1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ SGK hóa học 11 nâng cao

96 524 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” Luật giáo dục, điều 8.2 đã ghi:

Trang 1

KHOA HÓA HỌC



HOÀNG THỊ HOA

VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 2:

“NHÓM NITƠ” - SGK HÓA HỌC 11

NÂNG CAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

KHOA HÓA HỌC



HOÀNG THỊ HOA

VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 2:

“NHÓM NITƠ” - SGK HÓA HỌC 11

NÂNG CAO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐÀO THỊ VIỆT ANH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Đào Thị Việt Anh,

cô đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong những năm qua Cảm ơn quý thầy cô trong hội đồng đã dành thời gian, công sức sửa chữa, đóng góp ý kiến để đề tài của tôi hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong bộ môn phương pháp giảng dạy cũng như các thầy cô trường ĐHSPHN2 đã quan tâm, giúp đỡ, cung cấp thông tin, tài liệu trong suốt quá trình tôi làm đề tài và hoàn thành khóa học

Qua đây, tôi cũng cảm ơn các GV tổ Hóa và các em HS trường THPT Trần Hưng Đạo đã tạo điều kiện cho tôi thực nghiệm sư pham

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình nghiên cứu, vì thời gian có hạn và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài của tôi chắc chắn không thiếu khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp tận tình của các thầy cô giáo và các bạn để

đề tài của tôi hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Hoàng Thị Hoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: Vận dụng một số kĩ thuật dạy học hợp tác trong dạy học

chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao là kết quả nghiên cứu

của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của cô TS Đào Thị Việt Anh Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài đảm bảo tính chính xác, khách quan, không trùng lặp với kết quả nghiên cứu các tác giả khác

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Hoàng Thị Hoa

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ 2

3 Giả thuyết khoa học 3

4 Giới hạn đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Dự kiến đóng góp mới của đề tài 4

Phần 2: NỘI DUNG 5

1.1 PPDH tích cực 5

1.1.1 Tính tích cực và tính tích cực học tập của HS 5

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng về PPDH tích cực 6

1.2 PPDH hợp tác 13

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển PPDH hợp tác 13

1.2.2 Một số vấn đề về PPDHHT 17

Chương 2:VẬN DỤNG MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG 2: “NHÓM NITƠ”- SGK HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 32

2.1 Nguyên tắc vận dụng DHHT theo nhóm nhỏ 32

2.2 Nguyên tắc lựa chọn nội dung và kiến thức có thể áp dụng PPDHHT.34 2.3 Quy trình thiết kế và tổ chức dạy học có sử dụng PPDHHT 34

2.3.1 Quy trình thiết kế 34

2.3.2 Cách tổ chức dạy học: 36

2.3.3 Những lưu ý khi tổ chức hoạt động học tập theo nhóm 38

Trang 7

2.4 Phân tích đặc điểm, nội dung chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học

11 nâng cao 39

2.4.1 Phân phối chương trình nội dung trong chương 39

2.4.3 Mục tiêu của chương 41

2.5 Áp dụng PPDHHT trong chương 2: “ Nhóm Niơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao 42

Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích thực nghiệm 73

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 73

3.3 Phương pháp và nội dung thực nghiệm 73

3.4 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm: 75

3.5 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 75

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra 75

PHẦN 3: KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 8

Phần 1 : MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật, nước ta đang có sự

“chuyển mình” trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việt Nam đang phấn đấu trở thành một quốc gia có cơ sở vật chất hiện đại, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Đứng trước thực tế đó, ngành giáo dục và đào tạo Việt Nam cần đòi hỏi những đổi mới trong hệ

thống giáo dục

Trong nghị quyết trung ương lần thứ hai BCH TW Đảng khóa VII nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, khắc phục những lối sống truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh” Luật giáo dục, điều 8.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm từng cấp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú cho học sinh.”

Như vậy, điểm cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy học là hướng học sinh hoạt động học tập một cách chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động một chiều.Từ những quan điểm đó, đòi hỏi phương pháp dạy học ở trường phổ thông cần phải thay đổi theo hướng dạy học tích cực để phát huy tích tự giác chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, năng lực hợp tác làm việc cho học sinh

Phương pháp dạy học hợp tác là phương pháp trong đó, thông qua làm việc trong nhóm học sinh sẽ lĩnh hội tri thức, phương pháp thu nhận tri thức khác nhau Giáo viên chỉ là người tổ chức và điều khiển cho học sinh lĩnh hội

Trang 9

tri thức – đáp ứng các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đồng thời hình thành và rèn luyện khả năng làm việc và hợp tác cho học sinh

Hóa học là môn khoa học có sự kết hợp chặt chẽ giữa thực nghiệm

và tư duy lý thuyết, do đó học sinh phải có khả năng tự khám phá tìm tòi để tiếp thu tri thức

Chính vì những lý do trên và với những mong muốn được tìm hiểu và nắm vững những đặc thù về phương pháp để vận dụng trong hoạt động dạy học sau này, góp phần nâng cao chất lượng dạy học các môn khoa học nói chung, môn Hóa học nói riêng Tôi chọn đề tài: “ Vận dụng một số kĩ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11nâng cao”

2 Mục đích, nhiệm vụ

2.1.Mục đích

Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về PPDHHT, từ đó xem xét những khả năng vận dụng PPDH này trong dạy học chương 2 : “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn

hóa học ở trường THPT

Trang 10

- Thiết kế một số cấu trúc hoạt động dạy học hợp tác trong dạy học một

số nội dung trong chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11nâng cao

-Tiến hành TN sư phạm : Dạy một số bài trong chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao theo kế hoạch đã thiết kế có sử dụng PPDHHT

- Kiểm tra, chấm điểm các bài kiểm tra, phát phiếu thăm dò, phân tích và đánh giá các số liệu thực nghiệm

3 Giả thuyết khoa học

Nếu áp dụng PPDHHT một cách hợp lý, có sự phối hợp với các PPDHTC khác sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập hợp tác của HS, giúp HS chủ động , sáng tạo tiếp thu tri thức, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo

Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học ở trường THPT

4 Giới hạn đề tài

Nghiên cứu và áp dụng PPDHHT trong dạy học chương 2: “Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao

5 Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực

- Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học hợp tác

2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát : Tiến hành dự giờ các tiết học của GV Hóa học

có kinh nghiệm sử dụng PPDHHT phối hợp với các PPDHTC khác

- Phương pháp phỏng vấn: Hỏi ý kiến thăm dò của một số GV Hóa học có kinh nghiệm trên phiếu điều tra

Trang 11

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy một số tiết trong chương 2 :

“Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao có sử dụng PPDHHT kết hợp với một số PPDHTC khác

3.Phương pháp thống kê toán học để đánh giá kết quả TN sư phạm

6 Đóng góp mới của đề tài

- Tổng quan cơ sở lí luận về phương pháp dạy học hợp tác

- Nghiên cứu và vận dụng nguyên tắc lựa chọn, thiết kế kế hoạch

và tổ chức dạy học hợp tác đạt hiệu quả cao

- Thiết kế các hoạt động dạy học theo PPDHHT có kết hợp với các PPDHTC khác cho một số nội dung trong chương 2: “ Nhóm Nitơ”- SGK Hóa học 11 nâng cao

