1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện hoài đức, thành phố hà nội

133 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 345,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá thực trạng môi trường và công tác quản lý về môi trường

Trang 1

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ

Ngườ ưới h ng d n khoa h c:ẫ ọ TS Nguyễn Hữu Khánh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Chu Thị Thao

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hữu Khánh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thờigian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộmôn Kinh tế, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đãtận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức phòng Tài Nguyên vàMôi trường, phòng Kinh tế và phòng Thống kê huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đãgiúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Chu Thị Thao

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình, sơ đồ, biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis Abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở lý luận về quản lý môi trường làng nghề 5

2.1.1 Tổng quan chung về quản lý môi trường 5

2.1.2 Làng nghề và phân loại làng nghề 9

2.1.3 Nội dung quản lý môi trường làng nghề 13

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý môi trường làng nghề 23

2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý môi trường làng nghề 26

2.2.1 Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tại Việt Nam 26

2.2.2 Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tại một số tỉnh vùng Đồng Bằng Sông Hồng 30

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 34

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Hoài Đức 34

3.1.2 Đặc điểm đất đai – kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức 36

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 40

Trang 5

3.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 42

3.2.3 Phương pháp phân tích 42

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 43

Phần 4 Kết quả và thảo luận 45

4.1 Thực trạng quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thục phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức 45

4.1.1 Khái quát làng nghề chế biến nông sản thục phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức 45 4.1.2 Hệ thống luật pháp và văn bản có tính chất luật về bảo vệ môi trường làng nghề 50 4.1.3 Phân cấp quản lý trong bảo vệ môi trường làng nghề 54

4.1.4 Quản lý và sử dụng ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức 56

4.1.5 Quản lý quy hoạch phát triển hệ thống làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức59 4.1.6 Quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm 63

4.1.7 Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề 71

4.1.8 Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với làng nghề 72

4.1.9 Xã hội hóa công tác quản lý môi trường đối với làng nghề 76

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức 78

4.2.1 Cơ chế chính sách về quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm.78 4.2.2 Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm 80 4.2.3 Năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ công chức nhà nước 81

4.2.4 Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường làng nghề CBNSTP 82

4.2.5 Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm 83

4.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác qlmt làng nghề cbnstp trên địa bàn huyện Hoài Đức giai đoạn 2016-2020 84 4.3.1 Định hướng công tác quản lý môi trường làng nghề CBNSTP trên địa bàn

Trang 6

iv

Trang 7

4.3.2 Giải pháp nâng cao công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông

sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức giai đoạn 2016-2020 86

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 94

5.1 Kết luận 94

5.2 Kiến nghị 95

Tài liệu tham khảo 97

Trang 8

Chỉ thịKhu công nghiệpNghị quyếtQuyết địnhQuản lý môi trườngSản xuất

Trung ương

Ủy ban nhân dân

Vệ sinh môi trường

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Hoài Đức đến năm 2014 và quy hoạch sử

dụng đất đến năm 2020

Bảng 3.2 Dân số, lao động nông nghiệp, phi nông nghiệp của Hoài Đức từ năm 2013-2015

Bảng 3.3 GTSX các ngành kinh tế 2012- 2015

Bảng 3.4 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Bảng 3.5 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Bảng 4.1 Số liệu làng nghề trên địa bàn huyện Hoài Đức

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất tại cơ sở chế biến nông sản năm 2015

Bảng 4.3 Hiệu suất nguyên liệu của một số hoạt động sản xuất

Bảng 4.4 Mức độ ô nhiễm tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm

Bảng 4.5 Chính sách bảo vệ môi trường làng nghề

Bảng 4.6 Công tác triển khai các văn bản về BVMT làng nghề

Bảng 4.7 Tổng đầu tư bảo vệ môi trường của huyện Hoài Đức

Bảng 4.8 Các Cụm/Điểm công nghiệp được quy hoạch XD tại Hoài Đức

Bảng 4.9 Kiểm soát lượng nước thải một số làng nghề ở huyện Hoài Đức

Bảng 4.10 Chất lượng môi trường nước tại một số địa điểm của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm huyện Hoài Đức

Bảng 4.11 Nồng độ Asen trong nước ngầm ở một số làng nghề huyện Hoài Đức

Bảng 4.12 Lượng chất thải sinh hoạt và chất thải sản xuất

Bảng 4.13 Thành phần rác thải tại bãi rác làng nghề Dương Liễu

Bảng 4.14 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn của hộ sản xuất

Bảng 4.15 Chất lượng môi trường không khí tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm

Bảng 4.16 Công tác kiểm tra bảo vệ môi trường làng nghề huyện Hoài Đức

Bảng 4.17 Nội dung và hình thức tuyên tuyền bảo vệ môi trường làng nghề

Bảng 4.18 Công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường làng nghề tại các xã

Bảng 4.19 Kết quả thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường

Bảng 4.20 Trình độ cán bộ phụ trách môi trường làng nghề

Bảng 4.21 Đánh giá của người dân ở các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm về các vấn đề xã hội và môi trường

Bảng 4.22 Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1 Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề 12

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ hệ thống QLMT huyện Hoài Đức 55Biểu đồ 4.1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho quản lý môi trường làng nghề 59

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Chu Thị Thao

Tên Luận văn: “Quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội”.

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt

Nam Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng môi trường và công tác quản lý về môi trường ởkhu vực làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, từ đó đềxuất một số giải pháp quản lý và biện pháp bảo vệ môi trường làng nghề chế biến nôngsản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Cụ thể:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường làng nghề.+ Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn nghiên cứu

+ Đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài cũng khái quát đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu như phươngpháp chọn điểm, thu thập số liệu, tài liệu; phương pháp phân tích, thống kê mô tả, sosánh, khảo sát thực địa để làm rõ hơn thực trạng quản lý môi trường làng nghề CBNSTPtại địa phương

Kết quả chính và kết luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề CBNSTP Công tác QLMT làng nghề CBNSTP của huyện Hoài Đức bước đầu đã đạt được những hiệu quả, tuy nhiên còn tồn tại một số hạn chế như: Các văn bản chính sách còn thiếu đồng bộ, chưa cụ thể, thiếu tính lồng ghép; đầu tư kinh phí cho công tác QLMT còn dàn trải, không mang lại hiệu quả; công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ và gặp khó khăn về kinh phí; Công tác quản lý chất thải và kiểm soát mức độ ô nhiễm còn gặp nhiều khó khăn; Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật còn tồn tại nhiều hạn chế do đối tượng là người dân thiếu hiểu biết về pháp luật, nguồn kinh phí còn hạn chế.

Trang 12

Trong quá trình thực hiện công tác QLMT làng nghề CBNSTP có rất nhiều yếu tốảnh hưởng như: Cơ chế chính sách về QLMT làng nghề; bộ máy quản lý nhà nước vềmôi trường làng nghề; năng lực trình độ đội ngũ cán bộ công chức nhà nước; nhận thứccủa người dân; sự tham gia của cộng đồng.

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác QLMT làng nghề CBNSTP củahuyện Hoài Đức, đề tài đề xuất định hướng và một số giải pháp như sau:

Thứ nhất về định hướng: (1) Cần có các biện pháp khuyến khích đầu tư, đổi mớicông nghệ ; (2) Tăng cường công tác quản lý môi trường làng nghề CBNSTP ; (3) Phổbiến về sản xuất sạch hơn, nhân rộng mô hình thu gom, xứ lý rác thải ; (4) Tăng cườngmạnh mẽ vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội ; (5) Khuyến khích hình thành các hiệphội ngành nghề nông thôn

Thứ hai về đề xuất một số giải pháp gồm : (1) Giải pháp về chính sách, thể chế, luậtpháp ; (2) Giải pháp nâng cao năng lực tổ chức bộ máy nhà nước ; (3) Giải pháp về tàichính, đầu tư ; (4) Giải pháp về nguồn lực con người, tăng cường sự tham gia của cộngđộng ; (5) Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục ; (6) Giải pháp về công tác kiểm tra, thanhtra và xử lý vi phạm pháp luật ; (7) Khuyến khích đầu tư trang thiết bị, đổi mới côngnghệ và áp dụng khoa học và công nghệ

Cuối cùng, để các giải pháp đạt hiệu quả, tôi đưa ra kiến nghị với cơ quan Nhà nước, đối với huyện Hoài Đức và đối với cơ sở sản xuất Các kiến nghị này nếu được thực hiện tốt thì công tác QLMT làng nghề CBNSTP sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực hơn.

