tuổi trẻ,…)
Trữ tình miêu tả và biểu hiện thế giới chủ quan của con người với những cảm xúc, tâm trạng và ý nghĩ trực tiếp Trong thơ ca trữ tình, ta không bắt gặp những sự kiện đời sống và con người hoàn chỉnh, mà chỉ bắt gặp tâm hồn người với mọi cung bậc cảm xúc Lại có khi trong trữ tình chúng ta chỉ bắt gặp những hình ảnh, chi tiết đời
sống, chứ không thấy trực tiếp tình cảm: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc
che ngang mặt chữ điền (Hàn Mạc Tử) Nhưng nội dung trữ tình không nằm ở bề
ngoài sự việc, ngoại cảnh được miêu tả mà ẩn đằng sau những điều đó Nghĩa là cuộc sống khách quan đã được nhận thức thông qua cảm xúc, khát vọng của chủ thể trữ tình Cảnh vật, sự kiện trong trữ tình không đơn giản là cảnh vật, sự kiện khách quan
mà đã là tâm cảnh, ý cảnh, ý tượng, tâm sự, ý sự Nói cách khác, thế giới chủ quan của trữ tình còn thể hiện ở sự nội tâm hóa, nội cảm, cá thể và cá tính hóa các sự vật và hiện
Trang 21tượng được miêu tả Bởi vậy, thế giới trong thơ trữ tình là một thế giới đã được nội cảm hóa, khó mà phân biệt được đâu là khách thể đâu là chủ thể
Ngay cả những bức tranh được miêu tả có vẻ ít mang tâm trạng: Hoa mướp rụng
từmg đóa vàng rải rác / Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay (Anh Thơ) Ta cũng
thấy nét tĩnh lặng và cái nhìn đằm thắm của nhà thơ đối với cảnh làng quê Việt Nam
êm đềm Thế giới chủ quan trong thơ không chỉ có tình cảm mà còn cả ý nghĩ, tư tưởng Trong thơ ta thấy cả những lời nghị luận, tuyên ngôn, thề nguyền, động viên:
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ / Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền (Sóng
Hồng) Thơ ca còn thâm nhập vào những suy tư thầm kín mang giá trị phổ quát với những kết luận, triết lí về những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người như sự sống, cái chết, chiến tranh, thời thế,… Do đó những khái quát trữ tình thường có giá trị
về tồn tại và nhân sinh
Tất nhiên, trong thơ ca trữ tình không phải chỉ có cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ,
mà sự kiện đời sống khách quan luôn là điểm tựa của những cảm xúc và suy nghĩ trữ tình, là cội nguồn không bao giờ cạn để con người trữ tình bộc lộ cảm xúc và suy tưởng Nếu tách rời những sự kiện đời sống khách quan này thì cảm xúc và ý nghĩ sẽ không có cơ sở hiện thực để nảy sinh, như cánh diều không dây nối liền mặt đất Sự kiện và hình ảnh đời sống luôn đan xen vào tâm trạng Những chi tiết đời sống chân thực bao giờ cũng có khả năng dồn nén sức biểu cảm, khơi gợi tình cảm mãnh liệt, có sức dư ba lớn Hiện thực khách quan được phản ánh một cách cô đọng trong thơ tự nhiên đã làm tăng sức biểu cảm, tăng sức gợi, một phẩm chất cơ bản của thơ ca Trong thơ ca, không chỉ có nội dung trữ tình mang tính cá thể mà còn có nội dung thời đại mang tính phổ biến và tính thời sự Khi trữ tình, con người thường cất lên tiếng nói riêng tư, nhưng nhờ sự tự ý thức, bộc lộ phần thăng hoa nhất của tinh thần nên con người trữ tình bao giờ cũng tự khái quát, nâng cao mình hơn con người có thực ngoài đời để nhập vào tiếng nói văn hóa của thời đại Vì thế, nội dung thơ trữ tình thường thể hiện cả những vấn đề và nhu cầu bức thiết của thời đại Thơ trữ tình là tiếng nói riêng
tư, nhưng thường tiếng nói riêng tư đó cũng không đi quá xa những nỗi niềm và số phận, những khát khao chung của mọi kiếp người thuộc về một thời đại, một dân tộc
cụ thể Thơ ca Việt Nam thời chống Mỹ có những thăng hoa của một thời đại hào
Trang 22hùng Qua nhà thơ, người ta nhìn thấy tầm cỡ thời đại vì lí do đó Vì vậy, nếu thơ ca chỉ đề cập đến những vấn đề cá nhân quá ư nhỏ bé, vụn vặt, sẽ khó đến được trái tim người đọc, và không bao giờ tạo thành những tác phẩm lớn, những tác giả vĩ đại Con người trữ tình lớn là con người mà mọi vui buồn sướng khổ của họ hòa chung với mọi thăng trầm của dân tộc, thời đại, kiếp người
Như vậy, xét về phương thức phản ánh thế giới, tác phẩm trữ tình tái hiện cuộc sống theo phương thức chủ quan Do đó nội dung của thế giới trữ tình là sự trình bày trực tiếp thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình
Xét về nội dung thơ trữ tình hiện đại phải nói đến nội dung trữ tình trong Thơ mới và trong thơ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Thơ mới với tư cách là một cuộc cách mạng vĩ đại trong thi ca dân tộc đã tạo được nội dung trữ tình mới so với thi ca trước đó Ngay từ khi mới hình thành nhiều người trong phong trào thơ mới đã khẳng định sự đổi mới chất thơ như là một nguyên tắc
Thơ mới đã được thay đổi quan niệm thẩm mĩ, thay đổi cảm xúc thơ, thay đổi nội dung trữ tình Nội dung đó chính là:
Thứ nhất, Thơ mới là thơ của “cái tôi” với “một quan niệm chưa từng thấy ở xứ
này: quan niệm cá nhân” Cái tôi ấy tự khẳng định, tự biểu hiện ra bằng niềm vui, mơ
ước, khát vọng Đồng thời cũng là một cái tôi cô đơn, lạc lõng
Thứ hai, Thơ mới là thơ của mơ mộng mà mỗi nhà thơ có một sắc độ khác nhau
mà như Hoài Thanh nhận xét: “ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu diêu trong
trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.”[76] Đây
chính là nội dung trữ tình mà Thơ mới bị xem là “thoát ly trốn đời” như một số người
Trang 23sáng tạo những hình tượng cao đẹp về Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, về những thế hệ con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước Chủ nghĩa yêu nước là nguồn động lực tinh thần lớn nhất của hết thảy mọi người trong cuộc kháng chiến, cũng là nguồn cảm hứng lớn bao trùm và thấm sâu trong mọi tác phẩm thơ ca Kế tục truyền thống tư tưởng yêu nước của nền thơ dân tộc, trực tiếp nhất
