1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô

68 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 1

Đề tài:

Cải thiện dự trữ ngoại hối của Việt Nam trong bối

cảnh ổn định kinh tế vĩ mô Lời mở đầu

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối (DTNH) ra đời cùng với chế độ đồng bản vị vào cuối thế

kỷ XVIII, nhưng để có thể hiểu rõ hơn về quá trình hình thành của dự trữ ngoạihối, chúng ta sẽ nhìn lại quá khứ trước đó, thời kỳ gắn liền với chế độ bản vị hànghoá

1.1.1 Chế độ bản vị hàng hoá

Từ thời cổ đến thời cận đại, thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở bản vịhàng hóa, trong đó, kim loại (chủ yếu là vàng và bạc) là hàng hóa được đúc thànhcác khối với chức năng làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế.Trong thời kì đầu, tiền kim loại được đúc chủ yếu dưới dạng tùy ý hoặc thànhnhững thỏi hay những chiếc vòng, về sau những phát kiến đã tiêu chuẩn hóa tiền tệ

về trọng lượng, chất lượng kim loại và nhãn mác Những đồng xu mang những dấuhiệu về giá trị theo trọng lượng và chất lượng kim loại, đồng thời chất lượng củacác đồng xu được quốc gia bảo hộ Do đó, hệ thống tiền đúc (tiền xu) đã tạo điềukiện cho các giao dịch và giúp những nhà buôn tiết kiệm được thời gian trong việcnhận dạng, định lượng và đánh giá chất lượng kim loại

Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơnhẳn các kim loại khác bởi những đặc tính của chúng đã đáp ứng được những gì màmột đồng tiền hàng hóa cần có Không những thế, sự chấp nhận rộng rãi vàng vàbạc như là tiền còn được củng cố từ thực tế là các kim loại này có giá trị sử dụngphi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức

Trang 2

Chính vì sự thống nhất giá trị đồng tiền theo trọng lượng và giá trị của các

kim loại mà trong thời kì này, dự trữ ngoại hối không có ý nghĩa do đồng tiền mỗi

nước đều được chấp nhận rộng rãi và có thể quy đổi theo giá trị mà nó chứa đựng

Chế độ bản vị hàng hóa này đã bị sụp đổ do quy luật Gresham “Đồng tiềnxấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good money) Ở dạng tinh khiết,chế độ bản vị hàng hóa hoạt động trên cơ sở giá trị đầy đủ của các đồng xu, tức làgiá trị tiền tệ của chúng cũng là giá trị kim loại của đồng xu Tuy nhiên, sau mộtthời gian, khi các quốc gia ngày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng haybạc trong các đồng xu, đã dẫn đến hiện tượng, đồng tiền xấu được ưu tiên sử dụnghơn đồng tiền đầy đủ giá trị, đẩy đồng tiền tốt này ra khỏi lưu thông

1.1.2 Chế độ đồng bản vị (Từ 1792 đến nửa cuối thế kỷ XIX)

Thời kỳ này dự trữ ngoại hối chính thức xuất hiện và tài sản trong dự trữ

chủ yếu là vàng và bạc, chế độ đồng bản vị ra đời gắn liền với Luật đúc tiền năm

1792 ở Mỹ, khi giá trị của đồng đô la Mỹ được gắn cố định với vàng và bạc Từ đóxuất hiện tỷ lệ trao đổi cố định giữa vàng và bạc Tuy nhiên, do giữa các quốc gia,

tỷ lệ trao đổi này là khác nhau đã dẫn đến hiện tượng, ở các quốc gia này các đồngtiền được định giá cao thấp khác nhau Vàng chảy ra khỏi những nước nào mà nó

bị định giá thấp và chảy vào những nước nào được định giá cao Chính vì thế, trênthực tế, chế độ đồng bản vị đã hoạt động như chế độ đơn bản vị Tuy nhiên trongthời kỳ này, dự trữ của các nước chủ yếu vẫn là vàng và bạc, đồng thời là tiền tệcủa các quốc gia khác do những đồng tiền này đã được đảm bảo bằng vàng và bạc

và được chuyển đổi tự do ra vàng và bạc

1.1.3 Chế độ bản vị vàng ( Từ cuối thế kỷ XIX đến 1924)

Chế độ bản vị vàng được áp dụng sớm ở Anh trong hầu hết thế kỷ XIX(1816) và ở các nước khác vào cuối thế kỷ này Trong chế độ bản vị vàng, giá trịcủa các đồng tiền được các nước ấn định cố định với vàng và các đồng tiền được

sẵn sàng trao đổi với vàng tại mức cố định đó Chính vì thế, dự trữ ngoại hối của

các nước trong thời kỳ này chủ yếu là vàng Xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các

quốc gia được tự do Do đó đã xuất hiện tỷ giá giữa các loại tiền tệ gắn liền với bản

vị vàng Ngoài ra, một trong những điều đáng chú ý trong chế độ bản vị vàng làNHTW các nước phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếpvới số tiền phát hành, số vàng dự trữ này cho phép các NHTW chuyển đổi tiền ra

Trang 3

phụ thuộc hoàn toàn vào lượng vàng dự trữ của một quốc gia Nguồn vàng của cácquốc gia có được chủ yếu từ ngành khai khoáng trong nước, ngoài ra do thặng dưthương mại trong thanh toán quốc tế.

Trong thời kì hoàng kim của chế độ bản vị vàng (1880-1924), hệ thống tiền

tệ thế giới hoạt động có trật tự Tiền tệ của các quốc gia luôn hoạt động thống nhấtbên cạnh nhau Trong thời kì này, nước Anh có ảnh hưởng đặc biệt đến nền kinh tếthế giới cũng như có vai trò quan trọng trong đầu tư và thương mại quốc tế Chính

vì thế bảng Anh đã trở thành phương tiện thanh toán quốc tế rộng rãi và là đồngtiền chính tronh dự trữ ngoại hối của các nước để hỗ trợ bản vị vàng cho đồng tiềncủa nước mình Những cam kết của chính phủ các nước, đặc biệt là chính phủ Anh,

về việc duy trì lâu dài sự chuyển đổi các đồng tiền ra vàng theo bản vị cố định đãtạo ra lòng tin vào hệ thống này

Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra năm 1914 đã buộc các nước chấm dứtchuyển đổi đồng tiền của mình ra vàng Hệ thống tỷ giá cố định đã hoạt động trong

35 năm nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi Nguyên nhân là do trong Chiếntranh thế giới Thứ nhất, các chính phủ đã thay đổi chính sách tiền tệ nhằm tài trợcho chiến tranh Lạm phát bùng nổ ở các nước châu Âu Với lợi thế trong chiếntranh cũng như không chịu lạm phát cao như các nước châu Âu, sức cạnh tranhthương mại của Mỹ tăng lên nhanh chóng Hơn nữa, đô la được chuyển đổi ra vàngtrong khi đó các đồng tiền khác thì không đã làm tăng sự hấp dẫn đầu tư vào cáctài sản ghi bằng đô la Đô la ngày càng trở thành đồng tiền có vị thế trong các giaodịch quốc tế Sau chiến tranh, hầu hết đồng tiền các nước châu Âu tiếp tục bị phágiá và thả nổi so với đô la

1.1.4 Chế độ bản vị hối đoái vàng (Từ 1925 đến 1931)

Trên danh nghĩa thì thời kỳ này vẫn được coi là thời kỳ của chế độ bản vịvàng, năm 1925 nước Anh lại quay trở lại ấn định bản vị vàng ở mức giống nhưtrước chiến tranh xảy ra (1913) Việc một số đồng tiền trở lại chế độ bản vị vàng

đã làm hồi sinh chế độ này Tuy nhiên chế độ này đã hoạt động không ổn định nhưtrước chiến tranh

Dự trữ ngoại hối của nhiều nước trong thời kì này đã có sự thay đổi, chuyển

từ vàng sang các ngoại tệ có thể chuyển đổi ra vàng như bảng Anh, và đặc biệt là

đô la Mỹ.

Trang 4

Cuộc đại suy thoái kinh tế vào năm 1929 – 1933 đã khiến chế độ bản vịvàng vừa quay trở lại đã không kéo dài được lâu Hệ thống tiền tệ thế giới khôngcòn liên kết được với nhau với sự xuất hiện nhiều khối tiền tệ Yêu cầu được đặt ra

là tái thiết lại hệ thống tiền tệ thế giới, một trong những kết quả là sự ra đời của hệthống Bretton Woods

1.1.5 Hệ thống Bretton Woods (Từ 1944 đến 1971)

Hệ thống Bretton Woods ra đời sau chiến tranh thế giới thứ II, dự trữ ngoại

hối của các nước trong thời kỳ này chủ yếu là vàng và USD Một trong những đặc

điểm quan trọng nhất của hệ thống này là hệ thống chế độ tỷ giá là cố định nhưng

có thể điều chỉnh Trong đó mỗi đồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá trungtâm với USD và được phép dao động trong biên độ ±1% Tỷ giá của USD tự nóđược cố định với giá vàng là $35/ounce Bởi lẽ trong thời gian này, Mỹ đang nắmtới 70% dự trữ vàng của thế giới, và việc gắn đồng đô la vào vàng đã tạo ra niềmtin vào hệ thống này

Chính vì vị thế quan trọng của USD trong giai đoạn này cũng như việc gắngiá trị và cam kết chuyển đổi ra vàng không hạn chế nên USD đã trở thành đồngtiền hàng đầu trong dự trữ của các nước Những năm đầu sau chiến tranh thế giớithứ II, Mỹ bội thu cán cân vãng lai trong khi các nước, đặc biệt là châu Âu bị thâmhụt nặng nề, nhu cầu USD tăng lên mạnh mẽ Để giúp tái thiết châu Âu, Mỹ đã trợcấp các nước châu Âu thông qua gói cứu trợ Marshall Đồng thời, do cán cân thanhtoán của các nước châu Âu liên tục thâm hụt nên một loạt những đồng tiền đã đượcchấp nhận phá giá như Anh, Pháp