Các làng nghề ở nước ta thường mang tính tự phát, quy mô nhỏ, thiết bị sản xuấtthủ công, lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môi trường củacác chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh ở đó chưa cao Từ những hạn chế nêu trên dẫn đếntình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đã đến mức báo động, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến môi trường sống, sức khỏe đối với người dân trong làng nghề và người dânchung quanh các làng nghề

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Chu Thi Thao

Thesis title: “Environmental management village food processing agricultural products Hoai Duc district, Hanoi city”.

Major: Economic Management Code: 60.34.04.10

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives:

Based on the assessment of the state of the environment and the management of theenvironment in the village area of food processing agricultural products Hoai Ducdistrict, which proposed a number of solutions management and protection measures theenvironmental village food processing agricultural products Hoai Duc district, Hanoi.Specific:

+ Systemize theoretical basis and practical environmental management of the village.

+ Status of environmental management village food processing agricultural

products Hoai Duc district, Hanoi

+ Analysis of factors affecting the environmental management agricultural village food processing in the study area

+ Propose orientations and measures to improve environmental management of village food processing agricultural products Hoai Duc district, Hanoi

Materials and Methods:

Subject also generalizes characteristics and geographical generalization andmethodological methods in selecting the location, collection of data and documents;analytical methods, descriptive statistics, comparative, fieldwork to clarify the status ofenvironmental management village food processing agricultural products locally

Main results and conclusions:

Findings of the research showed that the situation of environmental management village food processing agricultural products Environmental management of village food processing agricultural products of Hoai Duc district has achieved initially effective, but there exist some limitations such as policy documents are not comprehensive, not specific can, lack

of integration; investment funds for environmental management are scattered and not effective; planning work is not comprehensive and funding difficulties; Waste management and control pollution levels are difficult; Inspection, examination and handling

Trang 14

of law violations exist many restrictions by object as people lack understanding of thelaw, funds are limited.

In the process of implementing environmental management village food processingagricultural products there are many factors that influence such policy mechanism for thevillage environmental management; State management apparatus village environment;qualifications staff of civil servants; awareness of the people; community involvement

To overcome the shortcomings and limitations of environmental managementagricultural processing village in Hoai Duc food, theme-oriented proposals and somesolutions are as follows:

The first is orientation: (1) There should be measures to encourage investment,innovation and technology; (2) Strengthening environmental management village foodprocessing of agricultural products; (3) Dissemination of cleaner production, replicationcollection and waste treatment; (4) Strengthen the role of strong political institutions-social; (5) To encourage the formation of associations of rural industries

The second are a number of solutions, including: (1) Solution policies, institutions and laws; (2) Solutions to improve the organizational capacity of state apparatus; (3) financial solution and investment; (4) The solution of human resources, strengthening community involvement; (5) The solution of propaganda and education; (6) The solution of the examination, inspection and handling violations of law; (7) To encourage investment in equipment, technology innovation and application of science and technology.

Finally, to achieve effective solutions, I made recommendations to the Stateauthorities, for Hoai Duc and for production facilities The recommendations, ifimplemented well, the environmental management of agricultural processing villages willachieve positive results

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Theo nhận định của các chuyên gia môi trường, Việt Nam là một trong nhữngquốc gia đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức liên quan đến vấn đề ô nhiễm vàsuy thoái môi trường Trong đó, ô nhiễm làng nghề là tác nhân chính hủy hoại môitrường và đe dọa tới sức khỏe của cộng đồng dân cư Nhiều năm trở lại đây, tìnhtrạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề ngày một trở nên nghiêm trọng hơn Giảiquyết vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề vẫn là bài toán khó đối với hàng trămlàng nghề ở nhiều vùng trên cả nước

Theo Báo cáo môi trường quốc gia cho thấy 100% mẫu nước thải ở các làngnghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm tạicác làng nghề được khảo sát năm 2013 đều có dấu hiệu ô nhiễm (Bộ Tài nguyên vàMôi trường, 2014) Môi trường khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sảnxuất, đặc biệt là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm do sử dụng nhiênliệu là than củi Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻcủa người lao động, dân cư làng nghề và một số khu vực xung quanh Tại một số làngnghề có đặc thù, xuất hiện các bệnh nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm khí độc

và kim loại nặng (Nguyễn Văn Công, 2009) Nhiều dòng sông chảy qua các làngnghề đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều cánh đồng lúa, cây trồng bị giảm năngsuất do ô nhiễm không khí từ các làng nghề

Theo nhận định của nhiều chuyên gia môi trường có ba nguyên nhân chính dẫnđến tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề:

Thứ nhất, về phía các cơ sở sản xuất, phần lớn các cơ sở sản xuất làng nghề

mang tính tự phát, quy mô nhỏ, chủ yếu là hộ gia đình Do các cơ sở sản xuất với quy

mô nhỏ, xen kẽ với khu vực dân cư sinh hoạt, mặt bằng chật hẹp nên không thể xâydựng hệ thống xử lý nước thải, rác thải, khí thải mà thải thẳng ra môi trường Bêncạnh đó, trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất còn thấp, thiết bị và công cụ sảnxuất còn lạc hậu, phần lớn là chế tạo trong nước hoặc mua lại thiết bị đã thanh lý củacác cơ sở công nghiệp (Đặng Kim Chi, 2001-2004) Các cơ sở sản xuất thường lựachọn quy trình sản xuất thủ công, dễ sử dụng, lao động trình độ thấp, sử dụng nhiênliệu rẻ tiền, hóa chất độc hại nhằm hạ giá thành phẩm Một vấn đề

Trang 16

thường gặp tại các làng nghề hiện nay là không áp dụng những tiến bộ khoa học kỹthuật mà sản xuất theo kiểu bí truyền, gia truyền nên cản trở việc áp dụng kỹ thuậtmới Những cơ sở có đầu tư đổi mới công nghệ thì do tốn kém nên cũng không đầu tư

hệ thống xử lý chất thải

Thứ hai, về người lao động, hầu hết người lao động có văn hóa thấp, học nghề

theo kinh nghiệm nên thiếu nhận thức về bảo vệ môi trường Do trình độ lao độngthấp kém nên dẫn đến hạn chế năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Người laođộng chưa có ý thức, hiểu biết về môi trường lao động, chỉ cần việc làm có thu nhậpcao hơn sản xuất nông nghiệp hoặc có thêm thu nhập lúc nông nhàn nên ngại học hỏi,không quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường Chính những hạn chế do trình độ thủcông, thiết bị lạc hậu, chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện nên tiêu hao nhiềunguyên liệu, làm tăng phát thải gây ô nhiễm nước, đất và không khí

Thứ ba là do trách nhiệm của các cơ quan quản lý, hầu hết các làng nghề cho tới

hiện nay vẫn chưa có quy hoạch môi trường đối với các cơ sở sản xuất, chưa cóchương trình quản lý giáo dục môi trường, tuyên truyền nâng cao nhận thức, hiểu biết

về tác động của ô nhiễm môi trường Hơn nữa, hiện nay nhà nước vẫn còn thiếu cácchính sách đồng bộ từ các văn bản về phát triển bền vững làng nghề (Nguyễn VănCông, 2009)

Hoài Đức là huyện nằm ở phía tây Hà Nội, từ lâu huyện đã nổi danh với nhữnglàng nghề đa dạng và phong phú Trên địa bàn huyện Hoài Đức có tổng số 51 làng cónghề, hầu hết các xã trong huyện đều có làng nghề truyền thống, trong đó có 12 nghềđược tỉnh công nhận (Sở Công thương thành phố Hà Nội, 2009) Huyện hiện có 10làng nghề chế biến nông sản thực phẩm với các sản phẩm chủ yếu là miến dong, bún,

mì gạo, bột sắn dây, xay xát, bánh kẹo tập trung tại 3 xã là Dương Liễu, Minh Khai

và Cát Quế Hiện tại, 3 xã là những vùng trọng điểm chế biến nông sản thực phẩmcủa thành phố Hà Nội Tuy nhiên, các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm củahuyện cũng gặp phải tình trạng chung về ô nhiễm môi trường làng nghề Hiện tại khuvực này đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do các hoạt động sản xuất chếbiến nông sản thực phẩm, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước thải và rác thải Các biệnpháp quản lý môi trường đã áp dụng cho các làng nghề chế biến nông sản thực phẩmtrên địa bàn huyện Hoài Đức chưa giúp cải thiện được tình hình do lượng thải ngàycàng lớn