là của thơ kháng chiến chống Pháp và thơ đấu tranh thống nhất đất nước, trong thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ chủ nghĩa yêu nước được phát triển tới những chiều cao, độ sâu mới và được biểu hiện hết sức phong phú, đa dạng
Phát hiện về tổ quốc cũng có nghĩa là khám phá về dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, với những nét phẩm chất cao đẹp và bền vững là chủ nghĩa anh hùng và tình thương, lòng nhân ái, đức hi sinh Thơ đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về con người Việt Nam thời đánh Mỹ, ở nhiều tầng lớp, thế hệ, lứa tuổi, nhưng đều là biểu tượng của dân tộc và nhân dân Nhận thức về đất nước luôn gắn liền với nhận thức về nhân dân, đó cũng là một nét nổi bật trong chủ nghĩa yêu nước ở thơ thời kì này Cuộc kháng chiến chống Mỹ một lần nữa thể hiện sức mạnh vô tận, phẩm chất tuyệt vời và những hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân Tư tưởng đất nước của nhân dân đã thấm sâu vào cái nhìn và xúc cảm của mọi nhà thơ khi nói về đất nước Nhân dân, đó là những người mẹ, người cha, người chị, ở mọi nơi, mọi vùng, tiền tuyến và
hậu phương, miền Nam và miền Bắc, mà mỗi người lính, người cán bộ đều được họ giúp đỡ, chở che, nuôi dưỡng
Như vậy, nội dung trữ tình trong thơ hiện đại Việt Nam thường khá phong phú đa
dạng và có sự chuyển dịch từ góc nhìn, lập trường của cái tôi cá nhân sang góc nhìn, lập trường của cái ta, hay cái tôi thế hệ
Phương thức trữ tình là gì? Là cách thức, phương tiện, khuôn thức, kỹ thuật bộc
lộ cảm xúc, thái độ, quan niệm, thế giới tinh thần của chủ thể trữ tình Phương thức trữ tình có thể được kiến lập thành một số mô thức trữ tình phổ biến mang tinh thần thời đại hoặc mang dấu ấn phong cách tác giả Có thể tìm hiểu, xem xét phương thức trữ tình theo một số bình diện chính: kết cấu (kiến tạo các dạng/ mô thức kết cấu), thể loại
Trang 24(khai thác ưu thế, tiềm năng biểu cảm của thể loại), các phương tiện, thủ pháp biểu đạt của ngôn ngữ thi ca
Cùng với nội dung trữ tình, phương thức trữ tình cũng có những nét rất mới trong thơ trữ tình hiện đại ở cả thơ mới và thơ thời Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Ở Thơ mới phải nói đến trước tiên đó là phương thức trữ tình của một chủ thể bộc lộ trên cơ sở cảm nhận chủ quan về thế giới Đây là lối trữ tình khác với thơ cổ
điển Trong thơ cổ điển do quan niệm con người là một phần trong “vạn vật nhất thể”
cho nên nhà thơ thường ẩn mình sau thiên nhiên, tạo vật Phương thức trữ tình của thơ
cổ do vậy chủ yếu là trữ tình của một chủ thể “ẩn” Với phương thức này, nhà thơ thường lùi lại, lẫn vào vạn vật mà bộc lộ cảm xúc Nhà thơ thể hiện cảm xúc của mình
mà như thể hiện cảm xúc của “ai đó ” trong trời đất Thơ mới với quan niệm đề cao con người cá nhân, xem con người là trung tâm Do vậy, chủ thể trữ tình thường xuất hiện dưới dạng bộc lộ trực tiếp cái “tôi” Nguyên tắc miêu tả nghệ thuật là hướng nội, lấy cảm nhận chủ quan của mình để miêu tả thế giới, tức là chủ quan của phương thức chiếm lĩnh hiện thực, ở phương thức tư duy nghệ thuật của nhà thơ, chứ không phải ở phạm vi đề tài Thơ cổ điển chưa biết tới phương thức này Trong thơ cổ điển nhà thơ nhấn mạnh đến “chí”, lấy chí mà suy Ở Thơ mới nhà thơ miêu tả thế giới không phải bằng ý niệm về nó, mà bằng cảm xúc về nó Người đọc cảm nhận thế giới ở cấp “hình tượng” chứ không phải ở cấp “ý tượng” Nghĩa là có thể cảm nhận thế giới một cách
cụ thể, cảm tính chứ không phải ở quan niệm, nhận thức về nó Nhưng hình tượng cụ thể cảm tính ở đây không phải là bức tranh hiện thực về thế giới mà phụ thuộc vào cảm xúc chủ quan của tác giả Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Thơ mới đã đem lại một nguyên tắc miêu tả mới là tả chân sự vật bằng trực cảm mang nội dung tâm lý và tưởng tượng, xem đó là một dấu hiệu của khả năng Thơ mới đem đến cho thơ hiện đại Phương thức trữ tình chủ yếu là tư duy cá thể hóa Hệ thống thi liệu cũng được cấp cho những ý nghĩa mới không giống như ước lệ của thơ cổ điển Chẳng hạn như trong thơ cổ điển khi nói tới gió thì gió chỉ là “gió” (“phong”) Nếu nhà thơ mở rộng hơn nữa thì cũng chỉ là “gió đông”, “gió đàn”, “gió gác, trăng sân” đến thơ mới thì gió được mang biết bao nhiêu sắc thái như: gió hây, gió sợi, gió thơm, gió thanh, gió kêu, gió se, gió rủi,… Âm thanh, ánh sáng, màu sắc cũng mang nhiều sắc thái mới lạ
Trang 25Tiếp đến là phương thức trữ tình của một chủ thể nghiêng về cảm giác thế giới Tức là cảm nhận thế giới nghiêng về cảm giác, cảm tính chứ không phải là lí tính Một trong những mạch nguồn nuôi dưỡng thơ mới đó là thơ Tượng trưng Pháp Thơ mới ảnh hưởng của thơ Tượng trưng Pháp đã chuyển từ tư duy “ý tưởng” trong thơ cổ sang
tư duy bằng cảm giác, ấn tượng Nhờ đó đã mở rộng khả năng liên tưởng của thơ, tạo cho trường ngữ nghĩa của thơ vượt ra ngoài nghĩa của từ ngữ, hình ảnh cụ thể để đi đến trường ngữ nghĩa do cảm giác, ấn tượng tạo nên Những vần thơ trở nên như những hơi thở phập phồng của cuộc sống với những cảm giác tươi rói chứ không ép thành những xác chữ khô khan
Đến giai đoạn kháng chiến phương thức thơ trữ tình có những tìm tòi, sáng tạo trong việc kết hợp thể tài lịch sử với những chất liệu của cái hàng ngày và đời sống riêng tư Bên cạnh việc ưu tiên cho chất liệu lịch sử, các sự kiện trọng đại của đời sống dân tộc, phương thức trữ tình khá phổ biến trong thơ kháng chiến chống Mỹ là phát hiện ý nghĩa lịch sử, tính thời đại trong các chi tiết, hình ảnh của đời sống hàng ngày,
cả trong đời sống riêng
Thơ kháng chiến nghiêng về phương thức bộc lộ cái “tôi” trữ tình,tập trung xây dựng hai hình tượng: cái “tôi” sử thi và cái “tôi” thế hệ trẻ Đó là hai dạng thức làm phong phú thêm cho hình tượng cái “tôi” của thơ Việt Nam hiện đại
