ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, có đầy đủ sức khoẻ, con người mới có niềm vui và hạnh phúc thật sự, đặt biệt là ở xã hội văn minh thì vấn đề sức khoẻ càng được ưu tiên hàng đầu. Đạt được sức khoẻ tốt là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên trong trường học các cấp 13. Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục cho thế hệ trẻ, trong đó có giáo dục sức khoẻ ở các trường học là mối quan tâm lớn của Đảng, nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội7. Học sinh nước ta chiếm trên ¼ dân số, thuộc lứa tuổi trẻ tương lai của đất nước. Vì thế sức khoẻ của học sinh hôm nay chính là sức khoẻ của dân tộc mai sau. Trường học là ngôi nhà chung của học sinh. Hằng ngày các em học tập, rèn luyện vui chơi, giải trí ở đó. Do vậy, môi trường học tập hết sức quan trọng, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ thể chất, tinh thần và học tập, cũng như có thể góp phần nâng cao hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ học sinh 1, 35,36. Sức khoẻ của trẻ em có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự bền vững của đất nước và sự tồn vinh của dân tộc. Nếu trẻ em ngày hôm nay có sức khoẻ không tốt, gầy gò, ốm yếu, bệnh tật… thì đó sẽ là một dấu hiệu không tốt đẹp và ảnh hưởng đến nguồn nhân lực mai sau cho Quốc Gia và dân tộc 31. Học sinh ngồi trên ghế nhà trường ngày hôm nay sẽ là những ông bố, bà mẹ trong tương lai. Những gì các em có được trong tương lai về sức khoẻ, tri thức, tình cảm, đạo đức đều khởi hành từ ngày hôm nay. Định hướng công tác Y tế trường học đến năm 2010, Bộ Y tế xác định chăm sóc sức khoẻ học sinh là một mục tiêu trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ 2Trong nhiều năm qua, vấn đề sức khoẻ học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Công tác Y tế trong các trường học vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập. Mạng lưới cán bộ y tế nhà trường còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo chất lượng, điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cho học sinh chưa đảm bảo do thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động. Các khó khăn, tồn tại nêu trên đã dẫn đến tình trạng sức khoẻ học sinh có phần giảm sút, gia tăng một số bệnh, tật học đường như bệnh cận thị và cong vẹo cột sống. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan làm cho học sinh phải dồn hết sức lực và thời gian vào học tập, mất dần đi quyền được vui chơi, giải trí. Chính những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của học sinh 10,36. Cong vẹo cột sống và cận thị là hai bệnh chính khá phổ biến ở lứa tuổi học đường, và tỷ lệ này ngày càng cao. Chúng có liên quan chặt chẽ với quá trình học tập của học sinh. Theo quan điểm vệ sinh học đường hai bệnh có khác nhau về sinh bệnh học nhưng nguyên nhân và cách phòng chống có nhiều điểm giống nhau. Việc phát hiện bệnh muộn thì điều trị sẽ rất tốn kém và khó khăn, ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, giảm khả năng lao động và học tập 12. Thời gian gần đây, các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh thường tập trung ở thành phố mà chưa đi sâu nghiên cứu ở học sinh tại các vùng nông thôn và miền núi, nơi mà môi trường học tập của học sinh còn nhiều yếu tố bất lợi, vấn đề sức khoẻ học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Xuất phát từ những đặc điểm trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Mô tả thực trạng về bệnh cận thị học đường và cong vẹo cột sống của học sinh Trung học cơ sở tại huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum”, với các mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ cận thị và cong vẹo cột sống của học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đăk Hà năm 2009. 2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến cận thị và cong vẹo cột sống.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người, có đầy đủ sức khoẻ, con người mới có niềm vui và hạnh phúc thật sự, đặt biệt là ở xã hội văn minh thì vấn đề sức khoẻ càng được ưu tiên hàng đầu Đạt được sức khoẻ tốt là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên trong trường học các cấp [13]
Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục cho thế hệ trẻ, trong đó có giáo dục sức khoẻ ở các trường học là mối quan tâm lớn của Đảng, nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội[7]
Học sinh nước ta chiếm trên ¼ dân số, thuộc lứa tuổi trẻ tương lai của đất nước Vì thế sức khoẻ của học sinh hôm nay chính là sức khoẻ của dân tộc mai sau Trường học là ngôi nhà chung của học sinh Hằng ngày các em học tập, rèn luyện vui chơi, giải trí ở đó Do vậy, môi trường học tập hết sức quan trọng, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ thể chất, tinh thần và học tập, cũng như có thể góp phần nâng cao hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ học sinh [1], [35],[36]
Sức khoẻ của trẻ em có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự bền vững của đất nước và sự tồn vinh của dân tộc Nếu trẻ em ngày hôm nay có sức khoẻ không tốt, gầy gò, ốm yếu, bệnh tật… thì đó sẽ là một dấu hiệu không tốt đẹp và ảnh hưởng đến nguồn nhân lực mai sau cho Quốc Gia và dân tộc [31]
Học sinh ngồi trên ghế nhà trường ngày hôm nay sẽ là những ông bố,
bà mẹ trong tương lai Những gì các em có được trong tương lai về sức khoẻ, tri thức, tình cảm, đạo đức đều khởi hành từ ngày hôm nay
Định hướng công tác Y tế trường học đến năm 2010, Bộ Y tế xác định chăm sóc sức khoẻ học sinh là một mục tiêu trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân [36]
Trang 2Trong nhiều năm qua, vấn đề sức khoẻ học sinh chưa được quan tâm đúng mức Công tác Y tế trong các trường học vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập Mạng lưới cán bộ y tế nhà trường còn thiếu về số lượng, chưa đảm bảo chất lượng, điều kiện giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cho học sinh chưa đảm bảo do thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí hoạt động Các khó khăn, tồn tại nêu trên đã dẫn đến tình trạng sức khoẻ học sinh có phần giảm sút, gia tăng một số bệnh, tật học đường như bệnh cận thị và cong vẹo cột sống
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan làm cho học sinh phải dồn hết sức lực và thời gian vào học tập, mất dần đi quyền được vui chơi, giải trí Chính những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của học sinh [10],[36]
Cong vẹo cột sống và cận thị là hai bệnh chính khá phổ biến ở lứa tuổi học đường, và tỷ lệ này ngày càng cao Chúng có liên quan chặt chẽ với quá trình học tập của học sinh Theo quan điểm vệ sinh học đường hai bệnh có khác nhau về sinh bệnh học nhưng nguyên nhân và cách phòng chống có nhiều điểm giống nhau Việc phát hiện bệnh muộn thì điều trị sẽ rất tốn kém và khó khăn, ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, giảm khả năng lao động và học tập [12]
Thời gian gần đây, các nghiên cứu về sức khoẻ học sinh thường tập trung ở thành phố mà chưa đi sâu nghiên cứu ở học sinh tại các vùng nông thôn và miền núi, nơi mà môi trường học tập của học sinh còn nhiều yếu tố bất lợi, vấn đề sức khoẻ học sinh chưa được quan tâm đúng mức Xuất phát từ
những đặc điểm trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Mô tả thực trạng về bệnh
cận thị học đường và cong vẹo cột sống của học sinh Trung học cơ sở tại huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum”, với các mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ cận thị và cong vẹo cột sống của học sinh Trung học
cơ sở trên địa bàn huyện Đăk Hà năm 2009
2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến cận thị và cong vẹo cột sống
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SỨC KHOẺ TRƯỜNG HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1.1.1 Sức khoẻ trường học trên thế giới