Trang 17

Thực hiện phát triển bền vững các làng nghề đòi hỏi khu vực Nhà nước cần phảităng cường hơn nữa công tác quản lý của mình nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm

môi trường Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý môi trường làng

nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường làng nghề

+ Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn nghiên cứu

+ Đề xuất định hướng và các giải pháp nâng cao công tác quản lý môi trườnglàng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố HàNội giai đoạn 2016-2020

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà nước về môi trường, thực trạng môi trường và các cơ sởsản xuất tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm trên địa huyện Hoài Đức,thành phố Hà Nội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài Nội dungnghiên cứu chủ yếu của luận văn là các vấn đề về quản lý môi trường làng nghề chếbiến nông sản thực phẩm

Trang 18

1.3.2.2 Phạm vi về không gian

Đề tài được thực hiện tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm tại Huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

1.3.2.3 Phạm vi về thời gian

+ Thời gian thực hiện luận văn: Tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016

+ Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ

2011 đến 2015 Dữ liệu sơ cấp khảo sát năm 2015

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

2.1.1 Tổng quan chung về quản lý môi trường

2.1.1.1 Khái niệm

Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường Theo một

số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính là quản lýnhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môitrường

Quản lý môi trường (QLMT) được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luậtpháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, giáo dục Các biện pháp này

có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt

ra (Nguyễn Thế Chinh, 2003)

Có thể nêu tóm tắt, QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức, và hướng đíchcủa chủ thể QLMT lên các cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt độngphát triển trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhấtmọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu QLMT đã đề ra, phù hợp với luậtpháp và thông lệ hiện hành

Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể QLMT chính là việc

tổ chức thực hiện các chức năng của QLMT nhằm phối hợp mục tiêu và các động lựchoạt động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chungcủa hệ thống môi trường Việc sử dụng tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệthống là việc sử dụng có hiệu quả nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệthống môi trường trong điều kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận rủi ro

có thể xảy ra cho hệ thống

Thực chất của QLMT là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thôngqua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường

2.1.1.2 Mục tiêu của quản lý môi trường

Mục tiêu của quản lý môi trường là phát triển bền vững, giữ cho được sự cânbằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hộitạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hộimới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai Tùy thuộc vào

Trang 20

điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên củatừng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và cónhững ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực.

Theo chỉ thị 36 - CT/TW của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương ĐảngCộng sản Việt Nam đã đặt ra 5 mục tiêu cụ thể của công tác quản lý môi trường ViệtNam Thứ nhất là khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinhtrong các hoạt động sống của con người Thứ hai là hoàn chỉnh hệ thống văn bảnpháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế xã hộiphải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật bảo vệ môi trường Mụctiêu thứ ba được chỉ thị đề cập tới là tăng cường công tác quản lý nhà nước về môitrường từ Trung ương đến địa phương, công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ về môitrường Thứ tư, phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hộinghị Rio – 92 thông qua đó là tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; cảithiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người; bảo vệ sức sống và tính đadạng của trái đất; thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức mới vì sự phát triểnbền vững; tạo điều kiện để cho các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình;tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển bền vững; xâydựng khối liên minh toàn thế giới về bảo vệ và phát triển; xây dựng một xã hội bềnvững Mục tiêu cuối cùng mà chỉ thị đề ra đó là xây dựng các công cụ hữu hiệu vềquản lý môi trường quốc gia, các vùng lãnh thổ riêng biệt như xây dựng các công cụquản lý thích hợp cho từng ngành, từng địa phương tùy thuộc vào trình độ phát triển;hình thành và thực hiện đồng bộ các công cụ quản lý môi trường

2.1.1.3 Các nguyên tắc quản lý môi trường

Các nguyên tắc quản lý môi trường, trước hết, phải phản ánh các yêu cầu kháchquan của các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội đang chi phối quá trình quản lý môitrường Điều đó có nghĩa là muốn thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các nguyên tắcquản lý môi trường, cần phải nghiên cứu, nhận thức và vận dụng các quy luật kháchquan vào điều kiện cụ thể của đối tượng quản lý

Đối với nước ta, quản lý môi trường cần dựa vào những nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất là bảo đảm tính hệ thống Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất hệ

thống của đối tượng quản lý Dưới ánh sáng của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuậthiện đại, môi trường cần được hiểu như là một hệ thống động phức tạp, bao gồmnhiều phần tử hợp thành Các phần tử đó có bản chất tự nhiên và xã hội khác

Trang 21

nhau, bị chi phối bởi các quy luật khác nhau, hoạt động không đồng hướng, thậm chímâu thuẫn và đối lập nhau Nhiệm vụ của quản lý môi trường là trên cơ sở thu nhập,tổng hợp và xử lý thông tin về trạng thái hoạt động của đối tượng quản lý (hệ thốngmôi trường) đưa ra các quyết định quản lý phù hợp, thúc đẩy các phần tử cấu thànhhoạt động đều đặn, cân đối, hài hoà hướng tới mục tiêu đã định.

Thứ hai là bảo đảm tính tổng hợp Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở tác

động tổng hợp của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý Các hoạt động pháttriển thường diễn ra dưới nhiều hình thái rất đa dạng (hoạt động sản xuất, hoạt độngtiêu thụ, hoạt động thương mại, hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư, sinh hoạt vậtchất và tinh thần của các cộng đồng, v.v ) Dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc

độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động, trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu, đềugây ra tác động tổng hợp lên đối tượng quản lý (hệ thống môi trường) Vì thế, trongkhi hoạch định chính sách và chiến lược môi trường, trong việc đề ra các quyết địnhquản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng

Thứ ba là bảo đảm tính liên tục và nhất quán Môi trường là một hệ thống liên

tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng

và thông tin “chảy” liên tục trong không gian và thời gian Có thể nói, hoạt động của

hệ thống môi trường không phân ranh giới theo thời gian và không gian Đặc tính nàyquy định tính nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏikhông ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như bản lĩnh củaquản lý vĩ mô của Nhà nước

Thứ tư là bảo đảm tập trung dân chủ Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản

của quản lý kinh tế và quản lý xã hội Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấpkhác nhau Vì thế, cần phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung vàdân chủ trong quản lý môi trường Tập trung phải thực hiện trên cơ sở trong bàn bạc,quyết định các vấn đề có liên quan tới môi trường theo phương châm “dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra” Ngược lại, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tậptrung, không mâu thuẫn, đối với tập trung, tránh lãng phí nguồn lực của xã hội Tậptrung được biểu hiện thông qua kế hoạch hoá các hoạt động phát triển, ban hành vàthực thi hệ thống pháp luật về môi trường, thực hiện chế độ trách nhiệm của ngườiđứng đầu các các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình ở tất cả các cấp quản

lý, v.v Dân chủ được biểu hiện ở việc xác định rõ vị trí, trách nhiệm, quyền hạncủa các cấp quản lý, ở việc áp dụng rộng rãi kiểm toán và hạch

Trang 22

toán môi trường, ở sử dụng ngày càng nhiều các công cụ kinh tế vào quản lý môitrường nhằm tạo ra mặt bằng chung, bình đẳng cho mọi ngành, mọi cấp, mọi địaphương, ở việc tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức, ý thức môi trường chocác cá nhân và cộng đồng, v.v

Thứ năm là kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Các thành

phần môi trường như không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng,sông , hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồnthiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hìnhthái vật chất khác thường do một ngành nào đó quản lý và sử dụng Nhưng các thànhphần môi trường lại được phân bố, khai thác và sử dụng trên một địa bàn cụ thể thuộcquyền quản lý của một cấp địa phươn tương ứng Cùng một thành phần môi trường

có thể chịu sự quản lý song trùng Nếu không kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theongành và quản lý theo lãnh thổ thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý môitrường, tài nguyên thiên nhiên tiếp tục bị khai thác, sử dụng không hợp lý và lãng phí,môi trường tiếp tục bị suy thoái

