Do đó việc nghiên cứu và sử dụng các sinh vật chỉ thị để đánh giá, kiểm soát và cải thiện môi trường đã đạt được nhiều thành tựu trên thế giới.. Tất cả các quần xã sinh vật đều chịu tác
Trang 1Xử dụng sinh vật chỉ thị trong
nghiên cứu đánh giá xử lý ô nhiễm
môi trường.
I.Đặt vấn đề:
Trong tất cả các hành tinh mà con người biết đến thì trái đất là hành tinh duy nhất có sự sống Vì vậy, trái đất còn được gọi là hành tinh xanh trong dải ngân hà Trước thập niên 50, loài người được sống trong một môi trường xanh thực sự Các hoạt động của con người tuy có tác động đến môi trường nhưng vẫn chưa vượt quá sức chịu đựng của nó Từ những năm 60 trở lại đây, khi dân số thế giới không ngừng tăng đặc biệt là sự bùng nổ dân số thế giới vào cuối thế kỉ 20 đã đẩy thế giới đứng trước áp lực nặng nề Đó là phải phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực để đáp ứng nhu cầu của con người Và chính những hoạt động đó đã gây nên sự biến đổi về khí hậu, suy kiệt các nguồn tài nguyên quý giá, còn chất lượng môi trường sống đất - nước - không khí ngày càng suy giảm Điều đó dặt ra một thách thức lớn cho tương lai của loài người
Loài người sử dụng đất để trông trọt và nhiều mục đích khác như: giao thông, dân cư,… Nhưng việc sử dụng cho hoạt động nông nghiệp là quan trọng nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và bảo vệ môi trường Để có được sản lượng cao trong nông nghiệp, con người đã không ngừng tác động vào đất bằng nhiều biện pháp kỹ thuật khác nhau khai thác hiệu quả độ phì của đất Việc tác động của con người đối với đất có thể làm tăng độ phì của đất nhưng cũng có thể làm suy thoái đất Sự thay đổi tính chất của đất sẽ tác động đến hệ sinh vật trong đất và ảnh hưởng đến hệ cây trổng, dẫn đến thay đổi năng suất và sản lượng của nông sản
Chính vì vậy ngày nay con người cũng đầu tư, nghiên cứu tìm ra những biện pháp bảo vệ và cải tạo môi trường đất Đã từ lâu các nhà khoa học thuộc các
chuyên môn khác nhau đã nhận thấy: những sinh vật bị các chất gây ô nhiễm hoặc
Trang 2các chất tự nhiên có nhiều trong môi trường tác động, có thể biểu hiện những dấu hiệu dễ nhận biết Do đó việc nghiên cứu và sử dụng các sinh vật chỉ thị để đánh giá, kiểm soát và cải thiện môi trường đã đạt được nhiều thành tựu trên thế giới Sinh vật chỉ thị là cá thể, quần thể hay quần xã có khả năng thích ứng hoặc rất nhạy cảm với môi trường nhất định.Các sinh vật chỉ thị có thể là một lòa hoặc một nhóm loài, có thể tương quan giữa các loài hoặc tổng số loài trong quần xã và chỉ
số đa dạng
II.Nội dung:
Cơ sở của việc sử dụng sinh vật chỉ thị môi trường:
Thành phần loài của một quần xã sinh vật được xác định bởi yếu tố môi trường Tất cả các quần xã sinh vật đều chịu tác động của môi trường sống, môi trường sống này cũng có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh đặc biệt bị tác động mạnh bởi các điều kiện vật lý và hóa học
Yếu tố tác động vào môi trường có thể hay không thể gây tác hại cho một sinh vật nào đó thì sinh vật này sẽ bị hay không bị loại trừ ra khỏi quần thể, nó trở thành sinh vật chỉ thj môi trường
Hiểu biết về tác động của môi trường lên cơ thể sống có thể xác định sự có mặt hoặc mức độ của nhiều chất trong môi trường
Như vậy cơ sở của việc sử dụng sinh vật chỉ thị môi trường dựa trên hiểu biết về khả năng chống chịu của sinh vật với các yếu tố của điều kiện sinh thái (yếu tố vô sinh) với tác động tổng hợp của chúng
Hai nhóm sinh vật được sử dụng nhiều để làm sinh vật chỉ thị trong quan trắc môi trường đất là động vật đất và thực vật.