1.1.1.1 Quá trình phát triển của Y tế trường học
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không đơn thuần là không có bệnh, hay thương tật Vì vậy chăm sóc sức khoẻ cho mọi người nói chung và học sinh (HS) nói riêng là rất quan trọng Vấn đề chăm sóc sức khoẻ học sinh (SKHS) được thế giới đặc biệt quan tâm, vì HS là tương lai của nhân loại [13]
Những năm cuối thế kỷ XIX, hệ thống y tế trường học đã phát triển và các bác sĩ, y tá học đường có nhiệm vụ khám sức khoẻ định kỳ và khám chuyên khoa cho HS, tổ chức tiêm chủng, phòng chống dịch bệnh trong trường học
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về Y tế trường học trên thế giới
Một số nghiên cứu trong nhà trường của các tác giả trên thế giới đã chỉ ra, tỷ lệ đau lưng ở học sinh tăng lên cùng với thời gian ngồi học ở trường Troussier và cộng sự (1999) cho thấy 23% học sinh có đau lưng khi ngồi và tần suất đau tăng lên cùng với thời gian ngồi học ở trường [17]
Ian Morgan và Kathryn Roes (2005), nghiên cứu sự tiến triển của bệnh cận thị của lứa tuổi 11-13 tại các nước trên thế giới cho thấy, tỷ lệ cận thị tăng dần theo thời gian ở hầu hết các nước nghiên cứu Nhật Bản năm
1984 cận thị 39% đến 1996 tăng lên 59%, tại Trung Quốc cận thị chỉ có 18%, năm 2003 lên đến 45,6%-49,7%; Đài loan năm 1983 cận thị 36,7% đến năm
2000 tăng lên 60,7% [59]
Trang 41.1.2 Sức khoẻ trường học ở trong nước
1.1.2.1 Tầm quan trọng của công tác y tế trường học
Với mong muốn trường học không chỉ là nơi dạy chữ, dạy nghề mà còn phải là nơi giáo dục, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho học sinh, từ năm
2001 Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ y tế với sự trợ giúp của TCYTTG tại Việt Nam đã tiến hành xây dựng mô hình Trường học nâng cao sức khoẻ Đến nay
đã được thực hiện ở một số địa phương như TP Hải Phòng, huyện Hương
Khê, tỉnh Hà Tĩnh
Từ năm 1960 y tế học đường ở nước ta đã được sự quan tâm chỉ đạo của Liên Bộ Y tế - Giáo dục và đã có nhiều nguyên cứu về sức khoẻ HS Tiêu chuẩn xây dựng, chiếu sáng, bàn ghế (BG) với 6 loại kích thước từ I đến VI
đã được ban hành trong điều lệ vệ sinh bảo vệ sức khoẻ từ năm 1964 [36]
Đã có nhiều hướng dẫn công tác y tế trường học, cả về mặt tổ chức và các quy định vệ sinh Thông tư Liên Bộ Y tế - Giáo dục số 32/TTLB ngày 27/2/1964 về việc quy định về vệ sinh trường học, hướng dẫn tổ chức Y tế trong các trường nội trú và quy định nhiệm vụ cho Trạm Y tế xã chăm lo sức khoẻ cho học sinh trong các trường học ở xã Thông tư liên bộ số 09/LB/YT-
GD ngày 07/6/1973 về việc hướng dẫn y tế trường học Đến năm 1982 lại có Thông tư Liên bộ số 13/LB-GD-YT ngày 09/6/1982 về việc đẩy mạnh công tác vệ sinh trường học trong những năm 1980
Bắt đầu từ năm 1998 Bộ Y tế có chủ trương khôi phục lại và phát triển
y tế trường học, liên bộ đã có văn bản pháp quy hướng dẫn công tác y tế trường học Thông tư Liên bộ Giáo dục và Đào tạo-Y tế số 40/1998/TTLB-BGDĐT-BYT, ngày 14/7/1998, về việc hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế học sinh Thông tư Liên Bộ Y tế - Giáo dục và Đào tạo số 03/2000/TTLT-BYT-BGDĐT, ngày 01/3/2000 về việc hướng dẫn thực hiện y tế trường học [36]
Trang 5Bộ Y tế và Bộ Giáo dục-Đào tạo đã có nhiều văn bản liên quan đến công tác y tế học đường Quyết định của Bộ Y tế số 1221/2000/QĐ-BYT, ngày 18/4/2000 ban hành Quyết định vệ sinh trường học Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo số 14/2001/QĐ-BGD&ĐT, ngày 03/5/2001 ban hành quy chế giáo dục thể chất và y tế trường học [7], [8], [36]
Ngoài ra, nhận thức được tầm quan trọng của công tác chăm sóc sức khoẻ cho học sinh, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2006/CT-TTg, ngày 12/7/2006 về tăng cường công tác y tế trong các trường học [10]
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu về y tế trường học ở trong nước