Thứ sáu là kết hợp hài hoà các loại lợi ích Quản lý môi trường trước hết là

quản lý các hoạt động phát triển do con người (cá nhân hay cộng đồng) tiến hành, là

tổ chức và phát huy tính tích cực hoạt động của con ngườu vì mục đích phát triển bềnvững Con người, dù là cá nhân, tập thể hay cộng đồng, đều có những lợi ích, nhữngnguyện vọng và những nhu cầu nhất định Do đó, một trong những nhiệm vụ quantrọng của quản lý môi trường là phải chú ý đến lợi ích của con người, để khuyếnkhích có hiệu quả hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trườngcủa họ Lợi ích không những là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằmthoả mãn một nhu cầu nào đó mà còn là động lực to lớn nhằm phát huy tính tích cực,chủ đồng của con người, là phương tiện hữu hiệu của quản lý môi trường, cho nênphải sử dụng nó để khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường

Thứ bảy là tiết kiệm và hiệu quả Quản lý một đối tượng vô cùng quan trọng và

phức tạp như môi trường đòi hỏi những nguồn lực ngày càng nhiều trong khi phảibảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Giải pháp tối ưu choviệc nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về môi trường là thực thi tiết kiệm và tănghiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau của quản lýmôi trường: làm sao để với những nguồn vật chất và kỹ thuật, kinh tế và tài chính, lựclượng lao động xã hội, trình độ khoa học và công nghệ, v.v hiện có và

Trang 23

sẽ có trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, có thể khai thác, sử dụng tàinguyên một cách tốt nhất Đó chính là yêu cầu của nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quảcủa quản lý môi trường Nguyên tắc này có thể được thực hiện thông qua vịêc hoạchđịnh chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường của quốc gia, phù hợp với việc giảmtiêu hao tài nguyên và chi phí nguyên vật liệu bằng cách áp dụng kỹ thuật hiện đại,công nghệ tiên tiến có ít hoặc không có chất thải, cải tiến kết cấu sản phẩm, giảmkhối lượng và trọng lượng; sử dụng các vật liệu thay thế các tài nguyên khan hiếm,tận dụng và tái chế phế liệu; tiết kiệm lao động ở tất cả mọi khâu của quy trình quảnlý; bảo đảm đầu tư vật chất và tài chính có trọng điểm, tránh đầu tư dàn trải, phân tán,coi trọng đầu tư đồng bộ và có hệ thống cho quản lý môi trường.

2.1.2 Làng nghề và phân loại làng nghề

2.1.2.1 Giới thiệu chung về làng nghề

Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống về làng nghề Nhiều học giả đãđưa ra nhiều khái niệm về làng nghề khác nhau Dương Bá Phượng (2001) địnhnghĩa: “Làng nghề là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệpchiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông thôn”

Theo Bùi Văn Vượng (1998) thì “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổtruyền thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công.Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưngyêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyềnthống ngay tại làng quê mình”

Dù được định nghĩa như thế nào thì làng nghề trước hết phải là một thôn (làng)

và trong thôn (làng) đó có một nghề khác nông nghiệp, tách ra khỏi nông nghiệp,phục vụ chủ yếu cho cuộc sống của người dân

Như vậy, ta có thể định nghĩa làng nghề như sau: “Làng nghề là một thôn (làng)

có một nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập và nghề

đó thu hút đại đa số lao động trong làng đồng thời đem lại thu nhập chính cho ngườidân của thôn (làng) đó”

Một bộ phận không nhỏ trong làng nghề ở nước ta đó là các làng nghề truyềnthống Đối tượng này chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các làng nghề, khoảng 85% Làngnghề truyền thống là khái niệm bao hàm khái niệm về “làng nghề” và “nghề truyềnthống” Nghề truyền thống ở đây là những nghề cổ truyền, có lịch sử lâu đời

Trang 24

và còn duy trì được đến ngày nay Nghề truyền thống tạo nên nét văn hóa đặc trưngcho vùng nghề và cho cả dân tộc Như vậy, làng nghề truyền thống có thể được hiểu

là một làng nghề đã hình thành từ lâu đời và còn được duy trì đến ngày nay; sảnphẩm có tính cách riêng biệt đặc thù, có giá trị văn hóa lịch sử của địa phương đượcnhiều nơi biết đến, phương thức truyền nghề theo cha truyền con nối hoặc gia đình,dòng tộc Làng nghề truyền thống là một di sản văn hóa vật thể quan trọng trong nềnvăn hóa Việt Nam, những làng nghề như tranh dân gian Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng,

đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ đã và đang tạo nên vốn quý đó cho dân tộc

2.1.2.2 Phân loại làng nghề

Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích cực vàtiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc thù rất đadạng Vấn đề phát triển và môi trường của các làng nghề hiện nay đang có nhiều bấtcập và đang được chú ý nghiên cứu Muốn có được những kết quả nghiên cứu xácthực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiềukhía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề Bởi vậy, hệ thống phân loại cáclàng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học chonghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trườnglàng nghề

Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều cách để phân loại làng nghề Để phục vụ chomục đích nghiên cứu của đề tài, Luận văn lựa chọn 2 cách phân loại chính đó là phânloại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm và phân loại theo nguồn thải và mức độ

ô nhiễm

Theo Dương Bá Phượng (2001) cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hìnhsản phẩm có 6 nhóm ngành sản xuất chính với đặc điểm gây ô nhiễm môi trường nhưsau:

+ Nhóm làng nghề may đồ da, dệt vải, ươm tơ: Hiện tại cả nước có khoảng 173làng nghề thuộc nhóm này, chiếm 11,9% trong tổng số 1.450 làng nghề của cả nước,trong đó nghề dệt nhuộm chiếm đa số Có thể kể tên một số làng nghề nổi tiếng nhưlàng nghề dệt lụa Hà Đông (Hà Nội), làng gấm lụa Vân Phương, làng thổ cẩm MỹNghiệp Nhóm làng nghề này gây ô nhiễm môi trường nước và không khí là chủ yếu

do trong quá trình sản xuất phải sử dụng nhiều nước và hóa chất tẩy nhuộm cộng vớicác công đoạn đánh tơi, làm khô

Trang 25

+ Nhóm làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, dược liệu và nuôi trồng thủysản: Hiện tại cả nước có 208 làng nghề, chiếm 14,3% Sản phẩm chính của nhómlàng nghề này hết sức đa dạng và phong phú như miến, bún, bánh phở, bánh đa,tương, rượu, bánh kẹo, nước mắm, thuốc bắc Nhóm làng nghề này là nhóm nghề gây

ô nhiễm nước là chủ yếu

+ Nhóm nghề tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại đen và mầu ): Hiện chỉ cókhoảng 102 làng nghề tái chế phế liệu như làng sắt thép Đa Hội, làng giấy PhongKhê, làng sản xuất đồ đồng Vân Chàng Tuy có số lượng ít nhưng nhóm làng nghềnày lại đóng khối lượng sản phẩm và giá trị rất lớn cho nền kinh tế địa phương cólàng nghề Nhóm làng nghề này gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, môitrường đất và sự đa dạng hóa sinh học

+ Nhóm làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren: Đây là nhóm làng nghề có sốlượng nhiều nhất, với 606 làng nghề, chiếm 41,8% tổng số làng nghề của cả nước Đặcđiểm về sản phẩm rất đa dạng như sơn mài, khảm trai, đúc tượng, trạm khắc vàng bạc, đáquý, gốm, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, chạm khắc đá, tranh thêu Có thể lấy ví dụ một

số làng nghề tiêu biểu như làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh), làng nghề đồ

gỗ mỹ nghệ Đông Giao (Hải Dương), làng nghề mây tre đan Xuân Lai Phần lớn nhữnglàng nghề này có truyền thống lâu đời, các sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét vănhóa dân tộc Tuy nhiên, những làng nghề thuộc nhóm này cũng gây ô nhiễm cho môitrường không khí, môi trường đất và tạo ra chất thải rắn

