Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến thị trường chứng khoán VN
Trang 1ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
- -ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế
vĩ mô đến thị trường chứng khoán VN
Nhóm 4
Giáo viên hướng dẫn: TS Hà Việt Hùng
Trang 2Thành viên
Trang 3Mục lục
I Giới thiệu
I.1 Mục đích nghiên cứu
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
I.3 Lịch sử vấn đề
I.4 Phương pháp nghiên cứu
I.5 Dự kiến đóng góp
I.6 Cấu trúc bài viết
II Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
II.1 Giả thuyết cần kiểm định
II.2 Phạm vi nghiên cứu
II.3 Cơ sở lý thuyết
II.4 Phương pháp thu thập số liệu
III Mô hình hồi quy
III.1 Kiểm định đa cộng tuyến
III.2 Ước lượng mô hình
III.3 Kiểm định Wald
IV Kết quả ước lượng mô hình
V Các chính sách được đề xuất
VI Kết luận, hạn chế và định hướng cho nghiên cứu tiếp theo
Trang 4I Giới thiệu
1.1 Mục đích nghiên céu
Thông qua kiểm định trong thực tế, đưa ra được con số tương đối chính xác về sự tác động qua lại giữa các biến kinh tế lên thị trường chứng khoán, giúp đưa ra cái nhìn chung đầu tiên khi có những thay đổi trong chính sách vĩ mô như lạm phát, tỷ giá, giá dầu, sản lượng công nghiệp,…các vấn đề xảy ra khá thường xuyên ở Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và dự kiến đóng góp
Đề ra những đề xuất các ý kiến mới, hữu ích cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô
1.3 Những nghiên cứu trước đây
Nhiều nhà khoa học đã chứng minh bằng thực nghiệm tác động của các nhân tố vĩ mô như sản lượng công nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền, GDP, tỉ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát, rủi ro chính trị, giá dầu, khu vực mậu dịch, và các chỉ số chứng khoán thị trường khu vực… đến TTCK như Merton (1973); Nelson (1976), Jaffe & M&elker (1976), Fama & Schwert (1977) Ross (1976); Chen, Roll, & Ross (1986); Jorion (1991); Ely & Robinson (1997); Ferson & Harvey (1994); Mukherjee & Naka (1995); Humpe & Macmillan (2007); Yin-Wong Cheung & Kon S.Lai (1998) Nhìn chung, tại các quốc gia phát triển thể hiện rõ tác động của các nhân tố vĩ mô đếnTTCK
Theo nghiên cứu của Humpe & Macmillan (2007), các tác giả thực hiện mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số VECM để so sánh ảnh hưởng của các biến vĩ mô là chỉ số sản xuất công nghiệp I
P, chỉ số giá tiêu dùng CPI, cung tiền M1, lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ 10 năm TB (đối với TTCK Mỹ) và lãi suất chiết khấu Disco (đối với TTCK Nhật) đến giá cổ phiếu ở TTCK
Mỹ và Nhật trong dài hạn Bộ dữ liệu là lấy lôgarit tự nhiên theo tháng của các biến này trong khoảng thời gian từ tháng 1/1965 đến tháng 6/2005
Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với chỉ số S&P 500 của TTCK Mỹ tồn tại một véc tơ đồng liên kết với giá chứng khoán tương quan cùng chiều với sản xuất công nghiệp, tương quan ngược chiều với cả chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất dài hạn, tương quan cùng chiều nhưng không đáng kể với cung tiền Đối với chỉ số Nikkei 225 của TTCK Nhật các tác giả phát hiện tồn tại hai véc tơ đồng liên kết: véc tơ đồng liên kết thứ nhất cho thấy giá chứng khoán tương quan cùng chiều với sản xuất công nghiệp, tương quan ngược chiều với cung tiền và véc tơ đồng liên kết thứ hai cho thấy mối tương quan ngược chiều của chỉ số sản xuất công nghiệp đối với cả chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất dài hạn