Tuy nhiên, bước sang những năm 1950 trở đi, cán cân cơ bản của Mỹ từ chỗthặng dư sau chiến tranh đã dần dần trở nên thâm hụt Ban đầu mức thâm hụt nàychưa đáng lo ngại khi Mỹ vẫn đủ lượng vàng để đảm bảo cho các tài sản nợ bằng

đô la Mỹ Tuy nhiên, càng ngày tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹcàng trở nên đáng lo ngại, đặc biệt là từ 1958 - 1961 Trong quá trình tích lũyUSD, nhiều NHTW nước ngoài đã tiến hành chuyển đổi USD dự trữ của mình ravàng, dòng vàng chảy ra khiến Mỹ phải quan tâm đến tình trạng này, trong đó có

sự ra đời của “Thỏa thuận chung về vay mượn” và việc thỏa thuận của NHTW cácnước về việc ngừng chuyển đổi đồng đô la ra vàng

Từ giữa những năm 60s, cùng với cuộc chiến tranh Việt Nam, cán cân thanh

Trang 5

được định giá quá cao so với giá trị thực Làn sóng đầu cơ vào những đồng tiềnxuất hiện, trong đó có đô la Mỹ Vào năm 1971, hoạt động đầu cơ tấn công vàođồng USD trở nên mạnh mẽ, làm cho USD ngày càng bị định giá quá cao, khiến áplực phá giá đồng USD (so với vàng) tăng lên Trước những áp lực đầu cơ ngàycàng tăng, buộc nước Mỹ vào ngày 15/8/1971 đã chính thức công bố “đồng USDkhông tiếp tục được chuyển đổi ra vàng nữa” cũng như áp đặt các hàng rào thuếquan đối với hàng nhập khẩu Mục đích là nhằm buộc các nước phải nhanh chóngnâng giá đồng tiền của mình so với USD.

Trước động thái của Mỹ nhằm cho phép thả nổi tỷ giá và đồng ý tự do hóathương mại hơn nữa, cũng như thực tế sự chênh lệch về tỷ lệ lạm phát giữa cácnước công nghiệp ngày càng lớn và tình trạng cán cân của Mỹ ngày càng trở nênxấu đi, từ năm 1972 đến đầu những năm 1973, một loạt đồng tiền đã tuyên bố thảnổi với đồng đô la Hệ thống Bretton Woods sụp đổ

1.1.6 Chế độ bản vị tiền giấy không chuyển đổi ra vàng (Từ 1973 đến

nay)

Sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ cho đến đầu những năm 90s, hệthống tiền tệ thế giới trải qua nhiều biến động Từ cú sốc cung dầu mỏ lần thứ nhấtnăm 1973, lần thứ hai năm 1978, những sự thay đổi trong các chính sách của IMF,

sự hùng mạnh của đồng USD trong những năm 1980 – 1985 đã ảnh hưởng nhiềuđến dự trữ ngoại hối của các nước Trong dự trữ ngoại hối, các tài sản bằng USDvẫn được nắm giữ hàng đầu, ngoài ra là những đồng tiền mạnh như Yên Nhật, MácĐức, Franc Pháp và đồng bảng Anh

Cũng trong giai đoạn những năm 90s, những tiền thân cho việc hình thànhmột cộng đồng chung châu Âu đã ra đời, trong đó có sự liên minh về tiền tệ giữacác nước châu Âu nhằm ổn định tỷ giá, tăng cường khả năng lưu chuyển vốn giữacác nước trong châu Âu đã được thiết lập Trên nền tảng những liên minh đó, ngày1/1/1999, đồng tiền chung châu Âu, Euro, trở thành tiền tệ chính thức

Với ảnh hưởng kinh tế và thương mại quốc tế, đồng Euro ngày càng trởthành một trong những đồng tiền chủ chốt trong dự trữ ngoại hối của các nước.Theo một bản nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương châu Âu tỷ lệ của đồng Eurotrong dự trữ ngoại tệ trên toàn cầu tăng từ 13% trong năm 2001 lên 16,4% trongnăm 2002 và đến 18,7% trong năm 2003, cũng trong cùng thời gian này tỷ lệ củađồng Đô la Mỹ giảm từ 68,3% (2001) xuống 67,5% (2002) và trong năm 2003 còn

Trang 6

64,5% Trong dự trữ ngoại hối của thế giới hiện nay, những đồng tiền chủ chốt là

USD, Euro, bảng Anh, Franc Thụy Sỹ và Yên Nhật.

Như vậy, trong quá trình phát triển của dự trữ ngoại hối, đây luôn là quỹ sửdụng trước hết với mục đích thanh toán quốc tế Chính vì thế, không có gì ngạcnhiên khi cơ cấu dự trữ ngoại hối luôn là những phương tiện thanh toán được chấpnhận rộng rãi bởi nhiều quốc gia, có giá trị ổn định, được đảm bảo bởi vai trò kinh

tế của của các quốc gia phát hành

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Ngoại hối

“Ngoại hối” (the foreign exchange) bao gồm các phương tiện thanh toán cógiá trị được sử dụng trong thanh toán quốc tế Trong đó, phương tiện thanh toán lànhững thứ có sẵn để chi trả, thanh toán lẫn cho nhau

Theo Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 của Ủy banThường vụ Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam, tại Điều 4, khoản 1 có quy định:Ngoại hối bao gồm:

a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiềnchung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi làngoại tệ);

b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếuđòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;

c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếucông ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;

d) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài củangười cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào vàmang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;

đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trườnghợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trongthanh toán quốc tế

Khái niệm ngoại hối thường được hiểu theo luật định và khá thống nhất giữacác quốc gia

1.2.2 Dự trữ ngoại hối

Trang 7

Dự trữ ngoại hối là một quỹ dự trữ vô cùng quan trọng mà hầu hết các quốcgia trên thế giới hiện nay đều phải duy trì và sử dụng Vậy dự trữ ngoại hối là gì?

(+) Trong Cẩm nang Cán cân Thanh toán Quốc tế, IMF định nghĩa Dự trữngoại hối là toàn bộ tài sản bằng ngoại hối sẵn sàng sử dụng để can thiệp, thể hiệntrên bảng cân đối tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

(+) Theo Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005 của Ủyban Thường vụ Quốc hội nước CHXNCN Việt Nam, tại Điều 4, khoản 19 có viết:

“Dự trữ ngoại hối nhà nước là tài sản bằng ngoại hối thể hiện trong bảng cân đốitiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

(+) Theo Nghị định của Chính phủ số 86/1999/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm

1999 về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước, tại Điều 1 có quy định: Dự trữ ngoạihối nhà nước là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước được thể hiện trong bảng cânđối tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý dựtrữ ngoại hối nhà nước nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm khảnăng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước

Rõ ràng là khái niệm về dự trữ ngoại hối khá trùng khớp với nhau dù đượctrích dẫn theo nguồn nào Do đó, các thành phần của dự trữ ngoại hối cũng đượccác quốc gia thống nhất một số khoản mục sau: Dự trữ ngoại hối nhà nước baogồm:

- Ngoại tệ tiền mặt, số dư ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ở nước ngoài;

- Hối phiếu và các giấy nhận nợ của nước ngoài bằng ngoại tệ;

- Các chứng khoán nợ do Chính phủ, ngân hàng nước ngoài, tổ chức tiền tệhoặc ngân hàng quốc tế phát hành, bảo lãnh;

- Vàng tiêu chuẩn quốc tế;

- Các loại ngoại hối khác

Hiện nay, quỹ dự trữ ngoại hối của Việt Nam được lập thành hai quỹ là quỹ

dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng

1.2.3 Đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối

Trang 8

Việc xác định qui mô của dự trữ ngoại hối như thế nào là phù hợp còn tuỳthuộc vào nhu cầu của mỗi nước Nếu chỉ đảm bảo các nhu cầu giao dịch thôngthường thì các NHTW thường xác định mức dự trữ ngoại hối tương đương một sốtuần và tháng nhập khẩu nhất định Trong trường hợp NHTW muốn theo đuổichính sách tỷ giá cố định thì đòi hỏi phải có một qui mô dự trữ lớn hơn nhiều Với

cơ chế tỷ giá mang tính cố định, nếu không có lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn đểcan thiệp kịp thời vào thị trường ngoại hối, tỷ giá hối đoái trở nên biến động,không đảm bảo cho NHTW ổn định tỷ giá

Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước

Để đo lường quy mô dự trữ ngoại hối của một quốc gia, xác định mức dự trữ

đó là đủ hay còn thiếu, người ta sử dụng một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/Giá trị 1 tuần nhập khẩu trong năm tiếp theo

Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng thanh toán của quốc gia nhằm tài trợcho nhu cầu nhập khẩu sắp đến Thông thường hiện nay, dự trữ của một quốc giađáp ứng được 12-14 tuần nhập khẩu thì được đánh giá là đủ

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/Nợ ngắn hạn nước ngoài

Chỉ tiêu này chủ yếu được dùng để đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn vàchống đỡ đối với các cuộc tấn công tiền tệ hoặc đối với việc rút vốn ào ạt ra khỏimột quốc gia Để đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ này phải lớn hơn 1, nghĩa là dự trữ ngoại hốimột quốc gia ít nhất phải lớn hơn tổng nợ ngắn hạn nước ngoài thì mới đảm bảotính thanh khoản của quốc gia đóc trước các chủ nợ nước ngoài

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/mức cung tiền rộng M2

Tỷ lệ này theo chuẩn quốc tế là từ 10 đến 20% Tuy nhiên, theo nhiềunghiên cứu thì tỷ số dự trữ trên M2 lại không có mối tương quan cao với tỷ số dựtrữ so với nợ ngắn hạn Do đó, một tỷ lệ dự trữ so với M2 cao hay thấp không nhấtthiết phải dẫn đến sự biến động tương ứng trong tỷ lệ dự trữ so với nợ Tỷ lệDTNH/M2 có tầm quan trọng đặc biệt ở những quốc gia có khả năng thất thoát vốntrong nước do hệ thống ngân hàng quá yếu kém hoặc chính sách điều hành tỷ giácứng nhắc theo kiểu cố định

Trang 9

1.3 Vai trò của dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của mộtquốc gia Có nhiều yếu tố cấu thành lên tầm quan trọng của dự trữ ngoại hối,nhưng một số yếu tố chủ yếu là:

1.3.1 Dự trữ ngoại hối dùng để giải quyết các khoản nợ và các khoản thanh

toán quốc tế giữa chính phủ các nước.

