1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bệnh cận thị, cong vẹo cột sống

13 406 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 339,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lớp học, góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết: - Kích thước phòng học; cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể ngồi đúng tư thế và giữ đúng

Trang 1

Bệnh cận thị hoàn toan có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:

1 Giữ đúng tư thế ngồi khi học:

Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc hoặc viết

2 Lớp học, góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết:

- Kích thước phòng học; cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể ngồi đúng tư thế và giữ đúng khoảng cách

từ mắt đến sách vở

- Đảm bảo đủ ánh sáng: nơi tối nhất không dưới 30 lux, nơi sáng nhât không quá 700 lux

- Chữ viết trên bảng và trong sách vở phải rõ nét, chiều cao ít nhất của chữ viết là 1/200 khoảng cách từ mắt tới chữ Ví dụ, khoảng cách từ bảng tới học sinh là 8 m thì chiều cao tối thiểu của cỡ viết trên bảng phải là 4

Trang 2

cm Chữ trong vở phải có chiều cao ít nhất 1,75 mm cho khoảng cách từ mắt đến vở là 35 cm

- Khi đọc sách buổi tối, cần đèn đủ sáng và có chụp phản chiều Không dùng đèn ống neon, nên dùng bóng điện dây tóc

- Không viết mực đỏ, mực xanh lá cây Không đọc sách có chữ quá nhỏ in trên giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỷ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến mắt bị mệt

- Duy trì mỗi tiết học 45 phút, sau đó nghỉ giải lao, đưa mắt nhìn xa, hết co thắt thị giác rồi mới bước vào giờ học tiếp theo

3 Bỏ những thói quen có hại cho mắt:

- Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết b i à

- Không đọc sách báo, t i li à ệu khi đang đi trên ô tô, t u h à ỏa, máy bay

- Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa m n hình t à ối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem

- Không tự ý dùng kính đeo mắt không đúng tiêu chuẩn Khi đeo kình cần tuân thủ hướng dẫn của nh chuyên môn à

Dấu hiệu nhận biết trẻ bị cận thị

Có một cách rất đơn giản để phát hiện con bạn có bị cận thị hay không là hãy quan sát bé Một số dấu hiệu sau giúp các bậc phụ huynh có thể phát hiện sớm bệnh cận thị ở trẻ.

Trang 3

Trẻ xem ti vi với khoảng cách quá gần, hoặc ban đầu trẻ ngồi xa nhưng sau

đó lại tiến dần lại gần ti vi hơn Trẻ hay nheo nheo mắt và nghiêng đầu khi xem hoặc nhìn các vật ở xa.

Trẻ thường kêu mỏi mắt, chảy nước mắt, chói mắt và sợ ánh sáng Đặc biệt, trẻ rất hay dụi mắt dù không buồn ngủ

Nếu theo dõi việc học của trẻ, bạn sẽ thấy trẻ thường phải chép bài của bạn Khi đọc, trẻ hay đọc nhảy hàng và thường dùng ngón tay để dò theo chữ Kết quả học tập giảm sút, hay viết sai chữ

Trẻ không thích các hoạt động liên quan tới thị giác như vẽ hình, tô màu hay tập đọc hoặc các hoạt động liên quan tới thị giác xa như chơi ném bóng Nếu thấy bé có những dấu hiệu trên, bạn nên đưa bé đi khám để phát hiện và điều trị cận thị kịp thời Y học hiện đại ngày nay có nhiều phương pháp điều trị cận thị Phổ biến nhất là đeo kính; lắp kính sát tròng; mổ laser, dùng vật

lý trị liệu Tuy nhiên, khi phát hiện con em mình có dấu hiệu bị cận thị, các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đi khám để được bác sĩ chuyên khoa mắt tư vấn cách chữa trị tốt nhất.

Thông thường, bệnh cận thị ở trẻ em thường do 2 nguyên nhân chính gây ra

là di truyền và tự mắc phải Trong đó, cận thị tự mắc phải thường gặp ở lứa tuổi học sinh, do các em học tập và sinh hoạt trong điều kiện thiếu ánh sáng, mắt không được nghỉ ngơi hợp lý dẫn đến bệnh cận thị.

