Làng nghề và phân loại làng nghề Làng nghề là một nét đặc thù trong đời sống của nông thôn Việt Nam.. Vai trò của làng nghề trong phát triển Kinh tế- Xã Hội Sự phát triển sả
Trang 1I Đặt vấn đề
Làng nghề là một trong những nét đặc thù của nông thôn Việt Nam.Hoạt động sản xuất của các làng nghề không chỉ góp phần phát trienrvăn hóa, tinh thần và cải thiện đời sống vật chất của nông thôn mà cònmang nặng dấu ấn về tinh sáng tạo, ý chí vươn lên trong cuộc sống củacha ông chúng ta từ nhiều đời nay Sự phát triển sản xuất làng nghề đãvà đang đóng góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ởnông thôn, cải thiện và nâng cao mức sống của người dân làng nghề:
- Tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ đạt từ 60-80%
- Ngành nông nghiệp chỉ đạt từ 20-40%
Hoạt động làng nghề thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia:
- Kinh tế cá thể chiếm 72%
- Kinh tế tập thể 18%
- Doanh nghiệp tư nhân 10%
Thu hút 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động nôngthôn.Song bên cạnh những mặt tích cực mà làng nghề đem lại cũng cómặt bất cập,hoạt động sản xuất tại các làng nghề đều mang tính tự phát,nhỏ lẻ; thiết bị thủ công, đơn giản; công nghệ lạc hậu; mặt bằng sản xuấtnhỏ hẹp và đặc biệt ý thức người dân làng nghề trong việc bảo vệ môitrường (BVMT) còn thấp, do đó vấn đề ô nhiễm tại các làng nghề đangtrở nên nghiêm trọng đe dọa tới môi trường sinh thái, sức khỏe và cộngđồng dân cư và đến sự tồn tại và phát triển của chính các làng nghề
Trang 2II Nội dung
2.1.Khái quát về hoạt động của các làng nghề
a Làng nghề và phân loại làng nghề
Làng nghề là một nét đặc thù trong đời sống của nông thôn Việt Nam
Đa số các làng nghề đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, song songvới phát triển Kinh tế -Xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước.Như làng nghề Đại Bái (Bắc Ninh) có lịch sử hơn 900 năm phát triển haylàng Gốm Bát Tràng đã trải qua 500 năm phát triển… Làng nghề khôngchỉ là trung tâm sản xuất thủ công hàng hóa mà còn là điểm sinh hoạt,văn hóa của khu vực của vùng là nơi hội tụ những thợ thủ công có taynghề cao mà tên tuổi gắn liền với sự phát triển làng nghề
Hiện trên địa bàn cả nước có 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề Các loại hình sảnxuất của làng nghề rất đa dạng, trong đó loại hình:
- Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổchiếm 20%
- Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da chiếm 17%
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá chiếm 5%
- Làng nghề tái chế phế liệu chiếm 4%
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ chiếm 39%
- Và một số làng nghề khác chiếm 15%
b Vai trò của làng nghề trong phát triển Kinh tế- Xã Hội
Sự phát triển sản xuất nghề đã và đang góp phần quan trọng trongchuyểndịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn Mức thu nhập của người lao
Trang 3động sản xuất nghề cao gấp 3 - 4 lần so với thu nhập của sản xuất thuầnnông, tỷ lệ hộ nghèo trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp chỉ bằng 1/3
so với mức trung bình cả nước
Tạo cơ hội việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30%lực lượng lao động nông thôn đặc biệt còn sử dụng lao động là ngườicao tuổi, người khuyết tật, những người rất khó kiếm việc làm, tạo điềukiện giảm các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút, hạn chế sự di dântừ nông thôn nên thành thị góp phần đảm bảo an sinh, xã hội cho khuvực nông thôn, thành thị
Đa dạng hóa nền văn hóa và sản xuất nông thôn với sự quy tụ các taynghề sản xuất giỏi, có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, nâng caotrình độ
Làng nghề truyền thống được xem như một nguồn tài nguyên du lịch,văn hóa vật thể và phi vật thể đầy tiềm năng, nhiều địa phương đã pháttriển hiệu quả mô hình kết hợp các tuyến du lịch với thăm quan làngnghề, thu hút rất nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia: kinh tế cá thể chiếm 72%,kinh tế tập thể 18%, doanh nghiệp tư nhân 10%
II.2 Các vấn đề môi trường nổi bật
Theo kết quả khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môitrường Đại học Bách khoa Hà Nội đưa ra những con số đáng báo động:100% mẫu nước thải ở các làng nghề có thông số vượt quá tiêu chuẩncho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm
Trang 4Kết quả khảo sát tại 52 làng nghề điển hình trong cả nước của Đề tài KC08.09 (Nghiên cứu cơ sở Khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng cácchính sách và biện pháp giải quyết môi trường ở các làng nghề ViệtNam) cho thấy, có đến 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng,27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ Các kết quả quan trắc cho thấymức độ ô nhiễm của các làng nghề không những không giảm mà còn có
xu hướng gia tăng
Một số vấn đề nổi bật tại các làng nghề:
+ Chất lượng môi trường tại các khu vực sản xuất làng nghề khôngđạt tiêu chuẩn Với 95% người lao động tiếp xúc với bụi, 85% tiếp xúcvới nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hoá chất
+ Tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề khá cao nhất là nhómngười đang ở độ tuổi lao động
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi thọ trung bình của ngườidân tại các làng nghề ngày càng giảm, thấp hơn 10 năm so vớituổi thọ trung bình toàn quốc và so với làng không làm nghề tuổithọ này cũng thấp hơn từ 5 đến 10 năm
Làng nghề tái chế kim loại Châu Khê (Bắc Ninh) có trên 60%dân cư trong vùng mắc các triệu chứng bệnh liên quan đến thầnkinh, hô hấp, ngoài da, điếc
Làng nghề chế biến rượu Vân Hà (Bắc Giang) có đến 68,5%bệnh ngoài da, 58,8% bệnh đường ruột, 44,4% bệnh hô hấp…+ Ô nhiễm môi trường ( ô nhiễm nước, không khí, đất) nghiêmtrọng tại các khu vực làng nghề do chất thải thải ra môi trường chưa qua
xử lý, bừa bãi…
Trang 5+ Cở hạ tầng, công nghệ ứng dụng còn chưa được đầu tư quantâm đúng mức đặc biệt là khu xử lí chất thải.
+ Ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát do quy mô sản xuất nhỏ,phân tán, đan xen với hộ gia đình…
+ Công tác quản lí môi trường còn nhiều bất cập, hạn chế
2.3 Hiện trạng môi trường và công tác quản lí
2.3.1 Hiện trạng môi trường và nguyên nhân
a Hiện trạng Môi trường
Ô nhiễm tài làng nghề tái chế Chì
Môi trường không khí
Trang 6- Ô nhiễm bụi
Từ việc sử dụng nhiên liệu là than, hóa chất chocác ngành nghềtái chế kim loại, sản xuất vật liệu xây dựng và gốm sứ đang là nhữngngành gây ô nhiễm lớn nhất do có nhu cầu sử dụng, đốt cháy nhiên liệucao
Ngoài ra tại các làng nghề khai thác đá thì bụi phát sinh từ quátrình khai thác và chế tác đá.Hàm lượng các chất ô nhiễm thường rấtcao tại các khu vực sản xuất.Đặc biệt, trong bụi phát sinh từ hoạt độngchế tác đá còn chứa một lượng không nhỏ SiO2 (0,56 - 1,91% tại làngnghề đá Non Nước - Đà Nẵng) rất có hại cho sức khỏe
Cùng với đó là lưu lượng các phương tiện vận chuyển nguyên vậtliệu, sản phẩm ngày một tăng cao cũng góp phần đáng kể làm gia tăngnồng độ bụi, khí SO2 và NO2… gây ô nhiễm môi trường không khí xungquanh
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng bụi ở khu vực sảnxuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt 3-8 lần so với quychuẩn, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần
Tại Bắc Ninh: theo tiêu chuẩn TCVN 5937:2005 và QCVN05:2009/BTNMT
Làng nghề Châu Khê Làng nghề Văn MônChỉ số SO2 Cao hơn 3,8 lần Cao hơn 4,8 lần
Chỉ số NO2 Cao hơn 3 lần Cao hơn 3,6 lần
- Ô nhiễm mùi
Trang 7Tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết
mổ phát sinh thêm ô nhiễm không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do
sự phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải, chất thải rắn tạo nên cáckhí như SO2, NO2, H2S, NH4, CH4 và các khí ô nhiễm gây mùi tanh khóchịu
- Ô nhiễm SO2
Tại các làng nghề ươm tơ, dệt vải và thuộc da thường bị ô nhiễm bởi cácthông số bụi, SO2, NO2.Tại làng nghề sản xuất mây tre đan không khíthường bị ô nhiễm bởi SO2 (phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc chocác sản phẩm mây tre đan)
Ở tỉnh Thái Bình, nơi có 40/210 làng nghề làm mây tre đan, có tới 800lò sấy lưu huỳnh thải ra lượng khổng lồ khí SO2 từ quá trình xử lý chốngmốc cho các sản phẩm mây tre đan
Môi trường nước
- Ô nhiễm chất hữu cơ
Khối lượng nước thải tại các làng nghề chế biến lương thực, thựcphẩm, chăn nuôi, giết mổ gia súc, ươm tơ, dệt nhuộm là rất lớn, có nơilên tới 7000 m3/ ngày thường không được xử lý đã xả trực tiếp vào môitrường
Làng nghề dệt nhuộm có nhu cầu hóa chất rất lớn: thuốc nhuộm, axit,xút… khoảng 85- 90% lượng hóa chất này hòa tan trong nước thải Theo
Trang 8kết quả khảo sát, tại các làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ đều giàu chấthữu cơ: hàm lượng COD, BOD5 gấp 2-15 lần TCVN.