Trong quá trình phát triển, các nước thường xuyên thiếu vốn Chính vì thế, vaynước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng Nguồn vốn vay này thườngdùng chi cho cơ sở hạ tầng, chi tiêu chính phủ và trợ cấp xã hội

Dự trữ ngoại hối góp phần làm tăng khả năng trả nợ của một quốc gia Thôngqua mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và dự trữ ngoại hối, ta có thể đánh giá đượckhả năng thanh toán của quốc gia đó Nếu khả năng thanh toán tốt sẽ là một trongnhững điều kiện làm tăng hệ số tín nhiệm quốc gia

Với lượng lớn DTNH, các nước có thể sử dụng sức mạnh dự trữ này để yêu cầugiảm giá hàng hóa với hàng mua lượng lớn đồng thời giảm lãi suất khi đi vay, từ

đó giúp tăng khả năng thu hút các dòng vốn nợ của nước ngoài Đây là một trongnhững nguồn vốn quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước, đặc biệt đốivới những nước đang phát triển

1.3.2 Dự trữ ngoại hỗi giúp quốc gia tăng khả năng can thiệp vào thị trường ngoại hối

DTNH giúp điều chỉnh các dòng chu chuyển tiền tệ, giúp ổn định tỷ giá hốiđoái, cung cấp một môi trường kinh tế thuận lợi hơn, đặc biệt cho mục đích xuấtnhập khẩu Đây là vai trò chính của dự trữ ngoại hối Với chức năng như một quỹbình ổn của nền kinh tế, dự trữ ngoại hối góp phần làm ổn định cung cầu ngoại tệtrên thị trường Chính sách này hết sức linh hoạt tùy thuộc vào từng quốc gia cũngnhư trong từng giai đoạn khác nhau Để làm cho đồng nội tệ mạnh hơn và ổn địnhhơn, các quốc gia có thể dùng dự trữ ngoại hối để mua đồng nội tệ vào, từ đó làmtăng cầu nội tệ và xác định giá trị cao hơn cho nó Ngược lại, nếu muốn hạ thấp giátrị của đồng nội tệ, thúc đẩy xuất khẩu, các nước có thể dùng dự trữ để mua nhữngngoại tệ khác, thay đổi cơ cấu trong dự trữ của mình, làm tăng cầu ngoại tệ, tácđộng gián tiếp đến đồng nội tệ Đây cũng là cơ chế chống giảm phát trong nền kinhtế

Trang 10

Ngoài ra, đồng tiền định giá thấp còn giúp thu hút các nhà đầu tư chứng khoán

do các loại chứng khoán rẻ hơn so với thị trường quốc tế Chính vì thế, để thu hútcác khách hàng và nhà đầu tư nước ngoài, một nước có thể dùng dự trữ ngoại hối

để làm định giá thấp đồng tiền của mình

Hình 1 Dùng dự trữ ngoại hối mua đồng nội tệ làm tăng cầu nội tệ, khiến chogiá nội tệ tăng lên

Trang 11

Hình 2

Hình 2: Dự trữ ngoại hối mua ngoại tệ làm tăng cầu ngoại tệ, khiến tỷ giá tănglên

1.3.3 Dự trữ ngoại hối bảo vệ nền kinh tế

Dự trữ ngoại hối của một quốc là một tấm lá chắn giúp bảo vệ nền kinh tếcủa đất nước chống lại những cuộc tấn công đầu cơ vào đồng nội tệ và bảo vệ nềnkinh tế khi có khủng hoảng xảy ra Ở những nước có dấu hiệu bất ổn về kinh tế và

có dự trữ ngoại hối thấp, các quỹ đầu cơ thường nhằm vào những yếu kém này đểtiến hành đầu cơ với mục đích làm mất giá đồng bản tệ và thu lời Thông quanhững hợp đồng mua bán phái sinh tiền tệ, những tổ chức này gây nên hiện tượngkhan hiếm giả tạo ngoại tệ trên thị trường Khi đó, nếu dự trữ ngoại hối đủ mạnh,ngân hàng trung ương có thể can thiệp bằng cách bán ra ngoại tệ, giữ vững giá trị

và ổn định của đồng nội tệ Như vậy, dự trữ ngoại hối như một tấm đệm giúp ổnđịnh lại thị trường, vô hiệu hóa sự tấn công của các quỹ đầu cơ này

Tương tự khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, các dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ ồ

ạt chảy ra khỏi nền kinh tế, cung ngoại tệ trong nền kinh tế sẽ sụt giảm mạnh, dẫnđến nguy cơ phá giá đồng nội tệ, lạm phát có thể gia tăng Nếu nắm giữ dự trữngoại hối đủ mạnh, ngân hàng trung ương các nước có thể can thiệp nhằm bình ổn

tỷ giá cũng như thị trường ngoại hối Từ đó góp phần hạn chế những tác động tiêucực của cuộc khủng hoảng kinh tế

1.3.4 Dự trữ ngoại hối làm tăng vị thế quốc gia và doanh nghiệp

DTNH thể hiện sức mạnh kinh tế của mộ quốc gia, làm tăng vị thế quốc gia

và doanh nghiệp trên trường quốc tế, giúp mở rộng thương mại quốc tế, giảm chiphí tài chính doanh nghiệp trong nước, ngăn ngừa và giải quyết rủi ro tài chínhquốc tế Dự trữ ngoại hối giúp làm tăng niềm tin của những nhà đầu tư quốc tế vàothị trường trong nước khi mà những khoản đầu tư này được đảm bảo khả năngchuyển đổi khi quá trình đầu tư kết thúc Chính vì thế, những nước có dự trữ ngoạihối lớn sẽ có lợi hơn trong thu hút đầu tư nước ngoài Trên thực tế, xây dựng dựtrữ ngoại hối mạnh giúp các nước ở trong một vị thế tốt với các đồng minh và gópphần cân bằng kinh tế thế giới

Trang 12

1.3.5 Tăng niềm tin vào các chính sách tỷ giá và tiền tệ của Chính phủ

Dự trữ ngoại hối lớn giúp tăng niềm tin của người dân vào các chính sách tỷ giá

và tiền tệ của chính phủ Như đã phân tích ở trên, với những lợi ích đem lại, dự trữngoại hối giúp ổn định tâm lý người dân trong nước Việc ổn định của thị trườngcũng như tâm lý tin tưởng của người dân là một trong những điều kiện để các quyđịnh và chính sách của nhà nước được thực thi có hiệu quả

Tuy nhiên, nắm giữ ngoại hối cũng có những chi phí nhất định Dự trữ ngoại

hối thường có những tiêu chuẩn nhất định, khi dự trữ vượt mức quá lớn, các nước

có thể phải chịu những chi phí gọi là chi phí dự trữ ngoại hối

Thứ nhất, chi phí phát sinh từ rủi ro tỷ giá Thị trường ngoại hối trên thế giới

biến đổi không ngừng, trong đó có tỷ giá Khi có biến động tỷ giá theo chiềuhướng xấu, giá trị của nó sẽ giảm đi một cách tương đối khiến cho giá trị dự trữgiảm đi Thậm chí, việc tỷ giá thay đổi có thể gây ra những khoản lỗ lớn mặc dùnền kinh tế không có khủng hoảng

Thứ hai, lạm phát Ảnh hưởng của việc giảm sức mua đồng tiền trong dự trữ

ngoại hối thường xuyên do lạm phát cũng làm giảm giá trị của nguồn dự trữ này.Chính vì thế, chính phủ các nước phải thường xuyên gia tăng dự trữ ngoại hốinhằm duy trì sức mạnh ảnh hưởng của mình

Thứ ba, chi phí cơ hội Nắm giữ ngoại hối thường là những tài sản an toàn, có khả

năng sinh lời thấp như trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ hay của các địa phương Việc nắm giữ dự trữ ngoại hối sẽ làm mất đi các cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi cao Chính vì thế ngày nay các nước có dự trữ ngoại hối lớn thường đa dạng hóa các khoản đầu tư của mình, trong đó có những quỹ dành cho việc đầu tư vào những tài sản có khả năng sinh lời cao, tuy cũng phải chịu rủi ro lớn.