Cùng với phương thức tăng cường tính chính luận, chất triết lí, thơ hiện đại đặc biệt chú trọng mở rộng chất liệu thơ từ hiện thực đời sống Nhằm đề cập và giải đáp những vấn đề mang ý nghĩa chính trị của cuộc sống, thơ tìm đến khuynh hướng trữ tình chính trị với sự tăng cường yếu tố chính luận Bám sát thời sự diễn biến của cuộc chiến đấu, kịp thời đề cập và giải đáp những vấn đề hệ trọng về tư tưởng chính trị, khẳng định đường lối và quyết tâm chiến đấu của dân tộc, lên án kẻ thù trong những
âm mưu thủ đoạn và tội ác của chúng, đó là những cảm hứng và chủ đề thường trực trong thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên và nhiều nhà thơ khác Tính chính luận thường gắn
bó và được bổ sung bằng chất suy tưởng, triết lí Nhà thơ vừa như một nhà tuyên truyền, cổ động lại vừa là nhà tư tưởng, nhà nghệ sĩ để phát hiện, khám phá và say mê khẳng định Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, thời đại Tính chính luận và chất triết lí, suy tưởng là đặc điểm nổi bật trong thơ của các nhà thơ lớp trước cũng thấm đượm cả
Trang 26trong thơ các nhà thơ trẻ Nhưng trong thơ của thế hệ này, ưu thế nổi trội và cũng là sự đóng góp quan trọng nhất của họ chính là việc gia tăng chất liệu hiện thực đời sống,
mở rộng khả năng cho thơ chiếm lĩnh thực tại bộn bề, phong phú và đa dạng của hiện thực chiến tranh Các nhà thơ đã đưa vào trong thơ nhiều chân dung thế hệ trẻ với những chi tiết chân thực, sinh động và đặc sắc về cuộc sống chiến đấu và sinh hoạt của người lính, tình đồng đội và cả tình yêu, niềm vui và nỗi đau của họ Người đọc không thể không nhớ những chi tiết, hình ảnh như “bầu trời vuông” của Nguyễn Duy, chùm hoa bưởi tỏa hương lặng lẽ mà nồng nàn trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn Đặc biệt, ở các trường ca xuất hiện trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh và ngay sau khi chiến tranh kết thúc, yếu tố tự sự với rất nhiều hình ảnh, sự việc, con người đã thâm nhập mạnh mẽ, kết hợp với chính luận và trữ tình, tạo nên tính tổng hợp của thể loại này Phương thức đưa chất liệu hiện thực đời sống vào thơ đã được mở ra từ thời kì kháng chiến chống Pháp và thu được nhiều thành công; Thơ những năm chống Mỹ tiếp tục đẩy mạnh xu hướng ấy, đồng thời đạt được sự kết hợp nhuần nhuyễn hơn giữa ngoại cảnh với nội tâm, miêu tả và biểu hiện, cụ thể và khái quát Chất liệu hiện thực trong thơ kháng chiến chống Pháp thường giữ nguyên được vẻ hồn nhiên, tự nhiên của nó nhưng ít khi có được sức chứa lớn, tính khái quát cao Việc xử lí chất liệu hiện thực của các nhà thơ thời kì chống Mỹ nhìn chung ở một trình độ cao hơn, chủ động hơn trong sự chọn lọc và nhất là bằng suy tưởng, liên tưởng để phát hiện ý nghĩa khái quát, triết lí tiềm ẩn trong đó Từ sau 1975, nhất là từ thời kì đổi mới, quan niệm về hiện thực của văn học đã được biến đổi, mở rộng tới mọi biên độ và tầng bậc của đời sống, thì chất liệu của thơ cũng hết sức đa dạng Cái hàng ngày bộn bề, trần trụi, bụi bặm ở
bên cạnh đời sống tâm linh, những vùng mờ chập chờn của tiềm thức, vô thức, những khát khao bản năng và những suy nghiệm về bản thể, tất cả đều có thể hiện diện trong thơ hôm nay
Thơ kháng chiến đã thúc đẩy xu hướng tự do hóa hình thức thơ lên một bước
mới Cuộc “cách mạng thơ ca” của phong trào Thơ mới, xét về mặt hình thức nghệ thuật, đã phá vỡ nhiều khuôn khổ ràng buộc với những quy phạm chặt chẽ, tạo ra những khả năng mới và rộng rãi cho thơ trong việc khám phá và biểu hiện đời sống, đặc biệt là đời sống bên trong của con người cá nhân cá thể, vì vậy đã mở ra xu hướng
Trang 27tự do hóa cho hình thức thơ Tuy nhiên, xu hướng ấy mới chỉ đi được những bước khởi đầu Thơ cách mạng từ 1945 đứng trước yêu cầu mở rộng khả năng phản ánh và phạm
vi ôm chứa hiện thực rộng lớn, phong phú của đời sống cách mạng và kháng chiến, nên đã thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi theo hướng tự do hóa hình thức thơ Thơ kháng chiến, bên cạnh việc kế thừa những kinh nghiệm nghệ thuật truyền thống, đã rất chú ý tìm tòi, sáng tạo trên phương diện hình thức theo hướng tự do hóa
Một trong những cống hiến quan trọng nhất của Thơ mới cho tiến trình thơ dân tộc, như Trần Đình Sử khẳng định, là “đã tạo dáng lại cho câu thơ, đưa câu thơ từ điệu ngâm sang điệu nói” Nhưng dù sao thì câu thơ điệu nói ở Thơ mới cũng mới là bước đầu Thơ kháng chiến đã tiếp tục con đường ấy và làm phong phú hơn cho câu thơ điệu nói, theo hướng đưa tiếng nói của thơ về gần hơn với tiếng nói hàng ngày, tiếng nói của đông đảo nhân dân trong thời đại cách mạng Thơ kháng chiến chống Pháp đã ghi được nhiều thành công trong việc đưa khẩu ngữ, lời đối thoại của quần chúng vào
thơ (Phá đường của Tố Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, ) Câu thơ điệu nói đến thơ
chống Mỹ đã thực sự đa dạng với nhiều cách tổ chức và nhiều phong cách lời nói Có lời đối thoại, lời tự bạch, tự khẳng định, lời suy ngẫm, triết lí, lời kêu gọi, mệnh lệnh, lại có lời kể và tả như những phóng sự, ghi nhanh Câu thơ điệu ngâm đặt trọng tâm ở thể điệu, còn câu thơ điệu nói lại tạo sức hấp dẫn chủ yếu bằng giọng điệu Mặc dù vẫn trong khuôn khổ của loại hình thơ trữ tình sử thi nhưng thơ chống Mỹ đã có nhiều giọng điệu khác nhau, tạo được ấn tượng cho người đọc Có thể dễ dàng nhận ra giọng tinh nghịch có chút ngang tàng của Phạm Tiến Duật, giọng trầm tư hơi khắc khổ của Nguyễn Duy, giọng suy tư triết lí mang tính đối thoại của Thanh Thảo, giọng nồng nàn
mà hồn nhiên của Xuân Quỳnh,
Về cấu trúc bài thơ, ngoài những cách thức quen thuộc kế thừa từ Thơ mới và thơ
