1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượngtrong dạy học Văn 9

14 1,1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 59,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra: Trong nhà trường phổ thông hiện nay, để phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thì ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, người giá

Trang 1

Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất

lượngtrong dạy học Văn 9.

Tác giả:Lê Thị Mỹ Dung

Đơn vị: Trường THCS Lộc Ninh

1 Vấn đề đặt ra:

Trong nhà trường phổ thông hiện nay, để phát huy tính tích cực của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thì ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, người giáo viên cần biết kết hợp với các kĩ thuật dạy học tích cựcmộtcách nhuần nhuyễn, có hiệu quả Trong giờ học, giáo viên không còn là người chuyên cung cấp kiến thức, mà là người tổ chức những hoạt động để kích thích tư duy độc lập, phát triển năng lực giải quyết vấn đề, giúp học sinh chủ động khám phá những nghệ thuật văn chương, đồng thời giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm nhận cá nhân, có kỹ năng làm việc hợp tác để cùng nhau giải quyết những vấn đề mà giáo viên đặt ra Có như vậy mới đáp ứng theo quan điểm đổi mới kĩ thuật dạy học hiện nay: “Lấy hoạt động của người học làm trung tâm Người học giữ

vai trò tích cực, chủ động trong quá trình h ọc tập” Kĩ thuật này trong khoa học giáo dục gọi là kĩ thuật giáo dục tích cực Tuy nhiên, kĩ thuật dạy học tích cực có nhiều kĩ thuật cụ thể khác nhau, nhưng ở đây tôi chỉ nói đến một số kĩ thuật có thể vận dụng để dạy phần Văn trong chương trình môn Ngữ văn THCS,

đó là:

Kĩ thuật Sơ đồ KWL

Trang 2

Kĩ thuật mảnh ghép.

Kĩ thuật khăn phủ bàn

Kĩ thuật bản đồ tư duy

2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

-Phạm vi nghiên cứu:

Học sinh lớp 91, 93trường THCS Lộc Ninh

Một số kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học Văn

Thời gian: Từ tháng 9/2011 đến giữa HKII năm 2012

-Đối tượng nghiên cứu: Cách thức vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực trong

dạy học Văn 91, 93 trường Trung học Cơ sở LộcNinh

3 Giải pháp chứng minh vấn đề đặt ra:

a Sơ đồ KWL: Là kĩ thuật dạy học nhằm tạo điều kiện cho người học nêu được những điều đã biết liên quan đến chủ đề, những điều muốn biết về chủ đề trước khi học và những điều học được sau khi học.Ví dụ: khi dạy bài “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, giáo viên cần chuẩn bị sơ đồ KWL ở bảng phụ hoặc giấy AO Trước khi giảng bài mới, giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh: Em cảm nhận được gì khi

tự học ở nhà “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”?

Học sinh ghi nội dung mình cảm nhận được vào cột K (điều đã biết) Giáo viên lần lượt đặt câu hỏi để học sinh trả lời, giáo viên yêu cầu học sinh ghi điều mình muốn biết vào

cột thứ 2 - W (Điều muốn biết) và điều học được vào cột thứ 3 -

L (Điều học được)

Trang 3

K (Điều đã biết) W (Điều muốn biết) L (Điều học được) Người học điền những

điều đã biết về chủ đề bài

học trước khi học

Người học điền những

điều muốn biết về chủ đề

bài học

Sau khi học xong chủ đề/bài

học, người học điền những điều

đã học được

Bài thơ ca ngợi về những

người lính lái xe Trường

Sơn

Những người lính lái xe

Trường Sơn có phẩm chất

nào đáng quý? Tác giả

thành công với nghệ thuật

gì?

-Những người lính lái xe

Trường Sơn trong thời chống

Mĩ nổi bật với tư thế hiên

ngang, tinh thầnlạc quan, dũng

cảm, bất chấp khó khăn nguy

hiểm và ý chí chiến đấu giải

phóng miền Nam

Trang 4

-Tác giả đưa vào bài thơ chất

liệu hiện thực sinh động của

cuộc sống ở chiến trường, ngôn

ngữ và giọng điệu giàu tính

khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe

khoắn

Dựa vào sơ đồ KWL, người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mình trong học tập,

đồng thời giáo viên biết được kết quả học tập của người học, từ

đó điều chỉnh việc dạy học

cho hiệu quả

b Kĩ thuật mảnh ghép: Kĩ thuật mảnh ghép là kĩ thuật tổ chức các hoạt động học

tậphợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các

nhóm nhằm giải quyết một

nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực của học sinh: nâng cao vai trò của cá

nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1 mà còn

phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2), tăng cường tính độc lập, trách

nhiệm học tập của mỗi cá nhân

Kĩ thuật mảnh ghép được tiến hành như sau:

Vòng 1: Nhóm chuyên gia: Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3 -6

Trang 5

người), mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (ví dụ: nhóm 1: nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ

B; nhóm 3: nhiệm vụ C…) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ

về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình (đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm

đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, trình bày được kết quả câu trả

lời của nhóm và trở thành chuyên gia của lĩnh vực đã tìm hiểu

và có khả năng trình bày lại

câu trả lời của nhóm ở vòng 2)

Lưu ý:Khi học sinh đại diện các nhóm trình bày, nếuđáp án chưa đảm bảo, giáo

viên tiếp tục phát vấn học sinh để hoàn chỉnh đáp án

Vòng 2: Nhóm mảnh ghép

Hình thành nhóm mới khoảng từ 6-8 người (bao gồm 1-2 người

từ nhóm 1; 1-2 từ

nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3,…), gọi là nhóm mảnh ghép Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy

đủ với nhau Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1

thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu

ý nhiệm vụ mới này phải

Trang 6

gắn liền với kiến thức thu được ở vòng 1) Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày kết

quả vòng 2

Lưu ý:Khi học sinh trình bày, giáo viên yêu cầu các em đưa ra dẫn chứng, phân tích,

chứng minh để làm rõ vấn đề

Tuy nhiên để đảm bảo cho kĩ thuật mảnh ghép thực hiện theo quan điểm đổi mới

hiện nay thì khi vận dụng cần lưu ý:

Nhóm mảnh ghép cần đảm bảo có đủ thành viên của các nhóm chuy ên gia

Các học sinh phải lắp ghép các mảng kiến thức thành một “bức tranh” tổng thể

Nhiệm vụ mới được giao cho nhóm mảnh ghép phải mang tính khái quát, tổng hợp

các nội dung kiến thức đã nắm được từ các nhóm chuyêngia Trong khi các nhóm chuyên gia, nhóm m ảnh ghép làm việc giáo viên cần quan sát,

hỗ trợ kịp thời để đảm bảo thời gian quy định

c Kĩ thuật khăn phủ bàn: Kĩ thuật khăn phủ bàn là kĩ thuật tổ chức hoạt động mang

tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy

sự tham gia tích cực học tập, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh,

Trang 7

phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh Quy trình thực hiện kĩ thuật khăn phủ bàn cụ thể như sau:

Giai đoạn học sinh hoạt động độc lập:Chia học sinh thành các nhóm (6 hoặc 8

người/nhóm, tuỳ vào số lượng học sinh trong lớp mà giáo viên chia nhóm cho phù hợp),

giao nhiệmvụ thảo luận và phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0, chia giấy A0 thành các

phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanhmỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ

minh họa, tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề), viết câu trả lời hoặc ý kiến (về chủ đề) vào

ô mang số của mình, mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút

Giai đoạn học sinh hoạt động tương tác:Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các

thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời, viết những ý kiến chung của cả

nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn

Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật khăn phủ bàn: Câu hỏi thảo luận phải là câu hỏi mở, chính xác, rõ ràng, hợp lí, câu hỏi phải dựa trên

thông tin mình muốn biết về một vấn đề cụ thể Đặt câu hỏi phải mang tính thách thức

nhằm kích thích tư duy cho học sinh

Trang 8

Trong trường hợp số học sinh trong nhóm quá đông, không đủ chỗ trên “khăn phủ

bàn”, giáo viên phát cho học sinh những mảnh giấy nhỏ để học sinh ghi ý kiến cá nhân,

sau đó đính vào phần xung quanh “khăn phủ bàn”(những ý kiến trùng nhau có thể đính

chồng lên nhau)

Trong quá trình thảo luận thống nhất ý kiến, đính ý kiến thống nhất vào giữa “khăn

phủ bàn” Những ý kiến không thống nhất cá nhân có quyền bảo lưu và được giữ lại ở

phần xung quanh “khăn phủ bàn”

Quy trình thực hiện:

Học sinh đọc lại câu hỏi xác định vấn đề cần thảo luận Giáo viên hướng dẫn cho học

sinh quan sát tranh Sau đó, mỗi cá nhân hoạt động độc lập, suy nghĩ và viết câu trả lời vào

ô mang số của mình

Học sinh hoạt động tương tác: Các thành viên trao đổi ý kiến, thảo luận, thống nhất

các câu trả lời, viết câu trả lời chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn

Giáo viên cử đại diện nhóm 1, 4 trình bày kết quả, nhóm 2, 3 nhận xét bổ sung Giáo

Trang 9

viên tổng kết, hình thành nội dung bài học, nhận xét việcthực hiện của các nhóm, tuyên

dương nhóm hoạt động tốt nhất

Như vậy, kĩ thuật khăn phủ bàn không chỉ tạo điều kiện phát triển kĩ năng cảm thụ

văn chương mà còn kích thích thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách

nhiệm của cá nhân họcsinh, phát triển sự tương tác giữa học sinh với học sinh Học sinh

học được cách tiếp cận với nhiều giải pháp khác nhau, rèn kĩ năng suy nghĩ, quyết định và

giải quyết vấn đề, phối hợp giữa làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm tạo cơ hội nhiều

hơn cho học tập có sự phân hoá, tăng cường sự tương tác giao tiếp, học sinh học được cách

chia sẻ kinh nghiệm và học tập lẫn nhau Cho nên kĩ thuật n ày phần nào đã thể hiện được

tinh thần dạy học tích cực, góp phần đắc lực thực hiện quan điểm “Dạy học thông qua giao

tiếp” –một y êu cầu mới trong dạy học Ngữ văn hiện nay

d Kĩ thuật bản đồ tư duy: Bản đồ tư duy (còn gọi là bản đồ khái niệm, sơ đồ tư duy,

lược đồ tư duy) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ

Trang 10

thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình

ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Lược

đồ tư duy có thể được viết

trên giấy, trên bản trong hay thực hiện trên máy tính

Qui trình thực hiện:

Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ

đề Từ chủ đề trung

tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm phản ánh một nội dung

lớn của chủ đề (viết bằng chữ in hoa) Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một

màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng

để viết trên các nhánh Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội

dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường Tiếp

tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Ưu điểm của bản đồ tư duy:

Lôgic, mạch lạc, các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu, nội dung luôn có thể

được bổ sung, phát triển, sắp xếp lại Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ do nó được thể

Trang 11

hiện bởi màu sắc, liên kết, liên hệ giữa các ýcủa một vấn đề Nhìn th ấy “bức tranh”tổng

thể mà lại chi tiết Dễ dạy, dễ học, kích thích hứng thú học tập, sáng tạo của học sinh Giúp

mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức, hệ thống hoá kiến thức, giúp ôn tập kiến thức, ghi nhớ

nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức

Trong quá trình thực hiện, tôi nhận thấy kĩ thuật bản đồ tư duy

là một công cụ hữu ích

trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông hiện nay Đồng thời việc áp dụng bản đồ tư

duy không đòi hỏi quá nhiều thời gian, không phải đầu tư kinh phí, dễ dạy, dễ học, thích

hợp với điều kiện của mọi vùng miền, có tính khả thi cao

4 Hiệu quả đem lại:

Trong công tác soạn giảng, khi giáo viên biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp và

kỹ thuật dạy học một cách nhuần nhuyễn sẽ tạo cho các em có những biểu hiện rất tích cực

như: Hăng hái trả lời câu hỏi của giáo viên đặt ra, nhận xét, bổ sung ý kiến của các bạn để

các câu trả lời của bạn hoàn chỉnh h ơn; thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra,

muốn ý kiến của mình được mọi người lắng nghe và đồng ý;đưa ra thắc mắc, đòi hỏi giải

Trang 12

thích cặn kẻ những vấn đề chưa hiểu rõ; chủ động vận dụng, kiến thức kĩ năng để học, để

nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; đặc biệt là tích cực kiên trì

hoàn thành các yêu cầu của giáo viên

Tóm lại, qua vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực nêu trên vào trong quá trình dạy

học Văn thì h ầu hết học sinh trong lớp chủ động hoạt động tích cực, tham gia xây dựng bài,

lớp học sôi nổi, các em tự chiếm lĩnh nội dung bài giảng sâu sắc hơn, kĩ năng làm việc

trong nhóm và giao tiếp khi hoạt động nhóm cũng như kĩ năng giải quyết vấn đề m à giáo

viên đặt ra tiến bộ rất nhiều Các em biết chủ động lĩnh hội tri thức, hiệu quả các giờ học

Văn cao hơn, đặc biệt các em tìm th ấy sự thoải mái, niềm hứng thú trong học tập

5 Khả năng áp dụng cho đến thời điểm hiện tại:

5.1 Về tính mới và tính sáng tạo:

Qua thực tế áp dụng, tôi nhận thấy nếu thực hiện theo đúng đặc trưng và mục đích của

kĩ thuật n ày, học sinh sẽ có những khám phá thú vị, đầy sáng tạo, kích thích sự tham gia

tích c ực của học sinh trong hoạt động nhóm, tăng cường tính độc lập, phát triển kĩ năng

Trang 13

trình bày, giao tiếp hợp tác, nâng cao hiệu quả học tập Tuy

nhiên, trong quá trình dạy -học cả giáo viên và học sinh cần lưu ý:

-Về phía giáo viên, khi vận dụng cầnnghiên cứu đặc điểm của kĩ thuật dạy học tích

cực phân môn Văn để lựa chọn và kết hợp một cách linh hoạt nhuần nhuyễn Căn cứ vào

mục tiêu tiết học và đối tượng học sinh để vận dụng các kĩ thuật phù hợp, hệ thống câu hỏi

rõ ràng, có chọn lọc; phải biết dẫn dắt, gợi ý tốt, trợ giúp học sinh tháo gỡ khó khăn khi cần

thiết, tạo cho học sinh tâm lí vui vẻ hứng thú Cần hướng dẫn các em phương pháp tự học

phù hợp với từng đối tượng học sinh, hướng dẫn cụ thể cách học

và soạn bài ở nhà

-Về phía học sinh, các em cần có phương pháp tự học ở nhà, vì chỉ có như vậy mới

giải quyết nhanh được các vấn đề mà giáo viên đặt ra trong một thời gian nhất định, đồng

thời không thụ động trước các loại câu hỏi mà giáo viên đặt ra 5.2 Hiệu quả xã hội:

Nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ văn chính là đáp ứng theo mục tiêu giáo dục trong

nhà trường phổ thông hiện nay Cho nên việc vận dụng các kỹ thuật dạy học nêu trên là

Trang 14

điều cần thiết vì nó góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả giáo dục

Tóm lại, nếu giáo viên biết vận dụngcó hiệu quả các kỹ thuật dạy học nói riêng và

phương pháp dạy học tích cực nói chung thì trong tương lai, sẽ giúp học sinh trở thành

những con người đầy tài năng, đó là những con người biết hành động một cách sáng tạo,

thích ứng nhanh với những thay đổi và có khả năng tiếp cận vấn

đề một cách mềm dẻo và

linh hoạt

5.3 Về triển vọng áp dụng và triển khai:

Các kĩ thuật trên không chỉ áp dụng cho việc dạy học phần Văn lớp 9, m à còn có thể

vận dụng cho cả quá trình dạy Văn ở các khối 6, 7, 8 trong

trường THCS

Ngày đăng: 17/04/2015, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w