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối của Quốc gia

Dự trữ ngoại hối là một quỹ được hình thành từ rất nhiều nguồn và sự biếnđộng của bất cứ nguồn nào cũng làm ảnh hưởng đến lượng dự trữ ngoại hối Bêncạnh đó dự trữ ngoại hối còn được quản lý bởi NHTW và Nhà nước nên mỗi độngthái của các cơ quan này cũng ít nhiều tác động đến lượng dự trữ của quỹ Sau đây

Trang 13

1.4.1 Cán cân thanh toán quốc tế

Theo định nghĩa của IMF, cán cân thanh toán quốc tế là một bản báo cáothống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa người cư trú và ngườikhông cư trú Nó cũng là một bảng thống kê chi tiết về các nguồn cung cầu ngoại

tệ của một quốc gia Khi có bất cứ một giao dịch nào phát sinh thì đồng thời trêncán cân thanh toán cũng ghi lại giao dịch đó là phát sinh cung hay cầu ngoại tệ

Tuy nhiên, cán cân thanh toán không chỉ phản ánh trạng thái ngoại tệ củamột quốc gia mà một số cán cân thành phần còn có tác động trực tiếp đến nguồncung hay cầu ngoại tệ, từ đó ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối của quốc gia

.4.1.1 Cán cân thương mại:

Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanhtoán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhậpkhẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũngnhư mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng Khi mức chênh lệch

là lớn hơn không cán cân thương mại thặng dư, nhỏ hơn không thì cán cân thươngmại bị thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng không, cán cân thương mại ởtrạng thái cân bằng

Nếu cán cân thương mại thặng dư sẽ có một lượng ngoại tệ chảy vào nềnkinh tế, ngược lại, nếu cán cân thương mại thâm hụt, một lượng ngoại tệ sẽ đi ra

Do đó, cán cân thương mại là một trong những nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếpđến nguồn cung dự trữ ngoại hối

Tuy nhiên, cán cân thương mại không phải là một yếu tố có thể tự biến đổi

mà bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, vì thế những nhân tố đó có thể coi là có tácđộng gián tiếp đến dự trữ ngoại hối

Thứ nhất: năng lực sản xuất của quốc gia

Một nước có nền kinh tế phát triển, tư liệu sản xuất hiện đại, công nghệ tiêntiến sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Khi đó không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước

mà còn nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hoá ra thị truờng thế giới Dẫn đến kimngạch xuất khẩu lớn hơn kim ngạch nhập khẩu Ngoại tệ do các quốc gia khácthanh toán sẽ chảy vào Ngược lại, với các quốc gia kém phát triển, kĩ thuật thô sơ,công nghệ lạc hậu, nhân lực yếu kém thì việc đáp ứng các nhu cầu trong nước cũngkhó khăn nên sẽ phải nhập khẩu nhiều Hơn thế nữa, các nước này lại không có

Trang 14

được lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế đối với các sản phẩm của mình nênkim ngạch xuất khẩu cũng thấp Từ đó dẫn đến tình trạng nhập siêu, ảnh hưởngtiêu cực đến tăng trưởng quy mô dự trữ ngoại hối.

Thứ hai: các chính sách thương mại quốc tế của Nhà nước

Các quyết định của Nhà nước có thể tác động đến mọi thành phần tham giathương mại quốc tế Hầu hết Chính phủ các quốc gia đều khuyến khích các doanhnghiệp trong nước xuất khẩu.Các chính sách khuyến khích này phần nào tạo lợi thếcho các công ty xuất nhập khẩu trong nước, làm sản lượng hàng hoá xuất khẩutăng, hạn chế nhập khẩu, từ đó cải thiện tình hình của cán cân thương mại và tăngcung ngoại tệ cho nền kinh tế

Thứ ba: hành vi hay thói quen của người tiêu dùng

Một quốc gia có truyền thống sử dụng hàng nội địa sẽ không phải tốn kémmột khoản ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa nước ngoài khi nền sản xuất trong nướchoàn toàn có thể đáp ứng được Điều ngược lại xảy ra với những quốc gia mà dânchúng có tâm lý thích dùng hàng ngoại Khi đó, dù hàng trong nước hoàn toàn cókhả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì dân chúng vẫn lựa chọn hàng hoá nướcngoài do ý thích của mình Một lượng ngoại tệ sẽ chảy ra khỏi quốc gia đơn giảnchì vì thói quen tiêu dùng của người dân Điều này còn đặc biệt có tác động xấuđến dự trữ ngoại hối nếu như nguời dân có xu hưóng tiêu dùng những hàng hóanhập ngoại xa xỉ vì khi đó nhập siêu là không thể tránh khỏi và lượng cầu ngoại tệcho tiêu dùng sẽ rất lớn

1.4.1.2 Cán cân vốn

Cán cân vốn là một bộ phận của cán cân thanh toán, nó ghi lại tất cảnhững giao dịch về tài sản (gồm tài sản thực như bất động sản hay tài sản tàichính như cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ) giữa người cư trú với người không cư trú

1.4.1.2.1 Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn

Cán cân di chuyển vốn ngắn hạn bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vàocủa khu vực tư nhân (chiếm tỷ trọng lớn) và khu vực nhà nước nhưng dưới rấtnhiều các các hình thức khác nhau: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, cáchoạt động trên kinh doanh ngoại hối và giấy tờ có giá ngắn hạn kể cả các luồngvốn đầu cơ

Trang 15

Khi các luồng vốn chảy vào sẽ làm tăng cung ngoại tệ, từ đó có xu hướnglàm tăng dự trữ ngoại hối Ngược lại, các luồng vốn đi ra sẽ làm tăng cầu ngoại tê.Các luồng vốn ngắn hạn này phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau: Chênh lệch tỷgiá, tỷ suất lợi tức kỳ vọng ngắn hạn, lãi suất và các yếu tố thuộc về môi trườngkinh tế, chính trị - xã hội

Vì vậy, khi lợi tức kì vọng cao hay lãi suất cao sẽ thu hút được nhiều luồngvốn ngắn hạn chảy vào nhằm đầu tư sinh lãi Hoặc khi có biến động về tỷ giá, cácluồng vốn này cũng sẽ tích cực tham gia thị trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận Mộtphần của luồng vốn này sẽ được chảy vào dự trữ ngoại hối ( tuỳ theo mục đích điềutiết của Nhà nước) làm tăng DTNH

1.4.1.2.2 Cán cân di chuyển vốn dài hạn

Cán cân di chuyển vốn dài hạn bao gồm các khoản vốn đi ra hay đi vào khuvực tư nhân và khu vực nhà nước dưới các hình thức đầu tư trực tiếp, gián tiếp vàcác hình thức đầu tư dài hạn khác

Tương tự như cán cân vốn ngắn hạn, việc đi vào hay đi ra của các nguồn vốncũng làm phát sinh cung hay cầu ngoại tệ Quy mô và tình trạng cán cân vốn dàihạn phụ thuộc vào các nhân tố như: Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng dài hạn, hiệu quảbiên của vốn đầu tư (MEI hay ICOR) và các yếu tố thuộc về môi trường đầu tư, sự

Nội dung chính của chính sách tỷ giá bao gồm:

- Hành vi phá giá nội tệ, tức là những can thiệp của chính phủ để đồng nội tệ

Trang 16

trở nên được định giá thấp hơn Để đạt được mục đích này, chính phủ có thể sửdụng DTNH hấp thụ ngoại tệ trên thị trường ngoại hối nhằm làm giảm cung ngoại

tệ đồng thời “bơm” nội tệ ra, động thái này sẽ làm tăng dự trữ ngoại hối

- Hành vi nâng giá nội tệ, tức là những can thiệp của chính phủ để đồng nội tệtrở nên định giá cao hơn Chính phủ có thể bán ngoại tệ ra thị trường ngoại hốinhằm tăng cung ngoại tệ, giảm lượng nội tệ, động thái này sẽ làm giảm dự trữngoại hối

- Hành vi duy trì tỷ giá ở một mức độ nhất định, bao gồm những can thiệp củachính phủ để duy trì tỷ giá là ổn định không đổi, để có thể duy trì một tỷ giá cốđịnh, chính phủ phải không ngừng mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, điềunày làm thay đổi quy mô dự trữ ngoại hối

- Không can thiệp, để cho tỷ giá biến động tự do theo quan hệ cung cầu thị trường Với chính sách này, Nhà nước không cần thiết sử dụng dự trữ ngoại hối đểcan thiệp vào tỷ giá chính vì thế dự trữ ngoại hối không bị ảnh hưởng

.4.2.2 Chính sách quản lý dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối thuộc quyền quản lý của Nhà nước hoặc NHTW nhưng các

cơ quan này không chỉ có nhiệm vụ bảo quản và cất giữ mà còn phải có nhữngbiện pháp quản lý nhằm đảm bảo quy mô và cấu trúc dự trữ ngoại hối Hơn thếnữa, Nhà nước hoặc NHTW còn phải biết sử dụng để phục vụ cho đầu tư phát triểnkinh tế, luôn đảm bảo an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thịtrường quốc tế Bên cạnh ban hành các đạo luật về quản lý dự trữ ngoại hối NHTWcòn can thiệp mua bán, chuyển đổi cũng như đầu tư để chống thất thoát, xói mònquỹ

.4.2.3 Các quy định về kiều hối

Nếu một quốc gia có ý định kìm hãm lượng kiều hối sẽ ban hành chính sách,

cơ chế về kiều hối với những biện pháp cứng rắn Ví dụ như thủ tục để người trongnước có thể nhận đựoc kiều hối là rất phức tạp Hơn thế nữa còn có các quy định

về hạn mức và số lần nhận tiền Điều này đã gây khó khăn cho những người đượcnhận kiều hối, tác động xấu đến dòng ngoại tệ nhận về theo cách này Khi đó dựtrữ ngoại hối sẽ mất đi một nguồn cung cấp

