1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thuyết trình môn kinh tế vĩ mô

27 437 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 163,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết trình môn kinh tế vĩ mô

Trang 1

Câu 1: Các trường phái kinh tế vĩ mô và các dạng đường tổng cung?

Thuật ngữ kinh tế học “economic” bắt nguồn từ chữ “oeconomicus” trong giáo trình quản lý

và lãnh đạo hiệu quả của Xenophon từ thời Hy Lạp cổ đại, tức khoảng năm 500 trước côngnguyên (Ekelund 2004) Nhưng nó chỉ thật sự được hệ thống hoá một cách cơ bản bởi nhà kinh

tế học cổ điển Adam Smith trong tác phẩm “Sự giàu có của các quốc gia” (The Wealth ofNations) xuất bản lần đầu năm 1776 Từ đó đến nay đã hơn ba thế kỷ, các lý thuyết kinh tế vĩ mô(macroeconomic ) đã phát triển rất xa so với những gì nguyên thuỷ của nó song vẫn xoay quanhhai câu hỏi căn bản – mà cũng từ đó khơi nguồn cho các trường phái và sự tranh luận: (1) tại sao

có sự giao động trong sản lượng (production) và mức nhân dụng (employment); (2) chính sáchhợp lý gì là khi có sự giao động đó?

Trả lời cho hai câu hỏi này đã khơi nguồn cho hai trường phái căn bản mà sự bất đồng của họvẫn còn dai dẳng cho đến ngày nay:

Trường phái Cổ điển (Classical Economics) mà sau này được tiếp sức bởi những nhà kinh tếgọi

là trường phái Tân Cổ điển (Neoclassical Economics)và bây giờ là Cổ điển Mới (New ClassicalEconomics): Nhóm này nhìn nền kinh tế về cơ bản là có tính chất ổn định và có xu hướng tiếntới trạng thái cân bằng khi có giao động Tức có xu hướng tự điều chỉnh về trạng thái mà ở đóđạt được sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Tăng trưởng kinh tế và việc làm đượcxác định bởi sự thay đổi của công nghệ Chính cách nhìn này, họ cho rằng nhà nước không cầncan thiệp vào các hoạt động kinh tế

Trường phái của Keynes – Keynesian economics: khởi xướng cho trường phái này là John

Maynard Keynes, những nhà kinh tế sau này tiếp tục giữ ngọn cờ của Keynes được gọi là trườngphái Keynes Mới (New Keynesian Economics): Nền kinh tế có tính chất không ổn định, tăngtrưởng là kết quả của sự giao động, thị trường lao động không cân bằng Chính sự không “ănkhớp” này thường dẫn đến sự đỗ vở nền kinh tế Vì vậy, họ ủng hộ mạnh mẽ sự can thiệp củachính phủ trong hoạt động kinh tế

Nếu nhìn các tư tưởng kinh tế như là dòng chảy, thì Keynes đóng vai trò nhưmột ngã ba.Theo đó, trước Keynes chúng ta có các nhà kinh tếhọc cổ điển (và tân cổ điển) Sau Keynes, bắtđầu giữa cuối những năm 1970, rẽ ra hai dòng chảy lớn: New Classical Economics và New

Trang 2

W/P = Wr = Wn/P

Wr = f(P): Tiền lương thực tế;

Wn, W: Tiền lương danh nghĩa P: Mức giá chung

SL: Đường cung lao động

LD = f(Wr): Đường cầu lao động AS: Đường tổng cung

Q (K,L): Đường cầu theo vốn và lao động

Y = f(L): Sản lượng tiềm năng

AS0

P0 P1

Về mặt thời gian, cách mạng về lý thuyết tổng quát của Keynes là từ 1930 – 1940, sau đó là cuộcchiến giữa những người theo trường phái trọng tiền (monetarist) và trường phái Keynes trongkhoảng thời gian 1950-1960 Thập niên 70 là sự bùng nổ của các phát kiến xung quanh kháiniệm kỳ vọng hợp lý (rational expectation) và từ những năm 1980 trở về đây là sự dụng độ giữatrường phái Keynes Mới và Cổ điển Mới (Blanchard 2000)