Hoạt động sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng với 60 - 72% nướcthải (phát sinh từ khâu lọc tách bã và tách bột đen) có pH thấp, mức ônhiễm BOD5, COD vượt TCVN 5945-2005 loại B trên 200 lần
Ví dụ: Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề DươngLiễu phát sinh tới 105.768 tấn bã thải, phần không nhỏ cuốn theo nướcthải gây bồi lắng hệ thống thu gom, các ao hồ trong khu vực và gây ônhiễm nghiêm trọng nước mặt, nước dưới đất
Tại làng nghề nấu rượu Tam Đa hàng năm tiêu thụ khoảng 18.000tấn sắn khô, sản xuất được hơn 1,2 triệu lít rượu Sự phân huỷ các loạixác thực vật, chất cặn bã bị ứ đọng trên hệ thống cống rãnh sinh ra H2S,
NH3, CH4, Các kết quả đánh giá chất lượng nước thải cho thấy, nướcthải bị ô nhiễm ở mức rất cao do các chất hữu cơ Các chỉ số COD,BOD, SS, Coliform, NH4+… gấp nhiều lần cho phép Cá biệt hàm lượngCOD có điểm vượt tới 110 lần so với tiêu chuẩn cho phép
Trang 9Tại làng nghề sản xuất bún
- Ô nhiễm chất thải vô cơ
Làng nghề tái chế ắc quy chì Đông Mai, Hưng Yên: Tại đây có hơn
60 hộ thu gom ắc quy, với số lao động tham gia trên 500 người Dokhông có các biện pháp quản lý sản xuất tốt và thiếu thiết bị xử lý ônhiễm về môi trường theo quy định nên đất, nước và không khí của làngnghề này đang bị ô nhiễm khói bụi chì, nước thải a-xit trầm trọng
Một số ngành như tái chế, chế tác kim loại, đúc đồng có nhu cầunước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất rất độc hại nhưcác hóa chất, axit, muối kim loại, xianua và các kim loại nặng Nước thảimạ có độ màu rất cao, đặc biệt hàm lượng các kim loại nặng như Cr6+,
Zn2+, Pb2+ lớn hơn từ 1,5 - 10 lần tiêu chuẩn cho phép
Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các làng tái chế kim loại ở Hà Nội,hàm lượng 2 KLN Cu và Pb như sau:
Trang 10Khu vực làng nghề sản xuất cơ khí hoặc tái chế kim loại, đất nôngnghiệp có dấu hiệu bị nhiễm kim loại nặng.