Cận thị di truyền phức tạp hơn, thường gặp ở trẻ em từ 1-2 tuổi, độ cận cao

và có nhiều biến chứng nguy hiểm như: thoái hóa hắc võng mạc, xuất huyết hoàng điểm, bong hoặc xuất huyết thể pha lê, rách hay bong võng mạc

Trang 4

Để mắt trẻ tiếp xúc nhiều với màu xanh cây cỏ tự nhiên

Phòng bệnh cận thị cho trẻ

Cách tốt nhất để phòng bệnh cận thị cho trẻ là để bé học tập và sinh hoạt trong điều kiện đầy đủ ánh sáng tự nhiên Buổi tối, nên cho trẻ sử dụng loại đèn học có ánh sáng trắng giống ánh sáng ban ngày để hạn chế việc mắt phải điều tiết liên tục.

Tuyệt đối không nên để trẻ đọc sách trong tư thế nằm ngửa vì lượng ánh sáng rọi vào trang sách sẽ bị hạn chế, mắt sẽ phải điều tiết nhiều hơn để thấy rõ chữ làm mắt mau mỏi.

Trong lớp học, bề mặt bảng không nên quá bóng Màu sơn của bảng nên là màu xanh lá cây hoặc đen để tạo độ tương phản tốt nhất với phấn trắng

Nếu trẻ sử dụng vi tính, nên chỉnh độ làm tươi màn hình máy vi tính lên mức tối ưu, để hạn chế mỏi mắt do nhìn tập trung vào màn hình kéo dài.

Ngoài ra, việc xây dựng và rèn luyện cho trẻ có thời gian biểu học tập, nghỉ ngơi hợp lý,

để mắt trẻ tiếp xúc nhiều với màu xanh cây cỏ tự nhiên cũng là cách giúp bé tránh khỏi bệnh cận thị.

Trang 5

Bệnh Học Đường Và Cách Phòng Chống

CONG VẸO CỘT SỐNG

Hiện nay, do áp lực của chương trình học, bàn ghế ngồi không thoải mái, bảng lóa, ánh sáng không đủ, tầm nhìn bị hạn chế (nhất là với học sinh sống ở trung tâm Thành phố), các thầy cô giáo chỉ chú ý đến việc dạy trẻ kiến thức mà ít quan tâm đến tư thế ngồi của trẻ nên tỉ lệ bệnh vẹo cột sống và cận thị tăng cao Tình trạng cong vẹo cột sống đang ở mức báo động đỏ (30,8%), đang tăng dần theo cấp học (số liệu từ điều tra một số trường cấp 1, 2 và 3 ở Hà Nội) và học sinh học càng nhiều tỷ lệ vẹo cột sống càng cao Ở TP.HCM, năm 2003, Bệnh viện CTCH đã điều tra tình hình vẹo cột sống của học sinh ở một số trường học tại quận Tân Bình Kết quả điều tra cho thấy đã có đến hơn 1/2 trên tổng số 4.000 học sinh bị vẹo cột sống Đó mới chỉ là điều tra ở một quận Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Sức khỏe lao động và môi trường Tp.HCM cho thấy, năm 2000 có 30% học sinh tiểu học bị vẹo cột sống, đối với học sinh phổ thông ở quy mô toàn thành phố thì tỷ lệ vẹo cột sống ở trẻ là 32%

Cột sống của trẻ có đặc điểm không giống người lớn Cùng với sự phát triển từng ngày của trẻ, cột sống cũng phát triển liên tục cho đến tuổi dậy thì Vì vậy, nếu bị vẹo cột sống từ lứa tuổi tiểu học, sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển bình thường của cơ thể trẻ, không chỉ làm ảnh hưởng tới tâm lý, thẩm mỹ khi trẻ trưởng thành mà về lâu dài còn sinh ra các dấu hiệu như: đau lưng, tay hay vai lệch 1 bên, bước đi khập khiểng và dễ bị bệnh thoái hóa cột sống