1 Kinh tế học vĩ mô cổ điển:

 Trường phái kinh tế vĩ mô cổ điển hình thành trong bối cảnh nông nghiệp, nông thôn, nôngdân bất ổn, giai cấp công nhân xuất hiện do cách mạng công nghiệp

 Đại diện tiêu biểu cho trường phái này là: Adam Samith, David Ricacdo, Kral Marx

Về quan điểm cốt lõi

Trường phái cổ điển ủng hộ thương mại tự do và hạn chế càng nhiều càng tốt về vai trò của

nhà nước vào hoạt động kinh tế Giả thuyết trọng tâm của họ làmức giá tổng quát (P) và tiềnlương danh nghĩa (W) là hoàntoàn linh hoạt Và nhờ sự linhhoạt này làm cho các biến sốthực không thay đổi và thịtruờng lao động (L) luôn đạttrạng thái cân bằng toàn dụng(SL = LD) Kết quả của các biến

số danh nghĩa linh hoạt này cũng

Trang 3

Tổng cung theo Keynes

W/P

SL

LD

L1 L0

P

Y YP

P1 P0

Q (K,L) AS0

tạo lập được trạng thái cân bằng ổn định ở phía tổng cầu, nghĩa là sản lượng luôn tương ứngvới sản lượng toàn dụng (1)

Theo các trường phái cổ điển, ngay cả khi mà tiền lương danh nghĩa cứng nhắc, một cúsốc làm giảm tổng cầu sẽ làm cho mức giá giảm xuống cũng hàm ý rằng tiền lương thực tănglên Cho dù trong giai đoạn đó có tỷlệ thất nghiệp tăng lên nhưng thị trường lao động vẫn đạtđược hiệu quả ứng với mức tiền lương cao đó

Với quan điểm như trên, các nhà kinh tế học cổ điển chỉ tập trung vào việc làm cách nào

để tăng trưởng cao nhất chứ không phải là giải quyết vấn đề mất cân bằng trong nền kinh tế

Họ thật ra cũng quan tâm đến các trường hợp nền kinh tế lệch khỏi trạng thái cân bằng, nghĩa

là không đạt được sản lượng tiềm năng và thất nghiệp tự nhiên, nhưng cho rằng đó chỉ lànhững giao động nhất thời, là một cú sốc ngẫu nhiên nào đó chẳng hạn như chiến tranh, thờitiết xấu làm mùa vụ thất bại … nhưng các biến số danh nghĩa sẽ linh hoạt điều chỉnh để nềnkinh tế trở về trạng thái cân bằng nhanh chóng

2 Kinh tế học vĩ mô Keynes:

Keynes cũng chứng kiến trọn vẹncuộc đại suy thoái ở Mỹ từ 1929 đến

1932 và ở Anh từ 1921 đến chiếntranh thế giới thứ hai bùng nổ (2) Mộtthời gian đủ dài để có bằng chứngthực nghiệm làm lung lay những tiênđoán mà trường phái cổ điển đưa ra.Nền kinh tế lâm vào tình trạng khủnghoảng, thất nghiệp cao và không cómột dấu hiệu nào cho thấy có khảnăng tự điều chỉnh trở về trạng tháithịnh vượng như ban đầu

Trước đòi hỏi của thực tiễn, năm

1936, Keynes đã xuất bản quyển sách Lý thuyết Tổng quát (Gerneral Theory) Ông xây dựng

mô hình vĩ mô với những biến tổng quát xác định Cũng giống như các nhà kinh tế trước