*Quá trình hoạt động sống của động vật đất: xây tổ, đào hang (ngoại trừ tổ mối làm cho đất kết vón) làm tăng kết cấu của đất, tăng độ thoáng khí và giữ ẩm Trong các loài động vật sống trong đất thì giun đất được xem là động vật tiên phong, bởi vì hoạt động sống cùng với số lượng của chúng (1 ha có tới 2 500 000 con giun – theo Recssel) đã làm cho “đất được vun xới mãi mãi”
Trang 3-Giun đất (Oligochaeta) là một loài động vật đất Nếu phân loại theo kích thước thì
nó thuộc nhóm Macrofauna, là những động vật có kích thước lớn hơn 20mm, còn nếu phân loại theo dinh dưỡng thì giun đất thuộc nhóm động vật đất hoại sinh ăn xác, vụn hữu cơ thực vật (Saprophaga) Giun giữ vai trò quan trọng trong nhiều quá trình phân hủy xác vụn thực vật và chuyển hóa vật chất hữu cơ trong đất -Để sống được trong đất giun có cách di chuyển tích cực nhờ hoạt động chủ động đào hang và rãnh, để tìm kiếm thức ăn, nhận biết đồng loại, ghép đôi sinh sản và phát triển Vỏ cơ thể giun luôn luôn có dịch nhờn để dễ chuyển động, đồng thời giun còn có khả năng co thắt cơ thể để ép đất chặt lại và mở đường đi
-Tùy theo dặc điểm dinh dưỡng và độ sâu đất, giun đất được xếp thành 3 nhóm sinh thái khác nhau:
+ Thứ nhất là nhóm giun ở tầng thảm mặt đất, chỉ sống ở bề mặt và ăn thảm vụn thực vật
+ Thứ hai là nhóm ở đất đặc trưng, sống sâu trong lòng đất, ăn vụn hữu cơ
+ Cuối cùng là nhóm giun trung gian của 2 nhóm nêu trên, có thể sống trên mặt đất hoặc sống trong đất
-Giun sống nhờ vào các rễ, lá cây bị chết Giun lớn một ngày có thể đồng hóa được một lượng thức ăn nặng gấp nhiều lần cơ thể chúng và đương nhiên lượng thức ăn trong đất ấy có rất nhiều vi sinh vật Đại đa số chúng có thể đồng hóa phân hữu cơ,rác phần nào đã được phân giải trong đất
-Trong cuộc sống của mình, giun có thể tích lũy lá cây chết, các chất hữu cơ ở trong hang tổ của mình Những chất này sẽ được dần dần phân giải do vi sinh vật Những chất hữu cơ được vùi như vậy sẽ được phân giải nhanh hơn khi chúng ở
Trang 4trên lớp đất mặt.Như vậy giun có vai trò quan trọng ban đầu để sơ chế các chất xơ
sợi trong đất và phân giải chất hữu cơ trong đất
-Giun nuốt vào cơ thể những chất hữu cơ đã được phân giải và một phần đất Trong cơ thể giun, các chất hữu cơ và đất quyện vào nhau thành dạng viên rất mịn Những hạt mịn này sau khi giun bài tiết ra ngoài sẽ tạo điều kiện tốt cho việc cải tạo kết cấu đất và hoạt động của vi sinh vật Các hạt đất và xác thực vật sau nhiều lần chuyển qua ống tiêu hóa của giun đất được chế biến ép lại thành viên đất xốp,
làm cho đất có kết cấu hạt, rất thuận lợi cho sự phát triển của rễ cây Đây là tác
dụng thứ hai của giun đất, tác dụng này rất quan trọng.