ca dân gian, thơ kháng chiến có nhiều tìm tòi theo hướng mở rộng khuôn khổ, đa dạng hóa kết cấu bài thơ Có bài thơ theo lối tùy bút, lại có những bài thơ được tổ chức thành từng chùm, thành chuỗi thơ theo một chủ đề, hoặc như những giao hưởng, tổ khúc có chia thành nhiều chương, đoạn Nhu cầu mở rộng khuôn khổ và sức dung chứa của tác phẩm thơ đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thể trường ca trong những năm cuối chiến tranh và sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ
Trang 28Trong giai đoạn này, trường ca không còn kết cấu theo mạch cốt truyện như những trường ca xuất hiện trước đó, mà được tổ chức theo sự phát triển của chủ đề Các trường ca này là một thể loại mang tính tổng hợp cả trữ tình, tự sự, chính luận Cùng với việc mở rộng phạm vi phản ánh và biểu hiện, các trường ca này cũng thể hiện xu hướng tự do hóa rất mạnh trong cấu trúc tác phẩm và ngôn ngữ thơ Tác phẩm thường được tổ chức thành nhiều chương, khúc, mà mỗi chương, khúc có thể được đặt tên Mạch liên kết của các chương là mạch triển khai của chủ đề mang tính chính luận - trữ tình Thể thơ được sử dụng chủ yếu là thơ tự do hoặc hợp thể giữa thơ tự do và các thể cách luật
Như vậy phương thức trữ tình của thơ hiện đại là hệ thống những cách thức vừa tiếp nối thơ ca vừa truyền thống vừa rất mới mẻ Nó góp phần làm ý nghĩa thêm nội dung cũng như hình thức của thơ trữ tình hiện đại
1.2 M ột số đặc điểm và dạng thức biểu hiện cơ bản của cái tôi trữ tình trong thơ 1.2.1 Cái tôi và đặc điểm, biểu hiện của cái tôi trữ tình trong thơ
1.2.1.1 Cái tôi
Cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của mình Từ đó nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên là một cá thể độc lập, khác với người khác Nội hàm khái niệm cái tôi rất rộng Có một số quan niệm của triết học về cái tôi, có liên quan trực tiếp hoặc gần gũi đối với việc tìm hiểu đối với cái tôi trữ tình
Theo các nhà triết học duy tâm, R Đề Các chẳng hạn, cái tôi thể hiện ra như một cái nhìn thuộc về thực thể biết tư duy như căn nguyên của nhận thức duy lý, do đó cái tôi thể hiện tính độc lập của mình bằng định nghĩa “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” Kant
quan niệm cái tôi bao gồm hai phương diện: Cái tôi với tư cách chủ thể tư duy nhận thức thế giới và cái tôi với tư cách là khách thể của chính nhận thức Đồng thời Kant cũng nhấn mạnh tuyệt đối khả năng nhận thức của cái tôi tính thống nhất của tự nhiên không phải ở trong tính vật chất của nó mà trong tính thống nhất của chủ thể nhận thức
cái tôi Hêghen một mặt xem “Cái tôi như là sự tha hóa của ý thức tuyệt đối” một mặt
nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi Cái tôi như là trung tâm của sự tồn tại có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong hiện thực BecXông (1858-1941)
Trang 29đã chú ý đến cái tôi thuần tuý trong ý thức khi nhấn mạnh đến đời sống bên trong cá nhân Theo ông, con người có hai cái tôi đó là cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu Cái tôi
bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức
Các quan điểm trên đã khẳng định cái tôi là phương diện trung tâm của tinh thần con người, là cốt lõi của ý thức, là khả năng chi phối hành động và là sự khẳng định nhân cách con người trong thế giới Tuy nhiên, các quan điểm đó đã tách cái tôi khỏi con người xã hội sinh động và chưa nhìn thấy cơ sở lịch sử cụ thể và tính tích cực chủ động của cái tôi
Trong quan điểm triết học duy vật biện chứng triết học Mác xít xác định giá trị con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể và khách thể của các mối quan hệ xã hội Theo chủ nghĩa Mác, mỗi cá nhân có ý nghĩa như là một bộ mặt
xã hội hóa cá thể con người và cá nhân cùng tìm thấy mình trong xã hội Lý tưởng về giải phóng cá nhân của triết học Mác là tự do cho mỗi cá nhân trong tự do cho tất cả mọi người Đồng thời vai trò của cái tôi cũng được khẳng định là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và chính bản thân mình Quan niệm về cái tôi trong triết học và khoa học nhân văn hoặc đóng vai trò phạm trù hoặc có mối liên hệ chi phối, quen thuộc với cái tôi trữ tình trong thơ ở các thời đại
Lịch sử phát triển thơ ca là lịch sử phát triển cái tôi trữ tình và đời sống Cái tôi trữ tình là một hiện tượng lịch sử nên nó có những hình thái lịch sử Trong quá trình vận động và phát triển của lịch sử xã hội, thời đại, lịch sử của cá thể Ý thức về cái tôi trữ tình trong lịch sử văn học cũng có sự khác nhau
1.2.1.2 Cái tôi trữ tình trong thơ truyền thống
Cái tôi trữ tình trong thơ truyền thống của văn học Việt Nam có thể được biết đến đó là hệ thống văn học dân gian và trung đại
Trở về với thể loại văn học cổ xưa - văn học dân gian Cái tôi trữ tình trong ca dao, dân ca là cái tôi tìm thấy tiếng nói chung của tập thể Cái tôi ở đây không bộc lộ như một cá nhân riêng biệt mà có thể chìm đi, biểu hiện cái tôi xã hội, cái tôi của tập thể Cảm hứng của các tác giả dân gian bắt nguồn từ nhu cầu được chia sẻ, giao hưởng
Trang 30và đồng vọng trong những cảnh ngộ tương đồng Nhân vật trữ tình trong văn học dân gian chủ yếu là những người lao động, họ có thể là những người đang dãi nắng dầm mưa Và không gian họ xuất hiện cũng gắn liền không gian lao động sản xuất: Bến
nước, con đò, bãi dâu, đồng cỏ, vườn chè,…
Cái tôi trữ tình dân gian về cơ bản là cái tôi phi cá thể hóa, hình thức của loại hình văn học là diễn xướng và truyền miệng, thời gian và không gian mang tính ước lệ làm cho thời gian cá thể hóa của cái tôi tác giả mờ nhạt hẳn đi Không gian có thể thay đổi, chẳng hạn từ địa danh này sang địa danh khác vì thế làm mất đi cá tính cụ thể của một hoàn cảnh cụ thể, diện mạo duy nhất của cái tôi dân gian là cái chung
