Biện pháp 1: Cung cấp cho giáo viên quy trình thiết kế hoạt động dạy học vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT .... Ở Việt Nam, việc vận dụng kĩ thu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HOÀI LINH
VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ HOÀI LINH
VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ngành: LL&PPDH bộ môn Toán
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Cao Thị Hà
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Xác nhận của người hướng dẫn
PGS.TS Cao Thị Hà
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Hoài Linh
Xác nhận của khoa chuyên môn
Trang 4- Nhà giáo: PGS.TS Cao Thị Hà - Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp
đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Có được thành quả này, tôi vô cùng biết ơn đến gia đình, bạn bè, người thân, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Bản thân còn nhiều hạn chế, do vậy, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Hoài Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Một số phương pháp dạy học tích cực 4
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực 4
1.1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực 11
1.2 Một số kỹ thuật dạy học tích cực 16
1.2.1 Mô hình về mối quan hệ giữa quan điểm dạy học – phương pháp dạy học – kỹ thuật dạy học 16
1.2.2 Vai trò của kĩ thuật dạy học tích cực 19
1.2.3 Phân nhóm kĩ thuật dạy học 20
1.2.4 Một số kĩ thuật dạy học tích cực 21
1.3 Thực trạng vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán ở trường THPT 35 1.3.1 Nhận thức của giáo viên về kĩ thuật dạy học tích cực 36
1.3.2 Thực trạng vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT hiện nay 38
Trang 61.3.3 Nhận xét chung 42
Kết luận chương 1 43
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM HỖ TRỢ GIÁO VIÊN VẬN DỤNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG THPT 44
2.1 Một số định hướng khi tổ chức vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT 44
2.1.1 Bám sát mục tiêu dạy học và chuẩn kiến thức 44
2.1.2 Lựa chọn các kĩ thuật dạy phải học đảm bảo tính tiên tiến, phát huy được tính tích cực học tập của học sinh 44
2.1.3 Bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của phương án đề xuất 44
2.2 Nguyên tắc vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT 44
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu bài học 44
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức 45
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên 45
2.3 Một số biện pháp sư phạm hỗ trợ giáo viên vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT 45
2.3.1 Biện pháp 1: Cung cấp cho giáo viên quy trình thiết kế hoạt động dạy học vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT 45
2.3.2 Biện pháp 2: Thực hiện thiết kế một số kịch bản dạy học vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường THPT 48
2.3.3 Biện pháp 3: Dạy một số giờ học mẫu có vận dụng KTDH tích cực 67
2.3.4 Biện pháp 4: Thực hiện dạy học online các kịch bản dạy học vận dụng KTDH tích cực 67
Kết luận chương 2 67
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 68
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
Trang 73.3 Kế hoạch và nội dung thực nghiệm sư phạm 68
3.3.1 Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm 68
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 70
3.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 71
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.5.1 Đánh giá định lượng 71
3.5.2 Đánh giá định tính 74
3.6 Những kết luận ban đầu rút ra từ kết quả thực nghiệm sư phạm 75
Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt, ký hiệu Ý nghĩa chữ viết tắt, ký hiệu
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, coi “Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trong đó con người luôn được coi là nhân tố quan trọng nhất “vừa là động lực, vừa là mục tiêu” cho
sự phát triển bền vững của xã hội
Công cuộc hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi giáo dục cần đào tạo
ra một đội ngũ có năng lực hành động, sáng tạo, tự lực, trách nhiệm trong công việc và năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm
vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ra những con người phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hiện nay
Luật Giáo dục 2005, chương I, điều 24 có ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh” [theo 15]
Quy định này đã trở thành định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay Tinh thần cơ bản của định hướng này là: Phương pháp dạy học cần tạo cơ hội cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo
Việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học đã được sử dụng từ rất sớm
ở nhiều nước trên thế giới và mang lại hiệu quả rất cao Ở Việt Nam, việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực đã được vận dụng từ lâu nhưng vẫn chưa được sử dụng và vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý; một bộ phận giáo viên vẫn chưa nhận thấy hết được vai trò của kĩ thuật dạy học tích cực trong hoạt động giảng dạy, những hiệu quả do kĩ thuật dạy học tích cực mang lại … Vì thế mà chất lượng dạy học chưa được nâng cao
Do đó, một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là mỗi người giáo viên phải hiểu và biết vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý các kĩ thuật dạy học tích cực vào trong từng bài học sao cho đem lại hiệu quả cao nhất cho từng bài học, cho học sinh
Trang 10Nội dung môn Toán THPT được xây dựng theo quan điểm hiện đại, thực tiễn và có nhiều nội dung có thể vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực vào việc dạy học
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài là: “Vận dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường trung học phổ thông”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
ở trường THPT và khả năng vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học, xây dựng các biện pháp vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học Hình học THPT nhằm phát triển kĩ năng dạy học cho giáo viên và nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong dạy học môn Toán ở THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận về Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán
- Tìm hiểu thực trạng việc khai thác các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Toán ở trường THPT
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm hỗ trợ giáo viên vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy Hình học THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
4 Giả thuyết khoa học
Nếu biết khai thác và sử dụng tốt những kĩ thuật dạy học tích cực thì kĩ năng dạy học của giáo viên được nâng cao và tạo được hứng thú học tập cho học sinh, phát huy tính tích cực, sáng tạo và khả năng hợp tác cũng như tự nghiên cứu của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở phổ thông
5 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực vào dạy học Hình học ở trường THPT
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học theo chương trình và SGK dành cho ban cơ bản ở trường THPT
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan tới tâm lí học sinh THPT, tới đổi mới phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực
- Phương pháp điều tra, quan sát: Tổ chức và điều tra về thực trạng sử dụng các kĩ thuật dạy học ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia giáo dục về kĩ thuật dạy học tích cực
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy thử nghiệm trực tiếp trên lớp
- Thống kê toán học: Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu trước
và sau khi thực nghiệm sư phạm
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp sư phạm hỗ trợ giáo viên vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Hình học ở trường Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Một số phương pháp dạy học tích cực
1.1.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
1.1.1.1 Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
Theo [2, tr.8-10], sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực xuất phát từ ba yêu cầu sau:
a) Những yêu cầu từ sự phát triển của xã hội
Với sự phát triển nhanh chóng như vũ bão của công nghệ thông tin, học sin có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau Các nguồn thông tin phong phú đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo dục trước yêu cầu cấp bách cần phải đổi mới cách dạy và cách học Hệ thống giáo dục đang đứng trước áp lực rất lớn
về việc cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới đánh giá, kiểm tra, thi
cử
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà còn là công
cụ hỗ trợ tích cực trong dạy và học; là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả Nó giúp người học mở rộng hiểu biết, bổ sung kiến thức qua hệ thống Internet kết nối thông tin trong nước và toàn thế giới
Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đây thực sự là những thách thức lớn đối với ngành Giáo dục nói chung và với nhà trường, giáo viên nói riêng Giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn cần dạy cho các em cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự học suốt đời
b) Những yêu cầu từ sự phát triển kinh tế
Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nước ta cần có nguồn nhân lực có trình độ học vấn rộng, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ và chuyên môn hóa nhằm đảm bảo chất lượng công việc với hiệu quả, năng suất cao
Trang 13Để đáp ứng được yêu cầu trên thì người lao động phải năng động, sáng tạo, có kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp, sẵn sàng gánh vác trách nhiệm Dám chịu trách nhiệm là một trong những yếu tố quan trọng của người lao động mới Yêu cầu đối với người lao động không chỉ đơn thuần là có kiến thức mà cần phải có kỹ năng và năng lực giải quyết vấn đề linh hoạt, sáng tạo trước các tình huống khó khăn, phức tạp của cuộc sống Đây không phải là những phẩm chất sẵn có ở mỗi con người mà được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục Như vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Ngành Giáo dục phải không ngừng đổi mới trong đó cần quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới đánh giá để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn mới
c) Những yêu cầu liên quan đến đặc điểm tâm – sinh lí của người học
Công nghệ số có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống xã hội của học sinh ngày nay Internet có mặt khắp mọi nơi, điện thoại di động, truyền thông đa phương tiện (MSM), dịch vụ tin nhắn ngắn (SMS), email, zalo, viber, facebook,… đang ngày càng có ảnh hưởng lớn đến việc truyền đạt thông tin
Học sinh ngày nay thu lượm và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc độ chóng mặt Mỗi em có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau Việc sử dụng công nghệ mới giúp học sinh giải quyết vấn đề và xử lí nhiều thông tin cùng một lúc Đây là điểm khác biệt giữa học sinh Việt Nam cách đây vài thập kỉ Những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong một phần tư thế kỉ qua đã chứng minh rằng, mỗi
em học sinh đều có một cách học theo sở thích riêng, hay còn gọi là phong cách học
Có em thích học theo cách nghiên cứu tài liệu, phân tích dựa trên lý thuyết; có em thích học qua trải nghiệm, khám phá, làm thử; có em thích học qua thực hành áp dụng; có
em lại thích học qua quan sát,… Như vậy, nếu dạy học không quan tâm đến đặc điểm người học, giáo viên truyền thụ một chiều, dạy kiến thức mang tính thông báo đồng loạt thì sẽ hạn chế khả năng tiếp thu của người học Người học hoàn toàn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức đồng thời cũng sẽ thụ động trước những thách thức khó khăn của cuộc sống Một trong những yếu tố quan trọng để thay đổi từ cách học thụ động sang cách dạy học tích cực là cần quan tâm đến đặc điểm của người học hay chính
Trang 14là phong cách của người học Quan tâm đến phong cách học của người học là yếu tố thúc đẩy sự phát triển tối đa năng lực của người học
Nhà khoa học người Đức có tên là Hermann Ebbinghausđã có một công trình khoa học nghiên cứu về biểu đồ trí quên Qua đó, sự thật là sau một giờ, chúng ta quên mất gần một nửa (44%) nếu không ôn tập lại, sau một ngày chúng ta quên 67% và sau một tuần là 75%
Biểu đồ 1.1 Biểu đồ trí quên Bảng 1.1 Tại sao phải áp dụng dạy và học tích cực
Giải thích Giải thích và
minh họa
Giải thích, minh họa và trải nghiệm
Ở mỗi quốc gia, mục tiêu giáo dục thường được thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Ở nước ta, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, mục tiêu giáo dục đã được cụ thể hóa và bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới
Điều đáng chú ý là, mục tiêu giáo dục ngày nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới không chỉ nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng đã có của
Trang 15nhân loại mà còn chú trọng đến vận dụng kiến thức, kỹ năng vào cuộc sống, đặc biệt quan tâm đến việc phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh Việc thay đổi mục tiêu giáo dục cần phải có những phương pháp dạy học phù hợp để thực hiện, đạt được mục tiêu
1.1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Luật Giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy
và học theo hướng tích cực Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực thì phương pháp học của học sinh là mối quan tâm hàng đầu
Theo [1, tr.15-16], để thiết kế và tổ chức dạy học hiệu quả, giáo viên cần suy nghĩ về những vấn đề sau:
- Đâu là mối quan tâm hàng đầu của học sinh?
- Học sinh nên học như thế nào để hiệu quả?
- Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực?
Như vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là “Học sinh nên biết gì?” mà còn là
“Điều gì xảy ra với học sinh?” khi các em tham gia vào quá trình học tập Giáo viên cần quan tâm đến quá trình học tập và việc xây dựng kiến thức của người học Khi lấy người học làm trung tâm, giáo viên phải xác định thế nào là quá trình học tập hiệu quả nhất Trên cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với năng lực,
sở thích và nhu cầu của người học Điều này đòi hỏi giáo viên có một cách nhìn nhận mới, cách suy nghĩ mới về công việc, về mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cùng những vấn đề liên quan
Hai yếu tố cốt lõi của định hướng đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực là sự tham gia và cảm giác thoải mái [2, tr.11,12]
a) Sự tham gia của người học vào quá trình dạy và học tích cực
Sự tham gia là nói đến cường độ của hoạt động, sự tập trung, say mê với mọi vật xung quanh để trở nên hăng hái, yêu thích khám phá và vượt qua những giới hạn khả năng của mỗi người học Tất cả những tính cách đó khiến sự tham gia trở thành biểu hiện xuất sắc cho sự hoàn thiện của quá trình phát triển
Sự tham gia cho thấy học sinh tận dụng và khai thác môi trường học tập và kiến thức như thế nào Khi quan sát, nếu thấy học sinh tập trung cao độ, miệt mài, say sưa
Trang 16giải quyết các nhiệm vụ học tập, bỏ qua yếu tố thời gian thì có thể khẳng định quá trình học tập tích cực đang diễn ra, học sinh tiếp thu kiến thức ở mức độ sâu
Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi giáo viên thực hiện tốt năm yếu tố tăng cường sự tham gia của học sinh:
* Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm/ lớp
Nội dung/ nhiệm vụ và các hoạt động phù hợp với mức độ phát triển của học sinh, gần gũi với thực tế; Đa dạng về hình thức; Tạo điều kiện cho học sinh tự do sáng tạo; Môi trường học tập thân thiện, mang tính kích thích thể hiện qua việc bố trí bàn ghế, trang trí trên tường, cách sắp xếp không gian lớp học, quan tâm tới sự thoải mái
về tinh thần, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động giải trí nhẹ nhàng, truyện vui, hài hước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực; Tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm,… và hợp tác trong các hoạt động học tập
* Sự phù hợp với mức độ phát triển của học sinh
Nhiệm vụ, các hoạt động học tập cần có sự phân hóa, quan tâm đến sự khác biệt
về nhịp độ học tập, trình độ phát triển giữa các đối tượng học sinh khác nhau; Có sự thỏa thuận cam kết rõ ràng về những mong đợi của thầy đối với trò và ngược lại; Các yêu cầu đối với học sinh cần rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa; Khuyến khích học sinh giúp đỡ lần nhau; Quan sát học sinh học tập để tìm ra phong cách và sở thích học tập của từng em, có sự hỗ trợ phù hợp, yêu cầu học sinh động não và hỗ trợ cá nhân, tạo điều kiện để học sinh trao đổi về nhiệm vụ học tập
* Sự gần gũi với thực tế
Nội dung/ nhiệm vụ học tập gắn với các mối quan tâm của học sinh và với thế giới thực tại xung quanh; Tận dụng mọi cơ hội để học sinh tiếp xúc với vật thực/ tình huống thực; Sử dụng các công cụ dạy học hấp dẫn (trình chiếu, video, tranh ảnh,…) để
“đưa” hs lại gần đời sống thực tế; Giao các nhiệm vụ vận dụng kiến thức/ kĩ năng vào thực tế; Khai thác các đề tài vượt ra ngoài giới hạn của các môn học riêng lẻ
* Mức độ và sự đa dạng của hoạt động
Trong các hoạt động học tập, hạn chế tối đa thời gian chết và thời gian chờ đợi; Tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm tích cực; Tích cực các hoạt động học mà
Trang 17chơi (các trò chơi giáo dục), thay đổi xen kẽ các hoạt động và nhiệm vụ học tập; Tăng cường các trải nghiệm thành công; Tăng cường sự tham gia tích cực; Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học sinh hỗ trợ lẫn nhau và hỗ trợ từ giáo viên); Đảm bảo đủ thời gian thực hành
* Phạm vi tự do sáng tạo
Học sinh được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở thích, được tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng); Trong khuôn khổ một số nhiệm vụ nhất định, học sinh được khuyến khích tự do xác định quá trình thực hiện và xác định sản phẩm; Học sinh được tạo điều kiện tham gia vào các hoạt động học tập
b) Cảm giác thoải mái
Dạy học tích cực chỉ thực sự diễn ra khi học sinh có được cảm giác thoải mái – cảm giác như được ở nhà, được quan tâm, cảm thấy an toàn, được thể hiện bản thân và cảm giác yên bình bên trong Cảm giác thoải mái là dấu hiệu thể hiện sự phát triển tâm
lý tốt Cảm giác này tồn tại khi học sinh tự tin vào bản thân, nghĩa là có lòng tự tôn cao Biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng có thể mang lại sự tiến bộ và sự phát triển, giúp học sinh đương đầu với khó khăn tốt hơn Sự hỗ trợ, phản hồi tích cực
và mong đợi thực tế cần trở thành một phần của cuộc sống trong nhà trường
Một trong những yếu tố để tạo ra cảm giác thoải mái là tính hài hước Tính hài hước giúp nhìn rõ mọi sự việc trong khả năng nhận thức, giúp vượt qua những tình huống khó khăn, mang lại sức mạnh và tầm nhìn để tìm ra giải pháp mới Chúng ta đã làm cho trẻ cười đủ chưa? Giáo viên đã cười đủ với học sinh và đồng nghiệp chưa? Đó
là những câu hỏi đặt ra đối với mỗi giáo viên khi thực hiện dạy học tích cực
Học sinh học tập hiệu quả nhất khi có một cộng đồng học tập gắn kết và có sự quan tâm lẫn nhau Đây chính là nền tảng cho cảm giác thoải mái của học sinh Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến từng học sinh với tư cách là những
cá nhân độc lập và với tư cách người học Họ biết về cuộc sống, những sở thích, nơi ở
và hoàn cảnh gia đình của học sinh, nắm bắt được khó khăn trong học tập của từng em
Để tạo ra một môi trường học tập tích cực, các hoạt động học tập cần được liên hệ với những kiến thức đã biết của học sinh
Trang 18Văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng học tập Trên quan điểm này, chúng ta có thể nhìn nhận nhà trường như là phần mở rộng của gia đình và
do đó cần cố gắng rút ngắn khoảng cách về điều kiện giữa ở nhà và ở trường Trước hết, điều này có nghĩa là nhà trường cần nhận thức rõ về điều kiện gia đình khác nhau, không phải mọi trẻ em đều sinh ra trong gia đình ổn định và có những cơ hội giống nhau Để rút ngắn khoảng cách về văn hóa gia đình của học sinh, nhà trường cần nỗ lực tạo ra bầu không khí hỗ trợ gắn bó giữa gia đình và nhà trường Điều đó sẽ khuyến khích được sự tham gia của phụ huynh trong quá trình học tập của học sinh Những giáo viên dạy học có hiệu quả thường quan tâm đến quá trình học tập của học sinh và coi những lỗi các em mắc phải là một phần tự nhiên của quá trình này Trong môi trường học tập tích cực, an toàn, có sự hỗ trợ và quan tâm của giáo viên, học sinh có thể thoải mái thể hiện nhận thức của mình, đặt câu hỏi mà không lo sợ bị chế nhạo hay coi thường
Cảm giác thoải mái gắn liền với môi trường học tập và cách thức tổ chức dạy học phù hợp với những nhu cầu của người học Có thể nhận thấy cảm giác thoải mái của một học sinh thông qua sự cởi mở và tiếp thu kiến thức tốt Học sinh dễ dàng thích nghi, hòa nhập với môi trường, không bị băn khoăn hay chán nản Học sinh bộc lộ sự nhận thức về bản thân – sự tự tin và có khả năng bênh vực, bảo vệ cái đúng, lẽ phải, coi trọng bản thân và những người xung quanh Học sinh học thoải mái ở mức độ cao liên hệ với cong người bên trong (ý chí, tình cảm), biết cái gì cần cho bản thân, cái gì nên làm/ không nên làm với những mong ước, suy nghĩ và cảm nhận Người học phải cảm thấy an toàn và được tôn trọng trong môi trường học tập thân thiện Như vậy, cảm giác thoải là điều kiện để đạt được mức độ tham gia cao và tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập
Cảm giác thoải mái và sự tham gia tích cực có thể trở thành tiêu chuẩn cơ bản
để đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục Điều đó có nghĩa là, giáo viên cần phải thiết kế những hoạt động học tập nhằm đảm bảo mức độ tham gia cao và tham gia tích cực của học sinh; đồng thời, tác động đến tình cảm, thái độ và đem đến niềm vui cũng như hứng thú trong học tập cho học sinh
Trang 19Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của người dạy và người học, trong
đó, giáo viên giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện, tư vấn, chỉ dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là người thể chế hóa kiến thức
1.1.2 Một số phương pháp dạy học tích cực
1.1.2.1 Dạy học theo nhóm
Theo [3, tr.98], dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước lớp
*) Bản chất của phương pháp dạy học theo nhóm:
- Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết Đơn giản là vì không ai hoàn hảo, làm việc theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu
- Dạy học nhóm đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch dạy học, lựa chọn những nội dung thực sự phù hợp với hoạt động nhóm và thiết kế được các hoạt động giúp các em lĩnh hội, khám phá kiến thức mới một cách tốt nhất
- Tổ chức dạy học nhóm là một hình thức dạy học mới Đó là một trong những hình thức thực hiện tốt việc dạy học phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh Với hình thức này, học sinh được hấp dẫn, lôi cuốn vào các hoạt động học, thu lượm kiến thức bằng chính khả năng của mình với sự giúp đỡ, hướng dẫn của giáo viên
- Phương pháp dạy học theo nhóm được sử dụng nhằm khai thác vốn kiến thức
mà các em đã tích luỹ, những hiểu biết thực tế trong đời sống hoặc vận dụng kiến thức vào cuộc sống lao động sản xuất
*) Lợi ích của công việc dạy học nhóm:
1 Giúp học sinh làm việc hợp tác
2 Cho phép học sinh học hỏi lẫn nhau
3 Khuyến khích sự tham gia của học sinh
4 Loại bỏ vết nhơ về thất bại của học sinh
Trang 205 Cho phép học sinh tôn trọng điểm yếu và điểm mạnh của người khác
6 Cho phép học sinh làm việc với nhịp độ riêng
7 Tạo điều kiện cho công việc hợp tác
8 Khuyến khích sự cùng ra quyết định
9 Tạo điều kiện cho học sinh tập làm lãnh đạo
10 Khuyến khích phát triển tính tự quản, khả năng xoay sở và tôn trọng bản thân
11 Khuyến khích tư duy cấp cao
12 Là một phương pháp đặc biệt hữu hiệu cho hoạt động giải quyết vấn đề
13 Khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề về bất đồng quan điểm
14 Cải tiến các cuộc thảo luận và nói chuyện trong lớp
*) Vai trò của giáo viên trong dạy học theo nhóm:
Để đạt kết quả cao, giáo viên phải biết tổ chức nhóm, hướng dẫn cách thực hiện, phân bố thời gian hợp lý, giải đáp thắc mắc của học sinh trước khi chính thức đi vào hoạt động Khi học sinh tiến hành hoạt động, giáo viên chuyển từ vị trí người dẫn sang
vị trí người giám sát Nhiệm vụ của giáo viên lúc này là nhận biết tiến trình hoạt động của các nhóm từ đó có thể có những can thiệp kịp thời để mang lại hiệu quả Muốn vậy khi giám sát hoạt động nhóm, giáo viên cần: Chú ý đến hoạt động mà giáo viên yêu cầu lớp thực hiện Không nên tranh thủ làm việc riêng khi học sinh đang thảo luận, vì như vậy học sinh sẽ không tập trung vào hoạt động Lắng nghe quá trình trao đổi của học sinh trong nhóm Từ đó giáo viên có thể có những phát hiện thú vị về khả năng đặc biệt của từng em, hướng thảo luận của từng nhóm để có điều chỉnh kịp thời Nhắc thời gian để các nhóm hoàn thành phần hoạt động của mình đúng thời gian quy định
*) Vai trò của học sinh trong dạy học theo nhóm:
Tích cực hoạt động nhận thức của mình, biến người học từ đối tượng tiếp thu tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức, chủ động chiếm lĩnh tri thức và nâng cao niềm tin của mình vào việc học tập
1.1.2.2 Dạy học theo hợp đồng
Theo [1, tr.100], học theo hợp đồng là một hoạt động học tập trong đó mỗi học sinh được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các nhiệm vụ, bài tập bắt buộc và tự chọn khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Học sinh chủ động và độc lập
Trang 21quyết định về thời gian cho nhiệm vụ, bài tập và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ, bài tập
đó theo khả năng của mình
*) Đặc điểm của dạy học theo hợp đồng:
Học theo hợp đồng là một hình thức dạy học mang tính cá thể hóa, tạo điều kiện phân hóa trình độ của học sinh, khuyến khích học sinh phát triển tối đa năng lực học tập, năng lực xã hội (năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp) và tự kiểm soát, tự đánh giá kết quả học tập của mình Hình thức dạy học này khác với việc dạy học mang tính đồng loạt cho toàn thể lớp học, cho phép giáo viên có thể quản lí và kiểm soát, thẩm định, đánh giá được năng lực học tập của mỗi học sinh Hình thức dạy học này tạo cơ hội học tập cho tất cả học sinh trong lớp theo trình độ, nhịp độ và theo năng lực
Khi yêu cầu học sinh thực hiện một số các nhiệm vụ, bài tập theo một thứ tự cố định thì chỉ có thể gọi là hình thức làm việc độc lập chứ không phải là học theo hợp đồng Học theo hợp đồng chủ yếu phù hợp với những nội dung luyện tập, ôn tập Đối với các nội dung lý thuyết thì hợp đồng chỉ được thực hiện nếu các nhiệm vụ học tập không được yêu cầu thực hiện theo một thứ tự nhất định Học theo hợp đồng đôi khi bị nhầm với học cá nhân Tuy nhiên trong học theo hợp đồng không phải không có nhiệm
vụ lắng nghe và trình bày Học theo hợp đồng có thể có hoạt động theo cặp, theo nhóm (có thỏa thuận hướng dẫn rõ ràng) Các nhiệm vụ làm theo nhóm, các nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn có thể làm cho các hoạt động học theo hợp đồng phong phú và hấp dẫn hơn vì khi đó học sinh có thể thể hiện khả năng sáng tạo của mình, có thể xây dựng, thực hành các kỹ năng xã hội như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thể hiện mình với người khác, kỹ năng trình bày vấn đề
*) Vai trò của giáo viên trong dạy học theo hợp đồng:
Trong học theo hợp đồng, giáo viên là người: thiết kế, xây dựng các nhiệm vụ, bài tập trong hợp đồng; tổ chức, hướng dẫn học sinh nghiên cứu hợp đồng, kí kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng theo năng lực, trình độ và nhịp độ học tập của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu dạy học; đánh giá, thẩm định sản phẩm hoạt động học tập của học sinh
*) Vai trò học sinh trong dạy học theo hợp đồng:
Trang 22Học sinh là người thực hiện nội dung học tập theo khả năng của mình: học sinh
có thể quyết định nhiệm vụ nào cần thực hiện trước và có thể dành bao nhiêu thời gian cho nhiệm vụ đó Học sinh phải tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập với sự hỗ trợ của giáo viên hoặc học sinh khác (nếu cần) Như vậy, học sinh có thể quyết định tạo ra một môi trường học tập cá nhân phù hợp để đạt hiệu quả theo hợp đồng đã kí
1.1.2.3 Dạy học theo dự án
Theo [3, tr.128], dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt
*) Đặc điểm của dạy học theo dự án:
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
- Định hướng hứng thú người học: Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học dự án, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học Giáo viên chủ yếu đóng vai
Trang 23trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của học sinh và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong
đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong
đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
*) Vai trò của học sinh trong dạy học theo dự án:
Học sinh là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó
Học sinh tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm
Chính học sinh là người lựa chọn các nguồn dữ liệu, thu thập dữ liệu từ những nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp (synthesize), phân tích (analyze) và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của chính các em
Học sinh hoàn thành việc học với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó
Học sinh cũng là người trình bày kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự
án
Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những
gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó
*) Vai trò của giáo viên trong dạy học theo dự án:
Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên đóng vai trò trung tâm,
là chuyên gia và nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức, trong dạy học dự án, giáo viên
là chỉ là người hướng dẫn (guide) và tham vấn (advise) chứ không phải là “cầm tay chỉ
Trang 24việc” cho học sinh của mình Theo đó, giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ nội dung nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề của cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo vai trò cho học sinh trong dự án, làm cho vai trò của học sinh gắn với nội dung cần học (thiết kế các bài tập cho học sinh)…
Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các
em trong quá trình học tập theo hướng tích cực
- Quan điểm dạy học (QĐDH): là những định hướng tổng thể cho các hành
động PP, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ
sở lý thuyết của LLDH đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình DH QĐDH là những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh, là mô hình lý thuyết của PPDH Tuy nhiên các quan điểm dạy học chưa đưa ra những mô hình hành động cũng như những hình thức xã hội cụ thể cho hành động PP, do đó chưa phải các PPDH cụ thể Có thể kể ra các QĐHD như: DH giải thích- minh hoạ, DH kế thừa, dạy học giải quyết vấn đề, DH khám phá, DH nghiên cứu, DH định hướng hành động, DH định hướng HS, DH theo tình huống, DH tổng thể, DH gắn với kinh nghiệm,
DH định hướng mục tiêu, DH giao tiếp, DH mở, v.v Ngoài ra trong các môn còn có những QĐDH đặc thù [3, tr 75]
- Phương pháp dạy học (PPDH): Khái niệm PPDH ở đây được hiểu với nghĩa
hẹp, đó là các PPDH cụ thể, các mô hình hành động PPDH là những hình thức, cách thức hành động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu DH xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện DH cụ thể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của GV và HS Người ta ước tính có tới hàng trăm PPDH cụ thể, bao gồm những PP chung cho nhiều môn và các PP đặc thù bộ môn Bên cạnh các PPDH
Trang 25truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại, biểu diễn trực quan, làm mẫu, có thể kể ra một số PP khác như: PP nghiên cứu trường hợp, PP điều phối, PP đóng vai,
… [1, tr 75]
Sau đây là bảng liệt kê một số PPDH:
Nghiên cứu trường hợp Khám phá trên mạng (WebQuest)
- Kĩ thuật dạy học (KTDH): là những động tác, cách thức hành động của của
GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập Các KTDH vô cùng phong phú
về số lượng, có thể tới hàng ngàn Bên cạnh những KTDH thông thường, ngày nay người ta đặc biệt chú trọng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học,
ví dụ: KT “Động não'', KT “tia chớp'', KT tương tự, KT lược đồ tư duy [3, tr.76]
Sau đây là bảng liệt kê một số kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực:
Động não không công khai Kỹ thuật 3 lần 3
Kỹ thuật phòng tranh “Bắn bia”
Lấy ý kiến bằng phiếu Kỹ thuật ổ bi
Lấy ý kiến bằng điểm Lược đồ tư duy
Tranh châm biếm Thảo luận ủng hộ và chống
Trang 26QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động Một QĐDH có những PPDH phù hợp, một PPDH
cụ thể có các KTDH đặc thù Tuy nhiên có những PP phù hợp với nhiều QĐDH, cũng như những KTĐH dùng trong nhiều PP khác nhau Việc phân biệt giữa các QĐ DH, PPDH, KTDH mang tính tương đối Mối quan hệ giữa QĐDH, PPDH và KTDH có thể được thể hiện ở sơ đồ sau:
Mô hình ba bình diện của phương pháp dạy học [Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier]
Bình diện vĩ mô: Ở bình diện vĩ mô là các QĐDH và các hình thức tổ chức
dạy học (HTTCDH) Các QĐDH định hướng tổng thể cho việc lựa chọn và thiết
kế PPDH cụ thể Các HTTCDH quy định các điều kiện khung về mặt tổ chức của PPDH
Bình diện trung gian: Trung tâm của bình diện này là các PPDH cụ thể, đó là
các mô hình hành động PP của GV và HS Các PPDH cụ thể được thể hiện trong các hình thức xã hội và theo tiến trình các bước dạy học xác định Các thành phần của bình diện này có mặt bên trong và mặt bên ngoài của chúng
Bình diện vi mô: KTDH là bình diện vi mô, bình diện nhỏ nhất của PPDH Cần
phân biệt khái niệm KTDH ở đây không phải khái niệm KT vật chất mà thuộc phạm trù PPDH
Trang 271.2.2 Vai trò của kĩ thuật dạy học tích cực
1.2.2.1 Đối với giáo viên
- Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể của mọi hoạt động, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn Việc nắm vững cách sử dụng, và vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học sẽ giúp giáo viên tương tác tốt hơn với học sinh, tạo điều kiện cho học sinh làm việc, tự chiếm lĩnh tri thức Trên cơ sở đó, giáo viên điều chỉnh,
bổ sung và đánh giá được quá trình học tập của học sinh
- Việc áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực yêu cầu giáo viên luôn chủ động trong mọi tình huống, bám sát học sinh, phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu của học sinh… trên cơ sở đó để có những biện pháp tác động kịp thời để khắc phục
- Khi vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực, giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người hiểu biết, là người nghe tích cực và là người phối hợp làm cho mọi cái cùng một lúc thuận lợi hơn Chính vì vậy, người giáo viên luôn không ngừng học hỏi, mở mang kiến thức
1.2.2.2 Đối với học sinh
- Vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực sẽ phát huy được tác dụng là giúp cho học sinh xác định được nhiệm vụ, động cơ, ý thức, tự giác học tập, biết đánh giá nhìn lại quá trình học tập và tự điều chỉnh cách học của mình
- Với cách dạy học truyền thống thường yêu cầu học sinh ghi nhớ một cách máy móc vì vậy học sinh dễ quên Việc vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực sẽ giúp học sinh ghi nhớ một cách khoa học, tiết kiệm “bộ nhớ” trong não của học sinh Hơn nữa việc ghi nhớ sẽ mang tính hệ thống hơn sẽ giúp cho việc tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt hơn
- Kĩ thuật dạy học tích cực đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo
Trang 28- Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học nhằm tích cực hoá, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
- Kĩ thuật dạy học tích cực đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, nó phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của học sinh Việc học đối với học sinh khi đã trở thành niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự khẳng định mình và nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo Như vậy, kĩ thuật dạy học tích cực nhấn mạnh đến hoạt động của người học và tính nhân văn của giáo dục
1.2.3 Phân nhóm kĩ thuật dạy học
Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy tính tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS Căn cứ vào mục đích sử dụng và vai trò của các kĩ thuật dạy học đối với HS và GV, ta có thể phân chia các kỹ thuật dạy học tích cực thành ba nhóm, bao gồm: nhóm kỹ thuật đặt câu hỏi, nhóm kỹ thuật hợp tác và nhóm kỹ thuật thông tin phản hồi
* Nhóm kĩ thuật đặt câu hỏi:
- Trong dạy học, hệ thống câu hỏi của GV giữ vai trò quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hỗi kiến thức của HS Thay cho việc thuyết trình, đọc chép, nhồi nhét kiến thức, GV chuẩn bị hệ thống các câu hỏi để học sinh suy nghĩ phát hiện kiến thức, phát triển nội dung bài học, khuyến khích HS động não tham gia thảo luận xoay quanh vấn đề đặt ra Trong quá trình đàm thoại, GV là người tổ chức, HS chủ động tìm tòi, sáng tạo, phát hiện kiến thức mới Đồng thời qua đó HS có được niềm vui, hứng thú khám phá và tự tin khi thấy trong kết luận của thầy cô có phần đóng góp của mình
- Các loại câu hỏi: Có 2 loại câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở Câu hỏi mở đòi hỏi HS phải suy nghĩ, giúp GV biết được rõ hơn mức độ hiểu bài của HS
Theo mục đích sử dụng có các kiểu câu hỏi như:
+ Câu hỏi chuẩn đoán
+ Câu hỏi thách thức
+ Câu hỏi (yêu cầu) hành động
Trang 29+ Câu hỏi so sánh
+ Câu hỏi lựa chọn
+ Câu hỏi dự đoán
+ Câu hỏi (để yêu cầu) mở rộng ý tưởng, kết luận trước đó
+ Câu hỏi đề nghị suy ra
+ Câu hỏi đánh giá
* Nhóm kĩ thuật hợp tác
Kĩ thuật hợp tác không chỉ nhằm chuẩn bị cho HS hướng tới xã hội hợp tác sau này mà còn có thể giúp quá trình học tập tốt hơn Các kĩ thuật hợp tác được dùng nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm, hiệu quả học tập và trách nhiệm cá nhân Kĩ thuật hợp tác bao gồm: kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật KWL, kĩ thuật đắp bông tuyết, kĩ thuật bể
cá, kĩ thuật động não …
* Nhóm kĩ thuật lấy thông tin phản hồi
- Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hưởng tới quá trình học tập
- Mục đích sử dụng các kĩ thuật lấy thông tin phản hồi trong dạy học là nhằm điều chỉnh, hợp lí hóa quá trình dạy học
- Các kĩ thuật lấy thông tin phản hồi bao gồm: Kĩ thuật “tia chớp”, kĩ thuật “3 lần 3”, kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực, …
Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các KTDH phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học như:
Trang 301.2.4.1 Kĩ thuật động não
Theo [3, tr 171], động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra
“cơn lốc” các ý tưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ
*) Cách tiến hành:
- Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
- Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không đánh giá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
- Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
- Đánh giá:
+ Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng: Có thể ứng dụng trực tiếp; Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm; Không có khả năng ứng dụng
+ Đánh giá những ý kiến đã lựa chọn
+ Rút ra kết luận hành động
*) Ưu điểm của kĩ thuật động não:
- Dễ thực hiện;
- Không tốn kém;
- Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể;
- Huy động được nhiều ý kiến;
- Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia
*) Nhược điểm của kĩ thuật động não:
Trang 31*) Ví dụ 1.1: Dạy bài “Phương trình đường thẳng trong không gian” – Hình học 12
Nội dung động não:
? Điều kiện để hai đường thẳng song song, cắt nhau, chéo nhau
Cho hai đường thẳng d và d’ có phương trình tham số lần lượt là:
+ Điều kiện để nhận biết hai vectơ cùng phương?
+ Cách tìm giao điểm của hai đường thẳng?
+ Hai đường thẳng đã cho nằm ở vị trí tương đối nào?
- HS động não trong ba phút và GV chỉ định
- Mỗi hs chỉ nêu một ý kiến cho đến khi hết ý kiến
- Cả lớp thảo luận và kết luận về điều kiện để hai đường thẳng song song, cắt nhau, chéo nhau
1.2.4.2 Sơ đồ tư duy
Theo [1, tr 67], sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề
*) Cách tiến hành:
- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Tại sao lại phải dùng hình ảnh?
Vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp bạn sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp chúng ta tập trung được vào chủ đề và làm cho chúng ta hưng phấn hơn
- Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh
- Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một, nối các nhánh cấp ba đến nhánh cấp hai,… bằng các đường kẻ Các đường kẻ càng ở gần hình ảnh trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn Khi chúng ta nối các đường với nhau, bạn sẽ hiểu và nhớ nhiều thứ hơn rất nhiều
do bộ não của chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng
Trang 32- Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
- Tạo ra một kiểu bản đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,…)
- Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được
tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều
- Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
Ta có thể trình bày cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình như sau:
*) Ưu điểm của sơ đồ tư duy:
- Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu
- Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng
- Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại
- Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng
*) Nhược điểm của sơ đồ tư duy: Một số ý kiến cho rằng:
- Sơ đồ tư duy sử dụng quá nhiều màu sắc, trông như tranh vẽ trẻ con và mất công tô màu
- Sơ đồ tư duy thì phải vẽ, nhưng nhiều người không có năng khiếu vẽ, vẽ xấu
- Mất nhiều thời gian hơn ghi chép thông thường
- Tốn giấy
*) Ví dụ 1.2: Với tiết ôn tập chương vetơ, thay vì ôn tập theo cách truyền thống, chúng
ta có thể triển khai ôn tập bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy như sau: Sau khi nêu mục
Trang 33đích, yêu cầu của tiết ôn tập giáo viên có thể nêu câu hỏi: Hãy sử dụng sơ đồ tư duy để tìm hiểu về vấn đề liên quan đến chương vectơ?
Cách tiến hành:
- Viết “Vectơ” ở trung tâm
- Từ trung tâm vẽ 4 nhánh chính, nhánh 1 viết “Định nghĩa”, nhánh 2 viết “Tổng hiệu hai vectơ”, nhánh 3 viết “Tích của vectơ với một số”, nhánh 4 viết “Hệ trục tọa độ”
- Ở nhánh 1 vẽ tiếp 4 nhánh tiếp theo là: Vetơ cùng phương, độ dài vectơ, vectơ không, hai vectơ bằng nhau Tiếp tục như vậy với 3 nhánh còn lại
Chú ý: Chữ và nhánh (trên mỗi nhánh chính) được vẽ cùng một màu
Sơ đồ 1.1 Chương I: Vectơ – Hình học 10
1.2.4.3 Kĩ thuật khăn phủ bàn
Theo [1, tr 60], kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm
*) Cách tiến hành:
- Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0
- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm (ví dụ nhóm 4 nguời) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh
Trang 34Sơ đồ 1.2 Kĩ thuật “Khăn phủ bàn”
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ trả lời câu hỏi (hoặc nhiệm vụ) theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của mình trên tờ A0
- Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm, thống nhất
ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “khăn phủ bàn”
*) Ưu điểm của kĩ thuật khăn phủ bàn:
- Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ chức trong tất cả các bài học, môn học, cấp học giống như học theo nhóm
- Kĩ thuật khăn phủ bàn khắc phục được hạn chế của học theo nhóm vì mỗi học sinh đều phải suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm, không ỷ lại vào các bạn khá, giỏi
- Có thể thay số trên khăn phủ bàn bằng tên học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu
*) Nhược điểm của kĩ thuật khăn phủ bàn:
Đòi hỏi thời gian đủ để HS làm việc cá nhân và thống nhất ý kiến trong nhóm
*) Ví dụ 1.3: Trước khi vào tiết “Bài tập phương trình đường thẳng” – Hình học 12,
giáo viên yêu cầu học sinh: Nêu các phương pháp lập phương trình đường thẳng? Lấy
ví dụ minh họa?
- GV chia lớp thành các nhóm Mỗi nhóm 4 HS
- Mỗi cá nhân suy nghĩ, trả lời câu hỏi vào phần giấy của mình trên “Khăn phủ bàn”
Trang 35- Thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến, ghi kết quả vào giữa “Khăn phủ bàn”, một
số ý kiến riêng của cá nhân ghi xung quanh
- Câu trả lời mong muốn hs ghi vào giữa “Khăn phủ bàn”:
1 PT tổng quát: Phương trình tổng quát của đường thẳng d có dạng:
{A1x + B1y + C1z + D1 = 0
A2x + B2y + C2z + D2 = 0Trong đó: A12 + B12+ C12 > 0; A22+ B22+ C22 > 0; A1: B1: C1 ≠ A2: B2: C2
2 PT tham số: Đường thẳng d đi qua điểm M(x0; y0; z0) nhận a⃗ (a1; a2; a3) làm véctơ chỉ phương có phương trình tham số là:
Theo [2, tr 55], KWL là một kĩ thuật dạy học do Dona Ogle giới thiệu năm
1986 Trong đó: K (Know) - những điều đã biết; W (Want to know) - những điều muốn biết; L (Learned) - những điều đã học được
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ KWL (được Ogle xây dựng vào năm 1986)
Trang 36K (Những điều đã biết) W (Những điều muốn biết) L (Những điều đã học
được sau bài học)
- Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của phiếu những
gì vừa học được Lúc này, học sinh xác nhận về những gì các em đã học được qua bài học đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá được kết quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học
*) Ưu điểm của kĩ thuật KWL:
- Giúp học sinh xác định nhiệm vụ, động cơ, ý thức, tự giác học tập, biết nhìn lại quá trình học tập của mình và tự điều chỉnh cách học
- Giáo viên đánh giá được kết quả giờ dạy của mình để điều chỉnh cách dạy
- Giáo viên đánh giá được khả năng nhận thức của học sinh ngay sau mỗi nội dung/ bài học không cần chờ đến giờ kiểm tra
*) Nhược điểm của kĩ thuật KWL: Cần nhiều thời gian
*) Ví dụ 1.4: Khi bắt đầu vào bài 3: Các hệ thức lượng trong tam giác và giải tam giác
của chương II: Tích vô hướng của hai vectơ và ứng dụng – Hình học 10, sau khi đã nêu mục đích yêu cầu của bài học là: Giới thiệu các hệ thức lượng trong tam giác và các ứng dụng của chúng
Trang 37GV phát phiếu học tập “KWL”, yêu cầu học sinh điền vào hai cột K và W và yêu cầu học sinh khi kết thúc bài học thì điền vào cột L
tam giác vuông
- Giá trị lượng giác của các
góc
- Độ dài của vectơ
- Các hệ thức lượng trong tam giác
- Giải tam giác và ứng dụng
- Định lí cosin
- Định lí sin
- Công thức tính diện tích tam giác
- Giải tam giác và ứng dụng vào việc đo đạc
Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
- Lớp học chia thành các nhóm (khoảng từ 3 - 6 HS) Mỗi nhóm được giao nhiệm
vụ tìm hiểu hoặc nghiên cứu sâu một phần nội dung học tập khác nhau nhưng có sự liên quan chặt chẽ với nhau Các nhóm này được gọi là “nhóm chuyên sâu”
Trang 38- Các nhóm nhận nhiệm vụ và nghiên cứu, thảo luận, đảm bảo mỗi thành viên trong các nhóm đều nắm vững và có khả năng trình bày lại được các nội dung trong nhiệm vụ được giao cho các bạn ở nhóm khác Mỗi học sinh trở thành “chuyên sâu” của lĩnh vực đã tìm hiểu trong nhóm mới ở giai đoạn tiếp theo
để giải trí đơn thuần mà thật sự là những nội dung học tập quan trọng
*) Ưu điểm của kĩ thuật mảnh ghép:
- Kĩ thuật mảnh ghép tạo ra hoạt động phong phú, đa dạng cho hs tham gia
- Hình thành ở học sinh tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập với chính mình và với các bạn trong lớp
- Hình thành ở học sinh kĩ năng giao tiếp, trình bày, hợp tác, giải quyết vấn đề
*) Nhược điểm của kĩ thuật mảnh ghép:
- Cần có đủ thời gian để thực hiện vòng 1, vòng 2
- Đòi hỏi giáo viên có kinh nghiệm tổ chức và chia nhóm tránh mất thời gian và lộn xộn khi học sinh di chuyển
*) Ví dụ 1.5: Tìm hiểu chủ đề: Hình trụ tròn xoay – Hình học 12
Giai đoạn 1: “Nhóm chuyên sâu”
Chủ đề A: Định nghĩa mặt trụ tròn xoay, hình trụ tròn xoay, Khối trụ tròn xoay? Nêu ví dụ minh họa? (màu đỏ)
Trang 39Chủ đề B: Thế nào là diện tích xung quanh của hình trụ tròn xoay? Nêu công thức tính diện tích xung quanh của hình trụ tròn xoay? (màu xanh)
Chủ đề C: Thế nào là thể tích của khối trụ tròn xoay? Nêu công thức tính thể tích của khối trụ tròn xoay? (màu vàng)
Lớp có 45 học sinh, có 12 bàn học
Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 7 hoặc 8 học sinh) Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận chủ đề A, nhóm 3,4 nhận chủ đề B, nhóm 5,6 nhận chủ đề C
Phát phiếu học tập cho học sinh Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15 Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm
Giai đoạn 2: “Nhóm mảnh ghép”
Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới: mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có
từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1, 2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3, 4; nhóm 3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6; … nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15 Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới
Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở giai đoạn 1
Giao nhiệm vụ mới: Giới thiệu các kiến thức liên quan đến mặt trụ tròn xoay?Vận dụng làm bài tập: Trong không gian, cho hình vuông ABCD cạnh a Gọi I
và H lần lượt là trung điểm của các cạnh AB và CD Khi quay hình vuông đó xung quanh trục IH ta được một hình trụ tròn xoay
a Tính diện tích xung quanh của hình trụ tròn xoay đó
b Tính thể tích của khối trụ tròn xoay được giới hạn bởi hình trụ nói trên
Học sinh thảo luận và trình bày, giáo viên kết luận
Trang 40thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát
có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận
*) Ưu điểm của kĩ thuật bể cá:
Vừa giải quyết được vấn đề, vừa phát triển kỹ năng quan sát và giao tiếp của người học
*) Nhược điểm của kĩ thuật bể cá:
- Cần có không gian tương đối rộng
- Nhóm trung tâm khi thảo luận cần có thiết bị âm thanh, hoặc cần phải nói to
- Các thành viên quan sát có xu hướng không tập trung vào chủ đề thảo luận
*) Ví dụ 1.6:
- GV đưa câu hỏi: Lập PT mặt cầu đi qua điểm A (5; -2; 1) và có tâm C (3; -3; 1)? Từ
đó, nêu phương pháp viết PT mặt cầu đã biết bán kính và đi qua một điểm cho trước
- Một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận Người quan sát có thể sử dụng bảng câu hỏi sau:
+ Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?
+ Họ có nói một cách dễ hiểu không?
+ Họ có để những người khác nói hay không?
+ Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?
+ Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?
+ Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?
+ Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?
- Kết thúc cuộc thảo luận HS vòng ngoài đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận
1.2.4.7 Kĩ thuật phòng tranh
Tất cả các thành viên phác họa những ý nghĩ đầu tiên về cách quyết vấn đề trên trên một tờ bìa, rồi dính lên bàn hay lên tường như một triển lãm tranh