Trang 12

Phần 2: NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG

PHÁP DẠY HỌC HỢP TÁC 1.1 PPDH tích cực

1.1.1 Tính tích cực và tính tích cực học tập của HS

a Khái niệm về tính tích cực học tập của học sinh

Tính tích cực là bản chất vốn có của con người trong đời sống xã hội Con người không chỉ tiêu thụ, mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải biến xã hội

Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội Để giải quyết nhiệm này thì cần phải đến quá trình giáo dục, đây cũng là kết quả của sự phát triển nhân cách

b Tính tích cực học tập của học sinh

Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực của nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức

Trang 13

1.1.2 Khái niệm và đặc trưng về PPDH tích cực

1.1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn dùng để chỉ các PPDH nhằm đề cao vai trò sự tự giác, tích cực, độc lập nhận thức của người học, dưới vai trò tổ chức, định hướng của người dạy PPDHTC hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy

1.1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

Ta có thể nêu 4 dấu hiệu đặc trưng của PPDHTC để phân biệt với PPDH thụ động:

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS

Trong PPDH tích cực, HS được đặt vào vị trí chủ thể của hoạt động học tập, GV là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, động viên để HS tự lực khám phá những điều mình chưa biết, chứ không thụ động tiếp thu những tri thức do GV sắp đặt, thông báo

Những hoạt động học tập của HS được đặt vào những tình huống thực

tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm để giải quyết vấn

đề đặt ra theo cách riêng của mình Từ đó, người học tìm được những kiến thức, kỹ năng và phương pháp “thu nhận” kiến thức, kỹ năng đó, được bộc lộ những tiềm năng sáng tạo

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

PPDHTC xem việc rèn luyện phương pháp tự học cho HS không chỉ

là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học

Để đạt được mục tiêu này, người GV cần dạy cho HS phương pháp học tập thế nào cho tốt, cốt lõi của phương pháp đó là phương pháp tự học Nếu rèn cho người học được phương pháp, kỹ năng, thói quen học tập đúng

Trang 14

đắn, ý chí học tập cao thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có của mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng lên đáng kể

- Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác

Trong học tập không phải mỗi tri thức, kỹ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Có những nhiệm vụ sẽ gặp khó khăn khi giải quyết đơn lẻ Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy- trò, trò- trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Sự tương tác giữa cá nhân này với cá nhân khác trong quá trình thảo luận, để chiếm lĩnh nội dung học tập sẽ tạo nên một môi trường dạy học hợp tác Học tập hợp tác sẽ làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc giải quyết những vấn đề khó, xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Nhờ đó mà tránh được hiện tượng ỷ lại, phát huy năng lực của mỗi cá nhân, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong nhà trường, việc kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học Nó không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động của HS mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Như vậy, việc thay đổi các PPDH theo hướng tích cực là một tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trương nói chung và ở trường THPT nói riêng Trong đó, PPDHHT được coi là một trong những PPDHTC

1.1.4 Một số phương pháp dạy học tích cực

1.1.4.1 Phương pháp vấn đáp

- Khái niệm:

Phương pháp vấn đáp là phương pháp GV khéo léo đặt hệ thống câu hỏi

để HS trả lời, nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh

Trang 15

nghiệm đã tích luỹ được trong cuộc sống, giúp HS củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hoá những tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích tự kiểm tra, đánh việc lĩnh hội tri thức

- Phân loại:

Dựa vào tính chất nhận thức của HS mà phân ra vấn đáp giải thích- minh hoạ, vấn đáp tái hiện, vấn đáp tìm tòi – phát hiện

+ Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Là phương pháp mà GV đặt ra những

câu hỏi đòi hỏi HS giải thích và nêu lên dẫn chứng để minh hoạ, làm sáng tỏ cho sự giải thích của mình Trong câu trả lời của HS không chỉ đòi hỏi nhớ lại nội dung tri thức mà phải có sự cấu trúc lại tri thức để có sự suy luận cần thiết

+ Vấn đáp tái hiện: Là phương pháp GV đặt ra những câu hỏi đòi hỏi HS

phải nhớ lại những tri thức đã học và vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ học tập trong hoàn cảnh đã biết

+Vấn đáp tìm tòi – phát hiện: Là phương pháp mà GV đặt ra những câu

hỏi có tính chất vấn đề gây cho HS gặp phải tình huống có vấn đề và qua đó

họ có nhu cầu phải lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn đề đó Trong ba dạng đàm thoại trên thì PP đàm thoại tìm tòi có hiệu quả cao nhất Nhưng hiện nay, đa số GV phổ thông chỉ dừng lại ở hai PP đàm thoại tái hiện

và đàm thoại giải thích- minh họa, do PP đàm thoại tìm tòi đòi hỏi rất nhiều ở

GV, HS và cơ sở vật chất Do đó, người GV cần khắc phục và sử dụng PP này nhiều hơn nữa, để HS có cơ hội tìm tòi, hoạt động phát triển tư duy, tìm ra tri thức mới một cách tích cực

1.1.4.2 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

- Định nghĩa:

Dạy học nêu và giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư suy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS HS được

Trang 16

đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua giải quyết vấn đề giúp HS lĩnh hội tri thức , kỹ năng và phương pháp thu nhận tri thức

- Có thể phân biệt bốn mức độ phát hiện và giải quyết vấn đề sau:

+ Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, HS thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV, sau đó GV kiểm tra, đánh giá

+ Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý cách giải quyết, HS thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV, sau đó GV cùng HS kiểm tra, đánh giá

+Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề, HS phát hiện

và xác định vấn đề, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp GV và HS cùng đánh giá

+Mức 4: HS tự phát hiện tình huống có vấn đề, lựa chọn vấn đề, giải quyết vấn đề, đánh giá chất lượng hiệu quả, GV bổ sung ý kiến

Hiện nay nhiều GV đã vận dụng phương pháp này ở mức 1 và 2, cần vận dụng hiệu quả hơn ở mức 3 và 4

Sử dụng hiệu quả phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề, HS không chỉ nắm được tri thức mới mà còn nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy và cao hơn nữa là được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn

Nhóm cử nhóm trưởng phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực Để tránh ỷ lại vào một vài

Trang 17

người hiểu biết và năng động hơn, GV nên cho điểm “ trọn gói” cho mỗi vấn

đề học tập để các thành viên của nhóm bình xét chia số điểm đó theo sự đóng góp của từng người Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác

PPDHHT theo nhóm nhỏ là một trong những PPDH tích cực mang lại hiệu quả cao và đã được sử dụng rất nhiều trong DH ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phương tây Ở Việt Nam, đây là một trong ba PPDH tích cực cần được phát triển ở trường THPT theo định hướng đổi mới PPDHTC