Trong thơ trung đại, có rất nhiều quan điểm - theo quan điểm truyền thống bản chất con người bắt nguồn từ mối quan hệ cộng đồng, làng xã và cá nhân không thể tách rời mối quan hệ ấy Văn học chủ yếu phát ngôn trên tư cách siêu cá nhân với những vấn đề của gia đình, dòng tộc, giai cấp, dân tộc Điều này tạo nên kiểu nhà thơ
cổ điển, phi ngã
Biểu hiện đầu tiên của cái tôi trữ tình phi ngã là không xuất hiện đại từ nhân xưng Chẳng hạn, Nguyễn Trãi thể hiện lòng yêu nước thương đời qua hình tượng cây tùng Cây tùng là biểu tượng cho những phẩm chất chuẩn mực đó được xác định của người quân tử
Trong văn học trung đại ý thức về cá nhân, cá tính có xuất hiện nhưng tồn tại trong những quy tắc luật lệ khuôn mẫu mà ta gọi là tính quy phạm Cái tôi trữ tình chủ yếu là cái tôi vũ trụ Mỗi sự việc hình ảnh đều mang ý nghĩa triết lý về quan hệ giữa con người và vũ trụ Phạm trù chính là tình - cảnh, cảnh - tình, cảnh - sự, nhất là trong
sự tương thân, tương hỗ với thiên nhiên, vũ trụ Các nhà thơ luôn đi tìm sự hài hoà giữa cái hữu hạn và vô cùng, giữa nhất thời và vĩnh cửu, quá khứ và thực tại, thực và
hư, động và tĩnh con người không tách mình khỏi vũ trụ mà từ những bí ẩn của vũ trụ con người gián tiếp bộc lộ những bí ẩn của tâm hồn vì thế biểu hiện tình cảm xã hội là gián tiếp, kín đáo
Về sau, cái tôi xoá bỏ dần tính phi ngã quy phạm để bộc lộ tính chất tự nhiên đó
là sự xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, con người đã đối diện với chính mình, nói về mình
Trang 311.2.1.3 Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại
Trong thơ trước 1945, bản chất của trữ tình là tiếng nói của cái tôi cá nhân Đó là kiểu nhà thơ lãng mạn song hành với sự tự ý thức cá nhân như là một cá thể độc đáo riêng biệt, nó không chống lại cái nhìn duy lý của chủ nghĩa cổ điển, cái tôi cũng có khi là cá nhân tự biểu hiện, khép kín và cô đơn Chất lãng mạn trong thơ trước 1945 nằm ở cách cảm, cách nghĩ, sự biểu hiện thế giới và con người một cách đặc thù Đó chính là cái tôi nằm ở trung tâm cảm nhận làm nguyên tắc thế giới quan
Thơ trước 1945 là thơ của tâm hồn, tâm hồn ấy đã thoát ra khỏi tính quy phạm và
nó đã bộc lộ hết mình, đồng thời thơ trước 1945 cũng lấy tâm hồn làm trung tâm, nó không ưa cái thực tầm thường mà thích những tưởng tượng khác thường, bằng mộng
ảo, hoài niệm hoặc bằng tôn giáo, lịch sử, truyền thuyết chỉ với mục đích là tự khẳng định mình, khẳng định sự tự do của mình Tuy thế, đã là một người tự do thì sẽ tồn tại những mặt mạnh vừa có sự kiêu hãnh nhưng cũng không tránh khỏi sự yếu đuối bơ vơ,
cô đơn, buồn sầu, làm cho tâm hồn ấy vừa phong phú, phức tạp và cũng rất tinh tế trong sáng tạo nghệ thuật
Đến với thơ sau 1945, ta thấy nổi rõ lên là cái tôi trữ tình gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, với yêu cầu lịch sử, văn học lúc này đặt vấn đề dân tộc lên trên hết vì thế theo dòng lịch sử, cái tôi trữ tình bộc lộ chủ yếu trên các vấn đề dân tộc, lịch sử Các nhà thơ cách mạng luôn đứng trong những sự kiện lớn của đất nước, với tư thế dân tộc, lịch sử, thời đại, giai cấp Họ hiện diện với trách nhiệm trước cuộc đời hiện tại, khẳng định niềm tin vào tương lai của dân tộc Cái tôi lúc này mang một sinh khí rất mạnh
mẽ và kiêu hãnh Đây là giai đoạn các nhà thơ từ bỏ cái tôi cá nhân riêng tư để hoà vào cái chung dân tộc Thơ sau 1945 là thơ của cái tôi mới, cái tôi cộng đồng Trong cái tôi mỗi người có cả một hệ thống cái tôi khác nhau, trong quá trình tự nhận thức trước cuộc sống, cái tôi nào đó được lựa chọn, vượt lên tự khẳng định, cái tôi lúc này đã là cái tôi công dân xã hội hướng về tình cảm chung của cộng đồng, cái tôi hoà hợp vào
cái ta cộng đồng mà khi giao tiếp thường được xưng “ta”, “chúng ta” Nó khác với cái
tôi cá nhân phân biệt người này với người khác, cái tôi khẳng định sự chung sức chung lòng cho sự nghiệp đánh giặc cứu nước
Trang 321.2.2 Ch ủ thể trữ tình
Chủ thể trữ tình là người phát ngôn trong bài thơ Nó chia sẻ với chúng ta những điều quan sát được cũng như tư tưởng và tình cảm Như là một bộ phận của các cấp độ hình tượng, chủ thể trữ tình thuộc về thế giới nghệ thuật trong thơ Chủ thể trữ tình thường không bao giờ đồng nhất hoàn toàn với nhà thơ Tác giả để cho người đọc nhìn
thấy và tự đánh giá một thế giới để từ đó có những đánh giá riêng
1.2.3 M ối quan hệ giữa cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình
Thơ trữ tình là một cốt lõi của hệ thống thơ ca Trong bộ phận này cái tôi và chủ thể trữ tình có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Mối liên hệ giữa hai yếu tố này luôn được đặt ra trong thơ qua những thời đại khác nhau Hêghen khi đề cập đến vấn đề này
đã cho rằng: Nguồn gốc và điểm tựa của nó là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang nội dung Chính vì vậy cho nên cá nhân phải có được bản tính thi sĩ,
phải có được một trí tưởng tượng phong phú
Những cung bậc tình cảm của cái tôi dù là một niềm vui hồ hởi hay một nỗi buồn sâu lắng thiết tha, dù kéo dài triền miên trĩu nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với tiếng nói thầm kín trong trái tim và tâm hồn người nghệ sĩ
Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền chủ thể trữ tình với cái tôi Cái tôi là hình bóng trung tâm, là bao quát trong toàn bộ sáng tác Những sự kiện, hành động và tâm tình trong cuộc đời riêng cũng in lại đậm nét trong thơ, trong chủ thể trữ tình Dường như mỗi cái tôi đều có dáng dấp trong chủ thể trữ tình và ngược lại Thơ là tấm phiên bản trung thành và sáng tạo của bản thân nhà thơ Cái tôi và chủ thể trữ tình nhiều lúc được hòa quyện lại với nhau