Tư thế ngồi học không đúng (ngồi bò ra bàn, ép ngực vào thành bàn, nghiêng vẹo cổ để viết, ngồi lệch nghiêng một bên) là nguyên nhân hàng đầu gây vẹo cột sống ở trẻ đi học, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi trẻ đi học ngày 2 buổi suốt cả tuần Một nguyên nhân nữa là bàn ghế trong lớp không đúng kích thước

và độ chênh lệch giữa bàn và ghế quá lớn khiến xương bả vai bị chèn ép Bàn quá cao khiến trẻ ngồi viết phải nâng cơ lưng lên gây ra tình trạng 1 bên cơ quá dãn, 1 bên cơ bị chùng xuống, lâu ngày làm cơ lưng yếu đi Bàn quá thấp khiến trẻ phải cúi xuống lâu ngày gây gù lưng Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã khẳng định: bàn ghế có kích thước không đúng, thiếu tiện nghi sẽ làm cho học sinh chóng mệt mỏi, ảnh hưởng tới sự tập trung tư tưởng và ngồi lâu thì dẫn đến các bệnh cận thị, cong vẹo cột sống,

gù lưng, vai cao vai thấp do cột sống bị xoay… Việc xách cặp sách quá nặng lúc đi học cũng ảnh hưởng nhiều, gây đau vai, vẹo cột sống

Hướng dẫn của ngành y tế về kích cỡ bàn ghế học sinh:

- Bàn ghế phải rời nhau, ghế phải có thành tựa lưng

- Chiều cao bàn = 42% chiều cao cơ thể - Chiều cao ghề = 26% chiều cao cơ thể

Trang 6

- Chiều ngang tối thiểu cho một chỗ ngồi là 0,4 – 0,5m

- Độ chênh chiều cao giữa bàn và ghế cho tiểu học là 19 - 20 - 21 - 23cm và trung học cơ sở là 21 - 23 - 26

- 28cm

Cong vẹo cột sống có thể ít hay nhiều và từ đó dẫn tới các dị tật ở mức độ khác nhau, thông thường được phân làm 3 loại: - Vẹo độ 1: Đứng thẳng có xoáy vặn cột sống nhưng hình thể vẹo không thấy rõ ràng Khó phát hiện bằng mắt thường Nói chung chưa ảnh hưởng đến chức năng hô hấp - Vẹo độ 2: Đứng thẳng nhìn sau lưng cũng đã thấy được hình dáng cong vẹo cột sống, thấy được ụ lồi sườn do đốt sống bị xoáy vặn Bắt đầu có ảnh hưởng đến chức năng hô hấp - Vẹo độ 3: Nhìn thấy rõ tư thế lệch, cột sống bị cong ảnh hưởng rõ tới quá trình hô hấp, có thể gây biến dạng khung chậu, nếu là nữ thì trở ngại tới việc sinh con

Các trường hợp nặng gây biến dạng của bắp thịt bị kéo căng và có hiện tượng đau, xương ngực có thể bị biến dạng, tim phổi xê dịch vị trí, do có phần cong vẹo và phần cong đối lại nên chiều dài của lưng bị ngắn lại, xương chậu cũng có thể bị quay lệch, các cơ quan trong ổ bụng cũng có thể dịch vị trí

Bệnh cần được phát hiện sớm và điều trị sớm nhằm ngăn chặn sự biến dạng cột sống dẫn tới biến dạng tư thế, biến dạng khung chậu, thậm chí ảnh hưởng tới khả năng hô hấp và tuần hoàn Với các biện pháp kỹ thuật điều trị thông thường như vật lý trị liệu, thể dục liệu pháp, chỉnh lại tư thế đứng ngồi trong sinh hoạt, nhất là việc ngồi học của các em học sinh thì tình trạng bệnh sẽ được ổn định

Với người trưởng thành đã qua tuổi còn sức lớn, độ cong cột sống không còn mềm dẻo, đã có biến dạng nặng thì việc điều trị có khó khăn Trong trường hợp này có thể phải phẫu thuật chỉnh hình nhờ vào một loại nẹp kim loại đặc biệt được đặt cố định vào cột sống trong thời gian dài để nắn chỉnh Các bước phẫu thuật phụ thuộc vào mức độ biến dạng của cột sống, nói chung là khá tốn kém cả về tiền bạc và thời gian