+ Nhóm làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá: Tuy sốlượng còn ít nhất, chỉ chiếm khoảng 2,1% trong tổng số 1.450 làng nghề của cả nướcsong trong xu hướng nhu cầu về vật liệu xây dựng ngày càng gia tăng, đây là nhómlàng nghề đang có xu hướng phát triển Sản phẩm chủ yếu là cát, gạch ngói, vôi, đáxẻ Nhóm làng nghề này gây ô nhiễm môi trường không khí, chất thải rắn và sự đadạng sinh học

+ Nhóm làng nghề khác như cơ khí mỏ, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm lưỡicâu Đây là nhóm làng nghề ít gây ô nhiễm nhất, hoạt động của các làng nghề nhómnày mang tính không ổn định, theo thời vụ và có giá trị kinh tế thấp

Cách phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm có làng nghề ô nhiễm nặng,làng nghề ô nhiễm trung bình và làng nghề ô nhiễm nhẹ Căn cứ để xác định mức độ

ô nhiễm của làng nghề có thể minh họa ở hình sau:

Trang 26

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề từ 2 đến 5 lần

Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề nhỏ hơn 2

Khôn g Không ô nhiễm

Hình 2.1 Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012)Trong hai cách phân loại trên đây, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm có nhiều ưu điểm như:

Trang 27

+ Ngành sản xuất sẽ cho phép định hình được công nghệ sản xuất tương ứng,loại và lượng nguyên liệu sử dụng, từ đó đánh giá được trình độ công nghệ, trangthiết bị, lực lượng lao động.

+ Từ loại hình sản xuất và loại hình sản phẩm cũng sẽ xác định được các dạngchất thải tương ứng phát sinh trong dây truyền công nghệ cũng như dễ dàng ướclượng được thành phần, tải lượng các loại chất thải cũng như xem xét tác động củacác chất thải đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng

+ Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm còn có thể đề xuất đượccác giải pháp kỹ thuật và quản lý để xử lý, giảm thiểu ô nhiễm do chất thải của loạihình sản xuất đó gây ra

Như vậy, việc phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm vừa giúp choviệc quản lý sản xuất, vừa giúp cho việc quản lý bảo vệ môi trường thuận lợi hơn

2.1.3 Nội dung quản lý môi trường làng nghề

2.1.3.1 Nhà nước ban hành Luật và các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật về bảo vệ môi trường làng nghề

Từ sau khi có Luật BVMT năm 1993 và nhất là từ sau khi Luật BVMT năm

2005 ra đời, hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã được xây dựng và banhành Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BVMT đã được xây dựng để

áp dụng cho mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không phân biệt nằm trongkhu vực nông thôn, làng nghề, khu đô thị, công nghiệp hay các khu vực khác Dochưa tính tới những yếu tố đặc thù và khách quan của làng nghề, nhiều văn bản khi ápdụng vào khu vực sản xuất làng nghề không khả thi, hiệu lực triển khai rất thấp Một

số văn bản có liên quan tới bảo vệ môi trường làng nghề đã được ban hành đó là:

+ Ngày 24/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số132/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nôngthôn, trong đó quy định các đối tượng, loại hình ngành nghề nông thôn được khuyếnkhích, hình thức khuyến khích (ưu tiên, ưu đãi về đất đai; đầu tư, tín dụng; thuế, phí;thông tin thị trường; khoa học, công nghệ và môi trường ), cũng như giao tráchnhiệm cho các ngành, các cấp chính quyền địa phương và cơ sở sản xuất về xử lýchất thải, bảo đảm vệ sinh môi trường, thực hiện việc di chuyển cơ sở gây ô nhiễmmôi trường đến địa điểm thích hợp

Trang 28

+ Ngày 07/07/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ-CP vềPhát triển ngành nghề nông thôn, trong đó quy định một số nội dung liên quan đếnBVMT như quy hoạch tổng thể phát triển ngành nghề nông thôn gắn với BVMT; các

dự án đầu tư đòi hỏi nghiêm ngặt về xử lý ô nhiễm môi trường, bảo đảm yêu cầunghiên cứu, sản xuất sản phẩm mới thì được ưu tiên giao đất có thu tiền sử dụng đấthoặc thuê đất tại các KCN, CCN tập trung; các cơ sở, ngành nghề nông thôn di dời rakhỏi khu dân cư đến địa điểm quy hoạch được ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuêđất, thuế sử dụng đất và hỗ trợ kinh phí để di dời Về đầu tư, tín dụng có quy định:

“ngân sách địa phương hỗ trợ một phần kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử

lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”

+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số116/2006/TT- BNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn;

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 về việchướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ phát triển ngành nghề nôngthôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ trong đó cóquy định một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ bao gồm “Đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn”,với các quy định cụ thể về định mức hỗ trợ, nguồn tài chính hỗ trợ để triển khai thựchiện

Nhiều văn bản quy phạm pháp luật tuy không quy định cụ thể đối với làng nghềnhưng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả đối tượng làng nghề, trong đó quan trọng phải

kể đến là:

+ Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMTđối với nước thải; Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/01/2007 sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phíBVMT đối với nước thải; Thông tư liên tịch số 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT ngày18/12/2003 của liên Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thựchiện Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 của Chính phủ về phí BVMT đốivới nước thải; Thông tư liên tịch số 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT ngày 06/09/2007;

+ Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn;Thông tư số 13/2007/TT-BXD ngày 31/12/2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn

Trang 29

một số điều của Nghị định số 59/2007/NĐ-CP; Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn; Thông tư số39/2008/TT-BTC ngày 19/05/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-

CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn

Theo quy định của pháp luật, việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn quốc gia vềmôi trường do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, việc xây dựng và ban hành Quychuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường (chất lượng môi trường xung quanh và chấtthải) do Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm Bộ Tài nguyên và Môitrường đã nghiên cứu, xây dựng chuyển đổi hoặc ban hành nhiều Quy chuẩn kỹ thuậtquốc gia về môi trường, trong đó có các quy chuẩn thải và quy chuẩn chất lượng môitrường xung quanh Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được ban hành và ápdụng cho mọi đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; không phân biệt đối tượng cónằm trong làng nghề hay không

Một số quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đang được sử dụng:

+ QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt;

+ QCVN 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm;

+ QCVN 40:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp;

+ QCVN 19:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất vô cơ;

+ QCVN 26:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.Khi xây dựng các quy chuẩn này, mục tiêu là tập trung vào các đối tượng là cơ

sở sản xuất công nghiệp Vì vậy, trên thực tế khi áp dụng các Quy chuẩn kỹ thuậtquốc gia về môi trường đối với các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề đã gặpnhiều khó khăn do năng lực xử lý chất thải của các cơ sở này rất hạn chế Nếu căn cứtheo quy chuẩn thải hiện hành để áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chínhđối với các cơ sở trong làng nghề thì tất cả các cơ sở đều bị xử phạt, thậm chí không

ít trường hợp, mức xử phạt còn vượt quá năng lực thi hành của các cơ sở sản xuất.Mặc dù có vi phạm và bị xử phạt, các cơ sở đang vi phạm do những điều kiện

Trang 30

chủ quan và khách quan cũng không thể khắc phục ngay được tình trạng xả thải vượtquy chuẩn trong một thời gian ngắn Chính điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến tínhkhả thi và hiệu lực pháp lý của các quy định hiện hành.