Tuy nhiên nếu quốc gia theo hướng tự do hoá, tháo gỡ hết các khó khăn,vướng mắc trong quá trình tiếp nhận kiều hối Đồng thời một loạt cơ chế mới vềquản lý ngoại hối thông thoáng, linh hoạt được ban hành thì lượng kiều hối chuyểnvào sẽ tăng lên rõ rệt

Trang 17

1.4.2.4 Các biện pháp quản lý ngoại hối khác

Ngoài ra, các biện pháp quản lý ngoại hối khác của Nhà nước cũng có ảnhhưởng thường xuyên đến dự trữ ngoại hối Các pháp lệnh hạn chế việc đầu tư nướcngoài vào quốc gia hay đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, hay các quy định kếthối, về việc sử dụng ngoại hối trong phạm vi lãnh thổ, … sẽ có những tác độnglàm thay đổi quy mô cũng như cấu trúc của dự trữ ngoại hối quốc gia

.4.4 Tình hình kinh tế thế giới

Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mối liên hệ và sự trao đổi giữa cácquốc gia ngày càng trở nên khăng khít Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, các nềnkinh tế không chỉ tác động qua lại lẫn nhau mà còn chịu ảnh hưởng không nhỏ từ

sự biến động chung của tình hình thế giới Khi nền kinh tế bị tác động, dự trữngoại hối của quốc gia cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng Có thể phân nhữngảnh hưởng này ra làm 2 loại: Tích cực và tiêu cực

Thứ hai: tăng đầu tư, tăng dòng vốn từ nước ngoài chảy vào (đặc biệt là cácnước đang phát triển) Những dòng vốn này có thể là : vốn đầu tư trực tiếp, vốn đầu

tư gián tiếp, vay nợ … Tác động tích cực đến dự trữ ngoại hối

Trang 18

Thứ ba: Tiêu dùng tăng cao, khi nền kinh tế phát triển, thu nhập được cảithiện, người dân có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn, trong đó có việc tiêu dùng hàngnhập ngoại Điều này có lợi cho những nhà xuất khẩu từ các nước đối tác, tăngthặng dư thương mại, cải thiện dự trữ ngoại hối.

Ngoài ra, khi có biến động xảy ra (ví dụ như thiên tai, bão lũ, chiến tranh…)làm cho một số nước khan hiếm hàng xuất khẩu của nước sở tại, làm tăng cầu hànghoá của nước này, điều này cũng góp phần cải thiện dự trữ ngoại hối của nước sởtại

có tiêu dùng các hàng hoá nhập ngoại, điều này ảnh hưởng tới các đối tác xuấtkhẩu, dự trữ ngoại hối cũng có xu hướng giảm

1.4.5 Những nhân tố khác

1.4.5.1 Tâm lý

Niềm tin của người dân vào đồng nội tệ hay các chính sách của Nhà nước cóảnh hưởng rất lớn đến dự trữ ngoại hối, niềm tin vào đồng nội tệ suy giảm sẽ dẫnđến hiện tượng Đô la hoá – hiện tượng mà trong một nền kinh tế, ngoại tệ được sửdụng rộng rãi thay thế cho đồng nội tệ trong toàn bộ hay một số chức năng tiền tệ,nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc đô la hoá 1 phần – khi đó lượngngoại tệ trôi nổi ngoài hệ thống ngân hàng không ngừng tăng lên, đồng thời luồng

Trang 19

ngoại tệ thu về từ xuất khẩu, kiều hối… cũng không chảy nhiều vào hệ thống ngânhàng Điều này gây ra khó khăn cho chính phủ trong việc tăng dự trữ ngoại hối.

2.1.1 Bối cảnh nền kinh tế Thái Lan trước khủng hoảng

Cho đến đầu thập niên 90, nền kinh tế các nước khu vực Đông Á trải quathời kỳ tăng trưởng nhanh và ổn định Cùng lúc, nhiều nền kinh tế khu vực nhưThái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore và Hàn Quốc có tỷ lệ tăngtrưởng kinh tế khá ấn tượng, đạt được 8-12% tổng sản lượng nội địa (GDP) liên tụctrong khoảng thời gian cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 Thành quả đạt đượcnày đã được nhiều viện nghiên cứu kinh tế hoan nghênh, bao gồm cả quỹ tiền tệquốc tế (IMF) và ngân hàng thế giới (World Bank), và nó được biết đến như mộtphép lạ của kinh tế Đông Nam Á Cho đến năm 1997, Châu Á thu hút gần một nửatổng số vốn nước ngoài dành cho những nước đang phát triển Các nền kinh tế

Trang 20

Đông Nam Á có tỷ lệ lợi tức cao đặc biệt có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tưnước ngoài tìm kiếm tỷ lệ hoàn vốn cao Kết quả là nhiều nền kinh tế trong khuvực thu nhận được một lượng lớn “tiền nóng” (hot money) và trải qua một thời kỳgiá tài sản tăng vọt Thái Lan cũng không phải là ngoại lệ khi có tốc độ tăng trưởngbình quân hàng năm là 9%, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn nhân lực chấtlượng cao, đẩy mạnh xuất khẩu và công nghiệp hóa.

Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng ấy, những dấu hiệubất ổn của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng cũng dần lộ diện.Trong suốt 30 năm, Thái Lan đã ra sức đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ cao,vượt quá khả năng nội tại của nền kinh tế Họ sử dụng tối đa nguồn tài nguyênthiên nhiên hạn hẹp của mình, mở rộng vay nợ nước ngoài và kêu gọi đầu tư ồ ạt.Kinh tế phát triển với tốc độ đứng đầu thế giới nhưng nợ nước ngoài cũng khôngngừng tăng lên, trong đó nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn Sau một thời kì tăngtrường kinh tế mạnh, đến năm 1996, nền kinh tế Thái Lan đã tăng trưởng chậm lại.Thị trường bất động sản sau một thời gian tăng trưởng nóng, trở nên bong bóng,bắt đầu giảm giá và khủng hoảng Hơn thế nữa, chính sách tỷ giá bị dồn nén miễncưỡng kết hợp với chính sách tự do hóa dòng vốn một cách thái quá của thị trườngtiền tệ gây ra nguy cơ mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Những mầmmống cho một cuộc khủng hoảng đã xuất hiện

2.1.2 Thực trạng dự trữ ngoại hối Thái Lan trước khủng hoảng.

Trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế mạnh của mình, tốc độ tăng trưởng xuấtkhẩu cao đã giúp cho cán cân thanh toán của Thái Lan thặng dư trong một thờigian dài Không những thế, cán cân vốn thặng dư và liên tục tăng Điều đó đã giúpcho Thái Lan tích trữ được một lượng dự trữ ngoại hối lớn

Trang 21

Bảng 1 Tỷ giá và dự trữ ngoại hối của Thái Lan

Nguồn: Ngân hàng trung ương Thái Lan

Trong giai đoạn 1993-1996, dự trữ ngoại hối Thái Lan có mức tăng khá đềuđặn, trung bình hàng năm là 18% Chỉ trong vòng bốn năm, mức dự trữ đã tăng15,38 tỷ USD (từ 23,756 tỷ USD năm 1993 đến 39,137 tỷ USD năm 1996) Vớilượng tăng nhanh như vậy, liệu Thái Lan đã tích trữ đủ mức dự trữ ngoại hối? Để

có thể đánh giá sức mạnh dự trữ ngoại hối của Thái Lan, đo lường khả năng chống

đỡ lại những biến động hay các cuộc tấn công vào nền kinh tế, ta sẽ xem xét thôngqua các chỉ tiêu quan trọng được sử dụng dưới đây:

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên giá trị một tháng nhập khẩu trong năm tiếp theo.

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên mức cung tiền rộng M2.

- Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn nước ngoài.

2.1.2.1 Phân tích tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên giá trị một tháng nhập khẩu

Trang 22

và trên mức cung tiền M2

Nguồn: Ngân hàng trung ương Thái Lan

Qua bảng trên ta thấy được tỷ lệ (dự trữ ngoại hối / giá trị một tháng nhậpkhẩu trong năm tiếp theo) rất khả quan Cụ thể, năm 1995 là 6,3 tháng và năm

1996 là 6,6 tháng Đây là một chỉ tiêu cao hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn 3 thángcủa thế giới Do đó, xét trên khía cạnh đảm bảo thanh toán quốc tế thì dự trữ ngoại

hối của Thái Lan rất an toàn

Tỷ lệ DTNH/M2 (đơn vị: %) và DTNH/tháng NK (đơn vị: tháng) qua các năm

Nguồn: Ngân hàng trung ương Thái Lan

Bên cạnh đó, trong mối tương quan với mức cung tiền rộng M2, dự trữngoại hối Thái Lan cũng được đánh giá rất tốt Trên thế giới, tiêu chuẩn cho chỉ số

5.8 6 6.2 6.4 6.6 6.8 7 7.2

Trang 23

này là từ 10-20% trong khi Thái Lan luôn duy trì dự trữ ngoại hối trên mức cungtiền rộng là xấp xỉ 20% trong suốt giai đoạn 1990-1996 (Xem biểu đồ trên)

Liệu 2 chỉ tiêu này đã đủ để khẳng định rằng dự trữ ngoại hối Thái Lan làlớn, là an toàn trong vai trò tấm đệm cho nền kinh tế trước những biến động bất lợitrên thị trường ngoại hối? Chúng ta cần xem xét chỉ tiêu thứ 3

2.1.2.2 Phân tích tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên nợ ngắn hạn nước ngoài

Chỉ tiêu này được dùng để đo lường khả năng trả nợ ngắn hạn và chống đỡ đối với một cuộc tấn công tiền tệ hay sự rút vốn ào ạt từ các nhà đầu tư nước ngoài của chính phủ Thái Lan Như đã nói ở trên, trong một thời gian dài, luồng vốn từ các nước phát triển chảy vào Thái Lan không ngừng gia tăng Thêm vào đó, những chính sách tài chính tiền

tệ của chính phủ Thái Lan tỏ ra quá dễ dãi, tự do hoá tài chính được đẩy mạnh, bắt đầu từ việc nâng lãi suất nội địa, rồi tiến đến xoá bỏ kiểm soát trong khi không tăng cường cơ chế giám sát, và mở cửa tài khoản vốn Những chính sách này cùng với chính sách duy trì

tỷ giá hối đoái cố định đã khuyến khích dòng vốn ngắn hạn nước ngoài chảy vào gây bong bóng tài sản và nguy cơ bị tấn công tiền tệ cho nền kinh tế.