-Trong ống tiêu hóa của cơ thể giun , xác vụn thực vật và chất hữu cơ trước hết được nghiền cơ học, sau đó lại tiếp tục phân giải hóa học nhờ nhiều loại dịch và men tiêu hóa Đáng chú ý là phân giun, đây là những hạt xốp, nhỏ hơn 1mm, có nguồn gốc hữu cơ, là môi trường thich hợp cho nhiều nhóm vi sinh vật có ích sinh sống và phát triển Ở hệ tiêu hóa của giun, thức ăn được phân giải một phần, một
số khác như xenlulo, kitin cón chưa được phân giải thì sẽ được tiếp tục phân giải nhờ hệ vi sinh vật sống trong hệ tiêu hóa của giun Những chất bài tiết của giun gồm một phần là những chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật đã được phân chia nhỏ, dễ biến đổi, một phần khác là những hợp chất chứa N từ cơ thể giun và vi sinh vật như mucoprotein, ure, axit uric (do các tuyến dưới da của giun) Những chất bài tiết của giun còn tạo một môi trường mới, làm tăng lượng N, P, K trao đổi, tạo điều kiện cho vi sinh vật cũng như cây trồng phát triển thuận lợi Ngoài ra, trong chất bài tiết còn có CaCO3 được luyện từ các tuyến đặc biệt của giun Nó giúp cho quá trình giữ độ pH ở mức thuận lợi Chất bài tiết của giun có chất bền vững, có sức giữ nước cao hơn đất bình thường Đẩy nhanh quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ thành các chất dinh dưỡng nuôi cây trồng Phân giun là một loại phân bón
đa yếu tố hỗn hợp với khối lượng lớn(có 25 – 120 tấn/ha/năm) Trong đó chứa chủ yếu là lân, đạm amon, 15,2% mùn, 0,15% đạm tổng số, 2,37% oxit canxi Giun đất
có vai trò cực kì quan trọng trong quá trình phân hủy xác hữu cơ, tạo mùn, tăng độ phì và cải tạo đất.Tất cả những điều kiện trên tạo cho đất tốt hơn Các tính toán khoa học cho thấy, nếu trung bình cứ một mét vuông mặt đất có được 150 con giun, thì hằng năm, 1 ha đất loại này sẽ được lượng giun sống trong đó cung cấp cho 120 tấn phân giun, mà trong đó có 20 tấn được đùn lên trên mặt
-Nhiều phân tích đã chứng minh đất có phân giun thì số lượng vi khuẩn, xạ khuẩn cao hơn đất không có phân giun 10 lần; còn tảo, nấm men, nấm mốc giảm một ít
Trang 5Các loại vi sinh vật khác nhau có ảnh hưởng không giống nhau: Azotobacter giảm,
vi khuẩn nitrat hóa tang, sự phân giải xenlulo của vi khuẩn tang, còn quá trình phân giải xenlulo của nấm mốc giảm Những vi khuẩn có nha bào như Bacillus cereus, Bacillus var, Mycoides khi thì tang lên 20 - 30 lần, khi thì giảm Sự tăng giảm này tùy thuộc từng loại giun
-Do có khả năng chuyển hóa xác hữu cơ thành phân hỗn hợp của giun đất mà chúng đang được sử dụng để xử lý rác thải sinh hoạt một cách khoa học và hiệu quả
-Hoạt động của giun còn phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu Nhiệt độ trung bình (25 –
30oC), độ ẩm (30 - 60%) thì giun hoạt động tốt.Nói chung giun có tác dụng tôt trong quá trình phân giải và mùn hóa chất hữu cơ Giun đã làm cho đát có cấu tượng tốt, tích lũy được chất dinh dưỡng như N, P, K cho cây trồng
-Dựa trên những hoạt động tích cực và có lợi cho đất của giun mà nó được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường đất Con người dùng giun đất để cải tạo và biến đổi nhanh độ phì nhiêu của đất, biến các vùng đất hoang cằn cỗi thành các vùng trồng trọt, phì nhiêu.Ở Tây Ban Nha chỉ sau 4 năm bón vôi và thả giun đất, đồng