Ngoài ra, dị dạng cột sống có thể có ngay từ khi mới sinh (bẩm sinh), hoặc từ khi còn thơ ấu do bệnh còi xương, hoặc do ngồi quá sớm Tuy vậy cũng có nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân Lúc khởi đầu của bệnh còn rất nhẹ, nên phải đến khi bước sang giai đoạn tăng trưởng nhanh và trưởng thành mới nhận thấy rõ rệt Khi phát hiện thấy xương vai các em không cân đối, hai bên lưng không cân khi cúi,

có nghĩa rằng các em ngồi viết bị với, dẫn đến vẹo cột sống Những trường hợp như vậy phải đưa đến các chuyên khoa phục hồi chức năng để nắn chỉnh ngay, tránh hiện tượng còng, vẹo gây ngắn người, đau lưng, giảm tuổi thọ

Trang 7

Phòng ngừa bệnh

Cần phòng chống suy dinh dưỡng, còi xương ở trẻ nhỏ Cần phải bảo đảm chế độ dinh dưỡng, giàu canxi

và vitamin D cho trẻ để phòng tránh còi xương Các bậc phụ huynh cũng không nên sốt ruột, bắt trẻ em phải tập đi đứng, chạy sớm Bàn ghế ngồi học phải phù hợp với lứa tuổi và tư thế ngồi học phải đúng Cần thực hiện giờ nghỉ giải lao giữa các tiết học, tránh để học sinh phải mang vác cặp sách quá nặng Các thầy

cô và phụ huynh cần quan tâm uốn nắn tư thế ngồi đúng cho học sinh Bàn ghế, ánh sáng ở các lớp học cũng phải theo đúng tiêu chuẩn Tránh tình trạng học sinh cúi gập người trên bàn, hay vẹo cổ khi viết, làm cho cột sống bị vẹo, dẫn đến thoái hóa khớp sớm Phải nâng cao sức khỏe chung của cơ thể bằng cách rèn luyện thể dục thể thao cho các bắp thịt, các tổ chức liên kết, dây chằng các khớp khỏe, làm tăng sự dẻo dai bền bỉ và phát triển cân đối

cận thị

Tỉ lệ bệnh cận thị và những bệnh về mắt cũng tăng cao trong những năm gần đây, đặc biệt là ở vùng thành thị và các trường

chuyên Thống kê tình hình sức khỏe thế hệ trẻ VN độ tuổi từ 7 - 17 trong những năm 1980-1990 cho thấy

có 0,65% học sinh tiểu học bị cận thị, ở cấp THCS là 1,6% và THPT là 8,12% Thế nhưng đến năm 1999, tại

Hà Nội, khối tiểu học đã có đến 9,6% học sinh bị cận thị,khối THPT lên tới 24% Tại TPHCM, hiện nay tỉ lệ học sinh đến khám những tật khúc xạ mắt (cận thị, viễn thị, loạn thị) tại Bệnh viện Mắt là 35%.Theo khảo sát của Cục Y tế Dự phòng trong chương trình “Khám mắt học đường - Mắt sáng hướng tới tương lai” năm

2005 tại Hà Nội và TP.HCM, tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ gần 50%, trong đó xấp xỉ một nửa bị cận thị Trong số học sinh bị cận thị, có đến 56% bị cận nhẹ cả 2 mắt và 15,5% cận thị nặng, đặc biệt các trường chuyên, tỷ lệ mắc cận thị đã lên đến 80%

Cuộc khảo sát tại 20 trường của Hà Nội gần đây cho thấy, nhiều phòng học của các trường không được bố trí đúng hướng, cửa sổ, cửa ra vào không đủ ánh sáng tự nhiên, hoặc sử dụng đèn có độ rọi sáng quá yếu,

bố trí không đúng với tiêu chuẩn thiết kế dẫn tới ngược sáng, lóa hoặc sấp bóng Hệ thống đèn chiếu sáng tại các phòng học thường được mắc rất tùy tiện, nhiều loại đèn không đủ tiêu chuẩn; vẫn còn tồn tại không

Trang 8

ít phòng học ánh sáng chỉ đạt 20 lux, nghĩa là bằng 1/5 so với tiêu chuẩn quy định Ngược lại nhiều lớp học lại mắc quá nhiều đèn nhưng không đúng quy cách, độ chói quá lớn, dẫn đến việc tốn kém điện năng nhưng độ rọi lại không đồng đều Thường xuyên phải học tập trong môi trường ánh sáng như trên, học sinh phải liên tục điều tiết thị giác dẫn tới việc căng, mỏi mắt, lâu dần trở thành cận thị

Tật khúc xạ gây mỏi mắt, kém tập trung, nhìn mờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học tập, vui chơi và sinh hoạt của lứa tuổi học đường Nếu không được điều trị đúng, có thể dẫn đến những tác hại về sau như bong võng mạc, lão hóa mắt nhanh chóng gây đục thủy tinh thể, thoái hóa hoàng điểm sớm Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tật cận thị, nhưng đáng chú ý là tư thế học tập không đúng, ánh sáng, bàn ghế học tập không đạt tiêu chuẩn hay làm việc căng thẳng nhưng không có chế độ thư giãn mắt thích hợp Chương trình học tập hiện nay quá nặng, học sinh phải học cả 3 buổi (sáng, chiều, tối) buộc mắt phải làm việc liên tục Việc tập trung nhìn kéo dài tạo điều kiện thuận lợi dẫn đến cận thị, nhất là ở học sinh cấp I (6

-10 tuổi) do ở lứa tuổi này cơ quan thị giác chưa hoàn chỉnh cả về mặt cấu tạo và sinh lý Vì thế, tỉ lệ cận thị mới mắc sau một năm ở học sinh cấp I cao 5 lần so với học sinh cấp III Chương trình học vốn đã nặng, ngoài giờ học các em còn giải trí bằng trò chơi điện tử đòi hỏi sự tập trung cao độ sự điều tiết của mắt khiến tình trạng trẻ bị cận thị gia tăng Các truyện tranh, sách in chữ quá nhỏ cũng làm tăng gánh nặng đối với mắt

Ngoài ra, những yếu tố di truyền, dinh dưỡng, trẻ sinh thiếu tháng cũng có liên quan tới bệnh này

Bệnh thường được phát hiện muộn khi trẻ đọc sai chữ hoặc ảnh hưởng đến kết quả học tập Vì vậy, phụ huynh cần lưu ý những dấu hiệu sớm để đưa trẻ đi khám bệnh: Trẻ hay than mệt mắt, nhức mắt, nhức đầu; đọc sách báo quá gần hoặc nheo mắt khi xem sách báo; hay nghiêng, quay đầu để nhìn cho rõ; hay cảm thấy chói mắt, sợ ánh sáng hay chảy nước mắt

Theo quy định về vệ sinh trường học do Bộ Y tế ban hành 4-2000: Diện tích phòng học trung bình từ 1,10m đến 1,25m cho một học sinh Chiều dài không quá 8,5m, chiều rộng không quá 6,5m, chiều cao 3,6m Phòng học có hệ thống gió nhân tạo như quạt gió, quạt trần treo cao trên mức nguồn sáng, bảo đảm tỷ lệ khí CO2 trong phòng không quá 0,1% Để hỗ trợ phòng học thiếu ánh sáng tự nhiên, cần chiếu sáng nhân tạo: Bóng đèn tóc cần 4 bóng, mỗi bóng có công suất từ 150W đến 200W treo đều 4 góc Nếu đèn nê-ông treo 6 đến 8 bóng, các bóng đèn treo cách mặt bàn học 2,8m Mỗi chỗ ngồi trên bàn học rộng không dưới 0,5m Ghế học phải rời với bàn và có thành tựa Bàn học đặt cách bảng từ 1,7 đến 2m Bàn cuối cùng cách bảng không quá 8m

Phòng tránh cận thị học đường

Trang 9

Khi đã bị cận thị, việc đeo kính hoặc dùng thuốc đều không thể ngăn cản bệnh tiến triển Tật này thường chỉ ngừng hẳn khi tới 25 - 30 tuổi Một học sinh bị cận thị lúc mới được phát hiện phải đeo kính 0,5 điốp, thì đến

30 tuổi có thể phải đeo kính 2,5 - 5 điốp hoặc hơn Vì vậy, việc phòng bệnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Quá trình học tập và giải trí thiếu khoa học ở tuổi học sinh có thể ảnh hưởng xấu tới khả năng điều tiết của đôi mắt, dẫn tới cận thị học đường Hậu quả là thị lực giảm, mắt không nhìn rõ vật ở xa, chỉ thấy vật ở gần

Bệnh cận thị hoàn toàn có thể phòng được nếu có sự phối hợp tích cực giữa học sinh, gia đình và nhà trường Sau đây là một số chỉ dẫn cần được tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:

1 Giữ đúng tư thế ngồi khi học:

Ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ Khoảng cách từ mắt đến sách vở trên bàn học là 25 cm đối với học sinh tiểu học, 30 cm với học sinh trung học cơ sở, 35 cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn Thầy cô giáo và cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt, nghiêng đầu, áp má lên bàn học khi đọc hoặc viết

2 Góc học tập phải đủ những điều kiện cần thiết:

← Không nên xem sách báo hoặc viết chữ dưới trời nắng, dưới ánh sáng quá mạnh hoặc quá tối Góc học tập nên để gần cửa sổ, ánh sáng chiếu trước mắt hoặc ngược chiều với tay thuận,

← Không đọc sách, viết chữ liền trong thời gian dài Sau 45’-1 giờ đọc hoặc viết thì nên nghỉ một lát, nhìn ra xa cho mắt nghỉ ngơi

← Không nên để khoảng cách đọc sách và viết chữ quá gần: khoảng cách cần là 30-35 cm Chú ý bàn ghế vừa tầm Ngoài ra, kích thước chữ viết trên bảng tối thiểu phải đạt chiều cao 4cm ở những chữ nguyên âm, kích cỡ bàn ghế phải phù hợp, sao cho mắt của học sinh phải cách mặt vở khoảng từ 30-35cm

← Cần hình thành thói quen thường xuyên làm động tác nhắm mắt sau những lúc học tập, đọc sách

← Khi đọc sách buổi tối, cần đèn đủ sáng và có chụp Không dùng đèn ống neon, nên dùng bóng điện dây tóc, đèn huỳnh quang

← Không viết mực đỏ, mực xanh lá cây Không đọc sách có chữ quá nhỏ in trên giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỷ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến mắt bị mệt

← Cân đối thời khóa biểu để các em có thời gian vui chơi, hoạt động thể lực, và nghỉ ngơi, thư giãn Liên hệ thường xuyên với nhà trường để biết tình trạng sức khỏe và học tập của con mình Khi thấy các em

có dấu hiệu sa sút trong học tập, hay dụi mắt thì nên sớm đưa đi khám mắt

Trang 10

← Dinh dưỡng bổ mắt: nên ăn nhiều loại rau lá xanh, củ quả vàng đậm, trái cây tươi, 2 bữa cá mỗi tuần, các loại hạt (hướng dương, bí đỏ, mè…) để nhận đủ vitamin A, vitamin C, vitamin E, acid béo thiết yếu omega-3

3 Bỏ những thói quen có hại cho mắt:

← Không nằm, quỳ để đọc sách hoặc viết bài

← Không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên ô tô, tàu hỏa, máy bay

← Khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5 m, nơi ánh sáng phòng phù hợp Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem

Bệnh sốt xuất huyết là gì ?

Sốt xuất huyết là bệnh nhiễm trùng cấp do siêu vi Dengue, muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà.

Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức.

Những ai dễ mắc bệnh này ? Bệnh thường xảy ra vào mùa và nơi nào ?

Bệnh này thường xãy ra ở trẻ em tuổi từ 2-9 tuổi, càng lớn càng ít bị Ðặc biệt trẻ càng bụ

Ngày đăng: 03/11/2015, 03:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w