Garxia Lorca đề cập về mình giữa cái tôi và chủ thể trữ tình đã nói: “Mỗi bài thơ
mà hôm nay tôi trao vào tay bạn đọc thân mến là nảy sinh cùng với mầm mống trên các cây xao động của cuộc đời đang nở hoa Coi thường quyển sách này sẽ là tàn nhẫn bởi vì nó gắn liền khăng khít với bản thân cuộc đời của tôi” [39]
Mối liên hệ chặt chẽ giữa cái tôi và chủ thể trữ tình là vấn đề chung đặt ra cho các thể loại nhưng trước hết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với thơ Không thể phân đôi thành hai mặt giữa cái tôi và chủ thể trữ tình Nếu có tình trạng mâu thuẫn trong tư tưởng và tâm hồn nghệ sĩ tất sẽ dẫn đến những mâu thuẫn trong quá trình sáng tác
Trang 33Không thể có hiện tượng đối lập giữa tư tưởng của cái tôi nhà thơ với chủ thể trữ tình
Sự thống nhất giữa cái tôi trữ tình và chủ thể trữ tình là một hiện tượng khá phổ biến trong thơ
Tuy nhiên ở một khía cạnh khác của cái tôi trữ tình không phải bao giờ cũng đồng nhất với chủ thể trữ tình
Trong thơ ca hiện đại sự nhập thân của cái tôi với chủ thể trữ tình đôi khi cũng không đồng nhất Cái tôi nhiều lúc nhập thân cảm xúc vào chủ thể trữ tình Như Tố Hữu với tiếng nói của Morixơn trong bài Êmily con Phạm Tiến Duật với hình ảnh người lái xe trong bài thơ về tiểu đội xe không kính Cảnh ngộ của tác giả, của cái tôi trữ tình không nằm trong cảnh ngộ trữ tình nhưng sự cảm thông lại có từ bên trong Cái khó khăn của một nhà thơ, của một cái tôi đó là khả năng đồng cảm, nhập thân với một chủ thể trữ tình không phải là sự nhìn ngắm, ngợi ca và kể lể từ bên ngoài mà biết nâng mình lên để phân thân vào con người, cảnh ngộ của chủ thể trữ tình Tố Hữu đã biết rõ điều đó và tác giả đã thành công khi viết về Bác trong bài Bác ơi ở tập thơ Ra trận xuất bản 1972
Ôi! Phải chi lòng được thảnh thơi Năm canh bớt nặng nỗi thương đời Bác ơi! Tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người
Trang 341.3 Thơ Hữu Thỉnh và thơ Nguyễn Khoa Điềm trong bối cảnh thơ Việt Nam thời chi ến và thập niên hậu chiến
1.3.1 M ột cái nhìn toàn cảnh thơ Việt Nam thời chiến và thập niên hậu chiến
1.3.1.1 Căn bản là thơ thuộc thể tài lịch sử - dân tộc
Cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đặt dân tộc ta trước những thử thách gay gắt, vận mệnh của đất nước, tự do và độc lập của dân tộc đứng trước nguy cơ một mất một còn Trong những năm tháng ấy, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc Trong hoàn cảnh lịch sử và khí quyển tinh thần ấy, thơ không thể không trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc Quan điểm sử thi tạo cho nhà thơ một chỗ đứng
ở tầm cao để bao quát thời đại, lịch sử Đồng thời quan điểm ấy cũng định hướng cho
sự suy ngẫm, phát hiện, liên tưởng của nhà thơ trước mọi hiện tượng và vấn đề, kể cả đời sống riêng tư, cá nhân hay thế sự
Thơ kháng chiến chống Mỹ có những tìm tòi, sáng tạo trong việc kết hợp thể tài lịch sử với những chất liệu của cái hàng ngày và đời sống riêng tư Ưu tiên cho chất liệu lịch sử, các sự kiện trọng đại của đời sống dân tộc Suốt những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân trên các mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại chống Mỹ
Nền thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà thơ xuất hiện trước cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh,…), thế
hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp (Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông…) và thế hệ các nhà thơ trẻ ra đời trong thời kì chống Mỹ Mỗi nhà thơ nói trên đều có thế mạnh riêng và có những đóng góp đáng ghi nhận cho nền thơ kháng chiến Các nhà thơ thời kì này ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân của mình
Tất cả những bước tiến đó đã khẳng định sự thâm nhập của thơ với hiện thực, khả năng nắm bắt tinh nhạy, kịp thời của các nhà thơ trước thời đại lịch sử Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành được thắng lợi, thơ chống Mỹ đã góp một
Trang 35tiếng nói xứng đáng về cuộc ra trận lớn lao của dân tộc, không có nhiều trong những bức tranh xã hội rộng lớn, những câu chuyện kể hấp dẫn về cuộc sống dân tộc, nhưng thơ chống Mỹ là tiếng nói tâm tình tha thiết, là khúc ca chiến đấu, là lời tự bộc lộ chân tình ý chí của một dân tộc quyết chiến và quyết thắng Nó hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của một nền thơ, ghi lại được thời kì lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc, đánh dấu một chặng đường phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại
Đến thời hậu chiến cuộc sống có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời chiến tranh Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Từ chỗ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm” Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975 Nhà thơ không còn bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn mà cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực Nói đúng hơn, hiện thực trong văn học phải là thứ hiện thực của suy tư Chỉ một khi nhà thơ nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cá nhân, nói lên tiếng nói cá nhân, lúc đó mới hi vọng anh ta tạo nên giọng điệu và tư tưởng nghệ thuật riêng Tuy nhiên, trong những năm đầu sau khi chiến tranh kết thúc, cần chú ý đến hai mạch chính trong sự vận động của tư duy thơ Thứ nhất, cảm hứng sử thi vẫn được tiếp nối như một quán tính nghệ thuật Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn này xuất hiện hàng loạt trường ca có ý nghĩa như những bức tranh hoành tráng tổng kết cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Sự thay đổi trong cái nhìn nghệ thuật trong các trường ca này so với thơ ca thời chống Mỹ là ở chỗ, tuy vẫn mang chủ âm hào hùng, nhưng các nhà thơ đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến bi kịch của con người Nói khác đi, trong khi cố gắng miêu tả sự lớn lao, kỳ vĩ của Tổ quốc, các nhà thơ đã quan tâm trực diện đến số phận của cá nhân, thậm chí nhiều khi số phận