2.1.3.2 Phân cấp quản lý trong bảo vệ môi trường làng nghề

Theo nghị định 19/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệmôi trường ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ thì trách nhiệm quản lý môitrường làng nghề của các cấp được quy định như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm quản lý môi trường của UBND cấp xã được quy định:

+ Lập, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bảo vệ môi trường làng nghề trên địa bàn để tổ chức thực hiện

+ Đôn đốc việc xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hương ước, quy ước của làng nghề

+ Bố trí cán bộ có kiến thức về pháp luật, quản lý môi trường theo dõi việc thựchiện công tác bảo vệ môi trường làng nghề; hướng dẫn hoạt động của tổ chức tự quản

về bảo vệ môi trường làng nghề

+ Ưu tiên bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phí khác chocông tác quản lý môi trường, đầu tư, sửa chữa, cải tạo các công trình hạ tầng kỹ thuậtbảo vệ môi trường tại các làng nghề được khuyến khích phát triển trên địa bàn

+ Quản lý, vận hành và duy tu, bảo dưỡng theo đúng quy định khi được bàn giao, tiếp nhận các dự án, công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường làng nghề

+ Thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật

về bảo vệ môi trường của các cơ sở trên địa bàn

+ Tuyên truyền, phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức cho người dân về tráchnhiệm bảo vệ môi trường; hướng dẫn các cơ sở tận thu, tái chế, tái sử dụng và xử lýtại chỗ các loại chất thải

+ Công bố thông tin về hiện trạng môi trường, công tác bảo vệ môi trường làngnghề trên các phương tiện thông tin của địa phương, thông qua các đoàn thể, tổ chứcchính trị - xã hội tại địa phương và trong các cuộc họp Ủy ban nhân dân, Hội đồngnhân dân cấp xã

+ Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác bảo vệ môi trường, tình hìnhphát sinh và xử lý chất thải của làng nghề trên địa bàn định kỳ một năm một lần trướcngày 30 tháng 10 hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu

Trang 31

Thứ hai, trách nhiệm quản lý môi trường làng nghề của cấp huyện được hướng

dẫn trong nghị định như sau:

+ Thực hiện điều tra, thống kê, lập danh sách làng nghề, làng nghề đượckhuyến khích phát triển, cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích pháttriển tại làng nghề trên địa bàn; chỉ đạo cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện xemxét thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với các cơ sở sản xuất tronglàng nghề không thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng, không bảo đảm khoảng cách đối với khu dân cư

+ Đôn đốc, phê duyệt, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện và kiểm traviệc thực hiện phương án bảo vệ môi trường làng nghề

+ Chỉ đạo xây dựng và kiểm tra, theo dõi việc thực hiện nội dung bảo vệ môi trường trong hương ước, quy ước của làng nghề

+ Rà soát, đề xuất quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung hoặc bố trí khuchăn nuôi, khu sản xuất tập trung bên ngoài khu dân cư đáp ứng các quy định về bảo

vệ môi trường để lập kế hoạch, tổ chức thực hiện việc di dời cơ sở sản xuất khôngthuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khudân cư

+ Ưu tiên phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường cho công tác quản lý môitrường, kinh phí từ các nguồn khác để đầu tư, xây dựng, nâng cấp, cải tạo các côngtrình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường cho các làng nghề được khuyến khích pháttriển

+ Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trên địa bàn

+ Tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; tổ chứccác hoạt động khuyến khích cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ áp dụng các giải phápsản xuất sạch hơn, công nghệ thân thiện môi trường, thu gom và tái chế chất thải

+ Công bố thông tin về hiện trạng môi trường, công tác bảo vệ môi trường làngnghề trên các phương tiện thông tin của địa phương và trong các cuộc họp Ủy bannhân dân, Hội đồng nhân dân cấp huyện

+ Tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác bảo vệ môi trường,tình hình phát sinh và xử lý chất thải của làng nghề trên địa bàn định kỳ một năm mộtlần trước ngày 30 tháng 11 hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu

Trang 32

Thứ ba, trách nhiệm quản lý môi trường làng nghề của UBND cấp tỉnh được

quy định:

+ Tổng hợp, công bố danh sách làng nghề, làng nghề được khuyến khích pháttriển, các cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển; kế hoạchphát triển làng nghề, kế hoạch chuyển đổi ngành nghề hoặc di dời ra khỏi khu dân cưđối với cơ sở sản xuất không thuộc ngành nghề được khuyến khích phát triển gây ônhiễm môi trường trên địa bàn

+ Phân bổ kinh phí từ ngân sách địa phương cho hoạt động bảo vệ môi trườnglàng nghề Ưu tiên phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường và các nguồn kinh phíkhác cho công tác quản lý môi trường và đầu tư xây dựng công trình bảo vệ môitrường, cải tạo, nâng cấp công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường cho các làngnghề được khuyến khích phát triển

+ Xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và tổ chứcthực hiện cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với các cơ sở sản xuất thuộc ngànhnghề được khuyến khích phát triển; cơ chế, chính sách hỗ trợ cơ sở gây ô nhiễm môitrường phải di dời ra khỏi khu dân cư hoặc chuyển đổi ngành nghề sản xuất

+ Bảo đảm các điều kiện về bảo vệ môi trường trong việc công nhận làng nghề

+ Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề, xây dựng kế hoạch xử lý ônhiễm môi trường làng nghề, bao gồm:Thống kê lượng nước thải, khí thải, chất thảirắn thông thường, chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các cơ sở trong làng nghề; Đánhgiá mức độ ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, đất và không khí xung quanh;Lập và triển khai biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề

+ Chỉ đạo quy hoạch, phê duyệt và đầu tư kinh phí xây dựng hạ tầng kỹ thuậtbảo vệ môi trường cho các làng nghề được khuyến khích phát triển; quy hoạch khucông nghiệp, cụm công nghiệp tập trung hoặc khu vực chăn nuôi, khu sản xuất tậptrung bên ngoài khu dân cư đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường để di dời các

cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư

+ Quản lý việc thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý chất thải nông thôn, chất thải phát sinh từ hoạt động của các cơ sở trong làng nghề

+ Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trườngcủa các cơ sở sản xuất trên địa bàn

Trang 33

+ Công bố thông tin về hiện trạng môi trường, công tác bảo vệ môi trường làngnghề trên các phương tiện thông tin của địa phương và trong các cuộc họp Ủy bannhân dân, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

+ Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác bảo vệ môi trường, tìnhhình phát sinh và xử lý chất thải của làng nghề trên địa bàn một năm một lần trướcngày 30 tháng 12 hằng năm hoặc đột xuất theo yêu cầu

2.1.3.3 Quản lý và sử dụng ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường làng nghề

Kinh phí từ Trung ương hoặc địa phương dành chi trực tiếp cho hoạt độngBVMT làng nghề rất hạn chế Tại các bộ/ngành, địa phương, trong khoản chi 1% tổngchi ngân sách nhà nước cho BVMT hàng năm cũng chỉ dành một phần nhỏ kinh phí

để triển khai các hoạt động BVMT làng nghề, tuy nhiên, có rất ít báo cáo từ các Bộ,ngành và địa phương đề cập chính xác đến con số này, vì vậy không thể tổng hợpđược con số thực chi từ ngân sách nhà nước cho hoạt động BVMT làng nghề

Bên cạnh đó, việc đầu tư và sử dụng các nguồn kinh phí cho hoạt động xử lýchất thải và BVMT làng nghề còn dàn trải, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả Từ nguồnngân sách nhà nước và hỗ trợ của các dự án quốc tế, tại một số Bộ, ngành (Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài nguyên và Môitrường; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuậtViệt Nam; Hội Nông dân Việt Nam….) và địa phương, các mô

hình thử nghiệm về xử lý chất thải, quản lý môi trường, huy động sự tham gia củacộng đồng trong công tác BVMT, đã được triển khai và một số mô hình đạt kết quảtốt, được cộng đồng và chính quyền địa phương hoan nghênh, đánh giá cao, nhưngviệc duy trì tính bền vững và nhân rộng mô hình lại rất khó khăn và bất cập

Bộ Tài nguyên và Môi trường, với trách nhiệm là cơ quan chủ trì thực hiện “Dự

án kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề” (giai đoạn 2009-2012) theo Quyết định

số 328/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hiện đang tập trung xây dựng hànhlang pháp lý cần thiết cho công tác QLMT làng nghề, trong đó quan trọng nhất là xâydựng và ban hành được một văn bản riêng, quy định cụ thể trách nhiệm của các tổchức, cá nhân, chính quyền địa phương các cấp trong công tác QLMT làng nghề; xâydựng lộ trình và hệ số áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cho các hộsản xuất trong làng nghề; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật quản lý và xử lý chất thảilàng nghề; đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVMT làng nghề.Việc triển khai thực hiện các văn bản, quy định nêu trên cũng

Trang 34

như triển khai xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề là nhiệm vụ rất to lớn,lâu dài; đòi hỏi phải có sự đầu tư tương xứng và sự tham gia tích cực, chủ động củanhiều Bộ, ngành và các địa phương có liên quan.