Trần Văn Dần (1999), nghiên cứu tình hình bệnh tật HS thập kỷ 90, tỷ
lệ cận thị và CVCS ngày càng tăng Ở Hà Nội, tỷ lệ CVCS 16%-27%, cận thị ở tiểu học (TH) 9,6%; THCS 36,5% và trung học phổ thông (THPT) 24% [14]
Trong những năm gần đây, xuất hiện tình trạng trẻ em mắc cận thị nhiều và ngày càng tăng cao ở các lứa tuổi Ở Hà Nội, tỷ lệ cận thị của HS năm
1964 chỉ có 4,2%; năm 1998 là 15,5% đến năm 2001 tăng lên 21,8% [54]
Nghiên cứu của tác giả như Ngô Thị Bé 2006 ở tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá, Dương Thị Hương 2004 và Nguyễn Hữu Chỉnh 2006 tại Hải Phòng Nông Thanh Sơn (2001), (2002),(2003),(2004) tại tỉnh Thái Nguyên
đã xác định tỷ lệ cận thị và CVCS trong HS tăng dần theo tuổi, nữ cao hơn nam, khu vực nội thành cao hơn ngoại thành [2], [3], [11], [26], [48], [49], [50], [51]
Trịnh Công Huấn (2006) nghiên cứu tại Hà Nội, Hà Tây, Phú Thọ, tỷ
lệ cận thị ở khu vực thành phố là 31,9%, thị xã 145%, nông thôn 8,5% và tăng lên theo cấp học Tỷ lệ cận thị ở TH là 7,26%; THCS 18,9% và THPT 29,6% [22] Đào Thị Mùi (2005) cho thấy HS mắc bệnh CVCS quá cao, từ 17%-30% tuỳ theo cấp học và địa bàn Tỷ lệ CVCS HS Hà Nội 18,9% [34]
Nghiên cứu tại các trường tiểu học, THCS năm học 2001-2002 tại tỉnh Lai Châu của tác giả Trần Thị Dung (2006) cho thấy tỷ lệ bệnh mắt của HS là
Trang 623,2% trong đó tật khúc xạ 6,4% [20] Trần Văn Nhựt (2004) đưa ra tỷ lệ HS
bị cận thị tại thành phố Đà Nẵng 12,46% trong đó ở HS tiểu học là 11,1%; THCS là 10,2% và ở học sinh THPT là 22,6% [44]
Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thế Thự (2004), tỷ lệ HS tiểu học và THCS ở thành phố Hồ Chí Minh bị tật khúc xạ (TKX) từ 26,4%-36,4%, tỷ lệ CVCS từ 12,1%-34,0% [53] Tác giả Hồng Lân (2006) nghiên cứu tại huyện Nhà Bè, TP Hồ Chí Minh (2003), tỷ lệ TKX 21,7% và CVCS 18,1% [30] Nghiên cứu tại Hải Phòng Đồng Trung Kiên (2006), tỷ lệ cận thị của HS là 19,8%, trong đó cao nhất là ở học sinh nội thành 29,2% so với nội thành chỉ 3,0%, tỷ lệ CVCS 23,3% và cao nhất là ở học sinh THCS ngoại thành 41,3% [28], [29]
Nguyễn Thị Bích Diệp (2004) và (2006), tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh cho thấy mức độ không phù hợp giữa kích thước cơ thể và kích thước bàn ghế [16], [17], [19]
1.1.2.3 Tình hình nghiên cứu về y tế trường học ở tỉnh Kon Tum
Theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum, năm học 2008- 2009 toàn tỉnh có 265 trường học, 2.128 lớp và 120.654 HS Trong đó
234 trường TH với 90.742 HS, 60 trường THCS với 18.311 HS và 16 trường THPT với 9.091 HS
Huyện Đăk Hà năm học 2008-2009 có 9 trường THCS với 222 lớp và 8.853 HS chiếm 9,2%, HS THCS trong tỉnh [46[,
Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào trên địa bàn toàn tỉnh về y tế trường học; mà chủ yếu là những thống kê đơn thuần về y tế đối với các HS
1.1.2.4 Một số đặc điểm về tình hình kinh tế, xã hội của huyện Đăk Hà
Đăk Hà là một huyện miền núi ở phía Bắc của tỉnh Kon Tum được thành lập từ năm 1994, có 8 xã 1 thị trấn Là địa phương có đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, hạ tầng cơ sở nghèo nàn lạc hậu Thu nhập bình quân
Trang 7đầu người chỉ # 8 triệu đồng/năm Số HS thuộc các gia đình nghèo, thu nhập thấp còn nhiều, điều kiện cơ sở vật chất các trường học còn quá kém
1.2 KHÁI NIỆM VỆ SINH TRƯỜNG LỚP VÀ TIÊU CHUẨN VỆ SINH 1.2.1 Khái niệm vệ sinh trường lớp
Y tế học đường là hệ thống các phương pháp, biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ, nâng cao sức khoẻ học sinh và biến các kiến thức khoa học thành các kỹ năng thực hành trong mọi hoạt động sống của lứa tuổi học đường [6]
Thị giác mang lại cho con người một lượng thông tin về thế giới xung quanh rất lớn (khoảng 80-85% lượng thông tin) Ánh sáng đảm bảo cho hoạt động sống bình thường của cơ thể, khi thiếu ánh sáng lâu dài dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch, chức năng của hệ thần kinh và cũng là nguyên nhân gây bệnh cận thị [27]