của đất nước được đo ướm bằng nỗi đau của cá nhân: “Một mình một mâm cơm/ Ngồi
bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền” (Hữu Thỉnh - Đường
tới thành phố) Trong những trường ca này, mặc dù cái bi chỉ là yếu tố để làm nổi bật
Trang 36cái tráng nhưng rõ ràng, cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơn với những suy tư cá nhân về số phận dân tộc và số phận con người Thứ hai, trong những năm
cuối thập kỷ 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX, “thơ đời thường” xuất hiện
nhiều Chưa bao giờ các nhà thơ thấy nhiều bi kịch đến thế Thậm chí, cảm giác bế tắc
và chán nản là cảm giác khá nổi bật trong tâm trạng nhiều người Các hình tượng nghệ thuật mang tính huyền thoại hóa về một hiện thực kỳ vĩ và cảm hứng sử thi không còn xuất hiện như là hiện tượng nổi bật của thơ ca giai đoạn này Trái lại, bằng cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm, nhiều thi phẩm sau chiến tranh đã thể hiện một cách khá riết róng những mặt trái của đời sống, những thay đổi các thang bậc giá trị và không né tránh việc nói đến những bất công xã hội Đây là những cảm hứng hiếm khi xuất hiện trong thơ 1945 - 1975, khi mà số phận dân tộc và số phận cá nhân hòa làm một, cái tôi và cái ta hoàn toàn thống nhất
Thơ ca đã bắt đầu bứt thoát khỏi những trận mưa trữ tình và sự ngọt ngào thường thấy trong thơ 1945 - 1975 để tiến đến sự đa dạng với những câu thơ trúc trắc, mang tính đối thoại cao, giọng điệu thơ gần gũi với đời sống thường ngày; cái nhìn tỉnh táo của nhà thơ thực ra là cái nhìn giàu chất suy tư, là bề ngoài của một nỗi đam mê lớn bên trong
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1975 đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa Phá bỏ những tín điều mòn cũ một cách triệt để Thơ Việt đã thực hiện một cuộc tạo đà mạnh mẽ cho những kết tinh nghệ thuật trong chặng đường sắp tới
1.3.1.2 Căn bản là tiếng nói của cái tôi thế hệ, viết theo cảm hứng anh hùng ca
Cái “tôi” thế hệ là dạng thức tiêu biểu, nổi bật của cái “tôi” trữ tình trong thơ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ Cái “tôi” thế hệ có thể coi là một biến thể, một dạng độc đáo và cụ thể của cái “tôi” sử thi Có lẽ, sau phong trào Thơ mới (1932-1945) đến thời
kì này xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ trẻ của cùng một thế hệ Thơ của các nhà thơ trẻ là tiếng nói tự ý thức, tự biểu hiện của thế hệ trẻ tự nguyện nhập cuộc
và được trải nghiệm qua thử thách của chiến tranh Mỗi nhà thơ trong số họ đều ý thức
rõ ràng về thế hệ mình và về tính chất đại diện cho tiếng nói thế hệ của thơ mình Thế
hệ ấy thấu hiểu trách nhiệm và sứ mệnh của mình:
Trang 37Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai
(Bằng Việt)
Họ cũng ý thức về việc tự ghi lấy hình ảnh của thế hệ mình bằng văn chương:
Không có sách chúng tôi làm ra sách Chúng tôi làm thơ ghi lại cuộc đời mình
(Hữu Thỉnh)
Cái “tôi” thế hệ còn được thể hiện trong hình ảnh những con người cụ thể, tiêu biểu cho thế hệ ấy, và đây là đóng góp xuất sắc của thơ trẻ vào việc xây dựng hình tượng nghệ thuật về con người Việt Nam của thời đại chống Mỹ Người đọc không thể quên chân dung của những người lính lái xe, cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong thơ Phạm Tiến Duật, chân dung những người lính xe tăng, xạ thủ trung liên trong thơ Hữu Thỉnh, và còn bao nhiêu những hình ảnh khác vẫn lưu lại trong thơ và trong lòng bạn đọc
Mười năm thơ kháng chiến chống Mỹ cũng là chặng đường mà cái “tôi” thế hệ ghi lại quá trình trưởng thành về ý thức của thế hệ trẻ đã đi qua suốt một cuộc chiến tranh ngày càng dữ dội, quyết liệt Từ cái náo nức, say sưa với cảm hứng lãng mạn của buổi đầu đến sự trải nghiệm với nhiều suy tư trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, cái
“tôi” của thơ trẻ muốn tìm cho mình một tiếng nói trầm tĩnh, trực tiếp, thậm chí đến trần trụi, chối bỏ những gì hoa Mỹ và sáo mòn trong thơ Cái “tôi” thế hệ tạo nên sự thống nhất trong tiếng thơ của các nhà thơ trẻ, nhưng vẫn có thể nhận ra những giọng điệu riêng mang rõ bản sắc của từng người, ở những nhà thơ có tài năng và cá tính Sau năm 1975, một số tác giả trong thế hệ này vẫn tiếp tục hành trình sáng tạo với những nỗ lực tìm kiếm, trăn trở đầy nhọc nhằn, có cả sự bứt phá tự vượt lên mình để tìm đến một giọng thơ mới, phù hợp với giai đoạn mới Nhưng đọc họ, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra những nét cơ bản và bền vững của một cá tính, một chất giọng đã được hình thành từ giai đoạn chống Mỹ
1.3.2 Nhìn chung v ề thơ Hữu Thỉnh
1.3.2.1 Thơ trữ tình
Thơ Hữu Thỉnh bám sát hiện thực cuộc sống và phản ánh trung thành những sự kiện lớn lao của đất nước, phản ánh tinh thần chiến đấu dũng cảm, hi sinh quên mình
Trang 38vì sự nghiệp giải phóng dân tộc Ông cũng như nhiều nhà thơ khác luôn ý thức sâu sắc
về vị trí, vai trò của thế hệ mình Bằng con mắt của người trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, Hữu Thỉnh miêu tả chiến tranh với cái nhìn từ trong chiến hào, những câu thơ bật lên từ đời sống hiện thực, từ cuộc chiến tranh vừa âm thầm, vừa quyết liệt, dữ
dội và vô cùng nóng bỏng Mảng thơ viết về chiến tranh tiêu biểu là tập thơ Tiếng hát
trong rừng (bài viết sớm nhất vào năm 1968, bài muộn nhất vào năm 1982) Cảm hứng