Làng nghề may gia công, da giầy tạo ra chất thải rắn như vải vụn, davụn gồm da tự nhiên, giả da, cao su, chất dẻo với lượng thải lên tới 2 - 5tấn/ngày (làng nghề Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, Hải Dương: 4 - 5tấn/ngày) Đây là loại chất thải rất khó phân hủy nên không thể xử lýbằng chôn lấp
Làng nghề tái chế giấy Dương ổ - Bắc Ninh thải ra 4 - 4,5 tấn chấtthải/ngày, làng tái chế nhựa Trung Văn và Triều Khúc thải 1.123tấn/năm
b Nguyên nhân
-Kết cấu hạ tầng nông thôn yếu kém, không đáp ứng được nhu cầucủa phát triển sản xuất, chất thải không thu gom và xử lý, dẫn đến nhiềulàng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, cảnh quan bị phá vỡ;
- Quy mô sản xuất nhỏ nên chất thải phát sinh không bố trí được mặtbằng để xử lý, lại ở trên một phạm vi hẹp, nên đã tác động trực tiếp đến
Trang 11môi trường sống, ảnh hưởng tới điều kiện sinh hoạt và sức khỏe củangười dân;
- Quan hệ sản xuất mang nét đặc thù nên thường dẫn tới việc "giấu"công nghệ sản xuất và nguyên liệu, hóa chất sửdụng; thích sản xuấtnhỏ; "ngại" áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, gây lãngphí tài nguyên và phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường;công nghệ sản xuất lạc hậu, thủ công, thiết bị tận dụng cũ kỹ và chắp vá,
đã làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, tiêu hao nhiên liệu, điện,nước, kéo dài thời gian sản xuất và phát sinh ô nhiễm, đặc biệt là tiếngồn, bụi, nhiệt ; Hơn nữa, để hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnhtranh, nhiều cơ sở sản xuất còn sử dụng nguyên liệu rẻ tiền, hóa chấtđộc hại, làm tăng nguy cơ và mức độ ô nhiễm của làng nghề, tác độngtiêu cực tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và chính bản thân ngườilao động
-Vốn đầu tư cho sản xuất hạn hẹp, nên việc đầu tư xử lý ô nhiễm làhầu như không có
-Ý thức trách nhiệm về BVMT của các hộ sản xuất kém Chính quyềnđịa phương ở nhiều nơi cũng coi đây là trách nhiệm của Nhà nước phảiđầu tư xử lý ô nhiễm, mà không bám sát nguyên tắc "người gây ô nhiễmphải khắc phục, xử lý ô nhiễm" Đây chính là một nguyên nhân quantrọng nhất dẫn tới ô nhiễm môi trường mà sản xuất nghề tại nông thôn
đã và đang gây ra
2.3.2.Hiện trạng và những hạn chế trong công tác quản lí môi
trường làng nghề
a Hiện trạng
Trang 12+ Công cụ luật pháp:
Hàng loạt các văn bản về phát triển bền vững và BVMT làng nghề
đã được ban hành và thực hiện như Luật BVMT 2005, hay một số vănbản dưới luât nhưChính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ- CPngày 07/07/2006 về Phát triển ngành nghề nông thôn, nghị quyết 41-NQ/
TƯ năm 2004 của Bộ chính trị về BVMT Quốc Gia đến năm 2010,Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam…
Một số làng nghề cũng đã chú ý đến việc ban hành các văn bản cóliên quan nhằm cụ thể hoá đường lối chình sách của Đảng và Chính phủ
ở địa phương mình như:
-Bắc Ninh: Quy chế BVMT làng nghề tỉnh Bắc Ninh và đề án giảmthiểu môi trường làng nghề Bắc Ninh
-Hà Nam: Nghị quyết 03/28/QĐ- UBND ngày 16/01/2008 về quyđịnh BVMT trên địa bàn tỉnh Hà Nam, trong đó có biện pháp giải quyếtcác vấn đề ô nhiễm tại các khu vực làng nghề
+ Công cụ kinh tế:
Thu thuế, phí môi trường đối với các đối tượng vi phạm theonguyên tắc
người gây ô nhiễm phải trả tiền
VD: Thu phí rác sinh hoạt của hộ gia đình, sản xuất…
Đầu tư tài chính cho BVMT làng nghề đã được chú ý: hỗ trợ kinhphí, giảm thuế, ưu đãi tín dụng…
+ Công cụ kỹ thuật:
Trang 13Quan trắc giám sát chất lượng các thành phần môi trường.
Nhiều công nghệ mới đã được áp dụng thành công, điển hình làchuyển từ công nghệ đốt than củi sang khí gas hoặc khí hoá lỏng LPG ởcác làng nghề gốm sứ; sử dụng công nghệ phân huỷ yếm khí biogas tạokhí đốt và phân bón chất lượng cao tại các làng nghề chế biến thựcphẩm, nông sản
b Những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lí
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đầy đủ, chưa cụ thể hoáBVMT làng nghề.Trong luật BVMT năm 2005 đã có quy định về bảo vệmôi truờng làng nghề nhưng hiện nay vẫn chưa có nhưng văn bảnhướng dẫn cụ thể việc thực thi các quy định đó.Hơn nữa mỗi làng nghềđều có những đặc thù riêng về tính chất chất thải song vẫn chưa có quyđịnh cụ thể cho việc chấp hành BVMT làng nghề cho từng làng nghề.Chức năng nhiệm vụ về BVMT của các bộ nghành địa phương chưa
rõ r àng và còn chồng chéo.Mặc dù đã có sự phân công trách nhiệm chocác bộ nhưng vẫn có sự chồng chéo về vai trò và trách nhiệm trong việcBVMT làng nghề giữa các bộ/ngành và giữa các bộ/nghành với các địaphương.Bên cạnh đó việc phối hợp liên nghành vẫn còn nhiều hạn chế