Trang 4

Keynes, Ông đã ứng dụng mô hình dưới dạng đường cung và đường cầu của Marshall, songcung và cầu của Keynes được định nghĩa là “tổng” (aggregate) chứ không phải một loại hànghoá riêng biệt như nguyên tác của lý thuyết của Marshall Đó là điểm mấu chốt làm lý thuyếtcủa Keynes hướng đến một phân tích vĩ mô hoàn toàn mới Trong phân tích cân bằng củaMarshall biến số điều chỉnh là giá (chứ không phải là lượng), bởi vì theo Marshall để tăngsản lượng của nhà sản xuất khi nhu cầu tăng thì phải cần có thời gian để mua thêm máy móc,

điều chỉnh kế hoạch,…Do vậy giá là biến số thay đổi trước Nhưng theo Keynes, điều này

đường như không xảy ra hoặc không hoàn hảo trong mọi khía cạnh của tổng thể nền kinh tế

Giá của vốn và lao động là điều chỉnh rất chậm nhưng các biến về lượng như tiêu dùng, đầu

tư là linh hoạt và điều chỉnh nhanh chóng Vì thế cân bằng tổng thể do sự thay đổi trong tổng

sản lượng tạo ra chứ không phải do điều chỉnh mức giá.

Keynes chỉ trích mạnh mẽ đối với trường phái cổ điển về cả hai phía cung và cầu:

Về phía tổng cung: Ông không phản đối lý thuyết cổ điển về phía cầu của lao động

(nghĩa là mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận và sử dụng số lượng laođộng sao cho năng suất biên của lao động bằng với suất tiền lương thực) Nhưng lạiphản đối kịch liệt về sự linh hoạt của tiền lương Ông tranh luận rằng, cho dù là một cúsốc ngẫu nhiên, hay các cú sốc danh nghĩa nào đó thì ắt nó phải tác động lên các biến

số thực bởi vì tiền lương là không linh hoạt Tính cứng nhắt (rigidity ) của tiền lương

danh nghĩa là do công nhân và công đoàn luôn chống đối cắt giảm lương (danh nghĩa)nhất là trong giai đoạn có thất nghiệp cao Công nhân lao động không phản ứng vớitiền lương thực mà đúng hơn là họ chỉ phản ứng trên tiền lương danh nghĩa Hiệntượng này Keynes gọi là ảo giác tiền tệ (money illusion) Nếu thất nghiệp xảy ra, theoKeynes thì đó là nguyên nhân của sự suy giảm tổng cầu hoặc là những chu kỳ kinhdoanh Vì thế để kéo lại trạng thái toàn dụng lao động Keynes đề nghị phải bù đắpbằng chính sách tài khoá Chính sách tiền tệ cũng có thể được sử dụng như là mộtcông cụ để hỗ trợ cho chính sách tài khoá vì nhìn chung nó không đủ để tạo ra sự cânbằng cho nền kinh tế

Về phía tổng cầu: Keynes cũng có những chỉ trích đối với trường phái cổ điển Ông

nhấn mạnh rằng, ngay cả khi là có sự linh hoạt trong suất tiền lương và mức giá như làtrường phái cổ điển lập luận thì nền kinh tế cũng có thể bị kẹt tại một mức sản lượngdưới sản lượng toàn dụng và cơ chế tự điều chỉnh mà truờng phái cổ điển tin tưởngkhông vận hành được Có hai lý do mà ông bảo vệ thành công lập luận này:

Trang 5

 Thứ nhất là trong tình huống mà hàm cầu tiền tệ hoàn toàn nhạy đối với lãi suất(hay còn gọi là bẫy thanh khoản – liquidity trap); và

 Thứ hai là hàm chi tiêu đầu tư không nhạy cảm với lãi suất

Trong những tình huống như vậy nếu có sự suy giảm của phía cầu (đơn cử là giảm chitiêu tự định) sẽ làm thặng dư cung nên mức giá giảm