Chiếu sáng là yếu tố quan trọng trong điều kiện học tập, liên quan chặt chẽ tới sức khoẻ thị giác và hiệu quả hoạt động học tập của học sinh do tác động sinh lý của quang năng đối với vỏ não [32], [52], [55] Trong học tập, sự mệt mỏi, sự ức chế sẽ giảm đi khi lượng ánh sáng tự nhiên tăng lên Cho nên yêu cầu đầu tiên trong chiếu sáng là tăng cường ánh sáng tự nhiên (ASTN) [36]
1.2.2 Tiêu chuẩn vệ sinh (Quy định về vệ sinh trường học ban hành kèm
theo quyết định số 1221/2000/ QĐ-BYT, của Bộ Trưởng Bộ Y tế) [8]
1.2.2.1 Yêu cầu về vệ sinh môi trường học tập
Địa điểm xây dựng khu trường phải cao ráo, sạch sẽ, thuận tiện cho việc đi lại của HS, xa những nơi phát sinh ra các hơi khí độc, khói bụi, tiếng
ồn Diện tích khu trường bình quân cho một học sinh ở thành phố, thị xã >= 6m2/HS, ở nông thôn và miền núi >= 10m2, trong đó diện tích xây dựng các công trình từ 20%-30%, cây xanh 20%-40% và sân chơi chiếm từ 40%-50%
so với diện tích khu trường [8]
Trang 81.2.2.2 Yêu cầu về vệ sinh trường học
Diện tích phòng học
Phòng học phải đúng quy cách và đủ diện tích, thông thoáng, mát mẻ về mùa hè, ấm áp về mùa đông Diện tích phòng học trung bình cho một HS từ 1,10m2 – 1,25m2 Kích thước phòng học: chiều dài không quá 8,5m; rộng không quá 6,5m; chiều cao 3,6m và cần lưu ý sĩ số học sinh tại các lớp [8], [74], [76],
Chiếu sáng
Phòng học cần phải đảm bảo độ chiếu sáng và đồng đều ở các vị trí, không xấp bóng và chói loá, độ rọi không dưới 100lux và không quá 500lux [35], [55]
Chiếu sáng phòng học bao gồm chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo Về phương diện CSTN, hướng để lấy ánh sáng tự nhiên chủ yếu là hướng nam (phía không có hành lang) về phía tay trái của HS khi ngồi viết [5]
Để hỗ trợ khi phòng học thiếu ASTN cần CSTN Số bóng đèn: Nếu là bóng đèn tóc thì mỗi phòng cần 4 bóng, mỗi bóng có công xuất từ 150w-200w Bóng đèn neon thì cần 6-8 bóng 1,2m Đèn treo ở độ cách mặt bàn 2,8m [5], [8], [32]
Bàn ghế học sinh
Bàn, ghế đảm bảo thuận tiện khi học sinh đứng lên, ngồi xuống, lúc vào học ra chơi và bố trí hợp lý trong một lớp học Bàn, ghế phải đủ rộng, đẹp
và chắc chắn, các góc cạnh phải tròn, nhẵn, đảm bảo an toàn [36]
Kích thước bàn ghế phải tương ứng với nhau đồng thời kích thước và hiệu số bàn, ghế phải phù hợp với tầm vóc HS Tính toán hợp lý, chiều cao bàn bằng 42% và ghế bằng 26% chiều cao HS ngồi học ở bàn, ghế đó [5], [8], [39]
Tư thế ngồi học đúng: Thân thẳng, đầu hơi cúi về phía trước một góc
10-15 độ, vai cân bằng, cả hai tay đặt thoải mái trên bàn Mắt cách mặt bàn từ 25cm-35cm Vở ghi đặt hơi chếch 25 độ và lệch qua phần tay phải Thân, đùi, cẳng chân và bàn chân hợp với nhau ba góc vuông, ngực không tỳ vào bàn [39]
Trang 9em, đó là bệnh cong vẹo cột sống và cận thị trường học, còn gọi là các bệnh học đường [5], [39]
1.3.1 Khái niệm bệnh cận thị
1.3.1.1 Định nghĩa
Mắt người trẻ có khả năng nhìn rõ vật ở xa và vật ở gần mắt trong một khoảng cách nhất định Một vật được nhìn rõ khi hình ảnh của vật đó có thể tạo thành một hình nằm đúng trên vùng tâm của hoàng điểm [35], [55]
Cận thị là tật khúc xạ làm cho mắt chỉ thấy rõ vật ở gần trước mắt chứ không thấy vật ở xa, mắt cận thị hình ảnh tạo thành trước võng mạc [55],[63],[71]
1.3.1.2 Nguyên nhân của cận thị
Yếu tố liên quan vệ sinh học đường:
- Ánh sáng: Thiếu ánh sáng và chiếu sáng không hợp lý trong khi học
sẽ gây mệt mỏi thị lực, tạo điều kiện thuận lợi cho mắc bệnh cận thị [39]
- Bàn ghế: Kích thước bàn ghế không phù hợp với tầm vóc học sinh
Bàn cao, ghế thấp làm cho khoảng cách giữa mắt và vở quá gần, nên mắt phải điều tiết nhiều Bàn thấp, ghế cao, học sinh phải cúi xuống để viết làm cho máu dồn vào hố mắt nhiều làm cho áp lực trong hố mắt tăng lên, đẩy thuỷ tinh thể phồng ra phía trước [5], [35]