chủ đạo ở đó là cảm hứng về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước Thơ Hữu Thỉnh luôn biểu hiện được một cách tự nhiên về cuộc sống, luôn hoà quyện giữa hiện thực và lãng mạn qua hình ảnh người lính nơi chiến trường Mang đặc điểm của một hồn thơ hồn hậu, giầu suy tư, thơ viết về chiến tranh của Hữu Thỉnh có kết hợp nhuần nhị giữa giọng chính luận với giọng trữ tình đằm thắm Dường như Hữu Thỉnh đang nói hộ những điều sâu kín trong tâm tư mỗi con người Đó chính là những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của Hữu Thỉnh Bước sang một chặng đường phát triển mới của đất nước, thơ Hữu Thỉnh lại mang đến cho bạn đọc một nguồn cảm hứng và phong cách sáng tạo mới Gần mười lăm năm tìm đoạn đường phát triển tiếp
theo cho thơ mình để cùng một lúc ông đã cho ra mắt hai tập thơ “Thư mùa đông” và
“Thương lượng với thời gian” đã đánh dấu và khẳng định thơ Hữu Thỉnh trong nền
thơ đương đại Việt Nam Những sáng tác của Hữu Thỉnh trong thời kỳ này đã thể hiện cách nhìn nhận đánh giá cuộc đời với những suy ngẫm của một con người đang trăn trở trước cuộc sống đầy những thử thách khó khăn Trong cái tôi trữ tình của Hữu Thỉnh vẫn có cái tôi người lính và có cả tôi cá nhân cô đơn, xót xa, nhiều lo âu và dự cảm đau buồn trước cuộc sống đô thị hiện đại nhưng đậm nét hơn cả là một cái tôi hòa vào cái chung của dân tộc Thơ Hữu thỉnh thời kỳ này phản chiếu cuộc sống thường nhật, trở vềcuộc sống đời thường, những nhìn nhận về tình đời, về lẽ sống, về thân phận cá nhân trong cõi nhân gian đôi lúc phải tìm về nương tựa vào những giá trị truyền thống Trong những sáng tác của thời kỳ trước đề tài tình yêu cũng được Hữu Thỉnh đề cập đến nhưng đó mới chỉ là những hình ảnh thấp thoáng, xen kẽ, chưa có những tứ thơ trọn vẹn về đề tài này Giờ đây, Hữu Thỉnh đã có những tứ thơ riêng, những bài thơ tình trọn vẹn cũng đem đến những rung động trong sâu thẳm tâm hồn nhà thơ Chủ nghĩa nhân văn luôn luôn và mãi mãi là chuẩn mực đánh giá hàng đầu,
Trang 39quan trọng bậc nhất cho mọi giá trị văn học Điều này được hình thành trong quá trình
sáng tác và tiếp nhận văn học Nhưng chủ nghĩa nhân văn ở mỗi thời kỳ lại có sự thay đổi và vận động Quan niệm như vậy sẽ thấy hành trình sáng tạo thơ Hữu Thỉnh là hành trình của người chiến sĩ trong cuộc đấu tranh cho lẽ sống cao cả của con người thời đại đi vào dòng chảy chính của chủ nghĩa nhân văn, mặc dù biểu hiện ở mỗi giai đoạn có khác nhau Đây cũng là hành trình nhịp bước cùng với xu thế chung của thơ
ca hiện đại Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Trường ca Sức bền của đất (1975), Đường tới thành phố viết từ tháng 8/1977 hoàn
thành tháng 4/1978, Trường ca Biển,… là những tác phẩm tiêu biểu, ghi được dấu ấn
nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông Trường ca của ông ôm chứa nhiều vấn đề cả
về độ rộng của không gian, độ dài của thời gian, không những nhiều về số lượng mà đạt giá trị về chất lượng
Những thi tuyển và những bản trường ca của ông đến thời điểm này gồm các tác phẩm sau:
“Âm vang chiến hào” (in chung - 1976)
“Đường tới thành phố” (trường ca - 1985) Sức bền của đất ( trường ca - 1977)
“Từ chiến hào tới thành phố” (trường ca, thơ ngắn - 1985) “Khi bé Hoa ra đời” (thơ thiếu nhi, in chung)
“Thư mùa đông” (thơ, viết 1982 - in 1994)
“Trường ca biển” (viết 1981- in 1994)
“ Thương lượng thời gian” (thơ - 2005)
Trang 401.3.2.3 Đặc điểm và vị trí của thơ Hữu Thỉnh trong thơ Việt Nam thời chiến, thời hậu chiến
Với chặng đường hơn 30 năm sáng tác Hữu Thỉnh đã có nhiều đóng góp đáng kể cho nền thơ ca dân tộc Với 5 tập thơ và 3 trường ca đều đặn cùng một loạt giải thưởng cái tên Hữu Thỉnh đã trở thành cái tên quen thuộc trong làng thơ ca Việt Nam
Sáng tác của Hữu Thỉnh tương đối liền mạch, tiêu biểu cho quá trình vận động của thơ ca cách mạng Việt Nam và sau năm 1975 Với những lời văn giản dị nhưng chắt lọc, sâu lắng ghi lại những tình cảm máu thịt về quê hương, đất nước, về những con người đang sống quanh mình, thơ Hữu Thỉnh đã đến được trái tim người đọc, thấm sâu vào đời sống xã hội, được trích giảng trong nhà trường và không ít bài đã được phổ nhạc
Với Hữu Thỉnh làm thơ không chỉ để “ghi lấy cuộc đời mình” mà đó còn là quá trình không ngừng sáng tạo, không ngừng đổi mới vì sự phát triển của thơ ca nói riêng
và của nền văn học dân tộc nói chung Sức bền của thơ ông không chỉ được khẳng định ở việc tạo ra chỗ đứng trong lòng người đọc mà còn thể hiện ở việc Hữu Thỉnh đã tìm cho mình một phong cách rất riêng thâm trầm, sâu lắng, đậm chất dân tộc nhưng cũng rất hiện đại
Thơ Hữu Thỉnh dung dị, mộc mạc, mang điệu hồn ca dao, điệu hồn dân tộc, mang theo hơi thở cuộc sống Một hồn thơ đậm đà bản sắc bản sắc văn hóa truyền thống và giàu tính hiện đại Thơ ông góp phần làm bề thế hơn, phong phú và sâu sắc hơn diện mạo thơ ca Việt Nam thời chiến và thời hậu chiến, làm cho nó giàu sinh lực hơn để hướng tới hoàn thiện và phát triển Với một hồn thơ giàu nhiệt huyết luôn trăn trở lo âu cho nhân thế thơ Hữu Thỉnh chắc chắn sẽ vượt qua sự sàng lọc nghiệt ngã của thời gian để trụ lại trong trái tim và khối óc của độc giả và sẽ luôn sáng mãi Hữu Thỉnh thật sự là một gương mặt thơ sáng giá, tiêu biểu, một cá tính thơ độc đáo của nền thơ ca Việt Nam
Với thể loại trường ca Hữu Thỉnh đã góp tiếng nói riêng độc đáo của mình vào dàn hợp xướng của những bản trường ca trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Những bản trường ca của ông không còn là câu chữ khô khan nữa mà đã có đời sống riêng của
nó, chiếm được cảm tình và sự tin yêu của người đọc Đến với trường ca của Hữu