Đáng lý ra, theo trường phái cổ điển, thì lãi suất phải giảm xuống để đầu tư tăng trở lại

và kéo tổng cầu về trạng thái cân bằng Nhưng vì cầu tiền tệ co dãn hoàn toàn đối vớilãi suất hoặc đầu tư không nhạy cảm (với lãi suất) nên tổng cầu vẫn không thay đổi gì(tức là vẫn nằm ở dưới sản lượng tiềm năng) trong khi giá giảm Keynes đề nghị rằng,trong các trường hợp này thì chính phủ nên can thiệp bằng chính sách tài khoá (giảmthuế hoặc tăng chi tiêu) để phục hồi tổng cầu

Keynes đã tạo được cách mạng trong lý thuyết vĩ mô bởi các điểm sau:

 Phân biệt rõ ràng ba thị trường và mối quan hệ cân bằng giữa chúng: hàng hoá, tiền tệ

3 Kinh tế học tân cổ điển

Keynes đã thành công trong giải thích nền kinh tế gặp phải suy thoái kéo dài và đề nghịđúng đắn là chính phủ phải can thiệp nhưng đã quá xa thực tế khi giả định suất tiền lươngdanh nghĩa cứng nhắc và cho rằng đó là một biến ngoại sinh không được giải thích của môhình Có thể trong ngắn hạn tiền lương là cứng nhắt nhưng nó sẽ thay đổi trong trung và dàihạn Điều này ngụ ý rằng cũng có thể nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh như là các nhà kinh tế cổđiển suy luận, như sự điều chỉnh đó có thể chậm

Những nhà kinh tế trong trường phái Cổ điển Mới cũng đặt nghi vấn xác đáng rằng:

 Liệu phân tích chu kỳ kinh doanh trong giả định xuất tiền lương cứng nhắc (nghĩa là

Trang 6

 Phân tích của Keynes là phân tích tĩnh (static), song trong thực tế nếu các cá nhân là raquyết định hợp lý thì các tập hợp thông tin trong quá khứ lẫn những dự đoán trongtương lai nhất định phải có tác dụng nào đó?

Khi nhắt đến lý thuyết Cổ điển Mới thì Lucas la người thường xem lại một đại diện tiêubiểu, còn Friedman là đại diện cho trường phái trọng tiền (monetarism) Cả hai đều có nhữngtranh luận bất đồng một cách thấu đáo với những người ủng hộ học thuyết Keynes Nhữngnhà kinh tế học khác cũng được xem thuộc trường phái Cổ điển Mới là Thomas J.Sargent,Robert J Barro, Neil Wallace, Edward C Prescott, Finn Kydland, Robert E.Hall, MichealWoodford, Paul M Romer Nancy L Stokey

Milton Friedman (1912 -): Friedman đã bắt đầu có những hiệu chỉnh quan trọng đối

với lý thuyết của Keynes

Về phía tổng cung: tức là thị trường lao động, các chủ doanh nghiệp có thông tin

về giá cả nhiều hơn vì họ chỉ cần quan sát một số ít sản phẩm (chẳng hạn như sảnphẩm mà họ đang kinh doanh, các nguyên liệu đầu vào,…), ngược lại, công nhânphải đối diện với tập hợp rất nhiều sản phẩm mà họ tiêu dùng và cũng không cóthời giờ để theo dõi giá cả nhanh chóng Vì thế đối với chủ doanh nghiệp (tức làcầu lao động) thì họ sẽ phản ứng với tiền lương thực (real wage) trong khi đó thìcông nhân (tức là phía cung) phản ứng với mức tiền lương thực kỳ vọng (vì họ chỉ

có mức giá kỳ vọng) Đây là giả định kỳ vọng thích nghi (adaptive expectation)nổi tiếng của Friedman thịnh hành trong những năm 1960 -1970