1.1.4.4 Phương pháp dạy học theo góc

- Khái niệm:

Học theo góc là một PPDH theo đó, HS thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau

- Các bước tổ chức dạy học theo góc:

Trên cơ sở kế hoạch bài học đã thiết kế, GV tổ chức các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm học theo góc

* Công việc trước khi vào giờ học: Bố trí không gian lớp học và chuẩn

bị các tài liệu, phương tiện, đồ dùng phù hợp

+ Sắp xếp các góc học tập tương ứng phù hợp với không gian lớp học + Mỗi góc có đủ tài liệu, đồ dùng, phương tiện học tập phù hợp với nhiệm vụ học tập

+ Các phương tiện dạy học hiện đại hỗ trợ trong dạy học: máy chiếu,…

* Các hoạt động trọng tâm trong giờ học

- Giới thiệu bài học, phương pháp học

theo góc, nhiệm vụ tại các góc và cho

- Lắng nghe, tìm hiểu, quyết định chọn góc xuất phát theo sở thích

Trang 18

và cho phép HS lựa chọn góc xuất phát

(nếu

như có số HS quá đông cùng chọn một

góc thì phải điều chỉnh)

- Tại mỗi góc, nêu nhiệm vụ giao cho

nhóm, yêu cầu bầu nhóm trưởng, thư

kí nhóm

- Lập nhóm, bầu nhóm trưởng, thư

kí nhóm (nếu thực hiện nhiệm vụ tại góc theo nhóm)

- Quan sát, hỗ trợ mỗi góc khi cần,

thông báo để các nhóm nhanh chóng

hoàn thành nhiệm vụ để chuẩn bị luân

chuyển góc trước khi hết thời gian tối

đa cho mỗi góc và yêu cầu thực hiện

luân chuyển góc (để tránh tình trạng

hỗn loạn gây mất thời gian của lớp học

GV có thể đưa ra sơ đồ luân chuyển

góc để HS thực hiện theo trật tự đó)

- Thực hiện nhiệm vụ tại các góc, luân chuyển góc khi hết thời gian quy định

- Yêu cầu đại diện các góc (vòng cuối)

trình bày kết quả

- Nhận xét về kết quả học tập của HS

- Chốt lại kiến thức trọng tâm của bài

- Đại diện các góc báo cáo kết quả (có thể dán, treo hay trình bày kết quả tại góc hoạt động), HS khác nhận xét, nêu câu hỏi, bổ sung, đánh giá

Trang 19

tập bắt buộc và tự trọn khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định HS chủ động độc lập quyết định về thời gian cho mỗi nhiệm vụ/ bài tập và thứ tự thực hiện bài tập bắt buộc đó theo khả năng của mình

Các bước tổ chức dạy học theo hợp đồng:

Bước 1: GV giới thiệu tên bài học và thông báo ngắn gọn nội dung,

phương pháp học tập được ghi trong hợp đồng Giới thiệu và thống nhất các nguyên tắc học theo hợp đồng với cả lớp Phát hợp đồng cho cá nhân hay nhóm HS

Bước 2: HS đọc và đăng ký, thời gian và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ

học tập ghi trong hợp đồng; ký cam kết với GV

Bước 3: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm đề thực hiện nhiệm vụ

- Bản chất của PP dạy học dự án:

HS được đóng vai để lĩnh hội kiến thức và kỹ năng thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn- dự án Kết thúc dự án sẽ cho ra sản phẩm

- Đặc điểm của dạy học dự án:

+Định hướng hành động: Hoạt động thi hành có tính chất nhiệm vụ

+Định hướng người học: Người học tham gia các giai đoạn dạy học, cả việc lựa chọn nhiệm vụ, làm việc theo nhóm

+ Mang tính tích hợp: Nhiệm vụ phức hợp, gắn với thực tiễn

Trang 20

+ Định hướng kết quả: Kết quả dự án là sản phẩm hoặc hoạt động cụ thể + Mở rộng kinh nghiệm: Đánh giá theo kết quả dự án

Như vậy, PP dạy học dự án luôn gắn liền với hoạt động nhóm, nhóm trở thành một phần không thể thiếu, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của

PP này Hóa học là môn khoa học gắn liền với thực tiễn, trên cơ sở đó môn hóa học cho phép sử dụng PPDH dự án kết hợp các PPDHHT để khai thác những khía cạnh, những dự án trong thực tiễn như: Hiệu ứng nhà kinh, Suy giảm tầng ozon, nguồn khai thác dầu mỏ…

1.2 PPDH hợp tác

1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển PPDH hợp tác

1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển trên Thế giới

Phương pháp DHHT được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu từ lâu và đã được biết đến trong hệ thống phương pháp “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

Trong số đó trước tiên phải kể đến một số nhà giáo dục tiến bộ đi tiên phong ở những thời Hy Lạp cổ đại, thời kì phục hưng…, ngay từ thời đó ở họ

đã có những tư tưởng tiến bộ đề cập đến những yếu tố tích cực trong hoạt động dạy học Năm 1791, phương pháp học tập Ta- Lây- Răng ra đời rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo, cá tính độc lập suy nghĩ của HS

Đến giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX cũng có nhiều nhà giáo dục như: Giăng- giăc-rỳt- Xụ (Pháp), Pờxtalozi, Đisxtecvec, Usinxki (Nga), Fourrier, Cousinet, Dewey… đề cập đến việc giáo dục, giảng dạy hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của người học và ít nhiều cũng đó khỏi quát tới hình thức học tập nhóm

Nhà giáo dục Dewey đã đưa ra học thuyết giáo dục riêng, theo ông, ảnh hưởng của môi trường đến sự đào tạo con người có sắc thái rõ ràng, từ đó phải tạo cho HS một môi trường càng gần gũi với đời sống càng tốt Hơn nữa,

Trang 21

chỉ có sự làm việc chung mới giúp cho HS có thói quen trao đổi những kinh nghiệm thực hành, có cơ hội phát triển lý luận và năng lực trừu tượng hoá Phương pháp học tập tự do theo nhóm của Roger Cousinet (Pháp) nhận định: “phải tổ chức nhà trường sao cho trở thành một môi trường mà trẻ em

có thể sống, sự làm việc chung thành từng nhóm tạo nên biện pháp phù hợp

về mặt tâm lí học cũng như giáo dục học” Phương pháp học tập do Cousinet

đề sướng này đã để lại những kinh nghiệm quý báu cho việc nghiên cứu phương pháp dạy học hợp tác về sau

Nói đến học tập nhóm phải nói đến Asakial, một nhà giáo dục BaLan lỗi lạc, ông đã viết cuốn sách: “ Học tập theo nhóm ở trường học”