Ngoài ra, Quỹ BVMT Việt Nam đã triển khai cho vay với lãi suất ưu đãi đối vớimột số dự án về xử lý chất thải làng nghề, nghiên cứu và triển khai các công nghệthân thiện môi trường (như dự án chuyển đổi từ lò nung gốm sử dụng than sang lònung bằng gas tại làng nghề Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP.Hà Nội) Tuy nhiên, donguồn vốn rất hạn hẹp, nên sự hỗ trợ và đầu tư của Qũy cho công tác BVMT làngnghề cũng rất hạn chế

Các khoản thu phí BVMT đối với nước thải, chất thải rắn theo quy định tại cácNghị định số 67/2003/NĐ-CP, 04/2007/NĐ-CP, 26/2010/NĐ-CP và Nghị định số174/2007/NĐ-CP đã tạo thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương, góp phần chi đầu

tư giải quyết các vấn đề môi trường đồng thời giúp người dân có trách nhiệm hơntrong việc xả thải của mình

2.1.3.4 Quản lý quy hoạch phát triển hệ thống làng nghề

Quy hoạch có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh

tế xã hội nói chung và phát triển làng nghề nói riêng tại các địa phương Để phát triểnbền vững các nhà hoạch định chính sách cần đánh giá một cách tổng quát và đưa racác chính sách và quy hoạch sản xuất làng nghề phù hợp với các yếu tố khách quan

và chủ quan của địa phương

Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, cấp nước,thoát nước, thông tin liên lạc là yếu tố tạo điều kiện cho sự phát triển sản xuất, khaithác và phát huy tiềm năng vốn có của làng nghề Đảm bảo cho việc cung cấp nguyênliệu, tiêu thụ sản phẩm, cũng như mở rộng quy mô, áp dụng khoa học kỹ thuật, côngnghệ vào sản xuất đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi trường tại cáclàng nghề là vấn đề môi trường chưa được đề cập đầy đủ và quan tâm đúng mựctrong quy hoạch phát triển làng nghề

2.1.3.5 Quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề

Quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề, xây dựng kếhoạch xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề, bao gồm:

-Thống kê lượng nước thải, khí thải, chất thải rắn thông thường, chất thải rắnnguy hại phát sinh từ các cơ sở trong làng nghề;

Trang 35

- Kiểm soát mức độ ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm, đất và không khí xung quanh;

- Lập và triển khai biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề.Quản lý chất thải và kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề có vai tròquan trọng trong công tác quản lý môi trường làng nghề Từ kết quả đánh giá có thểcho các cấp quản lý thấy được mức độ ô nhiễm tại các làng nghề tới đâu; có ảnhhưởng tới môi trường xung quanh như thế nào; ảnh hưởng tới sức khỏe của cộngđồng dân cư ra sao Đây là căn cứ để các cấp quản lý đưa ra các giải pháp quản lýhiệu quả hơn nhằm khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường do sản xuất làngnghề gây ra

2.1.3.6 Công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

Theo Thông tư 46/2011/TT-BTNMT “Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề” của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2011 đã

quy định trách nhiệm bảo vệ môi trường của các cấp, trong đó chức năng thanh tra,kiểm tra của các cấp được quy định như sau:

+ UBND cấp xã: “Tổ chức kiểm tra, hướng dẫn cơ sở thực hiện quy định củapháp luật về bảo vệ môi trường và xử lý vi phạm theo thẩm quyền; tham gia đoànthanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở trên địa bàn theo yêu cầu của cơ quan cấp trên”

+ UBND cấp huyện: “Tiến hành kiểm tra, thanh tra và tổ chức việc đăng kýhoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc đăng ký Cam kết bảo vệ môitrường, Đề án bảo vệ môi trường đơn giản đối với các cơ sở trong làng nghề theo quyđịnh”

+ UBND cấp tỉnh: “Điều tra, phát hiện và xử lý vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở trong làng nghề”

+ Sở Tài nguyên và Môi trường: “Chủ trì hoặc phối hợp với Ủy ban nhân dâncấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thanh tra, kiểm tra và hướng dẫn cơ sởthực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở tronglàng nghề theo thẩm quyền Giám sát việc thực hiện công khai thông tin về bảo vệmôi trường làng nghề trên địa bàn”

Trang 36

Chức năng thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật nóichung và pháp luật về BVMT nói riêng đối với các đối tượng sản xuất trong làngnghề được giao cho nhiều ngành, nhưng việc triển khai thực hiện lại rất hạn chế.Nguyên nhân do đây là các đối tượng sản xuất nhỏ, trong khi nguồn nhân lực và kinhphí được phân bổ cho công tác thanh kiểm tra trong thời gian qua còn hạn hẹp, nêncông tác này trước mắt chủ yếu tập trung vào các KCN, các cơ sở công nghiệp lớn,các cơ sở gây ô nhiễm môi trường lưu vực sông, các cơ sở khai thác khoáng sản vàcác cơ sở xử lý chất thải, chất thải nguy hại Đối với làng nghề, công tác thanh tra,kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên, triệt để Hình thức xử lý chủ yếu là nhắcnhở, chưa xử lý hành chính cũng như áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung khác.Chính điều đó đã tạo điều kiện để một số cơ sở công nghiệp “chui” vào làng nghề.

2.1.3.7 Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo

vệ môi trường đối với làng nghề

Công cụ “giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức đối với chínhsách, pháp luật, kiến thức về BVMT đối với các đối tượng có liên quan đến làngnghề” là công cụ cần được quan tâm nhiều nhất so với các công cụ quản lý môitrường khác Nguyên nhân là do những đối tượng này là những đối tượng sản xuấtnhỏ, trình độ thấp, hiểu biết hạn chế và không thể áp dụng ngay các công cụ quản lýhành chính nghiêm ngặt trong một thời gian ngắn

Tuy nhiên để đạt được hiệu quả cao thì hoạt động này cần phải đáp ứng đượcmột số tiêu chí như: hình thức tuyên truyền cần hấp dẫn, giàu tính sáng tạo và đadạng; nội dung tuyên truyền phải phù hợp và sát thực với từng nhóm đối tượng; hoạtđộng tuyên truyền cần được tiến hành một cách hệ thống, thường xuyên, liên tục trêndiện rộng; đề cao vai trò của các tổ chứ đoàn thể, chính trị trong công tác BVMT làngnghề

2.1.3.8 Xã hội hóa công tác quản lý môi trường đối với làng nghề

Chúng ta cần xác định rõ trách nhiệm BVMT nói chung, BVMT làng nghề nóiriêng là của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng đồng, đặc biệt đề cao trách nhiệmcủa các cơ sở sản xuất và dịch vụ Nhà nước cần có các biện pháp tạo cơ sở pháp lý

và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tácBVMT làng nghề; khuyến khích mọi thành phần tham gia vào các dịch vụ thu gom,vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về BVMT

Trang 37

Hiện nay, Nhà nước cũng đã có chủ trương triển khai mạnh mẽ công tác xã hộihoá hoạt động BVMT, trong đó có BVMT làng nghề, nhằm huy động sự tham giatích cực của chính bản thân người dân, hộ sản xuất cũng như các thành phần xã hội.Tuy nhiên, cơ chế, chính sách ưu đãi thu hút sự tham gia còn chưa thật sự cụ thể, hấpdẫn và rõ ràng.

Tại một số nơi, hương ước của làng nghề đã ra đời, trong đó có các thỏa thuận

về trách nhiệm đối với giữ gìn vệ sinh môi trường, trách nhiệm nộp các khoản kinhphí chung, và đây là một hình thức tự cam kết của cộng đồng thực sự có hiệu quả.Tuy nhiên, tại một số địa phương đã xây dựng và ký kết hương ước, nhưng khôngđược tổ chức thực hiện, không có sự theo dõi, giám sát việc thực hiện Một trong cácnguyên nhân chính ở đây là do thiếu sự quan tâm thường xuyên và đúng mức của cấp

ủy, chính quyền địa phương Bên cạnh đó, một quy định về thủ tục hành chính hiệnhành là hương ước phải được UBND cấp huyện phê duyệt cũng cần được nghiên cứu,xem xét lại Bản thân hương ước/quy ước có tính chất tự nguyện, không bị điều chỉnhbởi các quyết định hành chính Nó gắn liền với đời sống văn hóa, tinh thần của cộngđồng dân cư làng, xóm, nhưng lại yêu cầu được pháp lý hóa kèm theo những thủ tụchành chính; đã gây tâm lý ngại xây dựng hương ước/quy ước hoặc xây dựng mangtính hình thức ở rất nhiều địa phương