Về phía tổng cầu: Friedman thì cho rằng hàm cầu tiền tệ rất ít nhạy cảm với lãi

suất Cụ thể hơn, thay vì Keynes chỉ xem lý do dân chúng muốn nắm giữa tiền thìFriedman lại xem tiền như là một sản phẩm lâu bền cho hộ gia đình lẫn xí nghiệp.Chính vì lý do mà Keynes cho rằng dân chúng nắm giữ tiền vì mục đích giao dịch

và đầu cơ nên khái niệm thu nhập trong hàm cầu tiền của Keynes là thu nhập thực.Ngược lại, thu nhập trong hàm cầu tiền của Friedman là thu nhập thường xuyên,ngoài ra còn ảnh hưởng của chênh lệch giữa mức sinh lợi lãi suất trái phiếu hiệnhành, lãi suất cổ phần hiện hành, tỷ lệ lạm phát dự đoán với lãi suất dự đoán trêntiền (bao gồm lãi suất thực trả của ngân hàng và những dịch vụ mà họ cung cấp).Tuy nhiên, mức chênh lệch này ít khi biến động vì áp lực cạnh tranh nên các ngân

Trang 7

hàng cũng thay đổi lãi suất trên tiền khi mà các biến số kia thay đổi Phân tích nàycủa Friedman dẫn đến hai kết luận quan trọng mâu thuẩn với Keynes:

 Thứ nhất là các chính sách về tài khoá hầu như không làm thay đổi tổngcầu;

 Thứ hai khối tiền tệ xác định tổng cầu

Vì thế sự thay đổi trong cung tiền có tác dụng đối với nhân dụng và sản lượngtrong ngắn hạn vì có sự chênh lệch giữa giá thực tế và giá kỳ vọng nhưng trong dàihạn cả thì trường lao động và sản phẩm đều trở về trạng thái cân bằng Và như vậychu kỳ kinh doanh xảy ra là do sự chênh lệch giữa mức giá mà công nhân kỳ vọng

so với mức giá thực tế

Robert E Lucas (1937-):

Ông có công trong việc cải thiện những nhược điểm mà Friedman không giải thíchđược Việc mà công nhân có thông tin về giá cả trễ hơn chủ doanh nghiệp nhưFriedman nghĩ là không có gì sai, song công nhân không thể “ngu lâu” vì các nguồnthông tin về mức giá thay đổi thường xuyên được cập nhật bằng phương tiện truyềnthông đại chúng Vì như thế thì không thể nào lý giải đươc chu kỳ kinh doanh kéo dàiđến 3 - 4 năm trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai Đóng góp của Lucasđối với Friedman là phương diện dự đoán Thay vì dùng giả định dự đoán thích nghithì Lucas cho rằng công nhân dự đoán hợp lý (rational expectation) nghĩa là dựa trênmột giả định rằng: Chủ thể kinh tế hình thành sự dự đoán về một biến số nào đó đềucăn cứ trên tất cả các thông tin thích hợp và sẵn có Thỉnh thoảng vẫn có những dựđoán sai lầm nhưng sự sai lầm đó không có tính hệ thống, nghĩa là ngẫu nhiên

Lucas cho rằng không những chỉ riêng công nhân thiếu thông tin về giá cả mà chủdoanh nghiệp cũng trong tình trạng tương tự Vì thế cả hai đều phải đưa ra những dựđoán về giá cả cho mục tiêu của mình Với giả thuyết dự đoán hợp lý và xử lý toán họcthì Lucas cũng dẫn đến cùng một kết luận với Friedman, nhưng cho thấy quá trình điềuchỉnh sẽ nhanh hơn so với mô hình của Friedman

Trang 8

4 Kinh tế học Keynes mới:

Họ giảm bớt giả định tiền lương cứng nhắt của Keynes bằng những lý giải thoả đáng hơn.Tiền lương không linh hoạt theo họ là có và nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ các nhân tốđịnh chế(institutional factor), chẳng hạn như cạnh tranh độc quyền (monopolisticcompetition), chi phí thực đơn (menu cost), khê ước dài hạn (lengthy contract), lý thuyết tiềnlương hiệu quả (efficiency wage theory), giá ấn định (markup pricing), chiến lược marketing(marketing stragegy)…