Trang 24

- nguồn vốn mà đặc điểm nổi bật nhất của nó là tính linh hoạt Khi các nhà đầu tưhoảng sợ, gần như toàn bộ nguồn vốn này có khả năng chảy khỏi nền kinh tế chỉtrong vòng vài tuần thậm chí vài ngày Trong trường hợp tấn công tiền tệ xảy ra,

dự trữ ngoại hối sẽ không chỉ phải bảo vệ đồng Baht trước động thái rút vốn củanhà đầu tư nước ngoài mà còn từ chính những người dân Thái Lan Bởi lẽ, khingười dân mất lòng tin vào đồng nội tệ của mình, cầu ngoại tệ sẽ tăng đột biến, cáckhoản tiền gửi bằng ngoại tệ sẽ không ngừng chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng, cácnhà đầu tư chứng khoán thì bán chứng khoán, đổi ra ngoại tệ và chuyển ra ngoài.Các ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán và cứu cánh cuối cùng là dự trữ ngoạihối quốc gia cũng không thể đủ mạnh để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng hệthống tài chính

Nợ ngắn hạn nước ngoài

(tỷ USD)

Dự trữ ngoại tệ(tỷ USD)

Vậy nguyên nhân nào làm cho nguồn vốn ngắn hạn lớn chảy vào Thái Lan

và gây ra rủi ro cho hệ thống tài chính đến như vậy? Trong những nguyên nhânđược đưa ra có hai nguyên nhân chủ yếu:

2.1.2.2.1 Hệ thống tài chính yếu kém

Khi tập trung quá nhiều vào tăng trưởng, các nhà hoạch định chính sáchThái Lan đã quên đi lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế: Hệ thống tài chính ngânhàng Nếu như những dấu hiệu vĩ mô của nền kinh tế còn chưa rõ ràng và chưa đếnmức cảnh báo thì các dấu hiệu cảnh bảo quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng đến

từ sự mong manh của hệ thống tài chính

Trước hết là tâm lý ỷ lại Từ đầu thập niên 1990, tự do hóa được thực hiện từ

từ ở hầu hết các nền kinh tế Đông và Đông Nam Á Chính phủ ít có can thiệp vàphân bổ tín dụng cho nền kinh tế Tuy nhiên, với những tổ chức tài chính ở TháiLan, người cấp vốn vẫn tin rằng mình sẽ được bảo đảm khi tính tới những mối

Trang 25

dù không có sự bảo lãnh chính thức của chính phủ, những tổ chức tài chính, đặcbiệt là những ngân hàng thuộc quyền sở hữu của nhà nước hay những ngân hànglớn, luôn coi mình là “quá lớn không thể thất bại” Các tổ chức tài chính được bảolãnh ngầm có động cơ không chỉ thực hiện các hoạt động đầu tư rủi ro mà còn theođuổi tất cả các dự án có suất sinh lời kỳ vọng thấp nếu các dự án này được lợi lớntrong trường hợp thành công.

Chính tâm lý ỷ lại, kết hợp với lòng tham lợi nhuận lớn của các tổ chức tàichính mà hàng loạt các khoản vay nước ngoài ngắn hạn được đầu tư dài hạn dẫnđến rủi ro thanh khoản lớn

Hơn thế nữa, một tỷ trọng lớn vốn cho vay của ngân hàng và các tổ chức tàichính phi ngân hàng được tập trung vào khu vực bất động sản, các khoản cho vaybất động sản của những công ty tài chính tăng 41%/năm trong giai đoạn 1990-1995(trong khi tổng tín dụng chỉ tăng 33%/năm) Bất động sản là tài sản có mức cung

cố định, chính vì thế giá bất động sản sẽ gia tăng Mọi người đầu tư vào bất độngsản vì kỳ vọng giá bất động sản sẽ tăng lên Bong bóng giá cả phình ngày một lớnthì sẽ đến lúc bị vỡ; tức là đến khi các nhà đầu tư bắt đầu nhận thấy có lẽ tình hìnhthực tế xảy ra không đúng với kỳ vọng Tài sản bị bán ra ồ ạt làm giá của tài sảngiảm mạnh Thị trường bất động sản đứng trên bờ vực sụp đổ, người dân Thái Lan

sẽ có cảm giác bất an, mất niềm tin vào hệ thống tài chính và đồng nội tệ Họ có xuhướng nắm giữ những tài sản có giá trị ổn định như USD, làm tăng cầu USD

2.1.2.2.2 Chính sách tài chính tiền tệ không hợp lý ( bộ 3 bất khả thi)

Lý thuyết bộ ba bất khả thi - The Impossible Trinity (hay InconsistentTrinity hoặc Triangle of Impossibility) là một chính sách kinh tế quốc tế Lý thuyếtphát biểu rằng: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mụctiêu chính sách vĩ mô:

về tiền tệ, song phải để tỷ giá thả nổi, hoặc nó có thể chọn kiểm soát vốn và ổn

Trang 26

định chính sách tiền tệ, nhưng phải thả nổi lãi suất để chống lạm phát hoặc suythoái.

Trên thực tế, Thái Lan đã vi phạm quy tắc này Họ vừa cố định giá trị đồngtiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tàikhoản vốn) Nền kinh tế tăng trưởng nhanh và đầu tư nước ngoài tăng mạnh trongthập niên 80s và nửa đầu thập niên 90s đã gây sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷgiá cố định, các ngân hàng trung ương Thái Lan đã thực hiện chính sách tiền tệ nớilỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa(sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnhcác dòng vốn chảy vào nền kinh tế, trong đó nguồn vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọnglớn Điều này làm rủi ro thanh khoản cho nền kinh tế, cũng như tạo cơ hội chonhững nhà đầu cơ tấn công tiền tệ

2.1.3 Tấn công tiền tệ

Cuối thập niên 90, nền kinh tế Thái Lan xuất hiện nhiều dấu hiệu bất ổn.Những chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy nền kinh tế này đang chứa đựng mầm mốngcủa một cuộc khủng hoảng tiền tệ: lạm phát tăng cao, dự trữ ngoại hối thấp (chỉxấp xỉ 35 tỷ), thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai quá lớn mà các nguồn thu ngoại

tệ không đủ bù đắp, đã gây sức ép lên tỷ giá chính thức Các quỹ đầu cơ đã quyếtđịnh tấn công trực tiếp vào hệ thống ngân hàng và dự trữ ngoại hối đang suy yếuvới kỳ vọng rằng Ngân Hàng Thái Lan sớm muộn cũng phải phá giá đồng nội tệ

Diễn biến, cơ chế tấn công tiền tệ

“Vũ khí” được các quỹ đầu cơ sử dụng để tấn công là một sản phẩm pháisinh có tên gọi là “Hợp đồng kỳ hạn không giao nhận”, gọi tắt là các NDF (NonDelivery Forward contracts) Đầu năm 1997, một số quỹ đầu cơ tài chính sừng sỏnhư Quantum (George Soros) hay Tiger Management Corp (Julian Robertson)…đồng loạt tiến hành ký các hợp đồng kỳ hạn mua USD với các ngân hàng thươngmại Thái Lan với thời hạn thanh toán chậm từ 6 tháng đến 1 năm Tỷ giá kỳ hạnđược các ngân hàng thương mại tính toán dựa trên chênh lệch lãi suất giữa USD

và Baht theo lý thuyết Ngang giá lãi suất IRP (Interest Rate Parity): chênh lệchgiữa giá USD vào thời điểm ký kết so với giá qui định trong hợp đồng kì hạn bằngđúng với chênh lệch lãi suất giữa đồng Baht và USD vào thời điểm hợp đồng kì

Trang 27

Chúng ta biết rằng NDF là một loại sản phẩm phái sinh, bản chất của nó làdùng để đầu cơ trên biến động giá chứ không có giao dịch vật chất thực tế Nghĩa

là với hành động mua USD kỳ hạn, các quỹ đầu cơ đã làm một động tác tươngđương với việc bán khống đồng Baht trong hiện tại ra thị trường để mua vào USDtrong tương lai (ngày NDF đáo hạn) với một mức giá đã cố định trước (tỷ giá kỳhạn) Khi đó, các ngân hàng thương mại của Thái Lan bị đặt vào vị thế bán USD

kỳ hạn, nếu bình thường số lượng NDF không quá lớn thì mọi chuyện không có gìđáng nói Tuy nhiên, khi khối lượng các NDF được ký kết là quá lớn và đồng thờiđược ký kết với nhiều ngân hàng khác nhau thì tại tất cả các ngân hàng này sẽ xảy

ra tình trạng thiếu hụt USD và vì vậy họ buộc lòng phải đi mua USD trên thịtrường liên ngân hàng và thị trường tự do để phòng ngừa rủi ro khi có nghĩa vụphải bán USD Khi đó vô tình các ngân hàng thương mại Thái đã tiếp tục làm giatăng áp lực cầu USD giao ngay trên thị trường liên ngân hàng, khiến giá USD liênngân hàng tăng lên kéo theo giá trên thị trường tự do cũng tăng theo

