Để khắc phục những tồn tại trên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề, các giải pháp cho huyện Thường Tín theo các ý bao gồm: Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
BÙI QUANG LÂM
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Quyền Đình Hà
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Toàn bộ
số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất kể một luận văn, một khóa luận được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học hàm, học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Quang Lâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước nhất, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học Viện Nông nghiệp Việt Nam, các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & PTNT, Bộ môn Phát triển nông thôn, những người đã trang bị cho tôi kiến thức và những định hướng đúng đắn trong học tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để tôi học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Quyền Đình Hà – Giảng viên khoa Kinh tế và PTNT – Người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Thường Tín, phòng Tài nguyên và môi trường huyện Thường Tín, lãnh đạo các phòng, ban, các xã, thị trấn, các doanh nghiệp, hợp tác
xã, đơn vị hoạt động sự nghiệp, hoạt động kinh tế đóng trên địa bàn huyện Thường Tín
và những người dân địa phương đã cung cấp những thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tại địa bàn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Bùi Quang Lâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANG MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC HỘP ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
THESIS ABSTRACT xiii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 4
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ 4
2.1.1 Các khái niệm 4
2.1.2 Sự cần thiết quản lý môi trường làng nghề 7
2.1.3 Đặc điểm quản lý môi trường làng nghề 7
2.1.4 Nội dung quản lý môi trường làng nghề 16
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề 26
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 30
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới về quản lý môi trường
làng nghề 30
2.2.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam về quản lý môi trường làng nghề 34
2.2.3 Bài học vận dụng 38
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN THƯỜNG TÍN, HÀ NỘI 39
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn 55
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 57
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 58
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 59
3.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 59
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 60
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
4.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG TÍN 61
4.1.1 Tình hình phát triển và đóng góp của làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín 61
4.1.2 Tình hình ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín 65
4.1.3 Thực trạng quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín 73
4.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THƯỜNG TÍN 99
4.2.1 Trình độ của cán bộ quản lý trên địa bàn huyện Thường Tín 99
4.2.2 Máy móc, công nghệ sản xuất tại huyện Thường tín 101
4.2.3 Nhận thức của người dân trong bảo vệ môi trường làng nghề 103
4.3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN 105
4.3.1 Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách 105
4.3.2 Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ quản lý môi trường làng nghề từ cấp huyện đến xã 106
Trang 64.3.3 Hỗ trợ, áp dụng công nghệ và quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ
môi trường 107
4.3.4 Nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư tại làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín 109
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 111
5.1 KẾT LUẬN 111
5.2 KIẾN NGHỊ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 115
Trang 7DANG MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 11
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất của huyện Thường Tín giai đoạn 2013 – 2015 44
Bảng 3.2 Dân số và lao động của huyện Thường Tín giai đoạn 2013 – 2015 46
Bảng 3.3 Các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ trên địa bàn huyện 51
Bảng 4.1 Số lao động làng nghề trong làng nghề của huyện Thường Tín 2016 61
Bảng 4.2 Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của huyện Thường Tín giai đoạn 2014 – 2016 62
Bảng 4.3 Giá trị sản xuất của huyện Thường Tín giai đoạn 2014 – 2016 63
Bảng 4.4 Tình hình giảm nghèo của huyện Thường Tín giai đoạn 2014 – 2016 65
Bảng 4.5 Mức độ ô nhiễm môi trường ở các làng nghề tại huyện Thường Tín 67
Bảng 4.6 Phân loại ô nhiễm môi trường tại làng nghề của huyện Thường Tín 68
Bảng 4.7 Khối lượng chất thải phát sinh từ làng nghề sơn mài, Duyên Thái 69
Bảng 4.8 Khối lượng chất thải phát sinh từ làng nghề Tiền Phong 70
Bảng 4.9 Các dạng chất thải phát sinh tại các làng nghề được nghiên cứu 72
Bảng 4.10 Một số văn bản của Huyện ủy về quản lý môi trường trên địa bàn huyện Thường Tín 75
Bảng 4.11 Một số văn bản của UBND huyện về quản lý môi trường trên địa bàn huyện Thường Tín 76
Bảng 4.12 Danh mục quy hoạch đất khu công nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn huyện Thường Tín 79
Bảng 4.13 Danh mục quy hoạch làng nghề đến năm 2020 trên địa bàn huyện Thường Tín 80
Bảng 4.14 Quy hoạch đất xử lý, chôn lấp rác thải trên địa bàn huyện Thường Tín giai đoạn 2014 - 2016 81
Bảng 4.15 Chi ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp môi trường huyện Thường Tín giai đoạn 2014 – 2016 86
Bảng 4.16 Mức phí thu gom rác thải/vệ sinh của huyện Thường Tín 87
Bảng 4.17 Nhân lực, phương tiện vận chuyển và thu gom rác huyện Thường Tín 90
Trang 8Bảng 4.18 Đánh giá mức độ hợp lý thời gian thu gom chất tại các làng nghề của
huyện Thường Tín 91 Bảng 4.19 Xử lý các hành vi vi phạm về môi trường trên địa bàn huyện Thường
Tín giai đoạn 2014 – 2016 94 Bảng 4.20 Mức độ nhận biết của người dân về các quy định xử phạt đối với các
hành vi vi phạm liên quan đến môi trường 95 Bảng 4.21 Trình độ học vấn của cán bộ quản lý về môi trường trên địa bàn
huyện Thường Tín tính đến năm 2016 100 Bảng 4.22 Lợi ích của trang thiết bị, máy móc tại các làng nghề trên địa bàn
huyện Thường Tín 102 Bảng 4.23 Mức độ tự động hóa máy móc ở các làng nghề huyện Thường Tín 102 Bảng 4.24 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định và lập báo cáo, đề án bảo vệ
môi trường của các cơ sở làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín 103 Bảng 4.25 Nguồn thông tin về các chương trình bảo vệ môi trường của cộng
đồng huyện Thường Tín 104
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế theo ngành của huyện Thường Tín giai đoạn 2013 –
2015 45 Biểu đồ 4.1 Chuyển dịch cơ cấu ngành tại huyện Thường Tín 2014 – 2016 64 Biểu đồ 4.2 Ý kiến của cán bộ quản lý môi trường về thực trạng văn bản quản lý Nhà
nước trong quản lý môi trường làng nghề huyện Thường Tín 78 Biểu đồ 4.3 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện
Thường Tín 101
Thường Tín 89
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TNMT
UBND
Tài nguyên môi trường
Ủy ban nhân dân
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên đề tài: “Quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội” Học viên: Bùi Quang Lâm
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Quyền Đình Hà
Làng nghề trên cả nước đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của cả nước, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, tăng thu nhập lúc nông nhàn cho người nông dân Tuy nhiên, mặt trái của các làng nghề nông thôn hiện nay cũng còn nhiều, nhất là tình trạng gây ô nhiễm môi trường
Bên cạnh những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì vấn đề môi trường tại các làng nghề lại đang là thực trạng đáng báo động Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan chức năng, các tổ chức và cộng đồng dân cư
Hiện nay công tác quản lý môi trường trên địa bàn làng nghề huyện Thường Tín vẫn còn nhiều bất cập chưa được giải quyết Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng QLMT ở các làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề, từ đó đưa ra các giải pháp để hoạt động quản lý môi trường làng nghề đạt hiệu quả hơn
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội tôi đưa ra các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thu thập số liệu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp
xử lý số liệu và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Về kết quả nghiên cứu và thảo luận: Qua phân tích tình hình thực trạng môi trường và quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín ta thấy công tác quản lý môi trường làng nghề có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Thường Tín nói chung Cụ thể, nội dung của quản lý môi trường làng nghề gồm: Chủ trương, chính sách về quản lý môi trường làng nghề; công tác kế hoạch của quản lý môi trường làng nghề; công tác tổ chức triển khai quản lý môi trường làng nghề; công tác giám sát kiểm tra Ngoài ra, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi
Trang 13trường làng nghề cũng được phân tích để làm rõ như: yếu tố thể chế, chính sách; yếu tố vốn và công nghệ sản xuất; năng lực trình độ cán bộ quản lý và cuối cùng là yếu tố nhận thức của người dân về vấn đề môi trường