cỏ mất sức sản xuất đã trở nên xanh tốt, cho năng suất cao hơn hẳn.Giun đất được dùng làm sinh vật chỉ thị cho nguồn gốc phát sinh và mức độ biến đổi của cảnh quan Các họ giun đất tốt có vùng phân bố xác định Trong các sinh cảnh tự nhiên, thường đặc trưng bởi các loài địa phương Trong các sinh cảnh nhân tạo số loài giun giảm sút rõ rệt với tỷ lệ lớn các loài từ vùng khác hoặc các sinh cảnh khác di chuyển đến Trong đất rừng có khoảng 30 loài giun đất Trong đất trồng cây lâu năm có ít loài giun nhất (14 loài) Giun đất còn được dùng để chỉ thị cho tính chất đất Giun đất có thành phần phần trăm số lượng và sinh khối cao hơn nhóm
Mesofauna khác ở các vùng đất cát ven biển, đất mặn, đất trồng cây lâu năm Đối với thành phần cơ giới có thể dựa vào các loài giun khác nha để đánh giá Giun quắn (pheretima posthuma) chỉ thị cho đất cát pha; ph.elongata chỉ thị cho đất có thành phần cơ giới nặng.Đối với hàm lượng mùn trong đất: ph.califonica và
ph.triastriata chỉ thị cho đất nghèo mùn Đối với pH đất: ph.morrisi và
ph.posthuma chỉ thị cho đất có phản ứng trung tính – ít chua (pHKCl = 6,0 – 7,5); còn ph.califonica và ph.triastriata chỉ thị cho đất chua (pHKCl = 4,5 – 6,0)
-Vai trò của giun đất thật vô cùng quan trọng, góp phần cải tạo độ phì nhiêu của đất, đúng như cách gợi rất hình tượng và chính xác của Darwin từ cuối thế kỉ XIX,
là “lưỡi cày muôn thủa cày đất”
Trang 6*Ngoài động vật đất, nhiều loài thực vật cũng được sử dụng làm sinh vật chỉ thị trong đánh giá môi trường Thực vật hút dinh dưỡng và khoáng chất từ đất nên khi thừa hay thiếu dinh dưỡng đều làm cây phát triển không bình thường có thể quan sát bằng mắt thường Qua đó có thể đánh giá môi trường đất về tình trạng các chất khoáng và các đặc điểm liên quan dựa và các biểu hiện trên thực vật Ta có thể dựa vào biểu hiện thiếu dinh dưỡng, biểu hiện ngộ độc khoáng và dựa vào các loài thực vật đặc trưng cho từng loại đất
-Những biểu hiện dinh dưỡng thông thường gồm 5 thể loại:
+Sự còi cọc
+Bệnh vàng lá là hiện tượng lá từ xanh đến vàng hoặc xuất hiện những đốm màu trắng hoặc vàng do thiếu dinh dưỡng cho quá trình quang hợp hoặc hình thành chất diệp lục
+Bệnh vàng lá giữa gân lá xảy ra khi thiếu một số chat dinh dưỡng như: Bo Fe,
Mf, Mn, Zn, Ni
+Sự xuất hiện màu đỏ tía trong thân và lá thực vật là do tích lũy anthocyanin khi các chức năng thực vật bị rối loạn thường lien quan đến thiếu P
+Hoại tử thường xảy ra trong giai đoạn cuối cùng của thiếu hụt dinh dưỡng, bộ phận thực vật bị tác động trở thành màu nâu xác chết
-Những biểu hiện thiếu từng chất dinh dưỡng ở thực vật:
+Thiếu N:
Lá bé nhỏ thường màu xanh nhạt, vàng nhạt rồi chuyển sang toàn cây
Biểu hiện xảy ra trên các lá già trước bắt đầu từ đỉnh lá, tiếp đó là các lá già dưới tán cây bị chết hoặc bị rụng
Tùy theo mức độ thiếu, thiếu nhiều lá già cơ thể hoại tử, sự đổi màu vàng từ đỉnh lá về phía cuống lá có dạng hình chữ V
Cây còi cọc, rút ngắn thời gian sinh trưởng, chin sớm, năng suất và chất lượng giảm, thiếu nhiều đạm cây có thể chết ngay từ nhỏ
Ở lúa triệu chứng thiếu đạm thường thể hiện ở nhiều giai đoạn, ứng dụng để bón phân theo màu lá
+Thiếu lân (P):
Thường thể hiện ở các lá già trước, lá cứng, phiến lá bé, cây có màu xanh tối (cả