Tệ hại hơn là điều này có thể gây ra hiệu ứng tâm lý bầy đàn, nghĩa là cácnhà đầu tư, người dân thấy USD trên thị trường tự do đột ngột tăng giá sẽ xuất hiệntâm lí lo sợ đồng Baht bị mất giá nhanh (tác động này đặc biệt mạnh mẽ trong điềukiện nền kinh tế đang có nhiều bất ổn) và họ cũng đi mua USD giao ngay trên thịtrường tự do càng làm giá USD tăng cao Tuy nhiên mục đích của các Hedge fundkhông chỉ dừng lại ở đó Ngoài việc gây áp lực phá giá lên đồng nội tệ, các Hedgefunds sử hợp đồng kì hạn như là công cụ để khuếch đại sức mạnh tài chính củamình NDF là sản phẩm phái sinh có tính đòn bẩy rất cao, nhà đầu cơ chỉ cần kýquỹ một khoản vốn nhỏ để giao dịch một hợp đồng có giá trị gấp vài chục thậm chíhàng trăm lần tùy thuộc từng thị trường, từng thời điểm Nghĩa là chỉ với vài chụctriệu USD, các quỹ đầu cơ có thể tiến hành mua bán kỳ hạn hàng trăm triệu, thậmchí cả tỷ USD, nhiều quỹ đầu cơ gộp lại có thể làm thị trường xảy ra hiện tượngsốt USD rất mạnh mẽ

Đến giữa tháng 5 năm 1997, những dấu hiệu tiền khủng hoảng đã xuấthiện rõ nét Ngân hàng Thái Lan mới tạm ngừng những kiểu hợp đồng nhưthế Chính phủ cố sức giữ giá, trong suốt 2 tuần đã chi ra gần 10 tỷ USD đểmua đồng Baht và neo tỷ giá hối đoái ở mức bình thường 25 Baht/USD.Nhưng đã quá muộn, tấm lá chắn mỏng manh cuối cùng – dự trữ ngoại hốiquốc gia đã không đủ mạnh để bảo vệ nền kinh tế, một phần không nhỏ dự trữđược đổ vào mua Baht từ các hợp đồng "bán khống", và quỹ ngoại tệ của

Trang 28

Thái Lan lúc ấy đã thực sự cạn kiệt Họ đã kháng cự bằng mọi cách, vội vàngchấn chỉnh hệ thống tài chính, ngăn chặn thông tin bất lợi từ giới báo; thậmchí cả những động thái giả nhằm chấn an tâm lý người dân: ngày 30 tháng 6,Thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh vẫn đứng lên tuyên bố: “Sẽkhông phá giá Baht” Nhưng chỉ 2 ngày sau, 2 tháng 7, đồng Baht chính thức

bị thả nổi, lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đếnmức 56 baht/1USD Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan tụt từ mức 1.280cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thịtrường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance one, công

ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản, đất nước này đã thực sự lâmvào khủng hoảng

2.1.4 Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam

Thiếu hụt dự trữ ngoại hối đã làm cho Thái Lan không còn đủ sức chống đỡtrước những cuộc tấn công tiền tệ, lún sâu vào khủng hoảng Việt Nam và TháiLan cùng là những nước châu Á đang phát triển, có rất nhiều điểm tương đồng,chính vì thế, sau khủng hoảng, Việt Nam có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm

về dự trữ ngoại hối và quản lý dự trữ ngoại hối từ Thái Lan:

Thứ nhất, luôn không ngừng làm gia tăng dự trữ ngoại hối, ngay cả khi nền

kinh tế còn đang ổn định Điều này rất quan trọng vì nó sẽ giúp tạo ra tấm lá chắnbảo vệ nền kinh tế khỏi những đe dọa tiềm ẩn như sự mất niềm tin của người dân,hay sự xâm nhập của các quỹ đầu cơ… Ta có thể nâng cao mức dự trữ ngoại hốithông qua các biện pháp như: tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập khẩu,khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, quản lý chặt chẽ các nguồn vốn đầu tưgián tiếp nhằm hạn chế sự rút vốn ồ ạt Thực tế cho thấy sau khủng hoảng, TháiLan cũng đã nhận ra điểm yếu của mình và đã không ngừng gia tăng mức dự trữngoại hối Cụ thể từ con số chỉ có chưa đầy 30 tỷ USD năm 1997, đến nay TháiLan gây ấn tượng với gần 180 tỷ USD dự trữ ngoại hối, và còn hứa hẹn tiếp tụctăng trong thời gian tới

Thứ hai, nâng cao chất lượng quản lý ngoại hối để đảm bảo sự bền vững của

nguồn dự trữ này Sự thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ cũng như các biện phápkiểm soát nghiêm ngặt nguồn vốn ngắn hạn sẽ giúp dự trữ ngoại hối tránh khỏi tình

Trang 29

Thứ ba, cần lựa chọn hợp lý các chính sách quản lý vĩ mô Chính việc áp

dụng đồng thời bộ ba chính sách bất khả thi đã tạo kẽ hở cho việc tấn công tiền tệ.Khi các nhà đầu cơ đồng loạt “ra tay”, dự trữ ngoại hối đã không còn khả năngchống đỡ

Thứ tư, Chính phủ cần thận trọng hơn trong việc đánh giá các chỉ tiêu trọng

yếu của nền kinh tế Đối với dự trữ ngoại hối, Nhà nước không nên chỉ nhìn vào bềnổi của các con số mà phải đánh giá dự trữ ngoại hối trong mối tương quan vớinhững chỉ tiêu khác, đặc biệt là chỉ tiêu nợ ngắn hạn Chính sự thiếu giám sát vàkhông nắm bắt được tình hình thực tế cũng như sự tự tin thái quá mà Thái Lan đãkhông nhìn thấy được nguy cơ tiềm tàng của cuộc khủng hoảng Khi các khoản nợđến thời kì đáo hạn, cầu USD tăng đột biến nhưng Chính phủ vẫn tiếp tục neo giữ

tỷ giá cố định Điều này đã gây áp lực lên dự trữ ngoại hối Thái Lan Khi tỷ giákhông còn neo giữ được nữa, Thái Lan đã buộc phải thả nổi đồng Baht, chính thứcđưa quốc gia này vào cơn khủng hoảng thời kỳ đó

2.2 Bài học từ dự trữ ngoại hối Trung Quốc

Trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, TrungQuốc đang vươn lên mạnh mẽ để trở thành một trong những cường quốc kinh tếtrên thế giới Quý ΙΙ/2010 vừa qua, Trung Quốc đã chính thức vượt qua Nhật bản

để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới chỉ sau Mỹ Tăng trưởng kinh tế củaTrung Quốc năm 2009 là 9,1% và năm 2010 vừa qua lên tới 10,3% với tổng trị giá

6 nghìn tỷ USD Những con số về kinh tế của nước này liên tục tạo nên những kỷlục, một trong những con số ấy là tăng trưởng của dự trữ ngoại hối Kết thúc quý 4năm 2010 vừa qua, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã lên đến con số 2,85 nghìn

tỷ USD, tăng 18,7% so với năm 2009 Nguyên nhân nào làm dự trữ ngoại hốiTrung Quốc tăng nhanh? Làm thế nào Trung Quốc quản lý lượng dự trữ này? Vànhững bài học có thể rút ra cho Việt Nam là gì?

2.2.1 Thực trạng dự trữ ngoại hối

2.2.1.1 Diễn biến dự trữ ngoại hối Trung Quốc

Trong gần 2 thập niên vừa qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, dựtrữ ngoại hối Trung Quốc đã tăng lên nhanh chóng, và xu hướng này vẫn sẽ tiếptục trong thời gian tới:

Trang 30

Biểu đồ tăng trưởng dự trữ ngoại hối Trung Quốc

Qua biểu đồ trên ta thấy, năm 1993, quy mô dự trữ ngoại hối của TrungQuốc chỉ vào khoảng 20 tỷ USD Nhưng con số này đã tăng dần lên 165,6 tỷ USDvào năm 2000, và xu hướng tiếp tục tăng lên trong giai đoạn sau đó Tháng 2 năm

2006, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nước có dự trữ ngoại hối lớnnhất thế giới với mức 853,7 tỉ USD Trong thời kì khủng hoảng kinh tế thế giới, dựtrữ nước này vẫn tăng lên đáng kể Đến tháng 12/2009, dự trữ ngoại hối TrungQuốc đã đạt 2,4 nghìn tỷ USD, chiếm 31,9% mức dự trữ ngoại hối của cả thế giới,trong khi đó con số này chỉ là 5,3% vào năm 1995

Trang 31

Bảng: So sánh dự trữ ngoại hối Trung Quốc với thế giới

Quá trình tích lũy dự trữ ngoại hối Trung Quốc có thể chia làm 3 giai đoạn:Giai đoạn đầu (1990-1993), giá trị nắm giữ ngoại hối của Trung Quốc còntương đối nhỏ so với quy mô kinh tế Tỷ lệ dự trữ so với GDP trong giai đoạn này

là 7,5% Từ năm 1994, mức dự trữ của Trung Quốc bắt đầu tăng lên ở tốc độ vừaphải cho đến năm 2000 Tốc độ tăng trưởng dự trữ trung bình trong giai đoạn thứhai là 38,7% và tỷ lệ bình quân so với GDP tăng lên đến 12,9% Giai đoạn 3 từnăm 2000 đến nay, dự trữ ngoại hối Trung Quốc tăng nhanh Đến năm 2009, tỷ lệ

dự trữ so với GDP đã lên tới 48,7% Những năm gần đây, dự trữ ngoại hối củaTrung Quốc liên tục lập và phá những kỷ lục do chính mình tạo nên

Để có thể đánh giá đúng mức độ dự trữ vượt mức của Trung Quốc Chúng ta

sẽ tiếp tục sử dụng những chỉ tiêu đã được nêu ra trước đây:

i) Tỷ lệ dự trữ trên giá trị tháng nhập khẩu

ii) Tỷ lệ dự trữ trên mức cung tiền M2

iii) Tỷ lệ dự trữ trên nợ nước ngoài ngắn hạn

Trang 32

Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Giá trị tham chiếu

2.2.1.2 Tính hai mặt của dự trữ ngoại hối lớn

2.2.1.2.1 Quy mô vượt quá xa so với các tiêu chuẩn quốc tế

Trung Quốc nắm giữ dự trữ ngoại hối với 3 mục đích: (1) sử dụng chonhững giao dịch nước ngoài, phục vụ xuất khẩu; (2) đảm bảo thanh toán nợ ngắnhạn và những khoản nợ dài hạn đến hạn phải trả; (3) Đảm bảo ổn định tỷ giá hoặccan thiệp nhằm điều tiết những dòng vốn dễ bay hơi Trên cơ sở so sánh với 3 mụcđích này, quy mô dự trữ ngoại hối trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2000 là thiếuhụt so với yêu cầu, nhưng đến năm 2001 về cơ bản đã phù hợp và liên tục thặng dưlớn vào những năm tiếp theo Từ năm 2002 đến 2005, quy mô dự trữ ngoại hốithặng dư lần lượt 137,94 tỷ USD; 214,94 tỷ USD; 367,2 tỷ USD; 537,95 tỷ USD

Để xác định quy mô dự trữ ngoại hối có phù hợp hay không cần phải dựavào những chỉ tiêu đo lường quốc tế như đã đề cập ở trên Điển hình như năm2004: khi kết thúc năm này, dự trữ ngoại hối Trung Quốc là khoảng 609.9 tỷ USD

Trang 33

bằng 10 tháng nhập khẩu (trong khi chỉ cần đáp ứng từ 3 đến 4 tháng), so với GDPlên tới 38% (trong khi chỉ tiêu chỉ yêu cầu 20%), gấp 5 lần nợ ngắn hạn nước ngoài(chỉ tiêu chỉ yêu cầu tương đương giá trị nợ ngắn hạn nước ngoài), vượt quá xa sovới các giá trị chỉ tiêu đặt ra Sự tăng lên một cách nhanh chóng và vượt mức của

dự trữ ngoại hối Trung Quốc đi kèm với chi phí cơ hội và những rủi ro ngoại hốinghiêm trọng

2.2.1.2.2.Cơ cấu đơn, nguy cơ dễ đối mặt với rủi ro tỷ giá

Trong cơ cấu dự trữ ngoại hối Trung Quốc, đồng USD chiếm tỷ trọng lớn,đồng USD được sử dụng hầu hết trong các giao dịch thương mại, nguồn vốn chảyvào Trung Quốc và nhiều phương diện khác Chính vì thế tỷ trọng USD trong dựtrữ ngoại hối ngày càng tăng là điều khó tránh khỏi Từ năm 1998 đến nay, đồngUSD vẫn duy trì trên 60% tổng dự trữ ngoại hối và tiếp tục có xu hướng tăng

Với một lượng lớn tiền tệ là USD, nền kinh tế sẽ rất dễ bị tổn thương trướcnhững biến động tỷ giá Khi đồng USD mất giá hay lạm phát lớn ở Mỹ xảy ra sẽdẫn đến một sự tổn thất cho dự trữ ngoại hối Trung Quốc Từ năm 2001, cục dự trữliên bang Mỹ giảm lãi suất vài lần và đồng USD đã mất giá 12% so với đồng EUR.Với 60% dự trữ là USD, kể từ tháng 11 năm 2002 đến tháng 8 năm 2004, ước tính

dự trữ ngoại hối Trung Quốc đã giảm giá trị 53 tỷ USD

2.2.1.2.3.Đầu tư không hiệu quả

Theo quan điểm về quản lý dự trữ ngoại hối của IMF, dự trữ ngoại hối luôncần phải đảm bảo tính đầy đủ, thanh khoản và tính an toàn, ngoài ra còn có thểquan tâm đến mục đích sinh lời Hiện nay, dự trữ ngoại hối Trung Quốc đầu tưphần lớn vào trái phiếu chính phủ, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng và một số giấy tờ

có giá khác trên các thị trường lớn Như đã đề cập ở những phần trước, dự trữngoại hối Trung Quốc rất đầy đủ, tính thanh khoản cao và an toàn Tuy nhiên, mụcđích lợi nhuận của dự trữ ngoại hối không đạt được Dự trữ ngoại hối Trung Quốcđầu tư vào những tài sản có thu nhập cố định như phần lớn các loại trái phiếu tàichính, những trái phiếu này chỉ có tỷ suất lợi nhuận vào khoảng 4 – 5% Nếu chúng

ta tính cả tỷ lệ lạm phát đồng USD và việc đồng tiền này bị định giá thấp thì tỷsuất lợi nhuận thực tế của những trái phiếu này thực sự rất thấp Nếu loại trừ tỷ lệlạm phát và chi phí rủi ro (chi phí của tín phiếu ngân hàng trung ương) thì ước tính

tỷ suất lợi nhuận thực tế chỉ khoảng 0,7 – 1,7% trong khi đó tỷ lệ lợi nhuận trungbình của nguồn vốn trong nước vào khoảng 10%

Trang 34

2.2.1.2.4.Gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế

Trong thập kỷ trước, việc Trung Quốc đạt thặng dư thương mại lớn và liêntục mua USD để làm giảm giá trị đồng nhân dân tệ (NDT) đã khiến cho dự trữngoại hối của nước này tăng gấp 17 lần Do cứ đưa 1 USD vào dự trữ, Trung Quốclại in thêm khoảng 6,5 NDT, nên đã tăng thêm lượng tiền mặt trong nền kinh tếnước này Đây là điều đáng lo ngại, theo nhà nghiên cứu Li Jie của Trường Đại họcTài chính và Kinh tế trung ương: "Đó là cái giá quá cao khi để toàn bộ nền kinh tếtrong nước bị lạm phát chỉ để bảo vệ các nhà xuất khẩu" Trong khi đó, xuất khẩuròng của Trung Quốc chỉ chiếm 4% GDP năm 2009, còn tiêu dùng và đầu tư mỗilĩnh vực chiếm tới 48%

Như vậy dự trữ ngoại hối lớn đã giúp Trung Quốc tăng cường vị thế củamình trên trường quốc tế, đồng thời cũng khiến đất nước này phải đối mặt vớinhững khó khăn không nhỏ Với nhiều nước, trong đó có Việt Nam, tăng dự trữngoại hối là việc không dễ dàng Vậy tại sao Trung Quốc lại tăng nhanh dự trữngoại hối của mình như vậy? Có nhiều lý do để giải thích cho quá trình này, trong

đó có một số lý do chủ yếu được đưa ra

2.2.2 Nguyên nhân tăng nhanh dự trữ ngoại hối Trung Quốc

2.2.2.1 Thặng dư cán cân vãng lai và cán cân vốn

Sự bùng nổ của nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu từ những năm 1990 khi nóđẩy mạnh công cuộc cải cách kinh tế Tỷ lệ tăng trưởng GDP trung bình hằng năm

Ngày đăng: 26/04/2016, 15:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Dùng dự trữ ngoại hối mua đồng nội tệ làm tăng cầu nội tệ, khiến cho giá nội tệ tăng lên. - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
Hình 1. Dùng dự trữ ngoại hối mua đồng nội tệ làm tăng cầu nội tệ, khiến cho giá nội tệ tăng lên (Trang 10)
Bảng 1. Tỷ giá và dự trữ ngoại hối của Thái Lan - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
Bảng 1. Tỷ giá và dự trữ ngoại hối của Thái Lan (Trang 21)
Bảng : Kim ngạch thương mại Trung Quốc từ năm 2006-2009 - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
ng Kim ngạch thương mại Trung Quốc từ năm 2006-2009 (Trang 36)
Đồ thị 1. Chế độ tỷ giá cố định - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
th ị 1. Chế độ tỷ giá cố định (Trang 40)
Bảng số liệu trên cho thấy giai đoạn 2005-2008 những con số phản ánh quy mô dự trữ ngoại hối đều rất khả quan, dự trữ ngoại hối và vàng của Việt Nam từ con số 6.510 tỷ USD năm 2005 đã tăng 36.14% lên 8.863 tỷ USD vào cuối năm - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
Bảng s ố liệu trên cho thấy giai đoạn 2005-2008 những con số phản ánh quy mô dự trữ ngoại hối đều rất khả quan, dự trữ ngoại hối và vàng của Việt Nam từ con số 6.510 tỷ USD năm 2005 đã tăng 36.14% lên 8.863 tỷ USD vào cuối năm (Trang 54)
Bảng số liệu cán cân vãng lai Việt Nam thời kỳ  2005-2008 - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
Bảng s ố liệu cán cân vãng lai Việt Nam thời kỳ 2005-2008 (Trang 55)
Bảng số liệu vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam 2006-2008 - Cải thiện dự trữ ngoại hối của việt nam trong bối cảnh ổn định kinh tế vĩ mô
Bảng s ố liệu vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam 2006-2008 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w