Công tác quản lý môi trường làng nghề của huyện Thường Tín nhìn chung đã khá hoàn thiện và hoạt động theo đúng chức năng, chuyên môn Tuy nhiên bên cạnh đó, còn nhiều khó khăn tồn tại như: năng lực cán bộ quản lý về môi trường ở cấp xã, còn yếu; hệ thống văn bản pháp luật về môi trường và môi trường làng nghề vẫn còn chồng chéo, chưa đầy đủ; cộng đồng dân cư và các cơ sở sản xuất vẫn chưa ý thức được vấn đề bảo vệ môi trường; nguồn kinh phí dành cho bảo vệ môi trường còn hạn chế
Đề tài khuyến nghị một số giải pháp giải quyết một số vấn đề tồn tại của quá trình quản lý môi trường làng nghề nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề của huyện Thường Tín ở thời gian tới
Kết luận
Huyện Thường Tín trong những năm qua, đã tập trung triển khai nhiều dự án, đề
án, chương trình cho quản lý môi trường làng nghề và đã đạt được kết quả đáng kể Tuy nhiên, đối chiếu so với hiện tại vẫn còn tồn tại một số khó khăn cần giải quyết như năng lực quản lý, nhận thức người dân, nguồn kinh phí,
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công trong nông nghiệp gồm có: Cơ chế, chính sách trong quản lý môi trường làng nghề; Trình độ của cán bộ quản lý; máy móc, công nghệ sản xuất; nhận thức của người dân trong bảo vệ môi trường làng nghề
Để khắc phục những tồn tại trên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề, các giải pháp cho huyện Thường Tín theo các ý bao gồm: Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao năng lực quản lý của cán bộ; hỗ trợ, áp dụng công nghệ và quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường; nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư tại địa bàn huyện Thường Tín
Trang 14THESIS ABSTRACT
Master candidate: Bui Quang Lam
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Craft villages have contributed a considerable part to the development of the whole country However, at present, there are many negative aspects of rural craft villages, especially environmental pollution
Currently, craft villages of Thuong Tin district is developing In addition to important contributions to local socio-economic development, environmental issues in craft villages are alarming
There are still many unsolved problems in the environmental management in craft villages in Thuong Tin district Therefore, I chose the subject: "Environmental management in craft villages in Thuong Tin district, Hanoi" as the topic my graduation thesis
1 Objectives of the study
To assess the current status of environmental management in craft villages in Thuong Tin district To analyze the factors that affect the environment management of the craft villages, thereby provide solutions to better manage the environment in craft villages
2 Research Methodology
Based on the survey of Thuong Tin district, Hanoi, I present research methods: data collection method, sampling method, data processing method and system of research indicators
3 Results of the study
Regarding the results of research and discussion: By analyzing the situation of the environment and environmental management in craft villages in Thuong Tin district,
we can see that the environmental management in craft villages has direct impacts on the socio-economic development of Thuong Tin district in general Specifically, the content of environmental management in craft villages include: guidelines, policies on environmental management in craft villages; the organization and implementation of environmental management in craft villages; Inspection and monitoring In addition, the factors affecting the environmental management in craft villages are also analyzed to clarify such as: institutional factors, policies; capital factor and production technology;
Trang 15capacity and qualification of managers and finally the perception of people about environmental issues
The environmental management in craft villages of Thuong Tin district has been generally completed and operated according to the proper function and expertise However, there are still many difficulties such as the weak capacity of environmental managers at the commune level; The system of legal documents on the environment and environment in craft villages is still overlapped; The communities and production facilities are still unaware of environmental issues; The budget for environmental protection is limited
The project recommends some solutions to solve some outstanding problems in environmental management in craft villages in order to enhance and improve the efficiency of environmental management in craft villages in Thuong Tin district in the coming time
4 Conclusion
For recent years, Thuong Tin district has been focusing on implementing many projects and programs for environmental management in craft villages and achieved remarkable results However, compared with the current situation, there are still some difficulties to be solved such as management capacity, people awareness, funding sources
Factors affecting the management of public investment in agriculture include: Mechanisms and policies in environmental management in craft villages; Qualification
of managers; Machinery, production technology; People's awareness in protecting the villages' environment
In order to overcome the above-mentioned issues in order to improve the efficiency of the environmental management in the craft villages, the solutions for Thuong Tin district include: to supplement and improve mechanisms and policies; to improve management capacity of managers; to support, apply technologies in craft villages and planning in association with environmental protection; to raise the community's awareness in Thuong Tin district
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự ra đời của các cụm công nghiệp, nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động Theo số liệu thống kê của Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến hết năm 2014,
số làng nghề và làng có nghề nước ta là 5.096, trong đó số làng nghề truyền thống được công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 Các làng nghề thu hút khoảng 10 triệu lao động
Các làng nghề trên cả nước đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của cả nước, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, tăng thu nhập lúc nông nhàn cho người nông dân Tuy nhiên, mặt trái của các làng nghề nông thôn hiện nay cũng còn nhiều, nhất là tình trạng gây ô nhiễm môi trường: nước thải, chất thải do các làng nghề tại các vùng quê gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi và sức khỏe người dân còn rất phổ biến Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ làng nghề sử dụng thiết bị xử lý nước thải, chất thải độc hại chỉ đạt 4,1% và thực trạng này đang cho thấy rõ nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ các làng nghề ở nông thôn nước ta
Hiện nay, huyện Thường Tín có 46/126 làng nghề, trong đó có tới 6 xã có làng nghề phát triển mạnh Trong những năm qua, các làng nghề đã dần thích nghi với điều kiện kinh tế thị trường, các chính sách của nhà nước, của thành phố
và của huyện nhằm khuyến khích, hỗ trợ đối với làng nghề truyền thống Việc sản xuất kinh doanh sản phẩm làng nghề đã góp phần làm tăng thu nhập cho người dân, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của huyện Thường Tín đồng thời là động lực cho một số ngành kinh doanh dịch vụ khác phát triển Bên cạnh những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì vấn đề môi trường lại đang là thực trạng đáng báo động, tổng khối lượng chất thải rắn của làng nghề huyện Thường Tín khoảng 40 tấn/ngày, nước thải 600m3/ngày (UBND huyện Thường Tín) Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các
cơ quan chức năng, các tổ chức và cộng đồng dân cư
Trang 17Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý môi trường trên địa bàn làng nghề huyện Thường Tín vẫn còn nhiều bất cập chưa được giải quyết Nhằm hướng tới
sự phát triển bền vững của làng nghề cần có những hướng đi đúng đắn, trong đó phải kể đến trước tiên là nâng cao hiệu quả quản lý môi trường làng nghề Chính
vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín, Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng QLMT ở các làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín Từ đó đề xuất các giải pháp để hoạt động quản lý môi trường làng nghề đạt hiệu quả hơn trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường làng nghề; + Đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Thường Tín;
+ Đề xuất định hướng và các giải pháp để tăng cường quản lý môi trường làng nghề ở huyện Thường Tín trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Các vấn đề liên quan đến hoạt động quản lý môi trường làng nghề:
- Các chủ trương, chính sách liên quan đến quản lý môi trường làng nghề
- Các tác nhân liên quan đến quản lý môi trường làng nghề
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các vấn đề liên quan đến công tác quản lý môi trường tại một số làng nghề chứ không phải tất cả các cơ sở sản xuất
1.3.2.2 Phạm vi thời gian
+ Thời gian làm luận văn: Tháng 05 năm 2016 đến tháng 05 năm 2017 + Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu: Trong 3 năm (2014 - 2016) + Phạm vi không gian: Huyện Thường Tín – Hà Nội
Trang 181.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1) Thực trạng quản lý môi trường làng nghề diễn ra như thế nào?
2) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề?
3) Những định hướng, giải pháp nào nhằm tăng cường quản lý môi trường làng nghề?
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
2.1.1 Các khái niệm
Môi trường
Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên Hợp Quốc (UNESCO) năm 1981 thì “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin ), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình”
Đối với con người thì môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh và có những tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người
Nguyễn Ngọc Sinh (1984) đã đưa ra định nghĩa: "Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội"
Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014) định nghĩa khái niệm môi trường như sau:
“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”
Khái niệm chung về môi trường trên đây được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau
Quản lý môi trường
Theo Lưu Đức Hải (2001), hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo một số tác giả, quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính là quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, các khu dân cư về môi trường Trong đó, nội dung thứ có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của hệ thống sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14000) và bảo vệ sức khỏe của người lao động, dân cư sống trong khu vực chịu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất Ngoài ra, quản lý môi trường còn được hiểu gồm ba khía cạnh: tổng hợp các biện pháp tiếp cận hệ thống tích hợp, tác
Trang 20động và điều chỉnh các hoạt động của con người, với mục đích chính là giữ cân bằng quan hệ giữa môi trường và phát triển, giữa nhu cầu của con người và chất lượng môi trường, giữa hiện tại và khả năng chịu đựng của trái đất – “phát triển bền vững” Từ đó, có thể tạm thời nêu ra một định nghĩa tóm tắt sau: Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lỹ xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện
cụ thể của vấn đề đặt ra Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi quy mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình
Dẫn theo Nguyễn Thế Chinh (2003), Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia Có thể nêu tóm tắt, quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có
hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên và hướng tới phát triển bền vững Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm: Thứ nhất, khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người Thứ hai, phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất và tuyên bố Johannesburg, Nam Phi về phát triển bền vững 26/8 – 4/9/2002 tái khẳng định Trong đó với nội dung cơ bản cần phải đạt được là phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học Thứ ba, xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
Làng nghề và tiêu chí làng nghề
Theo Lê Thị Minh Lý (2003), với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền
Trang 21với lịch sử thăng trầm của dân tộc Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần được qui về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, nghề thủ công, Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là xét từ góc độ văn hoá, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm "làng nghề" Cụ thể: “làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” Khái niệm về làng nghề theo cách nhìn văn hoá bao gồm các nội dung cụ thể, như: Là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan toả mạnh mẽ; Ổn định
về một nghề hay một số nghề có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm; Có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có
bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau; Sản phẩm vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn
là nó mang những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hoá và
xã hội liên quan tới chính họ
Dẫn theo Vũ Minh Huệ (2014), làng nghề Việt Nam, làng nghề thủ công, làng nghề truyền thống hoặc làng nghề cổ truyền thường được gọi ngắn gọn là làng nghề, là những làng mà tại đây hầu hết dân cư tập trung vào làm một nghề duy nhất nào đó, nghề của họ làm thường có tính chuyên sâu cao và mang lại nguồn thu nhập cho dân làng Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối lên kết về kinh tế , xã hội và văn hóa Khái niệm làng nghề được hiểu là làng tuy vẫn diễn ra hoạt động trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng đã có một số nghề phụ khác (Đan lát, làm tương làm đậu phụ) đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp, có phường hội, (có cơ cấu tổ chức nhất định), có ông trùm
có phó cả… cùng một số thợ phụ và phó nhỏ, đã chuyên tâm có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó, sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa có quan
hệ thông thương với thị trường trong nước và tiến tới mở rộng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Những làng nghề này ít nhiều đã nổi danh từ lâu, có quá khứ
Trang 22từ trăm ngàn năm, tên làng đã đi vào lịch sử, ca dao, tục ngữ … trở thành di sản văn hóa dân gian
Theo thời gian và sự biến đổi về kinh tế văn hóa… ta lại có khái niệm về làng nghề như sau: Những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông
Môi trường làng nghề
Nhắc tới môi trường làng nghề thì thường đề cập đến vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề Theo Luật bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2014), ô nhiễm môi trường làng nghề là hình thái ô nhiễm mang tính tập trung trong một thôn, làng hay xã Tại những khu vực này tập hợp nhiều hình thái ô nhiễm dạng điểm, thường là cơ sở sản xuất nhỏ ảnh hưởng trực tiếp tới không gian liền kề và lẫn trong khu sinh hoạt dân cư nên những ô nhiễm đó tác động trực tiếp tới sức khoẻ cộng đồng, trước hết là hộ sản xuất trực tiếp tạo ra ô nhiễm, nguồn lao động trực tiếp trong môi trường lao động bị ô nhiễm thường xuyên
Quản lý môi trường làng nghề
Từ khái niệm quản lý môi trường và làng nghề đã phân tích, tổng hợp ở trên Ta có thể rút ra rằng: “Quản lý môi trường làng nghề là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững làng nghề”
2.1.2 Sự cần thiết quản lý môi trường làng nghề
Quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường làng nghề nói riêng, suy cho cùng chính là để hướng tới sự phát triển bền vững, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia
2.1.3 Đặc điểm quản lý môi trường làng nghề
Làng nghề là một trong những nét văn hóa đặc thù trong đời sống của người dân nông thôn Việt Nam Hiện nay quản lý môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau:
Trang 23Theo Phan Như Thúc (2009), khái niệm “làng nghề” còn chưa được thống nhất giữa các cơ quan quản lý nhà nước; chưa phân định rõ ràng giữa làng nghề thủ công truyền thống và làng có nghề, thậm chí là làng sản xuất quy mô nhỏ Về phân bố, làng nghề chủ yếu tập trung tại nông thôn, một số làng nghề nằm ở khu
đô thị do quá trình đô thị hóa nhưng tập trung không đồng đều giữa các vùng, miền (tập trung ở ĐB Bắc Bộ – 60%) Nhìn nhận mặt tích cực không thể phủ nhận làng nghề đã góp phần phát triển kinh tế địa phương, giải quyết nhu cầu việc làm, giảm tệ nạn xã hội Tuy nhiên, tính chất của các làng nghề không giống nhau và có xu thế ngày càng tăng về số lượng các làng nghề tái chế phế liệu/chất thải, sản xuất sản phẩm nông nghiệp; các làng nghề thủ công truyền thống có nguy cơ giảm về quy mô sản xuất và số lượng Tác động của kinh tế thị trường nên sản xuất tại các làng nghề liên tục có biến động về sản phẩm dẫn đến biến động về công nghệ, nguyên liệu, chất thải; quy mô sản xuất tại các làng nghề mở rộng dẫn đến phát triển sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ ở khu vực nông thôn Quản lý môi trường làng nghề là một cơ cấu quản lý về khía cạnh môi trường của cấu trúc quản lý tổng thể của một tổ chức (doanh nghiệp, công ty, xí nghiệp, cơ quan, đơn vị sản xuất,…), bao gồm các phương pháp tổ chức, các thủ tục, nguồn nhân lực, vật lực và những trách nhiệm,… đủ khả năng thực thi môi trường trong suốt quá trình hoạt động của tổ chức, đánh giá tác động môi trường ngắn hạn và dài hạn của sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của tổ chức mình