Linh hồn trong các lý thuyết trong trường phái Keynes mới là phân tích trên nền tảng kinh

tế vi mô (mirco-foundations) để cho thấy trong nhiều trường hợp tốt trên bình diện vi mô cóthể phương hại đến kinh tế vĩ mô Bốn điểm chính mà những người trong trường pháiKeynes Mới chỉ trích trường phái Tân Cổ điển là:

 Thứ nhất trong thực tế có sự phân phối thông tin không đồng đều;

 Thứ hai giả định mức giá linh hoạt tuyệt đối trong giả định kỳ vọng hợp lý là không rõràng trong thực tế;

 Thứ ba, kỳ vọng hợp lý không phải lúc nào cũng có và với mọi thị trường;

 Thứ tư là giả định thị trường đều trong tình trạng cân bằng như là một thị trường cạnhtranh hoàn hảo là không có thật mà hầu hết các thị trường đều có đặc tính là cạnh tranhđộc quyền, đơn giản là chi phí để hình thành một doanh nghiệp mới cũng là một ràocản gia nhập ngành

Trường phái Keynes Mới nổi lên từ cuối thập niên 70, những đại diện nổi bật là OlivierBlanchard, Nobuhibo Kiyotaki, Alan Blinder,Stanley Fischer, Rober Hall, Lawrence Katz,Gregory Mankiw, Micheal Parkin, Joeshep Stiglitz, Lawrence Summer, John Taylor và JanetYellen Ba lý thuyết điển hình theo trường phái Keynes mới là khê ước dài hạn, chi phí thựcđơn và suất tiền lương hiệu quả

Tóm lại

Một cách tổng quát, các trường phái kinh tế bắt đầu xuất hiện khi lý thuyết của Keynes ra

đời vào đầu thế kỷ 20 Theo đó, trước Keynes có các lý thuyết của trường phái cổ điển, sauKeynes có trường phái Cổ điển Mới và Keynes Mới

Nếu những nhà kinh tế trong trường phái Cổ điển Mới vẫn trung thành trong khuôn khổ phântích của Walras – nghĩa là cân bằng tổng thể đồng thời với giả định rằng thị trường là hoàn hảo

Trang 9

thì ngược lại, những nhà kinh tế trong trường phái Keynes Mới thường phân tích ngoài khuônkhổ ấy, với các mô hình nhỏ trong tình huống thị trường thất bại Hai dòng quan điểm này vẫncòn tiếp diễn cho đến ngày nay

Điểm chung duy nhất là tất cả các đóng góp cho lý thuyết kinh tế vĩ mô gần đây đều xâydựng trên nền tảng kinh tế vi mô Cho dù các lý thuyết được tinh lọc và phát triển không ngừng

từ hơn hai thế kỷ qua, nhưng việc giải thích hai câu hỏi căn bản (1) “nguyên nhân nào có sự giaođộng trong sản lượng và nhân dụng” và (2) “chúng ta phải làm gì trong truờng hợp có sự giaođộng đó?” vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng

Trang 10

Tính chất của đường tổng cầu:

Đường tổng cầu có độ dốc âm phảnánh mức giá chung có ảnh hưởng âm đếntổng cầu Độ dốc âm của tổng cầu đượcgiải thích bởi các nguyên nhân sau:

 Mức giá và tiêu dùng - Hiệu ứng củacải: ảnh hưởng tức thì của sự giảm giá làlàm tăng giá trị thực tế của số tiền mà dân

cư nắm giữ Nếu như người ta giữ mộtkhối lượng tiền nhất định, khi mức giáchung giảm, họ sẽ có thể mua được nhiềusản phẩm hơn trước