- Tƣ thế sai khi học: Cúi gần, nhìn gần, nằm, quỳ học bài ở nhà
Trang 10- Một số yếu tố bất lợi khác: Sách vở, chữ viết…chưa đạt vệ sinh, nhìn gần liên tục, đọc sách truyện quá nhiều, sử dụng máy vi tính, chơi trò chơi điện tử quá mức, do đó mắt phải điều tiết nhiều có thể ảnh hưởng đến cận thị
Yếu tố thể trạng:
- Những trẻ em gầy yếu hay ốm đau hoặc mắc các bệnh như bị sởi, ho
gà, lao… dễ bị cận thị hơn trẻ khoẻ mạnh [35], [12]
1.3.1.3 Tác hại của bệnh cận thị trong trường học
Bệnh cận thị trường học là tật khúc xạ phổ biến nhất, ảnh hưởng đến quá trình học tập, ảnh hưởng đến việc phát triển trong tương lai của các em [35], [44], [73]
1.3.1.4 Biện pháp phòng bệnh cận thị trong trường học
- Đảm bảo đầy đủ ánh sáng (chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo)
- Bàn, ghế đúng quy cách và phù hợp với tầm vóc của HS Tư thế ngồi học, khi đọc, viết phải đúng khoảng cách từ mắt đến chữ 35 – 40cm [5] [6]
- Góc học tập ở gần cửa sổ để tận dụng ánh sáng tự nhiên, đảm bảo đủ ánh sáng Có chế độ học tập khoa học, nghỉ ngơi hợp lý [6]
- Ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt các thức ăn có nhiều vitamin A như hoa quả có màu đỏ, rau xanh thẩm, dầu gan cá… luyện tập thể dục thể thao và chơi các trò chơi vận động cơ bắp nhiều [35]
- Hàng năm khám sức khoẻ định kỳ cho HS, phát hiện những HS bị tật khúc xạ gửi đến chuyên khoa mắt thử kính và cho đeo kính cho đúng số [6], [12], [35]
Trang 111.3.2 Khái niệm bệnh cong vẹo cột sống
1.3.2.1 Định nghĩa
Cột sống gồm 33-34 đốt, bao gồm 7 đốt cổ, 12 đốt lưng, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng và 4-5 đốt cụt, giữa các đốt có đĩa liên đốt bằng sụn Nhìn từ phía sau, cột sống thẳng, các gai đốt sống nhô ra sau Nhìn từ phía bên, cột sống có 4 đoạn cong sinh lý, đoạn cổ cong ra sau, đoạn lưng cong ra trước, đoạn thắt lưng cong ra sau, đoạn cùng cụt cong ra trước [6], [35], [36], [59]
Vẹo cột sống: Nhìn từ phía sau, nếu cột sống lệch sang bên phải hoặc trái của cơ thể thì gọi là vẹo Độ cong được xem là vẹo cột sống là 100 Cong cột sống khi thay đổi các đoạn cong sinh lý như gù, ưỡn [12], [35], [59], [70]
1.3.2.2 Nguyên nhân cong vẹo cột sống
Do chiếu sáng không đầy đủ khi học ở lớp cũng như góc học tập ở nhà, học sinh phải xoay ra phía có nhiều ánh sáng để viết
Do kích thước bàn, ghế không phù hợp với tầm vóc học sinh
Tư thế ngồi học sai như: nghiêng, vẹo đầu, xoay vẹo người, ngồi lệch một bên
Do lao động nặng quá sớm, tư thế bị gò bó như gánh, vác, đội, cõng hoặc bế nách em bé nhỏ Đeo cặp sách quá nặng, không đều hai bên
Do bệnh tật, tai nạn còi xương, suy dinh dưỡng, bẩm sinh [5], [35], [36]
1.3.2.3 Phân loại cong vẹo cột sống
Hình dạng cong vẹo cột sống
- Gù lƣng: Đứng thẳng nhìn nghiêng từ phía bên, đường cong ở phần
lưng cong ra sau quá nhiều, hai mỏm vai đưa ra trước, hơi so, mỏm xương bả vai nhô rõ Ngực lõm, xương sườn phía sau lộ rõ, đầu cúi Gù hay đi đôi với vẹo
- Ƣỡn lƣng: Thường ưỡn đoạn thắt lưng, nhìn từ phía bên, vòng cong
thắt lưng ưỡn ra phía trước làm ngực nhô lên, bụng ưỡn ra trước, mông nhô ra sau, hai vai so lại, mặt có xu hướng ngửa lên [12], [35], [36], [39]
Trang 12- Vẹo cột sống: Đứng thẳng nhìn từ phía sau cột sống có đường cong
Hay gặp hai loại đường cong hình chữ C hoặc chữ S, thuận và ngược
+ Vẹo hình chữ C thuận toàn bộ (Ct): Vị trí vẹo nằm ở cả phần lưng
và thắt lưng, cột sống vẹo sang trái, làm đường cong lồi sang một bên hình chữ C thuận, đường nối vai nghiêng, đường nối mỏm xương bả vai nghiêng, đường nối mào chậu nghiêng, tam giác cạnh thân hai bên không bằng nhau [12], [55]
+ Vẹo chữ C thuận lưng (Ct): Vị trí vẹo nằm ở cả phần lưng, cột sống vẹo sang trái, hình chữ C thuận, hai bả vai không bằng nhau
+ Vẹo chữ C thuận thắt lưng (Cttl): Vị trí vẹo ở phần thắt lưng
+ Vẹo chữ C ngược toàn bộ (Cn): Vẹo cả phần lưng và thắt lưng, cột sống vẹo đều sang phải, làm đường cong lồi sang một bên chữ C ngược, đường nối vai, nối mỏm bả vai, nối mào chậu nghiêng, tam giác cạnh thân không đều