Nghiên cứu của Stephen A Ross (1976) đã phát triển Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT – Arbitrage Pricing Theory) để giải thích tỉ suất sinh lợi của chứng khoán trên thị trường
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập, lọc số liệu với Excel và Eviews
- Sử dụng phương pháp phân tích đồng tích hợp của Engle – Granger (1987) và Johansen (1990) nhằm xác định khả năng tồn tại các mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến
1.5 Cấu trúc bài viết
Bài viết gôm 3 phần:
Phương pháp nghiên cứu
kiểm định bằng mô hình
Kết luận về mô hình
Đề xuất giải pháp cho kinh tế Việt Nam
Kết luận, hạn chế và định hướng cho nghiên cứu tiếp theo
Trang 5II Phương pháp luân và phương pháp nghiên cứu
2.1 Giả thuyết cần kiểm định
Bài nghiên cứu của nhóm dựa trên việc hệ thống và phân tích các giả thuyết đã được đưa ra trước
đó về các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Từ việc phân tích sự tác động của các nhân tố này đến thị trường chứng khoán, nhóm đã tiến hành đề xuất một số giải pháp để ổn định thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
2.2.1 Không gian nghiên cứu: Nền kinh tế Việt Nam 2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu:
Từ tháng 1 năm 2004 đến tháng 12 năm 2013
2.2.3 Đối tượng nghiên cứu:
Chỉ số VN-Index và các chỉ số kinh tế vĩ mô
2.2.4 Dữ liệu thu thập:
Chỉ số VN – Index
Chỉ số giá tiêu dùng CPI
Sản lượng công nghiệp IP
Giá dầu OP
Tỷ giá nhối đoái EX 2.2.5 Nguồn thu thập dữ liệu: Vietstock.vn, cafef.vn, Tổng cục thống
kê, google.com, eia.gov
2.3 Cơ sở lý thuyết
Bảng kỳ vọng tương quan:
Nhân
tố
Tương quan Lý thuyết đã được thực nghiệm
IP +/- Fama (1991); Mohamed & cộng sự (2009)
CPI - Fama (1991); Mohamed & cộng sự (2009)
TGHĐ +/- Bailey & Chung (1995); Ajayi (1996); Granger (2000);
Gautam Goswami & Sung-Chang Jung (1997)
OP +/- Ferson & Harvey (1994); Hosseini S.M, Z.Ahmad &
Y,W.Lai (2011); Mohan N& H.Singh (2011);
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Dữ liệu cần cho nghiên cứu:
Sau khi tìm hiểu, nhóm quyết định lựa chọn 4 nhân tố đại diện cho các nhân tố kinh tế vĩ mô nói chung để phân tích Đó là:
Chỉ số VN – Index: Giá đóng cửa trung bình của mỗi tháng
Trang 6 Chỉ số IP: Tổng sản phẩm quốc nội mỗi tháng
Lạm phát: Chỉ số CPI mỗi tháng
Giá dầu: Giá FOB giao ngay Brent tại châu Âu trung bình mỗi tháng
Tỷ giá hối đoái: tỷ giá USD/VND trung trung bình mỗi tháng
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
Đối với nhân tố lạm phát: Sử dụng chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index) làm cơ sở tính toán Tiến hành thu thập chỉ số CPI theo tháng
Biểu đồ thống kê chỉ số giá tiêu dùng CPI
Trang 7 Đối với chỉ số VN – Index: Tiến hành thu thập dữ liệu và tính giá đóng cửa trung bình của mỗi tháng
Biểu đồ thống kê chỉ số VN - Index
Đối với IP: Tiến hành thu thập thống kê sản lượng công nghiệp các tháng dựa vào báo cáo tình hình kinh tế xã hội của Chính phủ các tháng trong năm, số liệu thu thập từ năm 2004 đến 2013
Biểu đò thống kê sản lượng công nghiệp
Trang 8 Đối với giá dầu: xử lí giá dầu bình quân số học theo tháng
Biểu đồ thể hiện giá dầu
Tỷ giá hối đoái
III Nghiên cứu trên mô hình hồi quy
Cấu trúc dữ liệu: thời gian
Số quan sát: 120
Độ tin cậy: 5%
Mô hình hồi quy mẫu
Trong đó:
Biến phụ thuộc: VNI
Biến giải thích: CPI, IP, EX, OP
VNIt CPI t IPt EX t OPt u t
Trang 93.1 Kiểm định đa cộng tuyến
3.1.1 Tính hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
IP 0,093322 -0,053646 0,926500 1,000000
OP 0,193453 0,253576 0,736035 0,795698 1,000000
Thứ nhất là giữa biến phụ thuộc và biến giải thich: qua việc tính toán ta thấy hệ số tương quan giữa OP và VNI là lớn nhất (bằng 0,193453) cho thấy OP có tác động mạnh mẽ đến VNI Thứ hai là giữa các biến giải thich với nhau: ta thấy hệ số tương quan giữa EX và IP lớn hơn 0,9 ( bằng 0,9265) nên ta nghi ngờ 2 biến này xảy ra đa cộng tuyến
3.1.2 Mô hình hồi quy phụ giữa EX và IP
Dependent
Variable: EX
Variable Coefficien
Adjusted
S,E, of regression 812,0627 Akaike info criterion 16,2536
Trang 10Sum squared
Prob(F-statistic) 0
Ta thây giá trị Prob <10% và R-squared hiệu chỉnh>80% nên 2 biến IP và EX phụ thuộc vào nhau nên xuất hiện đa cộng tuyến
Tuy nhiên, vì mối quan hệ đa cộng tuyến này không đáng kể và để đảm bảo tính bền vững của mô hình nên ta không loại bỏ biến nào
3.2 Ước lượng mô hình hồi quy
Bảng ước lượng mô hình hồi quy
S,E, of regression 186,5801 Akaike info criterion 13,33637
Trang 11Prob(F-statistic) 0,000000
Trong đó:
R2 hiệu chỉnh = 23,41% có nghĩa là sự thay đổi của các biến vị mô giải thich được 23,41% sự thay đổi của thị trường chứng khoán
Mô hình hồi quy có p-value <1% nên ước lượng hồi quy đạt ý nghĩa thống kê với độ tin cậy cao Ngoài ra, ta có :F-statistic=10,1039< F0,05(4;115)=2,45 cho thấy mô hình kiểm định là khá hợp lý
Từ bảng trên ta có mô hình hồi quy:
VNIt = 1724,411 + 21,96493CPIt + 12,38835IPt - 0,119177EXt + 1,943022OPt + ut
3.3 Kiểm định Wald
Kiểm định Wald để kiểm định ràng buộc tuyến tính các hệ số trong mô hình, xem các hệ số hồi quy có ý nghĩa không
Ho: các hệ số hồi quy đồng thời bằng 0
Từ đó có bảng số liệu sau:
Wald Test:
Equation: HOIQUY
Null Hypothesis Summary:
Restrictions are linear in coefficients,
Ta thấy p-value < mức ý nghĩa α = 5%, nên ta bác bỏ giả thiết Ho, tức là các hệ số hồi quy không đồng thời bằng 0, mô hình hồi quy là có ý nghĩa
Trang 12IV Kết quả và thảo luận
4.1 Kết quả ước lượng mô hình
VNIt = 1724,411 + 21,96493 CPIt + 12,38835 IPt - 0,119177 EXt + 1,943022 OPt + ut
VNI : chỉ số giá chứng khoán thể hiện cho TTCK
CPI : chỉ số giá tiêu dùng theo tháng, thể hiện cho nhân tố lạm phát
IP :sản lượng công nghiệp thể hiện cho hoạt động kinh tế thực
OP : trung bình giá dầu thô FOB giao ngay mỗi ngày trên thế giới được dùng để thể hiện nhân tố giá dầu
EX : tỉ giá USD/VND thể hiện cho nhân tố tỉ giá hối đoái
R2 điều chỉnh = 23,43% nghĩa là sự thay đổi của các biến kinh tế vĩ mô giải thích được 23,43% sự biến động của TTCK
Mô hình hồi quy có p-value < 0,01 ước lượng hồi quy có độ tin cậy cao
Hiện tượng đa cộng tuyến không đáng kể và để đảm bảo tính hiệu quả (efficiency) và tính bề vững (consistency) của mô hình hồi quy, không loại bỏ biến số nào của mô hình
Kiểm định Wald để kiểm định ràng buộc tuyến tính các hệ số trong mô hình, xem các hệ số hồi quy có nghía không Kết quả p-value < mức ý nghĩa 5% nên t bác bỏ giả thuyết Ho, tức là các
hệ số hồi quy không đồng thời bằng 0, mô hình hồi quy là có ý nghĩa
Tóm lại, kết quả của mô hình hồi quy cho thấy : Khi các nhân tố khác nhân tố khác không đổi, tại VN:
4.2 EX tương quan âm với VNI