Theo Phan Như Thúc (2009), quản lý môi trường làng nghề là thiết yếu, không thể thiếu được để tổ chức có khả năng nhìn thấy trước sự tiến triển thực thi môi trường sẽ diễn ra và bảo đảm sự tuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc tế về bảo vệ môi trường Quản lý môi trường làng nghề thu được kết quả tốt khi mà công việc quản lý môi trường được tiến hành cùng với các ưu tiên hàng đầu khác của tổ chức Quản lý môi trường làng nghề bao gồm các thành phần chủ chốt sau đây: (1) Xác định chính sách:
Xác định một chính sách quản lý môi trường làng nghề Chính sách này bao gồm các mục tiêu tổ chức liên quan tới hoạt động môi trường làng nghề Nó phải được tư liệu hoá, truyền đạt cho mọi cán bộ và cho quảng đại quần chúng (2) Giai đoạn quy hoạch:
- Xác định các lĩnh vực môi trường làng nghề và các yêu cầu pháp lý liên quan tới các hoạt động, các sản phẩm và các dịch vụ của công ty
Trang 24- Xây dựng và tư liệu hoá các mục tiêu và các đối tượng môi trường tại mỗi cấp tổ chức thích hợp Các giải pháp kỹ thuật và các quan điểm của các bên quan tâm phải được lưu ý tới
- Xây dựng một chương trình quản lý môi trường nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Định rõ trách nhiệm ở từng cấp tổ chức: tư liệu hoá và thông tin về những trách nhiệm này
- Cụ thể hoá các biện pháp và thời hạn đạt được các mục tiêu nêu ra
(3) Giai đoạn thực hiện:
- Cung ứng công nghệ, tài chính và nhân lực cần thiết cho các hệ thống quản lý môi trường làng nghề; chỉ định đại diện quản lý cụ thể
- Đào tạo và các phương pháp nâng cao nhận thức cho nhân viên
- Các quy trình truyền thông nội bộ và ra bên ngoài;
- Tư liệu hoá và kiểm soát tài liệu
- Kiểm soát việc vận hành hệ thống
(4.) Giai đoạn kiểm tra:
- Giám sát và đánh giá tiến trình vận hành cũng như việc thiết lập một chương trình quản lý môi trường làng nghề nhằm xác định sự tuân thủ theo các mục tiêu và các yêu cầu tiêu chuẩn và cung cấp thông tin cho việc thẩm định quản lý;
- Hoạt động phòng ngừa và sửa chữa trong trường hợp không tuân thủ và tư liệu hoá các hoạt động đó;
- Duy trì các hồ sơ môi trường, bao gồm cả các hồ sơ đào tạo, kiểm toán và các kết quả thẩm định
(5) Thẩm định của cấp quản lý:
Cấp quản lý phải thẩm định quản lý môi trường làng nghề
Theo Phan Như Thúc (2009), tổ chức thực hiện công tác quản lý môi trường làng nghề là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành môi trường ở mỗi quốc gia Các bộ phận chức năng của ngành môi trường bao gồm: bộ phận nghiên cứu
đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định pháp luật dùng trong công tác BVMT;
bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá thường kỳ chất lượng môi trường; bộ phận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường; bộ phận nghiên cứu,
Trang 25giám sát việc thực hiện công tác môi trường ở các địa phương, các cấp, các ngành Mỗi một quốc gia có một cách riêng trong việc tổ chức thực hiện công tác BVMT… Ở Việt Nam công tác môi trường làng nghề hiện nay được thực hiện ở nhiều cấp Quốc hội có “Ủy ban khoa học, Công nghệ và Môi trường” tư vấn về các vấn đề môi trường Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ và Vụ Khoa học Giáo dục Văn hóa xã hội có một cố vấn cao cấp về các vấn đề môi trường Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, có nhiều cơ quan khác như các cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhà nước, các tổ chức phi Chính phủ tham gia thực hiện công tác đào tạo, giám sát và nghiên cứu môi trường
* Tình hình sản xuất của các làng nghề
- Nguyên liệu cho sản xuất:
Dẫn theo Đặng Kim Chi (2005), nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên
Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Ví dụ, theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; Các làng nghề chế biến gỗ, mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ ga dụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác
Sự khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã làm cạn kiệt tài nguyên và gây ảnh hưởng tới môi trường sinh thái Việc sơ chế các nguyên liệu chủ yếu do các
hộ, các cơ sở sản xuất tự làm với kỹ thuật thủ công hoặc các máy móc thiết bị tự chế lạc hậu Do đó, chưa khai thác hết hiệu quả của các nguyên liệu, gây lãng phí tài nguyên
- Công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất
Theo Đặng Kim Chi (2005), hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã cũ, sử dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn
Trang 26không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dùng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng ga và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay ; làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ Bắc Ninh hiện nay đã đầu tư
11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy vanh, 500 máy khoan bàn, 500 máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt…
Bảng 2.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay
Trình độ kỹ thuật
Chế biến nông – lâm – thủy sản
Thủ công mỹ nghệ và vật liệu XD
Các ngành
DV
Các ngành khác
Nguồn: Đặng Kim Chi (2005)
Song nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh
Hơn nữa, các làng nghề hiện nay nhìn chung đều gặp khó khăn về mặt bằng cho sản xuất Tình trạng phổ biến nhất hiện nay là việc sử dụng luôn nhà ở làm nơi sản xuất Các cơ sở sản xuất lớn thì thường chỉ có lán che lợp fibrô xi măng, rơm rạ, lá mía, căng bạt… mang tính chất tạm bợ Các bãi tập kết nguyên liệu, kể cả các bãi, kho chứa hàng gần khu dân cư, tạm bợ, không đúng tiêu chuẩn môi trường (ví dụ như làng nghề tái chế nhựa Minh Khai, Hưng Yên; làng nghề tái chế chì Chỉ Đạo, Hưng Yên…)
Về nhà xưởng, các làng nghề chỉ có số ít (10 – 30%) các nhà xưởng kiên
cố, còn lại là bán kiên cố và tạm bợ Tỷ lệ đường giao thông tốt trong các làng nghề đa số chỉ chiếm trên dưới 20% Hệ thống cấp nước sạch chưa đáp ứng được
Trang 27cả cho sinh hoạt và cho sản xuất Chỉ có 60% số hộ nông dân dùng nước sạch theo các hình thức nước giếng khoan, nước mưa, nước giếng khơi, còn lại là dùng nước mặt ao hồ, sông, suối Do khai thác bừa bãi nên nguồn nước bị cạn kiệt Nước thải hầu như ít được xử lý nên gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm ngày càng nghiêm trọng Đặc biệt là trong những năm gần đây, quy mô sản xuất của nhiều làng nghề tăng lên, áp dụng nhiều biện pháp công nghệ có sử dụng hóa chất, thiết bị và nhiêu liệu… đã gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường sống
Như với các làng nghề của Hà Nội, những năm gần đây có sự hỗ trợ Ngân sách của nhà nước và sự đóng góp của nhân dân, cơ sở hạ tầng làng nghề đã có nhiều cải thiện Hệ thống đường giao thông rải nhựa có 10%, bê tông đạt 40% Tuy nhiên, còn 50% vẫn là đường cấp phối, mặt đường còn hẹp, sử dụng bừa bãi Nguyên vật liệu và phế thải đồ tràn cả ra đường, đường xá thường xuyên bị lầy lội khi mưa do hệ thống thoát nước chưa tốt, bụi mù mịt khu trời nắng… Đây cũng là tình trạng chung của nhiều làng nghề Việt Nam hiện nay Như vậy vừa gây mất vệ sinh, vừa bụi bẩn, ồn ào xung quanh, vừa không an toàn cho sản xuất, tạo điều kiện phát tán ô nhiễm môi trường nhiều và nhanh hơn (Đặng Kim Chi, 2005)
- Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất
Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất của làng nghề đang có nhiều bước tiến mới, nhất là trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay Các làng nghề đã thu hút một lực lượng lao khá đông đảo, chiếm gần 30% lao động nông thôn (hơn 10 triệu lao động)