+ Vẹo chữ C ngược lưng (Cnl): Vị trí vẹo nằm ở phần lưng, cột sống vẹo sang bên phải, hình chữ C ngược
- Vẹo chữ C ngược thắt lưng (Cntl): Vị trí vẹo ở phần thắt lưng
+ Vẹo chữ S thuận (St): Vẹo 2 đoạn cong đối lập nhau, đoạn trên (lưng) vẹo sang trái, đoạn dưới (thắt lưng) vẹo sang phải, giống chữ S thuận
+ Vẹo chữ S ngược (Sn): Vẹo 2 đoạn cong đối lập nhau, vẹo cả đoạn lưng và thắt lưng, đoạn trên vẹo sang phải, dưới sang trái, chữ S ngược
Mức độ cong vẹo cột sống
- Vẹo cột sống không có cấu trúc: Đây là vẹo cột sống với cột sống
không biến dạng, không xoáy vặn và các đốt sống ở vị trí bình thường Đây là trường hợp hay gặp trong cong vẹo cột sống trường học, có thể can thiệp hiệu quả
- Vẹo cột sống có cấu trúc: Đây là CVCS mà các đốt sống ít nhiều có
biến dạng, xoáy vặn ảnh hưởng tới chức năng các cơ quan nội tạng Cột sống
Trang 13bị biến dạng chữ S, chữ C, ở tư thế cúi thấy khối cơ thẳng lưng không vồng đều mà có ụ lồi ở thắt lưng, ở chỗ cơ đốt sống xoáy vặn
Vẹo không cấu trúc không tiến triển thành vẹo có cấu trúc Vẹo cấu trúc ngày càng tăng cần theo dõi và điều trị kịp thời [35],[36],[35]
Phân loại cong vẹo cột sống
- Vẹo độ I: Cột sống vẹo nhẹ, do tư thế là chủ yếu, vẹo nhận biết được
bằng mắt nhưng hình thể vẹo không thấy rõ ràng, các cơ ở hai bên lưng chưa mất cân đối, khi HS duỗi thẳng người lên hoặc cúi gập người thì hết nhận ra
- Vẹo độ II: Cột sống vẹo vừa và chưa thành tật Đứng thẳng thấy rõ
hình dáng cong vẹo của cột sống, vai có hiện tượng lệch, hai xương bả vai lệch nhau, cơ ở lưng mất cân đối, thấy được u lồi sườn do đốt sống bị xoáy vặn, khi cúi vẹo có giảm nhưng không mất hẳn Bắt đầu ảnh hưởng tới chức năng hô hấp
- Vẹo độ III: Cột sống vẹo nặng, vẹo quá rõ và đã thành tật Vẹo độ 2+
các biến dạng xương (biến dạng có cấu trúc) hoặc vẹo độ 2+ gù hoặc ưỡn Đứng thẳng thấy rõ, cột sống bị cong và xoáy vặn ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, cơ lưng mất cân đối rõ, cúi gập người vẹo không thay đổi [5], [6], [39]
1.3.2.4 Tác hại của bệnh cong vẹo cột sống trong trường học
Tuỳ theo mức độ biến dạng mà có ảnh hưởng tới sức khoẻ HS Ở mức
độ I chưa ảnh hưởng gì Ở mức độ II đã ảnh hưởng đến hình dáng, tư thế, chức năng hô hấp Ở mức độ III thì ảnh hưởng rõ rệt đến hô hấp, tư thế xấu [5]
1.3.2.5 Biện pháp phòng bệnh cong vẹo cột sống trong trường học
Lớp học phải chiếu sáng đầy đủ cả chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo, góc học tập ở nhà phải đảm bảo đủ ánh sáng
Bàn, ghế, phải hợp với tiêu chuẩn vệ sinh Tư thế ngồi học ở lớp cũng như ở nhà phải đúng và ngay ngắn
Đeo cặp hai vai mà không được xách cặp ở một bên
Lao động và tập luyện vừa sức cân đối
Trang 14Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng [5],[12],[35],[47]
1.3.2.6 Điều trị cong vẹo cột sống
Nếu vẹo cột sống được phát hiện sớm trước khi trẻ đạt đến tuổi phát triển hệ xương đầy đủ thì có thể không cần mổ vẫn có thể điều trị vẹo cột sống nhẹ hay trung bình
Đối với loại cong vẹo cột sống nhẹ: Kiểm tra mỗi 6 tháng 1 lần, dùng biện pháp vật lý trị liệu, tập thể dục, chế độ học tập và vui chơi hợp lý Loại trung bình: Nẹp hoặc mặc áo cong vẹo cột sống, kết hợp với tập thể dục thể thao, các hoạt động khác, loại nặng phải tiến hành phẩu thuật [59], [60], [61]
Vẹo cột sống không cấu trúc, cần xác định và điều trị nguyên nhân Đối với vẹo có cấu trúc, trường hợp vẹo <200
, phải theo dõi, đánh giá 3-6 tháng/lần Nếu độ vẹo tiến triển nhanh có thể dùng nẹp hay phẩu thuật
Trường hợp vẹo cột sống từ 20-400
, sử dụng áo nẹp nhằm ngăn ngừa vẹo tăng thêm đồng thời có tác dụng nắn chỉnh lâu dài hoặc dùng phương pháp kích thích điện
Trường hợp vẹo cột sống từ >40-500, có chỉ định phẩu thuật nối khớp các đốt sống bị ảnh hưởng (phẫu thuật ở Harrington) [12]