Tỉ giá hối đoái (EX): có tương quan âm với TTCK (-) khi tỉ giá tăng (VND mất giá ) 100
đồng/usd thì chỉ số VN-index sụt giảm 11,91 điểm Việt Nam thường là quốc gia nhập siêu ,kỹ thuật khoa học cũng chưa thật sự phát triển nên chủ yếu là nhập máy móc thiết bị, nguyên vật liệu từ nước ngoài USD là ngoại tệ có giá trị mạnh và thông dụng trên thị trường, giá cả của nhiều loại hàng hóa được căn cứ trên USD để định giá, doanh nghiệp vay vốn hoặc được đầu
tư vốn nước ngoài, người dân có tâm lí nắm giữ USD hoặc có nhu cầu cần USD để đi mua hàng hóa, dịch vụ (du lịch,giáo dục-du học) Những điều trên ảnh hưởng đến tỉ giá, tỉ giá tăng VND mất giá tạo tâm lí bất an cho nhà đầu tư Có thể xem đó là một tín hiệu xấu sẽ đến do đó TTCK sẽ sụt giảm
4.3 OP tương quan dương với VNI
Giá dầu thế giới có tương quan dương với TTCK khi giá dầu tăng 1 USD/barrel thì chỉ số VN-index tăng 1,943 điểm Theo lí thuyết mối tương quan giữa giá dầu với TTCK có thể dương hoặc âm, sẽ có mối tương quan thuận (+) giữa giá dầu với giá chứng khoán trong các nước xuất khẩu dầu mỏ nhưng lại có tương quan nghịch (-) đối với các nước nhập khẩu dầu mỏ VN không phải là một quốc gia xuất khẩu dầu mỏ mà lại thể hiện tương quan dương giữa giá dầu với TTCK là vì thực chất biến động giá xăng dầu khi thể hiện ra thị trường VN chịu nhiều sự can thiệp từ phía Nhà nước nên tín hiệu phát ra từ nhân tố này đã bị bóp méo
Trang 134.4 CPI tương quan dương với VNI
Khi lạm phát tăng 1% thì chỉ số VN-index tăng 21,963 điểm Tuy nhiên biến CPI trong mô hình có ý nghĩa thống kê thấp, không phản ánh chính xác tác động thực sự của nhân tố lạm phát đến TTCK Một trong những nguyên nhân là do cách tính chỉ số CPI của VN mang tính đặc thù dẫn đến biểu hiện bất thường của CPI
4.5 IP tương quan dương với VNI
Khi sản lượng công nghiệp tăng 1.000 tỉ đồng/tháng thì chỉ số VN-index tăng 12,38835 điểm Kết quả này tương tự những nghiên cứu trước và phù hợp với nền kinh tế VN Khi sản lượng công nghiệp tăng nền kinh tế công nghiệp tăng trưởng , triển vọng đầu tư khả quan, các doanh nghiệp
có nhiều khả năng kinh doanh sinh lợi cao, do đó thu hút dòng vốn đầu tư vào TTCK Khi nên kinh tế tăng trưởng nhu cầu huy động vốn qua kênh TTCK của các doanh nghiệp cũng gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng hoạt động, lượng hàng hóa chứng khoán trên thị trường cũng hấp dẫn hơn vì thế, TTCK sẽ tăng trưởng khi nền kinh tế tăng trưởng
V Đề xuất chính sách
Trên cơ sở kết quả phân tích ở trên và bài học kinh nghiệm rút ra từ các lý thuyết và nghiên cứu trên thế giới, bài nghiên cứu đề xuất một số ý kiến cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô:
5.1 Chính sách tiền tệ phù hợp
Chính sách tiền tệ tại VN tất yếu phải lựa chọn mục tiêu hướng đến cụ thể, phù hợp với đặc thù phát triển của từng giai đoạn Dù có lựa chọn mục tiêu nào thì chính sách tiền tệ cần có lộ trình cụ thể, tránh gây ra những cú sốc tâm lý cho nhà đầu tư, gây ảnh hưởng tiêu cực cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Sự suy giảm của TTCK - đến lượt nó - sẽ lại ảnh hưởng ngược đến dòng vốn vào nền kinh tế, góp phần gây khó khăn cho việc phát huy tác dụng của các chính sách Hơn thế nữa, thị trường chứng khoán VN còn non trẻ nên chưa bền vững, dễ
bị sụt giảm do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước cần tránh những động thái bất ngờ trong điều hành chính sách