Mức giá và đầu tư - Hiệu ứng lãi suất : khi giá cả giảm, các hộ gia đình cần giữ ít tiền hơn

để mua hàng hoá và dịch vụ mà họ muốn Do đó họ sẽ giữ ít tiền hơn và cho vay nhiều hơn Điềunày làm giảm lãi suất và có tác động khuyến khích các doanh nghiệp vay tiền để đầu tư nhiềuhơn vào máy móc, thiết bị

Mức giá và xuất khẩu ròng - Hiệu ứng thay thế quốc tế : trong nền kinh tế mở, sự giảm

giá của hàng trong nước làm cho hàng nội trở nên rẻ tương đối so với hàng ngoại Điều này cótác dụng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu

Tổng cung:

 Tổng cung của một nền kinh tế là mức sản lượng trong nước mà các doanh nghiệp sẵnsàng và có khả năng sản xuất, cung ứng tại một mức giá nhất định, trong điều kiện các yếu tố

Trang 11

Thay đổi của Tổng Cầu tác động đến nền kinh tế

Giả định nền kinh tế đang trong trạng thái cân bằng, khi có một thay đổi về mức giá dựđoán, tức P thay đổi, sẽ làm chi tiêu tiêu dùng tự định tăng, chuyển đường IS sang phải, từ ISosang IS1 và đường tổng cầu sang phải, từ AD0 sang AD1 Tại mức giá P=P0, thị trường sản lượng

có thừa cầu nên P tăng Và P tăng thì lượng tổng cung tăng và lượng tổng cầu giảm Tại B’, giaođiểm giữa đường tổng cầu AD1 và đường tổng cung AS0, mức giá cân bằng tăng từ P0 lên P1vàsản lượng cân bằng tăng từ Y0 lên Y1 Với mức cung tiền không đổi (Mo), P tăng thì cung tiềnthực giảm, chuyển đường LM sang trái, cắt đường IS1 tại A’

Trong thị trường lao động, P tăng chuyển đường tổng cầu lao động sang phải, từ P0 f(N)sang P0 F(N) cắt đường tổng cung lao động tại B’ Tiền lương danh nghĩa tăng từ W0 đến W1,mức nhân dụng tăng từ N0 đến N1, nghĩa là giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống, và thị trường lao độngđạt đến điểm cân bằng B’

Trong dài hạn, khi mức giá thực cao hơn mức giá dự đoán,làm tăng lượng cung lao động,khiến mức tiền lương thực thấp hơn tiền lương dự đoán, và sản lượng sản xuất tăng Lúc này,đường tổng cung AS0 dịch chuyển sang trái, cắt đường tổng cầu AD1 tại điểm A”, sản lượnggiảm từ Y1 xuống Y2 và giá tăng từ P1 lên P2 Quá trình điều chỉnh cứ tiếp tục cho đến khi đườngtổng cung cắt đường tổng cầu AD1 tại điểm A* trên đường Y-vị trí cân bằng dài hạn

Trang 12

Thay đổi của tổng cung tác động đến nền kinh tế

Giả sử tình hình nền kinh tế đang trong trạng thái cân bằng tại điểm A, khi giá cung tăngchi phí tăng Điều này làm đường tổng cung dịch chuyển sang trái từ AS0 sang AS1 cắt đườngtổng cầu AD0 tại A’, mức giá cân bằng tăng từ P0 sang P1 và sản lượng cân bằng giảm Lúc này,các doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp sản xuất, giảm bớt nhân công đang sử dụng, do đó làmtăng tỷ lệ thất nghiệp.(Hình 5)