Trong thực tiễn dạy học ở phổ thông, dạy học theo nhóm được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả ở châu Âu và Bắc Mỹ từ những năm 80 và 90 của thế

kỷ XX cho đến nay

1.2.1.2 Lich sử hình thành và vận dụng PPDHHT ở Việt Nam

Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về PPDHHT các nhà giáo

có quan tâm đến PPDH này

Giáo sư tiến sĩ Trần Bá Hoành có viết bài: “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và: “ phương pháp cùng tham gia” đã đề cập tới việc tổ chức học tập hợp tác theo nhóm nhỏ với ý nghĩa là một trong những PP tích cực, đồng thời trong cuốn sách “ lí luận cơ bản về dạy và học tích cực” và “ áp dụng dạy và học tích cực trong môn hóa học”, giáo sư tiến sĩ Trần Bá Hoành

và một số tác giả khác cũng nhắc đến PPDHHT theo nhóm nhỏ với vai trò là

là một trong ba PPDH tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông, và đã đưa ra cụ thể cách vận dụng PPDH này vào dạy hoá học

Tiến sĩ Vũ Hòa Quang cũng đã đề cập nhiều đến việc phân nhóm và quản lí nhóm trong cuốn “xã hội học quản lí”

Trang 22

Trong thời gian gần đây, trong nguồn tư liệu thư viện của trường ĐHSP Hà Nội nói chung cũng đã có một số đề tài khoa học, một số bài trích

đã nghiên cứu PPDH hợp tác theo nhóm như:

- Luận văn thạc sĩ: “ Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ ở trên lớp trong dạy học địa lí lớp 10 THPT- chương trình thí điểm ban KHTN” của tác giả Lê Thị Hải Anh, 2005, mã số: V-LA/6452, V-LA/7339

- Bài trích: “ Phương pháp nhóm chuyên gia trong dạy học hợp tác”, TC- V/0001

- Luận văn thạc sĩ: “ Sử dụng phương pháp dạy học tích cực và phương tiện kĩ thuật dạy học để nâng cao chất lượng bài lên lớp” của Trần Thu Huệ, V-LA/3702

- Luận văn thạc sĩ: “ Dạy học kiến tạo- tương tác và vận dụng trong dạy học phần phi kim 10, trung học phổ thông ban nâng cao” của tác giả Võ Văn Duyên Em

Hầu hết các tác giả đều cho rằng PPDHHT là PP tích cực, đem lại hiệu quả cao Tuy nhiên, có thể thấy rõ ràng số lượng các tác giả nghiên cứu sâu về

PP này còn chưa nhiều và quan tâm ở những bình diện, những mức độ khác nhau

1.2.1.2 Thực tiễn khả năng vận dụng một số kĩ thuật dạy học hợp tác ở một

số trường THPT

Để tìm hiểu thực trạng việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trong dạy học Hóa học ở một số trường THPT, tôi tiến hành

điều tra với đối tượng là:

+Giáo viên: Trường THPT Trần Hưng Đạo (Thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định)

Tỷ lệ % số phiếu đồng ý với các nội dung điều tra

Trang 23

Bảng 1 Tác dụng của dạy học theo nhóm

1 Rèn cho học sinh khả năng làm việc hợp tác 98,3%

2 Học sinh tích cực, chủ động hơn trong học tập học tập 85,5%

3 Giờ học sôi nổi trong bầu thi đua giữa các nhóm 66,5%

4 Chất lƣợng giờ học đƣợc nâng cao hơn 52,5%

5 Đa số học sinh đều hiểu bài và tiếp thu bài nhanh hơn 43,5%

Bảng 1.2 Nhƣợc điểm của dạy học theo nhóm

4 Một số học sinh không tích cực hoạt động 76.3%

5 Cơ sở vật chất khó đáp ứng yêu cầu thực hiện 45,1%

Thông qua kết quả nghiên cứu trên, đã có một số GV trong giờ lên lớp đã cố gắng tổ chức cho HS hoạt động tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, tuy nhiên trong quá trình tổ chức vẫn còn những hạn chế sau:

- Quy trình tổ chức cho HS vận dụng PPDHHT chƣa đúng, chƣa đầy đủ nhƣ: GV chƣa nêu rõ nhiệm vụ cho các nhóm và thời gian cho các nhóm thảo luận chƣa phù hợp dẫn đến hiện tƣợng cháy giáo án

- Một số GV có năng lực, kinh nghiệm còn hạn chế hoặc chƣa thực sự đầu tƣ cho việc chuẩn bị kế hoạch DHHT nên khi áp dụng còn mang tính chất tạm thời

- GV chƣa thực sự sát sao trong việc quản lí lớp khi cho HS tổ chức thảo luận nhóm, vẫn còn HS mất trật tự, chƣa tham gia tích cực hoạt động nhóm

Trang 24

- HS chưa thực sự yêu thích môn học, chưa có hứng thú với PP học mới Ngoài ra, cơ sở vật chất còn bị hạn chế: bàn ghế chưa đồng bộ, không gian lớp học trật hẹp và đặc biệt phương tiện kĩ thuật dạy học còn thiếu gây trở ngại lớn

Vấn đề kết hợp PPDH với nhau và sử dụng chúng một cách phù hợp còn chưa được quan tâm đúng mức, trong đó có cả việc kết hợp các PPDHHT với các PPDH khác

Vậy những thực trạng này cho thấy, phải chăng việc sử dụng các PPDH tích cực mới chỉ dừng lại ở việc biến đổi về lượng thôi? Vậy làm thế nào để

có sự biến đổi về chất? Đó là vấn đề lớn mà không có thể một mình làm được,

nó đòi hỏi chúng ta, những người GV tương lai, những nhười trực tiếp vận dụng lí luận DH tích cực vào công việc của mình, hãy cùng chung sức vào công việc nghiên cứu cũng như sử dụng chúng, để lí luận quý giá đó phải được trải nghiệm thực tế

1.2.2 Một số vấn đề về PPDHHT

1.2.2.1 Một số khái niệm cơ bản (Nhóm, nhóm hợp tác, PPDHHT)

a Nhóm là tập hợp những cá thể từ hai người trở lên theo những nguyên

tắc nhất định, có mối quan hệ bổ trợ để cùng thực hiện một nhiệm vụ trong một thời gian xác định

b Nhóm hợp tác

Nhóm học tập (nhóm hợp tác) là các HS được hoạt động trong một nhóm có chung một nhiệm vụ học tập Trong đó, có sự gắn kết giữa các thành viên, mỗi cá nhân có ý thức trong công việc chung, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ hay đạt được mục tiêu của cả nhóm

c Phương pháp dạy học hợp tác

Trên cơ sở phân tích các khái niệm của các tác giả, người nghiên cứu nhận định: PPDHHT chính là cách thức GV tổ chức cho HS học tập hợp tác theo các nhóm nhỏ (nhóm hợp tác) để giải quyết các nhiệm vụ học tập HS

Trang 25

mỗi nhóm hợp tác được tổ chức dựa trên những liên hệ phụ thuộc cốt yếu, trong đó các thành viên cùng trao đổi, phối hợp và giúp đỡ nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ chung của cả nhóm cũng như nhiệm vụ mỗi cá nhân

1.2.2.2 Cơ sở tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ

* Cơ sở tâm lí học

Mô hình tâm lí trong quá trình học tập:

Động cơ đúng sẽ tạo ra hứng thú Hứng thú là tiền đề của sự tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lí tạo nên tính tích cực, tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mống của sự sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập Như vậy, để đạt được sự tự giác, tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong động cơ học tập thì phải đảm bảo ba yếu tố quan trọng khởi đầu trong quá trình học tập là: nhu cầu, động cơ và hứng thú DHHT theo nhóm là PPDH phù hợp với cả ba yếu tố đó của người học

a Nhu cầu học tập thông qua hoạt động nhóm

Trang 26

Điều quan trọng trong dạy học là phải lựa chọn PPDH phù hợp có thể vừa làm xuất hiện ở người học nhu cầu nhận thức đồng thời vừa đáp ứng được những nhu cầu đó Theo tiêu chí đó, PPDHHT đã tạo ra một môi trường

xã hội thu nhỏ, vì vậy ngoài nhu cầu chiếm lĩnh tri thức, PP này còn góp phần làm xuất hiện và đáp ứng những nhu cầu khác như: nhu cầu giao lưu, nhu cầu

tự khẳng định mình…

b Động cơ và quá trình hình thành động cơ thông qua hoạt động nhóm

Để xuất hiện nhu cầu, cá nhân phải trải qua quá trình hình thành động

cơ, nhu cầu là cơ sở của sự hình thành động cơ Vậy nhu cầu và động cơ khác nhau như thế nào? “ Nhu cầu là sự đòi hỏi cụ thể một cái gì đó, còn động cơ

là sự lập luận việc giải quyết thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu đã chỉ ra trong môi trường chủ quan khách quan nào đó” Sự phát triển trí tuệ, giáo dục

là một trong những điều kiện quan trọng nhất để hình thành động cơ

c Hứng thú nhận thức thông qua hoạt động nhóm

Hứng thú nhận thức chính là hứng thú học tập, hứng thú đối với việc tìm hiểu khoa học, nó có động cơ trực tiếp xuất phát từ người học Hứng thú nhận thức được xuất phát từ động cơ, và nhu cầu của quá trình nhận thức, được duy trì trong suốt quá trình nhận thức không chỉ bởi nội dung mà còn bởi PP nhận thức Điều đó đòi hỏi người GV phải luôn biết linh hoạt lựa chọn PPDH phù hợp để tạo được và duy trì hứng thú cho HS

PPDHHT góp phần tăng cường hoạt động của HS, tạo bầu không khí thoải mái để người học tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung khoa học Thông qua hoạt động nhóm, các HS- những người bạn, những ngươì cùng độ tuổi-

có thể tự do thảo luận, phát biểu ý kiến, phân tích vấn đề, từ đó việc nắm được bản chất kiến thức, việc tiếp cận tri thức sẽ không còn khó khăn Do đó,

có thể dễ dàng nhận thấy PPDHHT rất hiệu quả mang lại hứng thú nhận thức Song, hiệu quả của nó chỉ có thể phát huy khi GV có năng lực tổ chức, điều khiển hoạt động nhóm

Trang 27

1.2.2.3 Phân loại nhóm và cách chia nhóm nhỏ

a Phân loại nhóm:

* Phân loại dựa vào số lượng: gồm có nhóm nhỏ và nhóm lớn

- Học tập theo nhóm nhỏ: số lượng HS trong mỗi nhóm ít, cụ thể hai hoặc ba người hoặc bốn đến sáu người một nhóm

+ Ưu điểm: mỗi cá nhân đều phải nỗ lực, đều được giao một nhiệm vụ và

toàn nhóm phải phối hợp với nhau để hoàn thành công việc chung Thông qua sự hợp tác, nghiên cứu, thảo luận trong nhóm, ý kiến của mỗi cá nhân sẽ được khẳng định, điều chỉnh hay bác bỏ Qua đó sẽ tạo được hứng thú và sự tìm tòi trong học tập, tạo điều kiện cho các em rèn luyện năng lực làm việc theo nhóm

+ Nhược điểm: đôi khi gây mất trật tự và có thể vẫn có một số thành viên

ỷ lại

- Học tập theo nhóm lớn: “ nhóm trong nhóm”, hình thức chủ yếu là vòng tròn bên ngoài bao quanh vòng tròn bên trong Những người ngồi vòng tròn bên trong thảo luận một vấn đề nào đó, những người ở vòng tròn bên ngoài quan sát, kết quả được thu thập, ghi chép sau đó đổi vị trí cho nhau Loại hình nhóm này ít được vận dụng hơn

* Phân loại dựa vào nhiệm vụ được giao

Gồm có nhóm đồng việc (tất cả các nhóm đều thực hiện chung một nhiệm vụ) và nhóm khác việc (mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ khác nhau phục vụ cho bài học)

Trang 28

b Cách chia nhóm

Tùy thuộc vào nội dung học tập, mức độ khó, dễ của các nhiệm vụ học tập và trình độ của HS mà có các cách chia nhóm khác nhau, thường có các cách chia nhóm sau:

* Chia ngẫu nhiên: thường được tiến hành khi không cần sự phân biệt

giữa các đối tượng HS, nhiệm vụ không khác nhau nhiều về nội dung, ít có sự chênh lệch về mức độ cùng chung yêu cầu GV có thể chia theo tổ, theo bàn….Cách chia này có ưu điểm là HS không phải di chuyển, hạn chế mất trật tự

* Chia theo trình độ: gồm nhóm cùng trình độ và nhóm khác trình độ

- Nhóm cùng trình độ: Được áp dụng khi cần có sự phân hoá về mức

độkhó, dễ của nội dung bài học cho từng đối tượng, thường chia thành bốn nhóm: giỏi, khá, trung bình và yếu

GV có thể có những yêu cầu khác nhau đối với từng nhóm trong cách giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập, và có thể gợi ý cho nhóm yếu, đưa

ra yêu cầu cao hơn cho những nhóm khá, giỏi

+Ưu điểm: Tác động đến từng đối tượng trong lớp, khuyến khích, động

viên các em, tạo hứng thú học tập cho cả lớp

+Nhược điểm: Việc đánh giá đúng trình độ của HS để chia vào các nhóm

là rất khó khăn và phải thận trọng vì trình độ của HS có thể thay đổi theo thời gian và đôi khi ranh giới chưa rõ ràng Nếu cho HS khá vào nhóm yếu, các

em đó không cần cố gắng hoặc các HS yếu sẽ ỷ lại Một nhược điểm nữa là về mặt tâm lí đòi hỏi GV phải hết sức khéo léo, tránhtâm lí tự ti cho nhóm kém

và tự kiêu cho nhóm giỏi

- Chia nhóm khác trình độ: Thường đuợc sử dụng khi nội dung hoạt

động dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau Ví dụ: khi tổ chức thực hành ngoài lớp học, ôn tập, vận dụng kiến thức vào thực tế Trong trường hợp này, vai trò

Trang 29

của nhóm trưởng rất quan trọng, để phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm

* Chia nhóm theo sở trường: thường được tiến hành trong các buổi ngoại

khoá, mỗi nhóm gồm những HS có cùng sở trường, hứng thú Tóm lại,

có nhiều cách chia nhóm khác nhau, mỗi cách đều có ưu và nhược điểm riêng, GV phải cân nhắc dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian học tập, trình độ, sở trường của HS để chọn cách chia nhóm phù hợp

12.2.4 Cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động

a Cơ cấu tổ chức:

- Một nhóm thường gồm có:

+ Nhóm trưởng: Thường là người có kiến thức vững vàng, có năng lực lãnh đạo, làm nhiệm vụ phân công công việc, điều khiển hoạt động của nhóm, chỉ đạo việc thảo luận, rút ra kết luận cuối cùng và có thể sẽ báo cáo kết quả hoạt động của nhóm

+ Thư kí: Tổng hợp và ghi chép kết quả thảo luận của các thành viên, ghi lại các hoạt động và kết quả hoạt động của nhóm, có thể nộp cho GV nếu

GV yêu cầu

+ Các thành viên: Tuỳ vào mục đích và yêu cầu của nhiệm vụ học tập được giao, các nhóm có thể có các cách phân công khác nhau: các thành viên

có thể thực hiện cùng một nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau

- Trong phương pháp nhóm chuyên gia còn có thêm các chuyên gia: các chuyên gia được chuyên môn hoá từng nhiệm vụ riêng tuỳ thuộc vào sở trường, năng lực riêng, có thể đóng vai trò tham mưu, cố vấn trong nhóm

b Cách tổ chức hoạt động nhóm:

Có nhiều cách tổ chức hoạt động nhóm, trong đó thường sử dụng các kiểu nhóm như: Nhóm rì rầm, nhóm gánh xiếc, nhóm bể cá, nhóm kim tự tháp, nhóm chuyên gia,…

+ Nhóm rì rầm: Trao đổi nhỏ trong cặp 2 - 3 người ngồi cạnh nhau trước

Trang 30

khi chia sẻ ý kiến trong lớp

+ Nhóm bể cá: Một nhóm đang hoạt động được quan sát im lặng bởi một

nhóm học sinh khác để học cách lập luận Sau đó đổi vai trò cho nhau, trao đổi kinh nghiệm về cách thảo luận, về cách hoạt động nhóm

+ Nhóm kim tự tháp: Là hình thúc mở rộng nhóm “rì rầm”, vấn đề được

đưa ra trong nhóm nhỏ để tạo ra tư tưởng ban đầu sau đó được trao đổi sâu hơn bằng cách gộp hai nhóm nhỏ thành nhóm lớn, rồi lại gộp hai nhóm lớn thành nhóm lớn hơn Càng về sau ý kiến càng được chọn lọc, sâu sắc, chính xác hơn

+ Nhóm gánh xiếc: Các nhóm tiến hành giải quyết cùng một nhiệm vụ

lớn có chứa các nhiệm vụ nhỏ theo thứ tự khác nhau Như vậy, vào một thời điểm bất kì mỗi nhóm sẽ có các hoạt động khác nhau, nhưng cuối giờ các nhóm các nhóm đều thực hiện xong tất cả các nhiệm vụ nhỏ

+ Nhóm chuyên gia: Trong nhóm có một số thành viên có kiến thức tốt

về một số lĩnh vực được xem là chuyên gia, có vai trò tham mưu, cố vấn cho

cả nhóm về lĩnh vực ấy

1.2.2.5 Quy trình tổ chức cho HS làm việc theo nhóm nhỏ

Trong tài liệu lí luận cơ bản về dạy và học tích cực của giáo sư Trần

Bá Hoành và một số tác giả khác đã đưa ra và cụ thể hoá cấu tạo một tiết học (hoặc một buổi làm việc) theo nhóm như sau:

1 Làm việc chung của cả lớp

+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

+ Tổ chức các nhóm làm việc, thông báo thời gian

+ Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm để việc thảo luận đạt hiệu quả GV cần xác định mục đích chỉ dẫn nhiệm vụ cần thực hiện ấn định thời gian, nghĩa là học sinh phải hiểu ý nghĩa, mục đích việc sắp làm, nắm vững các bước thực hiện và biết trước thời gian cần thực hiện nhiệm vụ bao lâu

Trang 31

2.Làm việc theo nhóm

+ Phân công trong nhóm

+ Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm

+ Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm

Sau khi xác định nhiệm vụ cần thực hiện học sinh thực hiện theo nhiệm

vụ cá nhân, sau đó trao đổi ý kiến thảo luận trong nhóm để rút ra vấn đề chung cuối cùng đại diện nhóm báo cáo kết quả thảo luận của nhóm mình

3 Thảo luận tổng kết trước lớp

+ Các nhóm báo cáo kết quả

+ Thảo luận chung

+ Giáo viên nhận xét, bổ sung, tổng kết khi thời gian thảo luận kết thúc

GV tổ chức để đại diện các nhóm báo cáo kết quả thảo luận trước lớp, các nhóm khác nhận xét, bổ sung

+ Nếu kết quả thảo luận của giữa các nhóm chưa thống nhất, GV đưa vấn

đề ra thảo luận chung cả lớp rồi mới đưa ra đáp án đúng, hoàn chỉnh kiến thức cho HS đồng thời đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các nhóm

1.2.2.6 Ưu và nhược điểm của PPDHHT

1.2.2.6.1 Ưu điểm của PPDHHT

- DHHT mang lại hiệu quả học tập cao

+ Về nhận thức: PPDHHT giúp việc lĩnh hội tri thức trở nên dễ dàng hơn, các thành viên trong nhóm có cơ hội chia sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, những lỗi sai sẽ được các thành viên trong nhóm sửa chữa Tạo cho HS cơ hội trao đổi, khám phá thu nhận tri thức một cách chủ động, sáng tạo

+ Về phương pháp: Trong học tập hợp tác, HS phải tham gia các hoạt động: Đặt câu hỏi, giải thích, thể hiện quan điểm, bộc lộ những điểm chưa rõ, những điểm còn thiếu sót, đồng thời phải lắng nghe bạn học, trình bày, trả lời câu hỏi họ, chia sẻ thông tin giúp nhau hiêu rõ về phương pháp học tập kiến

Trang 32

thức, phát triển tư duy sáng tạo và khả năng phân tích tổng hợp giải quyết vấn đề…

Như vậy học tập hợp tác đã chuyển trách nhiệm phải hiểu được nội dung bài học sang cho người học một cách tự nhiên và tạo ra động cơ thúc đẩy học sinh học tập vì hoạt động trong nhóm có tính thi đua

-Dạy học hợp tác giúp hình thành,phát triển kỹ năng hợp tác, làm việc và năng lực xã hội cho HS

+ Trong thời đại ngày nay thì việc hình thành và rèn luyện cho HS kĩ năng làm việc hợp tác rất quan trọng Hoạt động tập thể nhóm sẽ làm cho từng HS quen dần với sự phân công tác trong lao động, học tập phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức cộng đồng…Khi thực hiện các nhiệm đó các kỹ năng tập hợp ghi chép, kỹ năng giao tiếp như: báo cáo, trình bày một vấn đề, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng lãnh đạo sẽ được hình thành và rèn luyện

+ Học tập hợp tác tạo môi trường cho HS nhút nhát có điều kiện tham gia xây dựng bài học, cải thiện quan hệ giữa các HS với nhau, tạo cho lớp bầu không khí tin cậy và gắn bó hơn

- Học tập hợp tác tạo không khí học tập sổi, bình đẳng và gắn bó giữa các thành viên trong lớp

Trong PPDHHT nổi lên mối quan hệ giao tiếp giữa HS với HS Thông qua thảo luận, tranh luận ý kiến mà mỗi cá nhân được điều chỉnh qua đó mà người học nâng mình lên cả về kiến thức và ý thức học tập trong bầu không khí sôi nổi và bình đẳng Qua đó, giúp HS có thái độ, trách nhiệm cao trong việc giúp đỡ bạn học, hình thành nhóm học tập đoàn kết

-Học tập hợp tác giúp cho GV có cơ hội tận dụng ý kiến và kinh nghiệm của HS

PPDHHT giúp GV giảm thuyết trình, tăng cường hoạt động một cách chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức Thông qua việc tranh luận những ý

Trang 33

kiến hay đều được thu nhận, góp phần phát huy tính tích cực sáng tạo của HS, đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH

Như vậy, PPDHHT là một chiến lược dạy học mạnh mẽ và linh hoạt,

có ưu điểm nổi bật là làm cho phương pháp này trở thành một nét đặc trưng

cơ bản trong dạy học hiện đại

1.2.2.6.2 Nhược điểm của PPDHHT

PPDHHT được nhiều nước áp dụng và thể hiện nhiều yếu tố của PPDH tích cực song vẫn có những mặt hạn chế sau:

- Một số thành viên trong nhóm có tính ỷ lại, không làm việc, để mặc các thành viên khác dẫn dắt hoặc thậm chí cả lớp nếu giáo viên không giám sát và yêu cầu mọi thành viên phải làm việc ( hiện tượng ăn theo)

- Các nhóm có thể đi lệch hướng thảo luận do một số thành viên nào đó

cố tình đưa ra ý kiến để điều khiển nhóm(sự chi phối nhóm, tách nhóm)

- Việc tổ chức dạy học gặp khó khăn như: Không gian lớp học chật hep,

số học sinh trong nhóm quá đông, hoạt động nhóm mất nhiều thời gian trong khi thời gian cho một tiết học chỉ 45 phút

- Việc quản lý, giám sát từng thành viên trong nhóm cũng gặp nhiều khó khăn do giáo viên cùng một lúc phải quan sát nhiều nhóm ở trong lớp

- Đôi khi sự thi đua giữa các nhóm bị trở thành ganh đua, tranh cãi…

- Kết quả kiểm tra cho cả nhóm chưa thực sự thấy rõ được sự nỗ lực của mỗi cá nhân hoặc chưa có sự công bằng về điểm số cho mỗi thành viên

1.2.2.6.3 Cách khắc phục nhược điểm

Nhược điểm lớn nhất của PPDHHT là ở khâu tổ chức hoạt động và kiểm tra, đánh giá Để phát huy những ưu điểm đồng thời khắc phục những nhược điểm của phương pháp này, các nhà nghiên cứu đó phân thành hai trường phái chính: Trường phái cấu trúc và trường phái nguyên tắc

* Trường phái cấu trúc:

Trang 34

-Trong trường phái cấu trúc có nhiều cấu trúc sau: Jigsaw (gắn liền với tên tuổi của Aronson), STAD (Student Teams Achievement Division), TGT (Team Game Tournament), Jigsaw II (ba cấu trúc này gắn liền với Robert Slavin) …

+ Cấu trúc Jigsaw: mỗi thành viên được giao nhiệm vụ tìm hiểu và

nắm vững một phần của bài học, các thành viên cùng chủ đề thảo luận với nhau và trở thành chuyên gia trong khoảng thời gian nhất định Sau đó các thành viên này trở về nhóm mới của mình và giảng lại cho cả nhóm nghe, đảm bảo cho mọi người đều nắm vững được toàn bộ nội dung của bài học Bài kiểm tra cá nhân sẽ xác định điểm của cả nhóm dựa trên tất cả các phần bài học sau khi đã ghép vào nhau

+ Cấu trúc STAD: mỗi nhóm HS giúp đỡ nhau hiểu thực sự kỹ lưỡng

về bài học được giao, tuy nhiên phần kiểm tra sẽ là kiểm tra cá nhân Tính ưu việt của cấu trúc này thể hiện ở cơ chế đánh giá: dựa trên sự nỗ lực của bản thân chứ không phải sự hơn kém nhau về khả năng:

Cơ chế đánh giá theo cấu trúc STA

Thành viên Điểm lần 1 Điểm lần 2 Chỉ số cố gắng

Trang 35

Đề cao sự đóng góp của các học sinh yếu kém và nâng cao sự đóng góp này thành nhân tố quyết định

Lấy sự cố gắng, nỗ lực để đánh giá thay vì khả năng

+ Cấu trúc TGT: hoạt động nhóm cũng tương tự như STAD nhưng cơ

chế đánh giá đổi khác GV chia nhóm dựa vào khả năng, trong đó thành viên

số một của từng nhóm có sức học tương đương nhau, tương tự với các thành viên còn lại Qúa trình kiểm tra đánh giá được biến thành những cuộc so tài của những thành viên cùng số ở các nhóm, sự chênh lệch giữa hai lần kiểm tra được sử dụng để tính điểm

+ Cấu trúc Jigsaw II: dựa trên cơ sở cấu trúc Jigsaw của Aronson

nhưng lược bớt phần thảo luận cùng chủ đề và có tính đến chỉ số cố gắng của từng thành viên trong phần kiểm tra đánh giá

* Trường phái nguyên tắc:

- Trường phái nguyên tắc: đại biểu tiêu biểu là hai anh em Johnson, theo

họ bất kì một hoạt động, một cấu trúc dạy học hợp tác nào cũng phải đảm bảo năm nguyên tắc, chỉ cần thiếu một trong năm nguyên tắc thì sẽ thất bại, đó là: + Phụ thuộc tích cực

+ Trách nhiệm cá nhân

+ Tương tác tích cực trực tiếp

+ Kỹ năng xã hội

+ Đánh giá rút kinh nghiệm

Hai trường phái trên với những ưu điểm và nhược điểm riêng, song song cùng phát triển nhưng không hề mâu thuẫn mà chúng bổ sung cho nhau,

có mối quan hệ mật thiết giúp phương pháp dạy học hợp tác đạt hiệu quả cao Người GV trong quá trình DHHT phải đặt ra vấn đề sử dụng cấu trúc nào cho phù hợp với từng nội dung kiến thức, với mục đích truyền đạt? Phải luôn tuân theo những nguyên tắc nào khi dạy học? Trả lời được những câu hỏi

đó và vận dụng một cách linh hoạt đồng nghĩa với việc bạn đã khắc phục

Trang 36

được những nhược điểm và phát huy được các ưu điểm của phương pháp dạy học hợp tác

1.2.2.7 Nghiên cứu một số kĩ thuật dạy học hợp tác trong nhà trường

Khác với kĩ thuật hoạt động nhóm thông thường, kĩ thuật khăn trải bàn

và kĩ thuật dạy học mảnh ghép phát huy được những ưu điểm và khắc phục những nhược điểm về khâu tổ chức, quản lí, giám sát hoạt động nhóm của

HS

1.2.2.7.1 Kĩ thuật khăn trải bàn

Thế nào là kĩ thuật khăn trải bàn?

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm nhằm:

- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

Cách tiến hành kĩ thuật “ khăn trải bàn”

- Hoạt động theo nhóm (4 người/ nhóm) (có thể nhiều người hơn)

- Mỗi người ngồi vào các vị trí khác nhau trong một nhóm

- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề…)

- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn(về chủ đề…) Mỗi cá nhân làm trong khoảng vài phút

- Kết thúc thời gian làm việc, cá nhân, các thành viên sẽ thảo luận và thống nhất ý kiến

- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn( giấy A0)

Trang 37

- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

- Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh

- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

Trang 38

- Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời đƣợc tất câu hỏi trong nhiệm vụ đƣợc giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trả lời đƣợc câu hỏi của nhóm ở vòng

DH

Trang 39

a Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo mối quan hệ biện chứng, hữu cơ giữa

vai trò chủ đạo trong tổ chức, điều khiển hoạt động nhóm của giáo viên với tính chủ động, tích cực và tự giác của học sinh:

Sự thống nhất giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là một quy luật tất yếu và cơ bản của quá trình dạy học, hai hoạt động này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

Theo định hướng dạy học tích cực nói chung và phương pháp dạy học hợp tác nói riêng, giáo viên là người tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh, còn học sinh chủ động, tích cực tham gia hoạt động thông qua nhóm học tập để thu nhận và chiếm lĩnh kiến thức

b Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo sự hài hoà giữa hình thức học cá nhân,

học nhóm và học tập thể:

Căn cứ vào tính chất mối quan hệ của cá nhân trong quá trình học tập, người ta phân chia hình thức hoạt động dạy học thành ba loại cơ bản là: dạy học cá nhân, học nhóm và học tập thể Một tiết học trên lớp sẽ trở lên đơn điệu và hiệu quả thấp nếu chỉ sử dụng riêng một trong ba hình thức trên Điều

đó vừa xa rời thực tiễn vừa bất lợi gây khó khăn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực

PPDHHT là phương pháp dạy học tích cực cần có sự tồn tại và phối hợp của cả ba hình thức này, trong đó hoạt động nhóm là hoạt động chính Nhưng nếu không có sự hoạt động của cá nhân thì hoạt động nhóm bị trì trệ, nếu chỉ

Trang 40

chú trọng vào hoạt động nhóm mà không quan tâm đến hoạt động cá nhân thì

sẽ xuất hiện thành phần ỷ lại, ăn theo…, nếu không có hoạt động tập thể cả lớp sẽ không thể đánh giá, rút kinh nghiệm và trao đổi ý kiến giữa các nhóm với nhau được Vì vậy, khi áp dụng phương pháp dạy học hợp tác cần phải đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa ba hình thức học tập này với nhau

c Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo tính hệ thống cấu trúc:

Bất cứ một PPDH nào cũng cần có hệ thống cấu trúc nhất định PPDHHT theo nhóm nhỏ trong quá trình dạy học phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển nhóm của giáo viên và cách thức tiến hành hoạt động học tập của nhóm học sinh Như ở nguyên tắc thứ nhất đó nêu, hai hoạt động này có mối quan hệ biện chứng với nhau, để đảm bảo mối quan hệ biện chứng đó thì đồng thời cũng phải đảm bảo tính hệ thống cấu trúc

d Nguyên tắc thứ tư: phải đảm bảo tính thực tiễn:

Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động cơ và là nơi kiểm nghiệm Tính sát thực, khoa học, hợp lí của lí thuyết Bởi vậy,PPDHHT theo nhóm nhỏ phải được vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp với đặc điểm thực tiễn như:

- Những điều kiện cơ sở vật chất ở trường phổ thông

- Trình độ, đặc điểm của đội ngò giáo viên và năng lực học sinh

e Nguyên tắc thứ năm: phải đảm bảo tính toàn diện trong quy trình tổ

chức hoạt động nhóm Tính toàn diện thể hiện:

- Phải tác động tới tất cả các thành tố của quá trình dạy học, làm cho các thành tố ấy vận động và phát triển nhằm tạo ra hiệu quả dạy học cao trên nhiều phương diện

- Hiệu quả về giáo dục: Giúp người học chủ động lĩnh hội tri thức, kĩ năng với hiệu suất cao nhất, sâu sắc nhất, đồng thời phát triển ở họ những phẩm chất trí tuệ, những kĩ năng xã hội cần thiết

- Hiệu quả kinh tế: Sử dụng phương pháp này không đòi hỏi nhiều thời gian, công sức của thầy và trò cũng như sự đầu tư tốn kém của nhà nước

Ngày đăng: 03/11/2015, 16:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tác dụng của dạy học theo nhóm - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
Bảng 1. Tác dụng của dạy học theo nhóm (Trang 23)
Bảng áp dụng các nội dung trong chương có thể sử dụng PPDHHT - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
ng áp dụng các nội dung trong chương có thể sử dụng PPDHHT (Trang 50)
Hình  thành  nhóm  vòng  2,  nhóm  mới  gồm - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
nh thành nhóm vòng 2, nhóm mới gồm (Trang 64)
Bảng 2: Bảng tổng hợp phân loại kết quả HS qua 2 bài kiểm tra. - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
Bảng 2 Bảng tổng hợp phân loại kết quả HS qua 2 bài kiểm tra (Trang 82)
Bảng 1: Bảng thống kê kết quả các bài kiểm tra. - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
Bảng 1 Bảng thống kê kết quả các bài kiểm tra (Trang 82)
Đồ thị 2:Biểu đồ phân loại HS qua bài kiểm tra lần 2. - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
th ị 2:Biểu đồ phân loại HS qua bài kiểm tra lần 2 (Trang 83)
Đồ thị 1: Biểu đồ phân loại HS qua bài kiểm tra lần 1. - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
th ị 1: Biểu đồ phân loại HS qua bài kiểm tra lần 1 (Trang 83)
Bảng 1: Kết quả điều tra với nội dung câu: 1,2, 3, 4,5. - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
Bảng 1 Kết quả điều tra với nội dung câu: 1,2, 3, 4,5 (Trang 84)
Bảng 2: Kết quả điều tra với nội dung câu 6 - Vận dụng một số kỹ thuật dạy học hợp tác trong dạy học chương 2 nhóm nitơ   SGK hóa học 11 nâng cao
Bảng 2 Kết quả điều tra với nội dung câu 6 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w