Hiện nay, mỗi cơ sở chuyên làm nghề bình quân tạo việc làm ổn định cho
27 lao động thường xuyên, 8 – 10 lao động thời vụ Mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm cho 4 – 6 lao động thường xuyên, 2 – 5 lao động thời vụ Đặc biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động
Nhiều làng nghề đã thu hút hơn 60% lao động trong vùng và nhiều lao động
từ các vùng khác đến Ví dụ làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã giải quyết việc làm cho gần 2.430 lao động của xã và từ 5000 – 6000 lao động từ các vùng khác đến; hay làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh), cũng tạo việc làm cho hơn 4500 lao động tại chỗ và khoảng 1500 lao động từ vùng lân cận… (Đặng Kim Chi, 2005)
Theo Đặng Kim Chi (2005), do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử dụng chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất Mặt khác, nhiều
Trang 28sản phẩm có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là ở các làng nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ Trong các làng nghề truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ Với người lao động trực tiếp, thành phần đã tốt nghiệp phổ thông ở các cơ sở sản xuất và các hộ chuyên chiếm hơn 70%; còn đối với các hộ kiêm và các hộ thuần nông, lao động nghề chiếm từ 40 đến 70% mới tốt nghiệp cấp I và II, tỷ lệ hết cấp III chưa đến 20% Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế Có tới 1,3 – 1,6% trong số họ không biết chữ, trình
độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 – 8/12 Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5 – 69,89%, đối với các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43%
Theo Đặng Kim Chi (2005), đây là một trong những hạn chế có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề Trong lịch sử phát triển làng nghề các giai đoạn qua thì hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Cho đến nay, cùng với đó, một số hình thức sản xuất khác đã ra đời và phát triển phù hợp với xu hướng kinh tế mới Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: Tổ chức sản xuất Hợp tác xã; doanh nghiệp tư nhân;
hộ gia đình; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần Các hình thức này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau trong điều kiện kinh tế mới của nền kinh tế thị trường Song, hiện tại, hộ gia đình vẫn là hình thức tổ chức sản xuất phổ biến nhất trong các làng nghề Việt Nam
- Thị trường công nghệ mang một đặc tính riêng của các làng nghề Các thợ thủ công có khả năng tạo ra các công cụ sản xuất từ đơn giản đến phức tạp Quá trình chuyên môn hóa sản xuất là động lực cho ra đời các làng nghề chuyên chế tạo công cụ sản xuất cung ứng cho các làng nghề Ví dụ, có nơi chuyên sản xuất các loại máy móc (máy cắt, tráng bún miến, khuôn đúc hoa văn, máy nhào luyện đất, máy dệt…) cho các làng nghề Hiện nay, do tác dụng của cách mạng Khoa học Kỹ thuật, thị trường công nghệ đã dần chuyển giao công nghệ mới, hiện đại vào sản xuất Tuy nhiên, hiệu quả đạt được còn nhiều hạn chế, do điều kiện kinh tế xã hội của nước ta, nên nhiều công nghệ chủ yếu sử dụng lại công nghệ cũ của các nước
Trang 29khác, các hộ sản xuất sử dụng công nghệ cũ của các xưởng sản xuất lớn hơn gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến an toàn lao động (Đặng Kim Chi, 2005)
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ
hệ sản xuất ở nông thôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới Sản xuất hộ gia đình được khuyến khích và chiếm ưu thế đã tạo điều điều cho việc sử dụng lao động, tự do chọn nguyên liệu và sản phẩm, tăng gia sản xuất, lựa chọn thị trường và tiêu thụ sản phẩm Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị trường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ… Hiện nay, thị trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU… Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 562 triệu USD, trong đó cao nhất là các mặt hàng gỗ gia dụng và gỗ mỹ nghệ (Đặng Kim Chi, 2005)
- Giá trị sản lượng các làng nghề
Trong thời gian qua, các làng nghề Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới trong quá trình phát triển Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến năm 2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề trong cả nước đạt khoảng 40.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời gian này qua khảo sát đạt từ 7 – 9%/năm Cơ cấu các ngành nghề cũng đa dạng hơn, có sự chuyển dịch đáng kể, tăng tỷ trọng các ngành chế biến lương thực, thực phẩm và cơ khí, giảm tỷ trọng các ngành sản xuất vật liệu Các sản phẩm đã và đang dần bám sát nhu cầu và thị hiếu của thị trường Nhiều làng nghề mới được thành lập, nhiều làng nghề cũ đã đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề… Do đó giá trị sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm không ngừng tăng lên, dần xâm nhập các thị trường khó tính trên thế giới Một số tỉnh điển hình với giá trị sản lượng của các làng nghề cao như: Năm 2000 giá trị hàng hóa các làng nghề tỉnh Nam Định đạt 224 tỷ đồng, Bắc Ninh đạt 210 tỷ đồng, Hải Dương đạt
637 tỷ đồng, Hà Tây đạt tới 1045 tỷ đồng… (Đặng Kim Chi, 2005)
Trang 30Theo báo cáo của Hiệp hội làng nghề Việt Nam (5/2009): Giá trị sản xuất CN-TTCN của làng nghề trong vòng chục năm nay tăng từ 21-25% /năm Giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm qua liên tục tăng: từ 235 triệu USD năm 2001, lên 600 triệu USD năm 2006 và hơn
800 triệu USD năm 2008 và mục tiêu đề ra sẽ đạt 1,5 tỷ USD năm 2010 Các thị trường chủ yếu mà chúng ta hướng tới hiện nay như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Xingapo, Hồng Kông, Trung Quốc… Thực tế cho thấy các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU là các thị trường có nhiều tiềm năng cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
* Các nguyên tắc QLMT làng nghề
Tiêu chí chung của công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường làng nghề nói riêng là đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản
lý môi trường làng nghề bao gồm:
Hướng tới sự phát triển bền vững
Theo Lưu Đức Hải (2001), nguyên tắc này quyết định mục đích của việc quản lý môi trường làng nghề Nguyên tắc này cần được thể hiện trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trường, pháp luật và chính sách nhà nước, ngành và địa phương
Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia – vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường làng nghề
Theo Lưu Đức Hải (2001), môi trường không có ranh giới không gian, do vậy sự ô nhiễm hay suy thoái thành phần môi trường ở quốc gia, vùng lành thổ này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới quốc gia khác và các vùng lãnh thổ khác Để thực hiện được nguyên tắc này, các quốc gia cần tích cực tham gia và tuân thủ công ước, hiệp định quốc tế về môi trường, đồng thời với việc ban hành các văn bản quốc gia về luật pháp, tiêu chuẩn, quy định
Việc kết hợp các mục tiêu này được thực hiện thông qua các quy định luật pháp các chương trình hành động, các đề tài hợp tác quốc tế và khu vực
Quản lý môi trường làng nghề xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp
Trang 31Theo Lưu Đức Hải (2001), các biện pháp và công cụ quản lý môi trường làng nghề rất đa dạng: luật pháp, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, khoa học, kinh tế, công nghệ,… Mỗi một loại biện pháp và công cụ trên có phạm
vi và hiệu quả khác nhau trong từng trường hợp cụ thể Ví dụ để bảo vệ môi trường trong nền kinh tế thị trường, thì công cụ kinh tế có hiệu quả tốt hơn Trong khi đó, trong nền kinh tế kế hoạch hóa thì công cụ luật pháp và chính sách lại có các thế mạnh riêng Thành phần môi trường ở các khu vực cần bảo vệ thường rất đa dạng Do vậy, các biện pháp và công cụ bảo vệ môi trường áp dụng cần đa dạng và thích hợp với từng đối tượng
Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường tại làng nghề cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm
Theo Lưu Đức Hải (2001), phòng ngừa là biện pháp ít tốn kém hơn xử lý, nếu để xảy ra ô nhiễm Ngoài ra, khi chất ô nhiễm tràn ra môi trường, chúng có thể xâm nhập vào tất cả các thành phần môi trường, lan truyền theo các chuỗi thức ăn và không gian xung quanh Để loại trừ khỏi các ảnh hưởng của chất ô nhiễm đối với con người và sinh vật, cần phải có nhiều công sức và tiền của hơn
so với thực hiện các biện pháp phòng tránh
Người gây ô nhiễm phải trả tiền – PPP (Pulluter pays principle)
Theo Lưu Đức Hải (2001), đây là nguyên tắc quản lý môi trường do các nước OECD đưa ra Nguyên tắc được dùng làm cơ sở để xây dựng các quy định
về thuế, phí, lệ phí môi trường và các quy định xử phạt hành chính đối với các vi phạm về quản lý môi trường Dựa trên nguyên tắc này, các nước đưa ra các loại thuế suất như thuế năng lượng, thuế SO2,…
Nguyên tắc trên cần thực hiện phối hợp với nguyên tắc người sử dụng trả tiền, với nội dung là người nào sử dụng các thành phần môi trường thì phải trả tiền cho việc sử dụng và các tác động tiêu cực đến môi trường do việc sử dụng đó gây ra Phí rác thải, phí nước thải và các loại phí khác là các ví dụ để nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền
2.1.4 Nội dung quản lý môi trường làng nghề
2.1.4.1 Quy hoạch, quy định về quản lý môi trường làng nghề
Theo Lưu Đức Hải (2001), chính sách của nhà nước về quản lý môi trường làng nghề là các văn bản mang tính pháp quy thể hiện quan điểm, tư tưởng của nhà nước về vấn đề quản lý môi trường làng nghề và thông qua đó
Trang 32điều hành, quản lý các vấn đề liên quan quản lý môi trường làng nghề Các chính sách của nhà nước mang tính định hướng giúp quá trình thực hiện các vấn đề liên quan đến quản lý môi trường làng nghề được tốt hơn và nó coi như định hướng giúp các hoạt động về quản lý môi trường làng nghề đi theo mục tiêu đã được vạch sẵn, đưa ra các biện pháp sử lý giải quyết các vấn đề liên quan Do đặc điểm của môi trường làng nghề rất phức tạp liên quan đến nhiều mặt của cuộc sống nên quản lý môi trường làng nghề cần sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Hàng năm, Nhà nước có sửa đổi, bổ sung, ban hành chính sách mới về quản lý môi trường làng nghề cho phù hợp với tình hình thực tế và xu hướng thế giới Ở nhiều nước có các luật bảo vệ môi trường riêng cho từng thành phần môi trường tự nhiên, xã hội
Ví dụ, ở Mỹ ban hành luật kiểm soát ô nhiễm nước, không khí, luật nước sạch,…
Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, luật môi trường tạo ra khung pháp lý cho các quy định chi tiết dưới luật của các ngành chức năng như Bộ KHCN, Bộ Y
tế, Bộ Nông nghiệp & PTNT,… Các bộ luật môi trường thường được bổ sung, hoàn chỉnh và chi tiết hóa theo các quá trình phát triển kinh tế xã hội
Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 Trong giai đoạn 2011 - 2015, lần đầu tiên, Ban chấp hành Trung ương Đảng thể hiện quan điểm, chủ trương nhất quán của mình trong công tác BVMT bằng việc ban hành Nghị quyết Trung ương số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT Các chiến lược, kế hoạch, chương trình hành động trong giai đoạn mới tiếp tục được Chính phủ ban hành nhằm triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng như: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT, Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh
và nhiều chương trình, chiến lược, kế hoạch chuyên ngành khác
Ngay sau khi Luật bảo vệ môi trường năm 2014 được thông qua, hàng loạt văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật đã được ban hành Hiện nay, các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn đang tiếp tục được xây dựng hoàn thiện Nhìn chung, so với giai đoạn trước, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về BVMT đã được cụ thể hóa; đã có nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể điều chỉnh các lĩnh vực chuyên ngành về BVMT như: kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải; quản lý môi trường lưu vực sông (LVS); quản lý môi trường khu công nghiệp (KCN), làng nghề; quản lý môi trường biển và hải đảo; ĐDSH; quan trắc và
Trang 33thông tin môi trường; ưu đãi, hỗ trợ tài chính; phát triển công nghệ; xã hội hóa công tác BVMT, Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cũng được rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn Vấn đề tạo hành lang pháp lý cho công tác BVMT trong quản lý vùng, lĩnh vực liên ngành đã được chú trọng hơn, thông qua việc đẩy mạnh việc triển khai các đề án và chương trình trọng điểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: các Đề án BVMT đối với các LVS lớn (LVS Cầu, Nhuệ - Đáy); Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo Việt Nam Tiếp tục phê duyệt các đề án, chương trình mới như Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường; Đề án tổng thể BVMT làng nghề
Hộp 2.1 Tình hình xây dựng, ban hành hệ thống tiêu chuẩn,
quy chuẩn môi trường
Giai đoạn 2008 - 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, chuyển đổi và xây dựng mới 47 lượt QCVN; trong đó có 14 QCVN về chất lượng môi trường xung quanh (nước, không khí, trầm tích, tiếng ồn, độ rung) và 33 QCVN về chất thải (khí thải, nước thải, chất thải rắn, phế liệu, ) Trong năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã phối hợp với UBND Tp Hà Nội để xây dựng, ban hành 05 quy chuẩn riêng cho Thủ
đô Hà Nội theo Thông tư số 51/2014/TT-BTNMT ngày 05 tháng 9 năm 2014 Năm
2015, theo kế hoạch Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục rà soát, xây dựng và ban hành 18 QCVN để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong quản lý môi trường; nghiên cứu, rà soát và xây dựng 17 TCVN trong lĩnh vực môi trường
Nguồn: Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2011 – 2015,
Bộ TN&MT, 2015
Tại các địa phương, nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch cũng đã được xây dựng và triển khai thực hiện, như các quy định về BVMT trên địa bàn tỉnh, thành phố; kế hoạch BVMT hằng năm và 5 năm; quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố, Trong năm
2015, các địa phương cũng đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai Luật bảo vệ môi trường năm 2014
2.1.4.2 Tuyên truyền giáo dục, vận động ý thức bảo vệ môi trường và tổ chức thu gom, xử lý rác thải
Theo Lưu Đức Hải (2001), công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường làng nghề không chỉ dừng lại ở các sinh hoạt
Trang 34mang tính văn hoá, xã hội và nhân văn, mà còn là yếu tố quan trọng thúc đẩy tiến trình xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường làng nghề Trên cơ sở phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông đại chúng và các địa phương, công tác truyền thông môi trường đã được tiến hành một cách đa dạng
và thường xuyên thông qua các sự kiện, các cuộc thi, giải thưởng về môi trường, các lớp tập huấn, hội nghị, các mô hình tiến tiến về bảo vệ môi trường làng nghề các tin bài, phóng sự phản ánh về các vấn đề môi trường trọng điểm trong nước
và quốc tế Ở cấp Trung ương, hàng năm đều đã có văn bản hướng dẫn các ngành
và các địa phương tổ chức các sự kiện, chiến dịch truyền thông môi trường; phối hợp với các ngành liên quan đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức môi trường cho cộng đồng Đến nay, ở cấp Trung ương đã ban hành 09 Nghị quyết liên tịch về phối hợp BVMT với các tổ chức chính trị - xã hội, gồm:
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các hội khoa học và
kỹ thuật Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Liên minh các hợp tác xã Việt Nam, Trung ương - Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và Hội người cao tuổi Việt Nam; đã ký 03 Nghị quyết về phối hợp tuyên truyền BVMT với các cơ quan truyền thông đại chúng là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam
Theo Nguyễn Thế Chinh (2003), việc tăng cường giáo dục môi trường trong các trường học tiếp tục được chú trọng thông qua triển khai Đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân” Đã xây dựng được các chương trình, giáo trình, tài liệu tích hợp các nội dung BVMT, xây dựng các băng hình, truyện tranh, pano, áp phích về giáo dục BVMT phục vụ công tác giảng dạy, học tập trong các trường học trên phạm vi cả nước Đối với đối tượng là cộng đồng doanh nghiệp vấn đề nâng cao nhận thức, tạo các cơ chế, chính sách hỗ trợ năng lực kỹ thuật và tài chính là những yếu tố quan trọng nhằm cải thiện công tác BVMT tại các doanh nghiệp Trong giai đoạn 2011 - 2015, khá nhiều chương trình, dự án đã tích cực triển khai nhằm khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp từng bước đưa công tác BVMT vào các khâu hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu được nhiều kết quả khá tốt Thông qua các hoạt động đào tạo, truyền thông với sự tham gia của các lực lượng trong xã hội đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức BVMT của người dân, cộng đồng doanh nghiệp, các cấp, các ngành và toàn xã hội
Trang 35Cho đến nay, đã có nhiều loại hình được các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư phát triển vào lĩnh vực môi trường từ nhiều nguồn vốn, bước đầu hình thành hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích Một số lĩnh vực phát triển mạnh như: thu gom, vận chuyển rác thải, cơ sở xử lý rác thải; thu gom; xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; xử lý nước thải sinh hoạt quy mô nhỏ phân tán,… Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đang xem xét, ban hành Khung chính sách, pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường ở Việt Nam, Đề án phát triển mạng lưới doanh nghiệp dịch vụ môi trường đến năm 2020 và một số cơ chế, chính sách tài chính phát triển dịch vụ môi trường ở Việt Nam Tại các địa phương, việc thu gom rác thải đã triển khai đến tất cả các hộ gia đình, hộ sản xuất và các doanh nghiệp Người dân được hướng dẫn phân loại, đổ rác đúng nơi quy định và có đội thu gom rác thải hoạt động theo lịch trình nhất định Ngoài ra, hoạt động xử lý rác thải đang chuyển từ việc chôn lấp, đốt rác kiểu truyền thống sang hướng xử
lý bằng công nghệ hiện đại, xử lý triệt để và tiết kiệm năng lượng
2.1.4.3 Tổ chức các hoạt động quản lý môi trường làng nghề
Tổ chức thực hiện công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý môi trường làng nghề nói riêng là nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành môi trường ở mỗi quốc gia Các bộ phận chức năng của ngành môi trường bao gồm: bộ phận nghiên cứu đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định pháp luật dùng trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề; bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá thường kỳ chất lượng môi trường làng nghề; bộ phận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường làng nghề; bộ phận nghiên cứu, giám sát việc thực hiện công tác môi trường làng nghề ở các địa phương, các cấp, các ngành Trong công tác tổ chức quản lý môi trường làng nghề cần thực hiện:
a Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường và có sự tham gia của cộng đồng
Theo Nguyễn Thế Chinh (2003), việc kiện toàn hệ thống tổ chức quản
lý nhà nước về môi trường các cấp tiếp tục được đẩy mạnh trong giai đoạn
2011 - 2015 Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đầu mối trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường Chức năng quản lý môi trường một số lĩnh vực chuyên ngành như quản lý CTR, quản lý môi trường LVS, quản lý môi trường biển và hải đảo, quản lý và bảo tồn ĐDSH, được phân công cho các Bộ, ngành có liên quan cùng tham gia thực hiện Từ giai đoạn trước, để đáp ứng yêu cầu phân công quản lý nhà nước về môi trường,
Trang 36hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhà nước có các tổ chức, bộ phận chuyên môn BVMT Đến nay, ở Trung ương đã có 08 Bộ, ngành thành lập đơn vị có chức năng quản lý về môi trường theo ngành, lĩnh vực Ở cấp địa phương, đến nay, Chi cục BVMT đã được thành lập ở tất cả 63 tỉnh, thành phố, đã có 672/675 quận, huyện thành lập Phòng Tài nguyên và Môi trường; nhiều quận, huyện đã tăng cường cán bộ có chuyên môn môi trường cho phòng Tài nguyên và Môi trường Đa số các xã, phường giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường cho cán bộ địa chính kiêm nhiệm, một số ít nơi đã bố trí cán bộ chuyên trách; một số nơi giao nhiệm vụ này cho cán bộ văn phòng Ủy ban nhân dân xã, phường
b Quy hoạch quản lý môi trường làng nghề
Theo Nguyễn Thế Chinh (2003), theo đánh giá cụ thể của một số nhà nghiên cứu về diện tích sử dụng, về hạ tầng cơ sở tại các khu quy hoạch làng nghề thông qua các hoạt động cấp nước, thoát nước, cấp điện, hệ thống đường đi cũng như các hệ thống xử lý môi trường làng nghề của Việt Nam hiện nay hầu như chưa được quan tâm Nhìn chung, hiện trạng quy hoạch các làng nghề nước
ta diễn ra còn manh mún, chưa có kế hoạch cụ thể ở cấp tỉnh, thành phố
Hiện nay, một mô hình quy hoạch khác đang được triển khai là: Chính quyền địa phương và các hộ sản xuất trong làng nghề cùng xem xét phương án quy hoạch đưa khu vực sản xuất nghề ra khỏi nơi sinh hoạt của gia đình Địa phương sẽ quy hoạch khu đất riêng thuộc địa bàn của xã Các hộ gia đình sẽ được cho thuê đất chuyển chuyển xưởng sản xuất ra ngoài Hạ tầng cơ sở sẽ do địa phương và hộ nghề cùng góp vốn xây dựng Trong quá trình quy hoạch xây dựng môi trường làng nghề, chính quyền địa phương cần đặc biệt quan tâm đến việc chỉ đạo xây dựng cơ sở vật chất cho thu gom, xử lý chất thải của quản lý môi trường làng nghề Một khâu không thể thiếu trong quản lý môi trường là nghề là công tác quan trắc môi trường làng nghề nhằm theo dõi, đo đạc thường xuyên đối với một số chỉ tiêu, chỉ thị thành phần môi trường có tính hệ thống, để cung cấp các thông tin cần thiết về chất lượng của môi trường giúp cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường Tuy nhiên, để thực hiện công tác quan trắc thuận lợi cần có những đầu tư vào trang thiết bị quan trắc hiện đại Đây là yêu cầu khó khăn đối với cơ quan quản lý cấp xã, do đó cần huy động sự đầu tư của Nhà Nước và các
tổ chức trong và ngoài nước (Nguyễn Thế Chinh, 2003)
Trang 37c Xây dựng các quy định về lệ phí môi trường
Theo Lưu Đức Hải (2001), địa phương Sử dụng các công cụ kinh tế được
sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế
để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất có lợi cho môi trường Công cụ kinh tế có hai đặc điểm cơ bản sau:
+ Công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giá của các hành động làm tổn hại đến môi trường lên hoặc hạ giá cả của các hành động bảo
vệ môi trường xuống
+ Công cụ kinh tế dành khả năng lựa chọn cho các công ty và cá nhân hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ
Công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường được áp dụng trên các nguyên tắc
cơ bản đã được quốc tế thừa nhận là “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) và nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP)
- Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP) cho rằng: Những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát và phòng chống ô nhiễm Đồng thời nguyên tắc PPP “mở rộng” 1974 chủ trương rằng, các tác nhân ngoài việc tuân thủ các chi phí tiêu chuẩn đối với việc gây ô nhiễm còn phải bồi thường cho những người bị thiệt hại do ô nhiễm gây ra
- Nguyên tắc “Người được hưởng thụ phải trả tiền” (BPP) cho rằng những người được hưởng lợi từ việc chất lượng môi trường được cải thiện cũng phải trả một khoản tiền
* Các công cụ kinh tế