lá và thân), những lá già hơn (bị tác động đầu tiên )có thể chuyển thành màu đỏ
Trang 7tím, màu đồng xỉn, lan từ đỉnh và mép lá trong và có thể lan khắp toàn lá hoặc toàn thân Trong một số trường hợp đỉnh lá chuyển màu nâu xác chết
Dấu hiệu thiếu P thường thấy ở thực vật non, bị khủng hoảng P thấy rõ ở cây ngô (hiện tượng huyết dụ ở cây ngô)
Cây có bộ rễ kém phát triển, chin muộn, năng suất thấp, phẩm chất hạt kém +Thiếu kali (K):
Không thể hiện ngay, ban đầu cây giảm sinh trưởng, sau đó thường thể hiện trên các lá già với đặc điểm: lá bị uốn cong với những đốm hoặc điểm màu vàng trên lá, mép lá bị úa vàng và khô dần, chop lá chuyển màu nâu rồi phát triển vào phía trong
Cây có than yếu, dễ bị đổ, kéo dài thời gian sinh trưởng, chậm chín, khả năng chống chịu điều kiện bất thường kém
+Thiếu Mg:
Biểu hiện trước tiên ở phần lá già của cây ở giai đoạn cuối của cây
Biểu hiện mất màu xanh ở phần thịt giữa các gân lá tạo thành các đốm lá vàng hoặc đỏ tía trong khi gân lá vẫn xanh
Sau một thời gian đốm đó chết và lá bị rụng sớm hiện tượng lan dần lên các lá phía trên (nếu thiếu trầm trọng)
Các cây thể hiện: ngô, lạc, đậu tương và dứa
+Thiếu Mo:
Giống thiếu đạm về biểu hiện
Biểu hiện thiếu Mo: lá màu nhợt nhạt, có thể bị quăn lại
Thiếu Mo thường thấy ở cây: họ đậu, bầu bí, cà chua, khoai tây, lạc, ngô, họ thập tự
+Thiếu S:
Giống thiếu N về biểu hiện
Cây dáng khẳng khiu, các lá non có màu xanh nhạt chuyển sang vàng sáng Hiện tượng vàng lá có thể xuất hiện toàn cây
Có thể phân biệt hiện tượng thiếu S ở thời lỳ đầu thường xảy ra trong những lá non hơn và trở nên màu xanh sang rồi chuyển sang vàng
Các cây: đậu tương, lạc, lúa, thuốc lá
+Thiếu Ca:
Trang 8Rễ cây phát triển chậm, ngắn như bị chặt cụt đầu, cây phát triển lá nhỏ với các vết hoại tử
Các lá non của cây mới trồng bị biến dạng, nhỏ, có màu xanh đậm, đỉnh lá khô, giòn, dễ gãy
Hiện tượng thiếu Ca thể hiện rõ ở cây: lạc, chuối, …
+Thiếu Bo:
Lá cây vàng, chồi cuối ( đỉnh sinh trưởng) bị chết làm không phát triển chiều cao
Bệnh vàng lá sau đó thành nâu tối, lá và thân của thực vật trở nên khô, giòn và
dị dạng, đỉnh lá dày và xoắn tròn
Các cây rau cà rốt bị nứt nẻ củ, củ cải xốp đen, rau bắp cải thiếu ruột, súp lơ có đốm nâu
Cây ăn quả có hiện tượng hóa bần
+Thiếu Fe:
Bệnh vàng lá ở giữa gân lá của các lá non
Khi thiếu nghiêm trọng toàn bộ lá có màu vàng sang và hoại tử
Thường thấy trên cây: họ hòa thảo, lúa, đậu tương, cây ăn quả
+Thiếu Zn:
Xuất hiện đầu tiên ở lá giữa với biểu hiện mất màu giữa gân lá
Những vùng mất màu trở nên xanh nhợt nhat, vàng hoặc trắng
Khi thiếu trầm trọng cây có lá nhỏ, màu trắng xám và chết
Cây thường thấy: lúa, nhô, cây ăn quả có múi, đậu rau
+Thiếu Cu:
Lá có màu vàng, thể hiện trên các lá non hay trắng đầu lá
Cây chậm lớn và chín muộn
Cây lương thực, ngũ cốc năng suất giảm và mẫn cảm với các loại bệnh, đặc biệt
là bệnh nấm
Cây thường thấy: hòa thảo, cây ăn quả, đặc biệt là lúa gao, lúa mì
+Thiếu Mn:
Mất màu giữa các gân lá nhưng không có ranh giới rõ, thường thể hiện trên các
lá non của cây
Các vết đốm màu xám trên yếu mạnh, vết đốm màu bùn trên cây đậu đỗ
Thiếu Mn thường thấy ở các loại rau
Trang 9-Biểu hiện ngộ độc khoáng chất:
+Cây thừa đạm lá có màu xanh đậm, mềm yếu, phát triển quá mức, kéo dài thời gian sinh trưởng, dễ mắc sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
+Ngộ độc N thường thấy trong những điều kiên khô hạn và có thể gây cháy lá (mép lá quăn)
+Thừa P tác động gián tiếp đến thực vật, có thể gây ra dấu hiệu thiếu nguyên tố Fe,
Mn, Zn
+Thừa S ảnh hưởng qua tác động của ngộ độc H2S: vàng giữa các gân lá mới mọc,
rễ thừa và có màu đen, rễ khỏe có màu nâu – da cam Các cây non đặc biệt mẫn cảm với ngộ độc S
+Ngộ độc Fe:
Thường xuất hiện sau khi trồng trên các lá phía dưới
Bắt đầu bằng những đốm nhỏ màu nâu bắt đầu từ đỉnh lá lan rộng ra bản lá, làm cho lá có màu nâu, da cam và chết
Cây còi cọc, giảm khả năng đẻ nhánh đâm chồi, cây có rễ thưa, bị hoại sinh (màu nâu đen – đen), nhưng rễ màu đỏ - da cam
Cây láu có khả năng chống chịu độc Fe mạnh
+Ngộ độc Mn:
Trên cá lá phía dưới của cây xuất hiện các đốm nâu vàng giữa các gân lá sau đó phát triển ra toàn bộ
Cây còi cọc, giảm đẻ nhánh
Lúa có sức chống chịu với ngộ độc Mn
+Ngộ độc Bo:
Ban đầu thể hiện bằng vàng đỉnh và mé lá già, rồi xuất hiên nhiều điểm màu nâu đen ở những chỗ mất màu xanh, sau đó trở thành nâu đen
Những đốm hoại tử có thể tập hợp lại những cụm lớn và khô đi
Đặc trưng bằng những đốm màu nâu hình elip trên lá
+Ngộ độc Al:
Triệu chứng đặc trưng: màu vàng úa, màu da cam giữa các gân lá, rồi các đỉnh
và mép lá sẽ bị héo chết
Hệ rễ kem phát triển, ức chế phát triển mầm, nhánh
+Ngộ độc nặm:
Trang 10Do thừa muối hòa tan trong đất, bốc hơi nước mặt, bốc hơi nặm từ nước ngầm, xâm nhập của nước biển
Tạo điều kiện cho Na+, Cl-, SO42- gây độc
Triệu chứng ngộ độc mặn đặc trưng: cây có đầu lá bạc trắng, sinh trưởng không bình thường, còi cọc
Những đốm úa vàng xuất hiện trên một số lá, giảm mọc chồi, đẻ nhánh
Triệu chứng xuất hiện ở lá trên sau đó lan rộng ra toàn bộ
+Ngộ độc im loại nặng:
Trong thực tế gặp nhiều nguyên tố kim loại năng không phải dinh dưỡng thiết yếu (Hg, Pb, Co, Cd, Sn, Cr,…) nên chúng có khả năng gây độc cao
Khả năng gây độc của nguyên tố kim loại phụ thuộc vào: hàm lượng, cách xâm nhập, dạng tồn tại và thời gian gây độc hại
Cần phân biệt độc môi trường và độc hại sinh thái, độc cấp tính, độc hại mãn tính.Độc hại cấp tính thường gây chết ở các sinh vật Độc hại mãn tính có thể làm tổn thương hoặc chết sinh vật
Ngưỡng độc kim lọa năng đối với sinh vật đất được gọi là giá trị C10, Dựa trên
cơ sở gảm 10% khả năng hô hấp của các quần thể sinh vật trong đất
Các kim loại năng có thể gây độc và ảnh hưởng đến số lượng cá thể và tính đa dạng về thành phần loài của các sinh vật
Kim loại năng ảnh hưởng trước hết đến thực vật bậc cao, gây bệnh đốm lá, giảm hoạt đông của diệp lục, giảm năng suất
Việc xây dựng ngưỡng độc hại đối với kim loại năng gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào mục đích sử dụng đất
-Thực vật chỉ thị cho các loại đất “có vấn đề”:
+Thực vật chỉ thị cho đất dốc, thoái hóa, chua:
Đất thường bị xói mon, thoái hóa do rửa trôi mạnh
Đất trở nên chua, chứa nhiều Fe3+, Al3+
Thực vật chỉ thị quan trọng nhất là: cỏ tranh, lau, sim, mua và một số cây đặc trưng khác
+Thực vật chỉ thị cho đất mặn:
Đất mặn là loại đất có chứa nhiều cation Na+ hấp phụ
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng đất mặn