Trong dài hạn, khi mức giá tăng làm đường tổng cung lao động chuyển sang phải, cắtđường tổng cầu lao động tại điểm cân bằng mới với mức tiền lương thấp hơn Trong thị trườngsản lượng, vì mức giá P tăng nên làm tăng mức giá dự đoán, chuyển đường tổng cung AS1 sangtrái thành AS2, cắt đường tổng cầu tại điểm A”, mức giá cân bằng tăng từ P1 đến P2 Trong thịtrường lao động mức giá dự đoán tăng làm chuyển đường tổng cung lao động qua trái, cắt đườngtổng cầu tại điểm cân bằng mới với mức lương cao hơn Quá trình điều chỉnh tiếp tục cho đếnkhi đường tổng cung sản lượng cắt đường tổng cầu sản lượng tại điểm A*(Hình 5b) Lúc này, nềnkinh tế trở lại sản lượng tự nhiên, nhưng ở mức thấp hơn mức sản lượng tự nhiên trước quá trìnhđiều chỉnh Tỷ lệ thất nghiệp tăng và mức giá tiền lương thực cũng giảm (Hình 5c)

Như vậy, có thể thấy trong ngắn hạn, khi có sự tăng lên về mức giá, tác động của tổng

cầu đến nền kinh tế theo hướng tích cực, là làm tăng sản lượng cân bằng, nghĩa là tăng GDP,giảm thất nghiệp Ngược lại, khi có sự tăng lên về mức giá tác động về phía tổng cung là làmgiảm sản lượng và tăng thất nghiệp Do đó, trong ngắn hạn, các nhà kinh tế cũng như các nhàhoạch định chính sách đều chú trọng đến tổng cầu Nhà kinh tế học Keynes đã khẳng định, tổngcầu quyết định tổng cung và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trong dài hạn, khi kết thúc quá trình điều chỉnh, tổng cầu và tổng cung sẽ dịch chuyểnđến điểm cân bằng mới, nền kinh tế đạt mức sản lượng cân bằng mới Tuy nhiên, trong trườnghợp mức giá tác động lên tổng cung, mức sản lượng tự nhiên giảm, tỷ lệ thất nghiệp tăng và mứclương cân bằng cũng giảm Trong khi đó, mức giá tăng tác động làm tổng cầu dịch chuyển mangđến kết quả là nền kinh tế không thay đổi mức sản lượng tự nhiên

Trang 13

Tăng trưởng Khủng hoảng

Đáy của chu kỳ kinh tế

Đỉnh chu kỳ kinh tế

Câu 3: Chu kỳ kinh doanh là gì?

Trong suốt quá trình phát triển, bất kỳ nền kinh tế nào cũng trải qua các giai đoạn tăngtrưởng nhanh xen kẽ với các giai đoạn tăng trưởng chậm, hay gọi là suy thoái Các nhà kinh tếgọi sự thay đổi về sản lượng này là các chu kỳ kinh doanh hay chu kỳ kinh tế

Người ta chia chu kỳ kinh tế thành 4 pha: Phục hồi, tăng trưởng, khủng hoảng, suy thoái.Hai pha đầu gộp thành giai đoạn mở rộng, hai pha cuối gọp thành giai đoạn thu hẹp

Pha Phục hồi: GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái Điểm ngoặt

giữa pha phục hồi và pha suy thoái là đáy của chu kỳ kinh tế

Dấu hiệu của giai đoạn này là lạm phát suy giảm, lãi suất điều chỉnh giảm, thị trườngtrái phiếu tạo đáy, thị trường chứng khoán phục hồi, giá cả hàng hóa tăng lên, giá trị cáctài sản khác gia tăng, niềm tin hồi phục và các chính sách kích thích kinh tế của chínhphủ

Pha Tăng trưởng: Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước

lúc suy thoái, nền kinh tế đang ở pha tăng trưởng Trong giai đoạn này: Lãi suất ngắnhạn ở mức trung bình; trái phiếu ổn định; thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ;thị trường hàng hóa tăng trưởng mạnh; giá cảc các tài sản khác phục hồi; nền kinh tếtăng trưởng nhanh đáng kể; lạm phát duy trì ở mức thấp; sự tin tưởng vào thị trường giatăng

Ngày đăng: 21/11/2015, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w