- Thuế và phí môi trường: Là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá cả sản phẩm theo nguyên tắc PPP Thuế và phí môi trường được sử dụng với hai mục đích: Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải
ra môi trường và tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước (Lưu Đức Hải, 2001)
- Giấy phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô nhiễm"
Cô ta gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp, v.v được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi trường" Công cụ này thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó có thể quy định quyền sở hữu như không khí, đại dương Công cụ giấy phép thích hợp cho việc áp dụng trong
Trang 38một số điều kiện nhất định như số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường với
tư cách là người mua và người bán giấy phép phải tương đối lớn để tạo được một thị trường mang tính cạnh tranh và năng động, chất ô nhiễm cần kiểm soát thải ra
từ nhiều nguồn nhưng gây tác động môi trường tương tự nhau, có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp (Lưu Đức Hải, 2001)
- Ký quỹ môi trường
Theo Lưu Đức Hải (2001), ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế dễ gây ra ô nhiễm môi trường Nội dung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền nào đó đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và công tác bảo vệ môi trường Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc xấp xỉ với kinh phí cần để khắc phục môi trường nếu doanh nghiệp gây ra ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường Ký quỹ môi trường thường được sử dụng đối với các hoạt động khai thác tài nguyên như khai thác than, dầu khí…
- Trợ cấp môi trường
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công- nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm Trợ cấp cũng khuyến khích việc triển khai các công nghề sản xuất có lợi cho môi trường Tuy nhiên, trợ cấp môi trường chỉ là biện pháp tạm thời vì nó gây ra sự không hiệu quả vì nó đi ngược với nguyên tắc PPP Vì vậy, công cụ này chỉ có thể thực hiện trong một thời gian cố định với một chương trình có hoạch định và kiểm soát rõ ràng thường xuyên (Lưu Đức Hải, 2001)
d Các hoạt động thu gom, xử lý chất thải ở các làng nghề
Theo Đặng Kim Chi (2005), với sự gia tăng dân số và sự phát triển mạnh
mẽ của các ngành nghề sản xuất đã làm gia tăng nhanh lượng chất thải phát sinh Chất thải ở các làng nghề tăng nhanh về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý hiện nay Theo đánh giá của Bộ TN&MT, tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải làng nghề, chất thải sinh hoạt do Công ty môi trường đô thị hoặc Công ty công trình
đô thị thực hiện Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải làng nghề, chất thải sinh hoạt phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm
Trang 39nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân, đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương Tuy nhiên, việc thu gom, vận chuyển ở khu vực nông thôn thường chỉ dừng lại tại điểm trung chuyển, do đó chưa giải quyết được toàn
bộ vấn đề thu gom rác ở khu vực này Việc phân loại chất thải tại nguồn chưa có chế tài áp dụng và không đồng bộ cho các công đoạn thu gom, xử lý Hiện công tác phân loại chất thải tại nguồn mới được thực hiện thí điểm tại một số phường của một số đô thị lớn Phần lớn chất thải làng nghề, chất thải sinh hoạt đô thị chưa phân loại tại nguồn mà thu gom lẫn lộn và vận chuyển đến bãi chôn lấp
Theo Đặng Kim Chi (2005), việc áp dụng các công nghệ xử lý chất thải ở các làng nghề còn nhiều vấn đề bức xúc Việc lựa chọn các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom chưa đủ căn cứ khoa học và thực tiễn có tính thuyết phục; công nghệ xử lý chất thải chưa đảm bảo kỹ thuật vệ sinh môi trường nên chưa thu được nhiều sự ủng hộ của người dân địa phương Tuy nhiên, có một thực tế việc xử lý chất thải ở các làng nghề đều gặp rất nhiều khó khăn do một số chính sách được ban hành nhưng thiếu cơ chế triển khai, hoặc văn bản hướng dẫn cụ thể triển khai, không hiệu quả, không thể phù hợp với thực tế Thêm vào đó, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về một số vấn đề then chốt đối với quản lý chất thải như: Nhân lực, bộ máy tổ chức, trình độ, các hướng dẫn kỹ thuật vẫn còn thiếu, dẫn đến các hoạt động khó triển khai, đặc biệt đối với công tác quản lý chất thải Để giải quyết tình trạng trên, các chuyên gia môi trường cho rằng, nhằm khuyến khích các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung,
xử lý chất thải làng nghề nói riêng, hiện các dự án xử lý chất thải làng nghề đang nhận được rất nhiều ưu đãi từ thuê đất đến các loại thuế, phí, tín dụng Một số nội dung ưu đãi cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường đã được Chính phủ, trình Quốc hội thông qua
e Các hoạt động thu nộp, sử dụng lệ phí môi trường và hoạt động vệ sinh môi trường của các hộ, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề
Theo Đặng Kim Chi (2005), các hoạt động thu nộp, sử dụng lệ phí môi trường của các hộ, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn hạn chế Chính quyền địa phương cần có biện pháp chế tài xử lý phù hợp để các hộ, các cơ sở sản xuất tại làng nghề tự giác đóng góp các khoản thu nộp, sử dụng lệ phí môi trường Các địa phương cần xây dựng lịch thu dọn vệ sinh môi trường định kỳ
ở các làng nghề Nhằm đảm bảo môi trường làng nghề luôn sạch sẽ giảm thiểu
ô nhiễm môi trường
Trang 402.1.4.4 Kiểm tra, điều chỉnh việc thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề Theo Nguyễn Thế Chinh (2003), trong những năm qua, hoạt động thanh tra, kiểm tra qua từng năm đều có những chuyển biến tích cực Công tác thanh tra, kiểm tra đã được triển khai một cách thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo được sự đồng thuận cao trong
xử lý các cơ sở vi phạm pháp luật về môi trường, được dư luận và xã hội đồng tình, ủng hộ Mặc dù tình hình chấp hành pháp luật về BVMT đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều hộ sản xuất vi phạm pháp luật về BVMT, tập trung vào các nhóm hành vi: thực hiện không đúng các nội dung báo cáo, cam kết BVMT đã được phê duyệt, xác nhận; quản lý không đúng quy định; tự ý điều chỉnh, thay đổi thiết kế, công nghệ của các công trình xử lý chất thải nhằm xả trộm chất thải không qua xử lý ra môi trường; xả nước thải, khí thải không đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường… Chính phủ cũng đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan quản lý môi trường ở địa phương phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT; qua đó đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc vi phạm nghiêm trọng
Tuy nhiên, công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT tại địa phương còn một
số tồn tại hạn chế như lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra còn mỏng, năng lực còn hạn chế; chưa được trang bị đầy đủ các trang thiết bị, phương tiện cần thiết và chưa được bố trí kinh phí tương xứng để hoạt động; các
vi phạm pháp luật về BVMT chưa được các địa phương xử lý kịp thời, thỏa đáng Thêm vào đó, các vi phạm pháp luật về BVMT ngày càng phức tạp, khó phát hiện trong khi hoạt động thanh tra còn bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính phải thông báo trước, chỉ làm việc trong
2.1.4.5 Đánh giá kết quả việc thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề
Theo Nguyễn Thế Chinh (2003), song song với việc xây dựng, hoàn thiện
bộ máy quản lý nhà nước về môi trường thì tại các làng nghề đã tổ chức có sự tham gia của cộng đồng trong việc quản lý môi trường làng nghề Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng tài nguyên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng khu vực Những người phải chịu tác động bao gồm những người sống, làm việc, học tập và người thường qua lại trong khu vực đó; do đó sự cần thiết phải có những ý kiến về những gì họ đang làm, những gì