2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý môi trường làng nghề

2.1.4.1 Cơ chế chính sách về quản lý môi trường làng nghề

Cơ chế chính sách đóng vai trò định hướng, xây dựng kế hoạch thực hiện cũngnhư huy động nguồn lực tham gia của các tổ chức Cơ chế chính sách nếu phù hợpvới điều kiện của từng vùng cụ thể thì sẽ là động lực thúc đẩy nhanh sự phát triển củavùng, ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ làm cản trở sự phát triển của vùng

đó (Nguyễn Thị Ánh, 2013)

Đối với công tác QLMT làng nghề cũng vậy, nếu có những cơ chế chính sáchphù hợp, kịp thời sẽ giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ môi trườnglàng nghề Ngược lại, nếu cơ chế chính sách quản lý không phù hợp sẽ khiến chocông tác quản lý môi trường làng nghề đi lệch hướng, không đạt được những mụctiêu giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường làng nghề

2.1.4.2 Bộ máy quản lý nhà nước về quản lý môi trường làng nghề

Bộ máy quản lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lýnhà nước về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường làng nghề nói

Trang 38

riêng Việc tổ chức tốt một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi vàhoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Bộ máy quản lý nhà nước về BVMT ở nước ta được xây dựng và củng cố, hoànthiện từ năm 1993 cho đến nay ở cả cấp Trung ương và địa phương Hiện nay, hệthống cơ quan quản lý môi trường ở nước ta từ Trung ương đến địa phương bao gồm:

Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan quản lý môi trường của các Bộ, các Sở Tàinguyên và Môi trường các tỉnh, các Chi cục Bảo vệ môi trường các tỉnh, thành phố

Việc tổ chức bộ máy chuyên trách trong công tác quản lý nhà nước về BVMTlàng nghề là thực sự cần thiết, đây là cơ quan đảm nhận chức năng nghiên cứu, thammưu cho Nhà nước các cơ chế, chính sách về BVMT cũng như xây dựng văn bảnpháp luật về BVMT, đề xuất việc tổ chức bộ máy quản lý môi trường tại địa phương,kiến nghị cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và xây dựng quy định về kiểmtra, giám sát, tổ chức thực hiện công tác quản lý môi trường cho các địa phương

2.1.4.3 Năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ công chức nhà nước

Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trườnglàng nghề là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về bảo

vệ môi trường làng nghề, đồng thời cũng là những người sẽ làm công tác triển khaicác văn bản pháp luật đó xuống cấp quản lý dưới và tới người dân, người sản xuất.Năng lực, trình độ của các cán bộ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xâydựng các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Do đó, đội ngũ cán bộcông chức làm công tác quản lý đòi hỏi phải có tư duy khoa học, khả năng nghiêncứu và am hiểu các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thựctế

Bên cạnh đó, ngoài việc tự nghiên cứu, học tập, bổ sung kiến thức thì trong quátrình công tác, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước phải thường xuyên được kiểm tra,đánh giá lại năng lực và trình độ chuyên môn Trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý cửcác cán bộ công chức tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên mônnghiệp vụ và tổ chức các chương trình trao đổi nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tế

Trang 39

Như vậy, năng lực, trình độ của các cán bộ công chức là yếu tố quan trọng gópphần thành công vào công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường làng nghề, dovật, việc đào tạo con người nói chung hay đội ngũ cán bộ công chức nói riêng cầnđược quan tâm, chú trọng.

2.1.4.4 Nhận thức của người dân

Một nhân tố có tác động mạnh mẽ đến bảo vệ môi trường ở các làng nghề chính

là người sản xuất và cộng đồng tại các làng nghề vì vậy các cơ quan nhà nước cầntăng cường công tác phổ biến, giáo dục, tuyên truyền vận động về việc thực hiệnpháp luật bảo vệ môi trường cũng như ý thức về bảo vệ an toàn lao động đến tận hộsản xuất cá thể và tổ chức sản xuất Nâng cao dân trí nhằm nâng cao ý thức của ngườidân tại các làng nghề để tự họ nhận thấy việc bảo vệ môi trường làng nghề chính làbảo vệ lợi ích thiết thực và sức khỏe lâu dài của cộng động cũng như sản phẩm của

họ Việc nâng cao nhận thức của người dân là không khó nhưng để họ thực hiệnnhững hành động bảo vệ môi trường tự giác lại rất khó

2.1.4.5 Sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý môi trường làng nghề

Những tính chất có sức mạnh nổi bật của cộng đồng là tính đoàn kết, gắn bó, hỗtrợ lẫn nhau vì quyền lợi chung (sức mạnh tập thể bao giờ cũng lớn hơn sức mạnh cánhân); sự sáng tạo và duy trì các kiến thức bản địa (đây là một đặc trưng văn hoá phivật thể, lan truyền và bổ sung từ thế hệ này qua thế hệ khác, tạo ra sức sống của cộngđồng trong quá trình sản xuất và bảo vệ cuộc sống); lòng tự hào về truyền thống củalàng xóm, của quê hương gắn với tình yêu dân tộc, đó cũng chính là cuội nguồn lớnnhất của sức mạnh cộng đồng

Hiện nay công tác BVMT làng nghề đang đứng trước thách thức to lớn, khi mànhu cầu về một môi trường sống trong lành và an toàn luôn mâu thuẫn với nhu cầuhưởng thụ một đời sống vật chất sung túc Nói cách khác, công tác BVMT làng nghềđang phải đối mặt với các mẫu thuẫn trong suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trườnggiữa các nhóm người khác nhau trong xã hội, giữa người này với người khác và ngay

cả trong bản thân một con người Để quản lý môi trường làng nghề có hiệu quả, trướchết cần dựa vào các cộng đồng Các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phải là thểthống nhất, hài hoà và có sự tham gia của tất cả các cá nhân cũng như các tổ chứctrong việc chăm sóc môi trường ở cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống BVMTlàng nghề ở cơ sở xã, phường, thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng rất bức bách

và gắn liền với lợi ích của cộng đồng

Trang 40

Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT làng nghề là một trong những giải phápquan trọng của công tác quản lý, BVMT làng nghề ở địa phương, vì qua các cấp quản

lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở) thì càng xuống cấp thấp hơn vai trò củangười dân càng trở nên quan trọng Sự tham gia của cộng đồng vào BVMT làng nghềkhông chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp BVMT làng nghề, mà còn là lựclượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan quản lý môitrường làng nghề giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi trường ngay từ khi mới xuấthiện

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

2.2.1 Thực trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tại Việt Nam

2.2.1.1 Thực trạng môi trường làng nghề tại Việt Nam

Các làng nghề ở nước ta thường mang tính tự phát, quy mô nhỏ, thiết bị sảnxuất thủ công, lạc hậu, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp Bên cạnh đó, ý thức bảo vệ môitrường của các chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh ở đó chưa cao Từ những hạn chế nêutrên dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đã đến mức báo động,ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống, sức khỏe đối với người dân trong làngnghề và người dân chung quanh các làng nghề

Cả nước hiện có hơn 1.450 làng nghề phân bố trên 64 tỉnh thành trong cả nước,riêng vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 55,20% với hơn 800 làng nghề Trong sốnày có những làng nghề truyền thống như gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng dệt lụa

Hà Đông (Hà Nội), làng chạm bạc Đồng Xuân (Thái Bình), làng tranh dân gian Đông

Hồ (Bắc Ninh), làng gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ (Bắc Ninh) và có những làng nghề mớiđược hình thành trên cơ sở sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống như làng nghềxây dựng Nội Duệ, làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm Cát Quế (Hà Nội) Các làng nghề chủ yếu tập trung sản xuất các lĩnh vực như: thủ công mỹ nghệ, chếbiến lương thực, thực phẩm; chăn nuôi, giết mổ; dệt nhuộm, thuộc da; vật liệu xâydựng; tái chế phế liệu Do phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch của nhiều làng nghề ở khuvực nông thôn, cùng sự phát triển thiếu cân bằng giữa nhu cầu phát triển sản xuất vàkhả năng đáp ứng của các cơ sở vật chất; đồng thời sự quản lý còn khá lỏng lẻo củacác cơ quan chức năng trong công tác quản lý môi trường tại khu vực này, dẫn đếntình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra khá trầm trọng

Ngày đăng: 16/07/2021, 06:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w