5.2 Chính sách kinh tế vĩ mô cần hướng đến tạo sự ổn định bền vững cho thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thị trường sôi nổi nó phản ánh được những kì vọng sẽ xảy ra trong nền kinh tế Kết quả phân tích hồi quy đã cho thấy các nhân tố kinh tế vĩ mô thực sự có tác động đến thị trường chứng khoán Do đó, việc ban hành và quản lí các chính sách kinh tế
vĩ mô của Chính Phủ không chỉ hướng đến việc điều hành nền kinh tế mà còn cần phải quan tâm đến sự phát triển bền vững cho thị trường chứng khoán
5.3 Chính sách kinh tế muốn hiệu quả phải dựa trên tập trung phát triển các ngành mũi nhọn
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á trong số 10 quốc gia Đông Nam Á; lớn thứ 56 trên thế giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2013 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người Tổng Thu nhập nội địa GDP năm 2013 là 171,392 tỷ USD Song nền kinh tế Việt Nam hoạt động còn kém hiệu quả
Trang 14Việt Nam trong thời gian vừa qua phát triển kinh tế dàn trải theo chiều rộng Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng cũng như bất kỳ một chính sách nào cũng đều
có những hạn chế của nó Phát triển kinh tế theo chiều rộng thông thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải Do vậy, để tăng hiệu quả vốn đầu tư cần lựa chọn các ngành mũi nhọn để tập trung đầu tư phát triển mạnh, thúc đẩy các ngành kinh tế phụ trợ phát triển theo
5.4 Kết hợp giữa các chính sách dài dài hạn và ngắn hạn
Bên cạnh đó cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nguồn nhân lực; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, các chính sách vĩ mô ở tầm ngắn hạn (như kiểm soát lạm phát, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tái cơ cấu đầu tư công, đánh giá bối cảnh quốc tế và những tác động tới Việt Nam…)
5.5 Nâng cao tính hiệu quả của thông tin vĩ mô.
TTCK phản ứng rất mạnh trước các thông tin Trong thực tế, có những nhóm thông tin trùng khớp, có thông tin mang tính độ trễ nhưng cũng có những thông tin mang tính dự báo Đối với các nhà hoạch định chính sách, khi đưa ra những chiến lược ngắn, trung và dài hạn thì thông tin từ các chiến lược này sẽ được các nhà đầu tư tiếp nhận, phân tích và đánh giá để đưa vào
dự báo giá chứng khoán trên thị trường và xây dựng chiến lược đầu tư Độ chính xác, minh bạch và kịp thời của thông tin sẽ có những tác động lên thị trường và hành vi của các nhà đầu
tư Do đó, việc công bố thông tin cần được thực hiện chuyên nghiệp và được kiểm soát bởi hành lang pháp lý để tránh tình trạng kinh doanh nội gián, lợi ích nhóm làm bóp méo và rối loạn thị trường
VI Kết luận, hạn chế và đề xuất cho nghiên cứu tiếp theo
6.1 Kết luận
Các nhân tố kinh tế vĩ mô thực sự có ảnh hướng tới thị trường chứng khoán Việt Nam Quá trình nghiên cứu về mối quan hệ này đã giúp nhóm đề ra những đề xuất các ý kiến mới, hữu ích cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô Đề tài này dựa trên những nghiên cứu ở các nước trên thế giới
6.2 Hạn chế của đề tài
Đề tài được thực hiện trong thời gian ngắn và một số thông tin không thực sự chính xác nên không tránh khỏi những sai sót và nhầm lẫn
6.3 Đề xuât cho các nghiên cứu tiếp theo
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài các yếu tố vĩ mô đã đề cập tới thị trường chứng khoán Việt Nam Từ đó đưa ra những chính sách toàn diện để góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam