Trước những điểm hạn chế chung của quá trình dạy học ngành kĩ thuật, lãnh đạo trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh đã có những biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo tại tr
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì mà tác giả viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân cùng với sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Tiến Long Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của tác giả nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho thời điểm hiện tại chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan./
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Mạnh Hùng
Trang 42
LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân thành tới thầy TS Nguyễn Tiến Long, Thầy đã trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều thời gian, công sức giúp đỡ tác giả
trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thiệt đề tài luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Viện Sư phạm kỹ thuật, Viện Điện, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện cho tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn đúng thời hạn
Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên các bạn đồng nghiệp và người học, sinh viên trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh đã giúp đỡ tôi nhiệt tình, tạo điều kiện trong quá trình công tác và quá trình tác giả thu thập thông tin để hoàn thiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do điều kiện về mặt thời gian cũng như hạn chế về kinh nghiệm cảu bản thân nên trong luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót nhất định Rất mong được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng chấm luận văn và của các bạn đọc quan tâm đến đề tài của luận văn để tác giả có thể hoàn thiện đề tài luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ
Trần Mạnh Hùng
Trang 53
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 6
PHẦN MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích của đề tài 11
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
4 Đối tượng nghiên cứu 11
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 11
6 Giả thuyết khoa học 11
7 Phương pháp nghiên cứu 12
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 12
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC 13
1.1 Tổng quan lý luận về dạy học tích cực hiện nay 13
1.1.1 Các phương pháp dạy học tích cực hiện nay 13
1.1.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực 16
1.1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển 20
1.1.4 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực 32
1.2 Ứng dụng công nghệ dạy học hiện đại trong dạy học tích cực 35
1.2.1 Công nghệ dạy học hiện đại 35
1.2.2 Phương tiện dạy học hiện đại và vai trò của nó trong dạy học tích cực 37
1.2.3 Dạy học tương tác trong dạy học tích cực 39
1.3 Đưa các phương pháp dạy học tích cực vào bài giảng điện tử 44
1.3.1 Bài giảng điện tử 44
1.3.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 47
1.3.3 Tiêu chí đánh giá bài giảng điện tử 52
Trang 64
Kết luận chương 1 53
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT BẮC NINH 54
2.1 Giới thiệu về trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 54
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, giảng viên 57
2.2.1 Đội ngũ cán bộ giảng viên, giáo viên, công nhân viên của nhà trường 57
2.2.2 Cơ sở vật chất trang thiết bị của trường 58
2.2.3 Qui mô đào tạo của nhà trường 60
2.2.5 Kiểm định chất lượng 63
2.3 Thực trạng dạy học môn học Kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 63
2.3.1 Đối với giáo viên, giảng viên 64
2.3.2 Đối với học sinh sinh viên đang học tại trường 70
2.2.3 Khả năng ứng dụng những kiến thức của môn Kỹ thuật điện vào thực tế 71
2.2.4 Đánh giá sự phù hợp của nội dung giảng dạy môn học Kỹ thuật điện với người học 72
2.3.5 Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ngành ĐTCN tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 74
Kết luận chương 2 77
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀO DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT BẮC NINH 79
3.1 Giới thiệu một số phần mềm ứng dụng để biên soạn và thiết kế bài giảng điện tử môn Kỹ thuật điện 79
3.1.1 MS PowerPoint 2013 79
3.1.2 Phần mềm Microsoft FrontPage 2003 SP3 82
3.1.3 Các phần mềm hỗ trợ khác 86
3.2 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 91
Trang 75
3.2.1 Giáo án lên lớp số 1 91
3.2.2 Giáo án lên lớp số 2 (Phụ lục 6) 103
3.2.3 Giáo án lên lớp số 3 (Phụ lục 7) 103
3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 103
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 104
3.3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 104
3.3.3 Nội dung thực hiện 104
3.3.4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 105
3.3.5 Tiến hành thực nghiệm 106
3.3.6 Kết quả thực nghiệm 107
3.3.7 Ý kiến đánh giá của giáo viên và sinh viên tham thực nghiệm 110
3.3.8 Đánh giá chung 111
Kết luận chương 3 113
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114
1 Kết luận 114
2 Kiến nghị 115
Trang 87 PPDHKT Phương pháp dạy học kỹ thuật
15 CĐN KT-KT Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật
Trang 97
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Các thành phần của công nghệ dạy học (CNDH) 36
Hình 1.2: Cấu trúc tương tác trong dạy học 43
Hình 1.4: Sơ đồ các bước xây dựng BGĐT 52
Hình 2.1: Sơ chức bộ máy làm việc của nhà trường đồ cơ cấu tổ 56
Hình 3.1: Màn hình sau khi khởi động chương trình 80
Hình 3.2: Cửa sổ chương trình làm việc của bài giảng 81
Hình 3.3: Các thanh công cụ chính 81
Hình 3.4: Màn hình khởi động Microsoft FrontPage 2003 SP3 - Phần mềm Tạo Website đơn giản, nhanh chóng 83
Hình 3.5: Giao diện chính của Microsoft FrontPage 2003 SP3 84
Hình 3.6: Màn hình thiết lập chính 85
Hình 3.7: Giao diện chính của Macromedia Flash 87
Hình 3.8: Màn hình làm việc của Macromedia Flash 87
Hình 3.9: Giao diện chính của Snagit phần mềm chụp màn hình, quay video màn hình chuyên nghiệp 88
Trang 108
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh đặc trưng của dạy học truyền thồng và dạy học mới 20
Bảng 2.1: Bảng thống kê số liệu giáo viên, giảng viên (nguồn tại phòng Tổ chức Cán bộ và phòng Đào tạo nhà trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 58
Bảng 2.2: Bảng thống kê trình độ giáo viên, giảng viên ( nguồn tại phòng Tổ chức Cán bộ và phòng Đào tạo nhà trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 58
Bảng 2.3: Bảng thống kê số liệu đầu tư trang thiết bị đào tạo của trường (nguồn tại phòng Kế toán và phòng Đào tạo nhà trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 60
Bảng 2.4: Cơ cấu nghề và quy mô đào tạo nghề tại trường (nguồn tại phòng Đào tạo nhà trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 62
Bảng 2.5: Bảng điều tra thâm niên và tuổi đời giáo viên ngành Điện - Điện tử (Nguồn từ phòng TC-HC trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 65
Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn giáo viên nghề Điện - Điện tử (Nguồn từ phòng TC-HC trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 67
Bảng 2.7: Bảng điều tra trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên, giảng viên ngành Điện - Điện tử (Nguồn từ phòng TC-HC trường CĐN KT-KT Bắc Ninh) 68
Bảng 2.8: Bảng điều tra giáo viên sử dụng phương tiện dạy học 68
Bảng 2.9: Kết quả điều tra mức độ sử dụng phương pháp dạy học tích cực 69
Bảng 2.10: Điều tra về số lượng Học sinh, Sinh viên nghề Điện tử công nghiệp 70
Bảng 2.11: Kết quả điều tra khả năng ứng dụng môn học Kỹ thuật điện vào thực tế 71
Bảng 2.12: Kết quả điều tra sự phù hợp của nội dung giảng dạy 72
Bảng 2.13: Tổng hợp các xưởng, phòng học của ngành Điện-Điện tử 75
Bảng 3.1: Các tình huống HSSV cần giải quyết 97
Bảng 3.2: Các câu hỏi trong giáo án số 08 98
Bảng 3.3: Kết quả học tập ở PTTH của SV nghề ĐTCN Cao đẳng khóa 7 106
Bảng 3.4: Kết quả học tập ở buổi học thứ nhất 107
Bảng 3.5: Kết quả học tập ở buổi học thứ hai 108
Bảng 3.6: Kết quả học tập ở buổi học thứ ba 109
Trang 119
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2-1 Độ tuổi của đội ngũ giáo viên ngành Điện - Điện tử 65
Biểu đồ 2-2.Thâm niên giảng dạy của đội ngũ giáo viên ngành Điện - Điện tử 65
Biểu đồ 2-3: Trình độ chuyên môn giáo viên ngành Điện - Điện tử 67
Biểu đồ 2-4 Tỉ lệ trình độ sư phạm của đội ngũ giáo viên 68
Biểu đồ 2-5 Tỉ lệ sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên 69
Biểu đồ 2-6 Mức độ sử dụng phương pháp dạy học tích cực 70
Biểu đồ 2-7 Sự thay đổi số lượng HSSV nghề ĐTCN 71
Biểu đồ 2-8 Mức độ ứng dụng của môn học Kỹ thuật điện trong thực tế 72
Biểu đồ 2-9 Mức độ phù hợp của nội dung môn học Kỹ thuật điện hiện nay 73
Trang 12Tuy nhiên, thực tế hiện nay quá trình dạy học ngành kĩ thuật nói chung vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, xuất phát từ cơ sở vật chất cũng như phương pháp dạy học đang được sử dụng tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh Phần lớn trang thiết bị của nhà trường đã được hiện đại hóa và đưa vào khai thác, sử dụng trong giảng dạy kỹ năng thực hành cho HSSV với công nghệ tiên tiến Nhưng bên cạnh đó, phương pháp dạy học vẫn mang nặng tính lý thuyết, chưa thực sự phát huy được tính tích cực và chủ động của người học Điều này dẫn tới quá trình đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế sản xuất
Trước những điểm hạn chế chung của quá trình dạy học ngành kĩ thuật, lãnh đạo trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh đã có những biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo tại trường như tiếp tục tư đầu trang thiết bị cơ sở vật chất, mở các khóa đào tạo nâng cao, bồi dưỡng trình độ giáo viên và bên cạnh đó, lãnh đạo nhà trường đặc biệt quan tâm tới đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực hướng tới người học là trung tâm
Trong việc sử dụng công nghệ dạy học hiện đại ngày nay có rất nhiều quan điểm dạy học mới, mỗi quan điểm có những ưu điểm, nhược điểm cũng như cách ứng dụng riêng theo thực tế Một trong những định hướng dạy học sao cho người học không chỉ biết mà còn phải tích cực, chủ động trong quá trình dạy học với quan điểm lấy người học làm trung tâm Với quan điểm này, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên
cứu: “Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học môn Kỹ thuật điện tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh” nhằm nâng cao hiệu
quả dạy và học trong môi trường học thực tế tại trường
Trang 1311
2 Mục đích của đề tài
- Hệ thống hóa lý luận về các phương pháp dạy học tích cực
- Nghiên cứu và Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Kỹ thuật điện tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng giảng dạy môn Kỹ thuật điện cho các nghề không chuyên điện tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của một số phương pháp dạy học tích cực
- Thiết kế các bài giảng môn Kỹ thuật điện theo phương pháp dạy học tích cực đưa vào dạy học tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
- Thực nghiệm và đánh giá
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Quá trình dạy
học theo các phương pháp dạy học tích cực
- Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của Luận văn là Dạy học môn
học Kỹ thuật điện cho sinh viên học Cao đẳng nghề không chuyên điện
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy học môn Kỹ thuật điện tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh (nội dung, phương pháp, phương tiện, …)
- Giới hạn nghiên cứu: Xây dựng 03 bài giảng vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy môn Kỹ thuật điện trong Trường Cao đẳng nghề Kinh
tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
6 Giả thuyết khoa học
Hiện nay chất lượng dạy học môn học Kỹ thuật điện của các nghề không chuyên điện ở trình độ cao đẳng ở Trường cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Bắc Ninh chưa cao do chưa vận dụng được những phương pháp dạy học tích cực vào quá trình
Trang 1412
dạy học Nếu xây dựng bài giảng theo hướng áp dụng các phương pháp dạy học tích
cực vào trong dạy học môn học Kỹ thuật điện sẽ nâng cao được chất lượng dạy học
7 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được một cách có hiệu quả các nhiệm vụ nghiên cứu trên, tác giả tiến hành sử dụng tổng hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các tài liệu, văn bản, sách, báo có liên quan đến dạy học tích cực, phân tích, tổng hợp, so sánh để hệ thống hoá cơ sở về lý luận về đào tạo nghề sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp và người học, sinh viên về thực trạng vận dụng các phương pháp dạy học ở trường và về hiệu quả của việc thực nghiệm sư phạm các bài học
- Phương pháp toạ đàm: Đàm thoại, thảo luận, trao đổi rút kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm để minh chứng cho tính khả thi của giả thuyết khoa học đã đề ra trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực dạy học môn Kỹ thuật điện cho các nghề không chuyên điện ở trình
độ cao đẳng tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh sẽ nâng cao được chất lượng dạy học
Trang 1513
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
1.1 Tổng quan lý luận về dạy học tích cực hiện nay
Cùng với xu hướng phát triển của thời đại về các lĩnh vực khoa học - công nghệ, sự bùng nổ về thông tin, Giáo dục - Đào tạo cũng có những bước phát triển mới Trong những năm gần đây, Giáo dục - Đào tạo nước ta có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp Để đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực có đủ khả năng phục vụ cho xã hội phát triển trong tương lai, việc đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những yêu cầu bức thiết hiện nay Phương pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm trung tâm (Students- centered) là một trong những mục tiêu giáo dục được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu, đúc kết từ thực tiễn và xây dựng thành những
lý luận mang tính khoa học và hệ thống
1.1.1 Các phương pháp dạy học tích cực hiện nay
a Chủ trương, định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị Quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị Quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998 ), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4 - 1999)
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
cho người học” Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, điều 36.2 , đã ghi: “Phương
pháp đào tạo trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành với trang bị kiến thức chuyên môn; phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, khả năng làm việc độc lập, tổ chức làm việc theo nhóm; sử dụng phần mềm dạy học và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong dạy và học”
Trang 1614
Cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động “tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy”
b Tính tích cực học tập (ở phía người học)
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người, bởi vì để tồn tại
và phát triển con người luôn phải chủ động, tích cực cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội Vì vậy, hình thành và phát triển TTC xã hội là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục
Tính tích cực học tập - về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức TTC nhận thức trong hoạt động học tập liên quan trước hết với động cơ học tập Động cơ đúng tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu
tố tạo nên tính tích cực Tính tích cực sản sinh nếp tư duy độc lập Suy nghĩ độc lập
là mầm mống của sáng tạo Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo
sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập
TTC học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không
Trang 1715
phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Giáo viên là người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho người học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, hội thảo theo nhóm Họ có vai trò là
“trọng tài”, điều khiển tiến trình giờ dạy PPDH này chú ý đến đối tượng người học, coi trọng việc nâng cao khả năng cho người học; nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của người học, từ đó hệ thống hóa các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm vững Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
d Mối quan hệ giữa dạy và học, tích cực với dạy học lấy người học làm trung tâm
Dạy học lấy người học làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của người học trong quá trình dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên
Trong quá trình phát triển giáo dục cho thấy, trong nhà trường một thầy dạy cho một lớp đông học trò, cùng lứa tuổi và trình độ tương đối đồng đều thì giáo viên khó
có điều kiện chăm lo cho từng người học nên đã hình thành kiểu dạy "thông báo - đồng loạt" Giáo viên quan tâm trước hết đến việc hoàn thành trách nhiệm của mình
là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và giáo trình và các tài liệu khác, cố gắng làm cho mọi người học hiểu và nhớ những điều giáo viên giảng Cách dạy này đẻ ra cách học tập thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ, cho nên
đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy và học, không đáp ứng yêu cầu phát triển năng
Trang 1816
động của xã hội hiện đại Để khắc phục tình trạng này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính tích cực chủ động của người học, thực hiện "dạy học phân hóa" quan tâm đến nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân người học trong tập thể lớp Phương pháp dạy học tích cực, dạy học lấy người học làm trung tâm ra đời từ bối cảnh đó
Trên thực tế, trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương
nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy người học làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể [5] Đó là
một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất
cả quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học
1.1.2 Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của người học
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình,
từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Trang 1917
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho người học không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu trong dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển mạnh mẽ - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc người học khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho người học phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học [4][5] Nếu rèn
luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo
cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập
sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học
ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên, giảng viên
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của người học không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa
về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại và áp dụng công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi người học
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
Trang 2018
chiếm lĩnh nội dung học tập [7] Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá người học không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá người học Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn người học phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để người học được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho người học
Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tiễn của cuộc sống
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để người học tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, người học hoạt động là chính, giáo viên có
vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức,
Trang 2119
thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của người học Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của người học mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên, giảng viên
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học truyền thồng và dạy học mới như sau [12]:
Dạy học truyền thồng Các mô hình dạy học mới
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh
hội, qua đó hình thành kiến thức,
kĩ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo; người học tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lý
thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và
chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho người học Dạy người học
cách tìm ra chân lí
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo Học để đối phó với
thi cử Sau khi thi xong những
điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực (sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương
lai Những điều đã học cần thiết,
bổ ích cho bản thân người học
và cho sự phát triển xã hội Nội dung Từ giáo trình + giáo viên Từ nhiều nguồn khác nhau:
SGK, GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, thực tế…: gắn với:
Trang 22Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng,
truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra, giải quyết vấn đề; dạy học tương tác
Bảng 1.1: So sánh đặc trưng của dạy học truyền thồng và dạy học mới
1.1.3 Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển
a Phương pháp đàm thoại
* Cơ sở chung:
Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi, khích lệ và gợi mở để học sinh dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra [3]
Phương pháp đàm thoại (hỏi đáp có hiệu quả) là phương pháp mà giáo viên căn
cứ vào nội dung bài học khéo léo đặt câu hỏi để học sinh căn cứ vào những điều đã biết về kiến thức, kinh nghiệm đã có của bản thân hoặc sau khi học sinh quan sát hình
vẽ, xem phim, đọc tài liệu, nghe băng ghi âm, giáo viên đưa ra những câu hỏi nhằm sáng tỏ vấn đề, tìm ra những tri thức mới từ tài liệu đã học, nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã tiếp thu được hoặc nhằm tổng kết hệ thống hóa tri thức đã thu lượm được, kiểm tra, đánh giá việc nắm vững tri thức của học sinh
Trang 2321
- Đặc điểm của phương pháp:
+ Phương tiện giao tiếp là lời nói, có sự đối đáp giữa giáo viên và học sinh, đặt câu hỏi - trả lời
+ Có tính kích lệ là vai trò chủ đạo của giáo viên, giúp cho học sinh hoạt động
có tính tự giác, tự lực, tích cực tham gia vào quá trình đàm thoại
- Mục đích sư phạm của phương pháp:
+ Tái hiện kiến thức và củng cố kiến thức
+ Phát triển kiến thức mới
+ Liên thông với kiến thức kinh nghiệm của học sinh
+ Phát triển năng lực diễn đạt
- Phân loại phương pháp:
+ Dựa vào mục đích lý luận dạy học có thể phân loại: đàm thoại gợi mở, đàm thoại củng cố, đàm thoại tổng kết, đàm thoại kiểm tra
+ Dựa vào tính chất nhận thức của học sinh gồm, đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích - minh họa, đàm thoại kiểm tra
Nhìn chung phương pháp đàm thoại chia ra 2 dạng chính [3]:
(1) Đàm thoại tái hiện
Gồm những câu hỏi để củng cố, ôn tập các nội dung đã học hoặc tổng kết, kiểm tra bài mới Tác dụng đàm thoại giúp học sinh rèn luyện trí nhớ và tạo sự tin tưởng cho học sinh trong việc nắm vững tri thức (hình ảnh, ngữ nghĩa, công thức) trình bày,
áp dụng các tài liệu, sự kiện, nguyên tắc Câu hỏi này dễ đặt và câu trả lời dễ biết đúng hay sai
(2) Đàm thoại gợi mở (đàm thoại phát triển)
Giáo viên đặt ra một hệ thống câu hỏi để học sinh suy nghĩ và trả lời từng câu hỏi để tìm ra tri thức mới tự bản thân học sinh chưa có kiến thức này, hình thức này đòi hỏi cao giáo viên và học sinh để đạt mục đích học tập, có 2 dạng [3]:
+ Đàm thoại gợi mở Algorit : câu hỏi đặt theo một trình tự cho loạt bài tương
tự, học sinh suy nghĩ sẽ tìm kết quả
Trang 2422
+ Đàm thoại gợi mởi nêu vấn đề : câu hỏi nêu vấn đề, chứa đựng điều đã biết
và cái chưa biết, học sinh phải tư duy và phải có sự gợi ý dẫn dắt của thầy khi cần thiết thì tìm ra được kết quả
Ngoài ra còn có dạng đặc biệt của phương pháp đàm thoại là đàm thoại của học sinh: học sinh tự đặt câu hỏi cho giáo viên và cho lớp học để nhằm giải đáp thắc mắc hoặc làm sáng tỏ vấn đề
- Ưu điểm và những hạn chế của phương pháp đàm thoại:
So với phương pháp truyền thụ như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại có chú ý đến vai trò chủ thể nhận thức của học sinh và nếu vận dụng tốt phương pháp sẽ có những ưu điểm sau :
+ Đó là một cách có hiệu quả để điều khiển hoạt động tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoa học một cách chính xác, đầy đủ, gọn gàng, nhớ lâu tài liệu
+ Giúp giáo viên thu được tín hiệu ngược từ học sinh một cách nhanh gọn để kịp thời điều chỉnh hoạt động của mình và học sinh Thông qua đó giáo viên vừa có vai trò chỉ đạo nhận thức toàn lớp, vừa chỉ đạo nhận thức của từng học sinh
* Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp
- Đặt câu hỏi:
Đặc điểm của câu hỏi tốt:
+ Câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ, đòi hỏi học sinh phải gia công trí nhớ và vận dụng tri thức, tránh câu hỏi có, không? Đúng, sai? Nếu có giải thích lý do?
Trang 2523
+ Câu hỏi phải vắn tắt, rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ, mỗi lần nên hỏi một câu, nên dùng ngôn ngữ đơn giản, vừa sức trình độ học sinh, tránh những câu hỏi hai nghĩa lờ
mờ, hỏi kỹ lại khi có nhiều câu trả lời
+ Câu hỏi phải có mục đích, liên quan trực tiếp tới tài liệu cơ bản trong bài và được đặt đúng vị trí và đúng lúc trong bài để nhấn mạnh điểm chốt
+ Câu hỏi kích thích sự quan sát (đặt điểm, biện pháp)
+ Câu hỏi vận dụng phương pháp logíc, hướng dẫn khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa các mối quan hệ nhân quả
+ Đối với câu hỏi tái hiện, giáo viên đòi hỏi học sinh phải tích cực đưa ra nội dung tài liệu đã được lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học, vận dụng những tri thức đã học đó để giải quyết vấn đề mới Câu hỏi phải nêu được bản chất của những sự vật, hiện tượng hình thành và phát triển tư duy logic
+ Khối lượng của những khái niệm trong câu hỏi của giáo viên không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời của học sinh (câu hỏi vừa sức và để học sinh có thời gian suy nghĩ trả lời)
Soạn câu hỏi: Đặt câu hỏi ở nhiều dạng khác nhau
+ Loại xác định : Ai? Tại sao? Thế nào? Ơ đâu? Bao giờ? Cách nào? Làm gì? + Loại lựa chọn và giải thích
+ Loại gợi mở: liệt kê, mô tả, chứng minh, giải thích, so sánh, phân tích, tổng hợp
+ Loại đánh giá: nhận xét, phê bình, ý kiến riêng, thí dụ
+ Loại gợi mở sự ham muốn hiểu biết bài mới? Điện là gì?
+ Loại lôi cuốn sự chú ý của học sinh lơ đễnh hoặc thờ ơ: “Anh hãy tóm tắt các điều vừa nói xong”
+ Loại gợi mở bài giảng mới, câu hỏi mạch lạc, có hệ thống, theo trình tự đã hoạch định cẩn thận trước, đi từ điều đã biết, từ dễ đến khó, từ nguyên nhân đến kết quả hoặc theo phương pháp quy nạp hay suy diễn
Trang 2624
+ Kích thích học sinh suy nghĩ tự lập theo mẫu trong sách hoặc của thầy “còn
ai muốn đóng góp ý kiến, muốn hỏi gì, ý kiến riêng về vấn đề này, có thể giải bằng cách khác hơn…”
+ Câu hỏi phải có đáp án kèm theo để đánh giá câu trả lời của học sinh
Kỹ thuật đặt câu hỏi và gọi học sinh trả lời:
+ Giáo viên đặt câu hỏi cho toàn lớp, nghe suy nghĩ (nói chậm rãi, lớn để mọi người cùng nghe, không lặp lại nhiều lần), chỉ định cho học sinh trả lời Khi học sinh nào đó trả lời xong, cần yêu cầu các học sinh khác nhận xét bổ sung câu trả lời (đúng, sai, thiếu, thừa, diễn đạt rõ hơn) nhằm kích thích chú ý và kích thích hoạt động chung của toàn lớp Giáo viên cũng tạo điều kiện cho học sinh đính chính, bổ sung Sau đó giáo viên nhấn mạnh câu trả lời đúng của học sinh
+ Vấn đề gọi học sinh, nên tránh gọi một số học sinh nhiều lần và bỏ quên một
số khác Muốn như vậy nên dùng những thẻ tên và dùng cách nào đó để đánh dấu số học sinh trả lời trong giờ học Câu hỏi phải vừa sức trình độ người học, để duy trì nhịp điệu cần thiết của phương pháp đàm thoại và bảo đảm tính cá biệt trong dạy học Giáo viên chuẩn bị những câu hỏi khó và câu hỏi dễ, nên dành câu hỏi khó cho học sinh giỏi Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào tình huống của lớp, đôi lúc học sinh khá cũng theo dõi sự phát biểu của câu hỏi dễ và học sinh kém cũng hiểu được câu hỏi khó nhờ sự dẫn dắt từng bước của giáo viên
- Thái độ của giáo viên
Khuyến khích học sinh trả lời bằng câu hỏi phụ, nét mặt vui tươi, lắng nghe, tế nhị, không chế diễu câu trả lời sai, không khí thoải mái không có sự chống đối, tránh đối thoại tay đôi giữa giáo viên và học sinh hoặc nhóm riêng Giáo viên nên lắng nghe thắc mắc của học sinh, phức tạp nên để cuối bài giảng hoặc diễn trình, giáo viên sẽ giải thích
Thăm dò là một kỹ xảo “đào xới” suy nghĩ của học sinh để tìm ra ý tưởng, ý kiến
Trang 2725
Các kiểu thăm dò như :
+ Im lặng - cho phép học sinh có thời gian suy nghĩ và có thể nói với bạn nhiều hơn (có giới hạn thời gian)
+ Sự liên quan - “phải, nhưng phương pháp dùng vào đây thế nào…”
+ Nêu thí dụ : - “cho tôi một ví dụ cụ thể về…”
Trong trường hợp học sinh không trả lời các câu chúng giáo viên đặt ra, có thể
do các câu hỏi không rõ ràng hoặc bài giảng chưa rõ trọng tâm Vì thế, giáo viên phải tìm cách đặt lại câu hỏi khác phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh
- Đánh giá câu trả lời của học sinh
Để học sinh biết câu trả lời đúng hay sai nhiều ít bằng cách hiểu một cách khác câu trả lời của học sinh hoặc gợi mở thêm nhưng không nên thành thói quen luôn nhắc lại câu trả lời của học sinh Khi học sinh trả lời giáo viên lưu ý:
+ Câu trả lời phải rõ ràng để mọi người có thể nghe thấy rõ
+ Những nhận thức sai lầm hoặc những tin tức không chính xác, cần được sửa chữa, bổ sung ngay
+ Không khí trong lớp thoải mái, hợp tác, không có sự chống đối giữa học sinh + Việc quan trọng nhất phải làm là nghe câu trả lời Hãy xem xét bốn khả năng
có thể và các ứng xử của học sinh
(1) Trả lời đúng: khen ngợi, thừa nhận học sinh đó
(2) Trả lời đúng một phần: đầu tiên khẳng định phần trả lời đúng, rồi đề nghị người khác bổ sung, cải tiến phần không đúng
(3) Trả lời sai:
+ Ghi nhận đóng góp của học sinh đó, sửa câu trả lời, không phải sửa học sinh + Đề nghị những người khác trả lời
Trang 2826
+ Nếu cần làm rõ thêm, thông báo với học sinh sẽ quay trở lại
+ Không phê bình học sinh
(4) Không trả lời:
+ Đừng làm to chuyện, hỏi một học viên khác
+ Đặt lại câu hỏi dưới dạng khác
+ Dùng các phương tiện nhìn để làm sáng tỏ câu hỏi rồi hỏi lại
+ Giảng lại khái niệm đó hoặc yêu cầu học viên tìm trong các tài liệu tham khảo
b Phương pháp giải quyết vấn đề
* Khái niệm
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo viên
áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề [3]
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức của giáo viên
nhằm tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh giải quyết các vấn đề học tập [3]
* Đặc trưng của dạy học giải quyết vấn đề
Gồm có ba đặc trưng sau:
- Đặc trưng cơ bản của dạy học giải quyết vấn đề là xuất phát từ tình huống
có vấn đề (THCVĐ)
Tình huống có vấn đề luôn luôn chứa đựng nội dung cần xác định, một nhiệm
vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết THCVĐ sẽ là tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành
động mới đối với chủ thể
Tình huống có vấn đề được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý xuất hiện ở chủ
thể trong khi giải quyết một bài toán, mà việc giải quyết vấn đề đó lại cần đến tri thức mới, cách thức hành động mới chưa hề biết trước đó Có 3 yếu tố cấu thành THCVĐ: Nhu cầu nhận thức hoặc hành động của người học; Sự tìm kiếm những tri thức và phương thức hành động chưa biết; Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh
nghiệm và năng lực
Trang 2927
Đặc trưng cơ bản của THCVĐ là những lúng túng về lý thuyết và thực hành
để giải quyết vấn đề; nó xuất hiện nhờ tính tích cực nghiên cứu của chính người
học…Những thành phần chủ yếu của một tình huống học tập gồm:
+ Nội dung của môn học hoặc chủ đề;
+ Tình huống khởi đầu;
+ Hoạt động trí lực của học sinh trong việc trả lời câu hỏi hoặc giải quyết các vấn đề;
+ Kết quả hoặc sản phẩm của hoạt động;
+ Đánh giá kết quả
Tình huống có vấn đề trong dạy học là:
+ Khi học sinh muốn đạt được một mục tiêu học tập nào đó, nhưng họ không
biết làm thế nào để đạt được mục tiêu đó Khi đó xuất hiện một tình huống có mâu thuẫn (mẫu thuẫn nhận thức), mà học sinh muốn đạt được mục tiêu bắt buộc họ phải
động não vấn đề cần giải quyết;
+ Vấn đề như là một mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết;
+ Bao hàm một cái gì chưa biết đòi hỏi phải tìm tòi sáng tạo, có hoạt động của
tư duy;
+ Chứa đựng một điều gì đó chưa biết, là điều kiện cho sự suy nghĩ…
Tóm lại: Tình huống có vấn đề được giáo viên tạo ra ở những dạng khác nhau
như: Đột biến, bất ngờ, không phù hợp, xung đột, bác bỏ, lựa chọn
- Quá trình dạy học theo phương pháp GQVĐ được chia thành những giai đoạn có mục đích chuyên biệt
Có nhiều cách chia bước, chia giai đoạn để giải quyết vấn đề Ví dụ:
Phương pháp GQVĐ là hình thức dạy học ở đó ta tổ chức được THCVĐ, giúp người học nhận thức nó, chấp nhận giải quyết và tìm kiếm lời giải trong quá trình
“hoạt động hợp tác“ giữa thầy và trò, phát huy tối đa tính độc lập của sinh viên kết
hợp với sự hướng dẫn của thầy giáo
- Đặc trưng độc đáo của dạy học GQCĐ là sự tiếp thu tri thức trong hoạt động
tư duy sáng tạo
Trang 3028
Sau đây là một số ví dụ về các bước thực hiện dạy học giải quyết vấn đề:
Có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này, có tác giả trình bày tiến trình theo 3, 4 hoặc 5 bước và có tác giả chia dạy học giải quyết vấn đề thành 4 giai đoạn
(1) Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 3 bước
Bước 1: Tri giác vấn đề
+ Tạo tình huống gợi vấn đề;
+ Giải thích và chính xác hóa để hiểu đúng tình huống;
+ Phát biểu vấn đề và đặt mục đích giải quyết vấn đề đó;
Bước 2: Giải quyết vấn đề
+ Phân tích vấn đề, làm rõ những mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm; + Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết, có thể điều chỉnh, thậm chí bác bỏ và
chuyển hướng khi cần thiết Trong khâu này thường hay sử dụng những qui tắc tìm đoán và chiến lược nhận thức như sau: Qui lạ về quen; Đặc biệt hóa và chuyển qua những trường hợp giới hạn; Xem tương tự; Khái quát hóa; Xét những mối liên hệ và phụ thuộc; Suy ngược (tiến ngược, lùi ngược) và suy xuôi (khâu này có thể được làm nhiều lần cho đến khi tìm ra hướng đi đúng);
+ Trình bày cách giải quyết vấn đề;
Bước 3: Kiểm tra và nghiên cứu lời giải
+ Kiểm tra sự đúng đắn và phù hợp thực tế của lời giải
+ Kiểm tra tính hợp lý hoặc tối ưu của lời giải
+ Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả
+ Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược vấn đề và giải quyết nếu có thể
(2) Thực hiện dạy học giải quyết vấn đề theo 4 bước
Bước 1: Đưa ra vấn đề: Đưa ra các nhiệm vụ và tình huống; Đưa ra mục đích
của hoạt động
Bước 2: Nghiên cứu vấn đề: Thu th cáthập hiểu biết của học sinh; Nghiên
cứu tài liệu giáo trình
Bước 3: Giải quyết vấn đề: Đưa ra lời giải; Đánh giá chọn phương án tối ưu
Trang 31+ Làm việc theo nhóm nhỏ (trao đổi ý kiến, khuyết khích tìm tòi );
+ Thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận (ngồi vòng tròn, chia nhóm nhỏ theo những ý kiến cùng loại );
+ Tấn công não (brain storming), đây thường là bước thứ nhất trong sự tìm tòi
giải quyết vấn đề (người học thường được yêu cầu suy nghĩ, đề ra những ý hoặc giải
pháp ở mức độ tối đa có thể có của mình);
+ Xếp hạng (ranking) (là một cách kích thích suy nghĩ sâu hơn về một tình huống gây cấn, và làm rõ những ưu tiên);
+ Sắm vai / trò chơi đóng vai (role play) (tập luyện cho người học tăng thêm khả năng nghĩ ra những hướng khác nhau, và phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và
giải quyết xung đột.);
+ Mô phỏng (simulation) (có thể coi như mở rộng của cách sắm vai, thu hút cả
lớp đồng thời tham gia, trên cơ sở tất cả học viên đã hiểu rõ gây cấn gốc, nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp liên quan đến những con người, những nhóm người có
những quan tâm đa dạng);
+ Báo cáo và trình bày (thực hiện nhiều cách làm, từ cá nhân viết, trình bày ở
nhóm nhỏ, báo cáo của nhóm trước cả lớp)
- Mức độ tích cực tham gia của học sinh khác nhau
Tùy theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề, người
ta đề cập đến các cấp độ khác nhau, cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của dạy học giải quyết vấn đề:
(1) Tự nghiên cứu vấn đề
Trang 32(2) Tìm tòi từng phần
Trong cách tổ chức này, học sinh giải quyết vấn đề không hoàn toàn độc lập mà
là có sự gợi ý dẫn dắt của thầy khi cần thiết Phương tiện để thực hiện hình thức này
là những câu hỏi của giáo viên và những câu trả lời hoặc hành động đáp lại của học sinh Như vậy có sự đan kết thay đổi hoạt động của thầy và trò dưới hình thức đàm thoại Với hình thức này, ta nhận thấy dạy học giải quyết vấn đề có thể tiến theo phương pháp đàm thoại hoặc tổ chức tự nghiên cứu sau đó báo cáo lại
Nét quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề là tình huống có vấn đề chứ không phải là câu hỏi Trong một giờ học, giáo viên đặt nhiều câu hỏi nhằm mục đích tái hiện kiến thức thì đó không phải là dạy học nêu vấn đề Ngược lại, trong một số trường hợp, việc giải quyết vấn đề của học sinh có thể diễn ra mà không có một câu hỏi nào của ngưới thầy
(3)Trình bày giải quyết vấn đề
Ở hình thức này, mức độ độc lập của học sinh thấp hơn hai hình thức trên Thầy giáo tạo ra tình huống có vấn đề, sau đó thầy tiếp tục đặt vấn đề và trình bày quá trình suy nghĩ giải quyết Trong quá trình này có sự mò mẫm, dự đoán, có lúc thành công,
có pha lẫn thất bại phải điều chỉnh phương hướng mới đi đến kết quả Như vậy, kiến thức được trình bày không phải dưới dạng có sẵn mà chúng được khám phá ra bằng cách mô phỏng và rút ngắn quá trình khám phá thực
* Ưu điểm và hạn chế của phương pháp
- Ưu điểm:
+ Đặc biệt phát triển tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề ở học sinh
Trang 3331
+ Với tình huống có vấn đề người học sinh thấy được mối liên hệ giữa kiến thức
cũ và kiến thức mới giúp họ củng cố và vận dụng kiến thức Mặt khác học sinh thấy
có nhu cầu và hứng thú trong việc tìm kiến thức mới
+ Trong quá trình dạy học, học sinh thật sự trở thành chủ thể
- Hạn chế:
+ Tùy theo phương pháp cụ thể, nhìn chung tốn nhiều thời gian
+ Không phải bài học nào cũng tạo được tình huống có vấn đề
+ Dạy học nêu vấn đề đòi hỏi mức độ cá nhân hóa rất cao và giáo viên có trình
độ cao
c Phương pháp hoạt động nhóm
Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm
vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành :
Trang 3432
+ Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm + Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
- Tổng kết trước lớp
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
+ Thảo luận chung
+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài học
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói
ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ
đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng
tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới
1.1.4 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực
a Giáo viên: Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay
đổi về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục Giáo viên vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của người học theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của người học trong hoạt động nhận thức
b Người học: Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, người học phải dần dần có được
những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp dạy học tích cực như: giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc,
Trang 3533
bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy
kĩ thuật, tư duy kinh tế…
c Chương trình và sách giáo khoa, giáo trình: Phải giảm bớt khối lượng kiến
thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc người học phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức để người học tập giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để người học tự nghiên cứu phát triển bài học
d Thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc
triển khai chương trình, giáo trình nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của người học Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho người học thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
e Đổi mới đánh giá kết quả học tập của người học: Đánh giá là một khâu quan
trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục
Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo 70% câu hỏi bài tập đo được mức độ đạt trình độ chuẩn - mặt bằng về nội dung học vấn dành cho mọi người học ở trình độ cao đẳng và 30% còn lại phản ánh mức độ nâng cao, dành cho người học có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn
g Trách nhiệm quản lý:
Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của giáo viên, đồng thời cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm người học, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới
Trang 36h Khai thác yếu tố tích cực trong các phương pháp dạy học truyền thống
Đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của người học không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các phương pháp dạy học truyền thống, hay phải "nhập nội" một số phương pháp xa lạ vào quá trình dạy học Vấn đề là ở chỗ cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học hiện có, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới một cách linh hoạt nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học trong học tập, phù hợp với hoàn cảnh điều kiện giảng dạy và học tập
Phương pháp thuyết trình là một trong những phương pháp dạy học truyền thống được thực hiện trong các hệ thống nhà trường đã từ lâu Đặc điểm cơ bản nổi bật của phương pháp thuyết trình là thông báo - tái hiện Vì vậy, phương pháp thuyết trình còn có tên gọi là phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện Phương pháp này chỉ
rõ tính chất thông báo bằng lời của thầy và tính chất tái hiện khi lĩnh hội của trò Thầy giáo nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, chuẩn bị bài giảng và trực tiếp điều khiển thông báo luồng thông tin tri thức đến người học Người học tiếp nhận những thông tin đó bằng việc nghe, nhìn, cùng tư duy theo lời giảng của thầy, hiểu, ghi chép và ghi nhớ
Do đó, theo hướng hoạt động hóa người học, cần phải hạn chế bớt phương pháp thuyết trình thông báo - tái hiện, tăng cường phương pháp thuyết trình giải quyết vấn
đề Đây là kiểu dạy học bằng cách đặt người học trước những bài toán nhận thức, kích thích người học hứng thú giải bài toán nhận thức, tạo ra sự chuyển hóa từ quá trình nhận thức có tính nghiên cứu khoa học vào tổ chức quá trình nhận thức trong học tập Giáo viên đưa người học vào tình huống có vấn đề rồi người học tự mình giải quyết vấn đề đặt ra
Trang 3735
Để thu hút sự chú ý của người học và tích cực hóa phương pháp thuyết trình ngay khi mở đầu bài học giáo viên có thể thông báo vấn đề dưới hình thức những câu hỏi có tính chất định hướng, hoặc có tính chất "xuyên tâm" Trong quá trình thuyết trình bài giảng, giáo viên có thể thực hiện một số hình thức thuyết trình thu hút sự chú ý của người học như sau:
- Thuyết trình kiểu thuật chuyện: Giáo viên có thể thông qua những sự kiện kinh
tế - xã hội, những câu chuyện hoặc tác phẩm văn học, phim ảnh… làm tư liệu để phân tích, minh họa, khái quát và rút ra nhận xét, kết luận nhằm xây dựng biểu tượng, khắc sâu nội dung kiến thức của bài học
- Thuyết trình kiểu mô tả, phân tích: Giáo viên có thể dùng công thức, sơ đồ, biểu mẫu… để mô tả phân tích nhằm chỉ ra những đặc điểm, khía cạnh của từng nội dung Trên cơ sở đó đưa ra những chứng cứ lôgíc, lập luận chặt chẽ để làm rõ bản chất của vấn đề
- Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: Nếu nội dung của vấn đề trình bày chứa đựng những mặt tương phản thì giáo viên cần xác định những tiêu chí để so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc quan hệ giữa hai đối tượng đối lập nhau nhằm rút ra kết luận cho từng tiêu chí so sánh
- Hiện nay, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện công nghệ thông tin, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả Tiến tới mọi giáo viên phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng, biết sử dụng đầu máy đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sinh động, hiệu qủa, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của người học
1.2 Ứng dụng công nghệ dạy học hiện đại trong dạy học tích cực
1.2.1 Công nghệ dạy học hiện đại
a Các khái niệm
- Công nghệ: “Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ
năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, nó đạt một hiệu quả xác định cho con người” (GS TS Nguyễn Xuân Lạc) [1]
Trang 3836
- Công nghệ dạy học: Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về Công nghệ dạy
học cũng như công nghệ trong giáo dục và đào tạo dưới đây là một trong số các quan điểm:
“Công nghệ đào tạo là quá trình sử dụng vào giáo dục và dạy học các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ, nhằm nâng cao chất lượng của người học”
“Công nghệ giáo dục là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học và những điều kiện thuận lợi để tiến hành quá trình đào tạo, cũng như xác lập các phương pháp và phương tiện có kết quả cao nhất để đạt được mục đích đào tạo …”
Theo một chiều hướng ta có thể định nghĩa đơn giản: CNDH là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy và học nhằm nâng cao chất lượng học tập của người học
Nói một cách khác: CNDH là hệ thống các phương pháp, phương tiện kỹ thuật
và kỹ năng dạy học hỗ trợ quá trình dạy học
b Các thành phần của công nghệ dạy học
Hình 1.1: Các thành phần của công nghệ dạy học (CNDH)
- Phần thiết bị: Bao gồm các phương tiện vật chất như thiết bị trường học, đồ
dùng dạy học, xưởng, phòng học … Đây là phần vật chất, phần cứng của CNDHgiúp tăng cường năng lực hoạt động giáo dục
- Phần con người: Bao gồm năng lực CNDH của người quản lý, người thực
hành, thầy giáo và HS Cụ thể là các kỹ năng, kinh nghiệm, sáng tạo, khả năng lãnh đạo, sự khéo léo … Phần này phụ thuộc vào trình độ học vấn, vốn kinh nghiệm nghề nghiệp và lòng say mê với nghề
Thiết bị
Quản lý Con người
Thông tin
CNDH
Trang 3937
- Phần thông tin: Bao gồm tri thức giáo khoa đã được thể thức hóa thành tri
thức tiền dạy học nghĩa là đã được sắp xếp theo một quy trình có thể diễn tả các lý thuyết, toát lên phương pháp nhận thức và thang thao tác Thông tin giúp cho con người rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý và tái tạo hiệu quả Thông tin phải luôn được
bổ xung và cập nhật trong quá trình nhận thức
- Phần quản lý tổ chức: Bao gồm các hoạt động thể chế, quyền hạn và mối liên
hệ trong quá trình điều khiển Chức năng của tổ chức là phối hợp tốt ba khâu ở trên của CNDH
c Tác dụng của công nghệ dạy học
* Ưu điểm:
- Nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả của dạy học
- Cho phép cá thể hóa giáo dục: Người học có thể học mọi lúc, mọi nơi
- Tăng cường sự bình đẳng trong giáo dục: Bình đẳng trong quan hệ thầy trò
- Góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở khoa học của dạy học, tạo cho nó những nền tảng khoa học vững chắc
* Nhược điểm:
- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người
- Chỉ áp dụng tốt cho một số môn học cụ thể
1.2.2 Phương tiện dạy học hiện đại và vai trò của nó trong dạy học tích cực
a Phương tiện dạy học (PTDH)
* Phương tiện dạy học nói chung:
PTDH có thể hiểu là sự kết hợp các công cụ mang thông tin khác nhau (văn bản,
âm thanh, hình ảnh, mô hình, thiết bị …) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy và trò Về mặt giao tiếp, người sử dụng PTDH không nhận thông tin một cách bị động mà qua PTDH họ có thể điều khiển, điều chỉnh, tham khảo, khai thác và lựa chọn thông tin theo mục đích dạy học [1]
PTDH được hiểu là những dụng cụ, máy móc, thiết bị, vật dụng cần thiết cho hoạt động dạy và học, giúp cho quá trình nhận biết, lĩnh hội kiến thức của người học được tốt hơn Ví dụ: Bảng viết (Bảng phấn, bảng phoocmica trắng), bảng giấy lật,
Trang 4038
bảng ghim, máy chiếu hắt (overheat), Projector (phương tiện với sự trợ giúp của máy tính chương trình Powerpoint, FrontPage, Multimedia, Video …), sử dụng internet trong dạy học (Elearning, you to be …)
* Phương tiện dạy học hiện đại: Trong những phương tiện trên thì sử dụng
máy chiếu hắt (overheat), Projector (phương tiện với sự trợ giúp của máy tính chương trình Powerpoint, FrontPage, Multimedia, Video …) sử dụng internet trong dạy học (Web, Elearning, you to be …) được coi là những phương tiện dạy học hiện đại
b Vai trò của phương tiện dạy học hiện đại trong dạy học tích cực
Theo thống kê: nếu chỉ có đọc thì người học chỉ nhớ được 10%, chỉ có nghe thôi thì khả năng tiếp thu được 20%, cả nghe và nhìn tiếp thu được 50%, nếu được trình bày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70% Đặc biệt, nếu được kết hợp cả nghe, đọc, nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ nhớ lên đến 90% Chỉ riêng điều đó thôi, cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào việc giảng bài nâng cao khả năng tiếp nhận kiến thức của người học
Ngày nay, với sự hỗ trợ của máy tính và các phương tiện hiện đại khác, vai trò của PTDH hiện đại trong dạy học các môn kỹ thuật ngày càng tỏ rõ ưu thế Cụ thể là PTDH hiện đại đã và đang mở ra hướng mới trong việc thiết kế và thực hiện các bài giảng, đặc biệt là các nội dung khó PTDH hiện đại giúp HS dễ hiểu bài, hiểu vấn đề, ghi nhớ lâu hơn PTDH hiện đại giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp, rút ra những kết luận có độ tin cậy cao …) Giúp cho người học tiết kiệm được thời gian trên lớp và trong mỗi tiết học, điều khiển được hoạt động nhận thức của người học, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi
và có hiệu quả cao
c Các yêu cầu đối với phương tiện dạy học
- Tính khoa học sư phạm: Là tiêu chí chính về chất lượng phương tiện dạy học
Chỉ tiêu này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo giáo dục, nội dung phương pháp dạy học với cấu tạo nội dung của phương tiện