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh trung học cơ sở tại huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, năm học
2008 - 2009
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang [24]
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu được tính dựa theo công thức [25]
n= Z2α/2 x Trong đó:
P: Dự đoán tỷ lệ cong vẹo cột sống của học sinh trường THCS tại tỉnh Kon Tum (P = 26,8%) [12]
d: Độ chính xác mong muốn (sai số chọn) (d = 0,05)
α: Mức ý nghĩa thống kê (0,05)
Zα/2 = 1,96; với độ tin cậy 95%
Thay vào công thức ta có: n = (1,96)2 x 0,268 x (1-0,268)/(0,05)2 =
301 Do sử dụng cách chọn mẫu chùm, để tăng độ chính xác ta nhân cỡ mẫu lên 2 lần nên n = 602
Trang 16Trên cơ sở số liệu trường học của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum năm học 2007-2008, danh sách các trường trung học cơ sở huyện Đăk
Hà [46], chúng tôi đã chọn 3 trường để nghiên cứu bao gồm các trường: THCS Ngọc Wang, THCS Ngọc Réo, THCS Chu Văn An [46]
Tại các trường làm việc cùng với Ban giám hiệu, bốc thăm ngẫu nhiên chọn 2 lớp mỗi khối (có 4 khối ) để nghiên cứu
Như vậy sẽ có: 2 lớp x 4 khối x 3 trường = 24 lớp
2.2.3.3 Tiêu chuẩn chọn
Tất cả học sinh, có mặt ở lớp trong thời điểm đoàn đến khám, khảo sát
và chịu hợp tác nghiên cứu
2.2.3.4 Chọn phòng học để khảo sát
Chọn 12 phòng học của 12 lớp được chọn nghiên cứu (4 phòng x 3 trường = 12 phòng)
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu: Huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum
2.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 5 năm 2009
2.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.5.1 Các thông tin cần thu thập
Giới tính
Trường học
Khối lớp
Trang 17Chiều cao đứng học sinh
2.5.4 Khảo sát thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường
Tỷ lệ % học sinh có thói quen học thêm ở ngoài trường
Tỷ lệ % học sinh có thói quen tham gia các hoạt động ngoài trời (thói quen tập thể dục, chơi thể thao ở nhà)
Tỷ lệ % học sinh có thói quen và tư thế ngồi học, đọc ở nhà đúng (thói quen và tư thế học bài, đọc truyện, sách báo.)
2.6 KỶ THUẬT, PHƯƠNG TIỆN, CÔNG CỤ VÀ NHÂN LỰC THU THẬP THÔNG TIN
2.6.1 Khám mắt, đo thị lực và phát hiện cận thị
Phương pháp đo thị lực
- Tiêu chuẩn vàng đo lường tật khúc xạ (TKX) trẻ em là bảng thị lực Phòng có chiều dài 5m, đủ ánh sáng, dùng bảng thị lực vòng hở Landolt [4], [39], [55], [71]
Dùng bảng thị lực: Đo thị lực từng mắt một, mắt phải trước trái sau
Học sinh đứng cách xa bảng thị lực 5m và che mắt bằng bìa cứng Dùng que
Trang 18chỉ lần lượt các hàng chữ, đầu que chỉ cách phía dưới chữ 2mm Ghi thị lực tương ứng với hàng nhỏ nhất mà học sinh còn đọc được Nếu thị lực quá kém chuyến sang đếm ngón tay, bóng bàn tay, phân biệt sáng tối [35], [36], [55]
- Tất cả HS thị lực< 10/10 đều chuyển sang khám bước tiếp theo
Tiêu chuẩn chẩn đoán cận thị
Tất cả các trường hợp thị lực tăng lên sau điều chỉnh với kính phân kỳ (-) được chẩn đoán tật khúc xạ cận thị [4], [12],[55]
Phương pháp thử kính lỗ và khúc xạ kế tự động xác định cận thị
Phương tiện, dụng cụ khám: Máy khúc xạ kế tự động: TR - 4000 (Tomray Orbis), Bảng đo thị lực vòng hở Landotl, hộp thử kính, kính lỗ
- Khi thị lực dưới 10/10, cho HS đeo kính có lỗ thủng với đường kính
lỗ là 1,5mm, nếu thị lực không tăng lên, hoặc giảm đi thì nguyên nhân giảm thị lực là do tổn thương thực thể Với kính lỗ, nếu thị lực tăng lên nguyên nhân làm giảm thị lực là do TKX, có thể là cận thị, viễn thị hoặc loạn thị [4],[12],[55]
- Cho HS đeo kính phân kỳ - 1 đi ốp (D), nếu thị lực không tăng thì mắt có thể là viễn hoặc loạn thị Nếu thị lực tăng thì mắt bị cận thị Muốn xác định mức độ cận thị, lần lượt cho đeo kính phân kỳ số lớn dần - 1,5D; -2D; -2,5D… Kính phân kỳ số nhỏ nhất tương ứng thị lực tối đa, xác định mức cận thị [35]
- Các trường hợp giảm thị lực do tật khúc xạ sẽ được do tiếp bằng máy khúc xạ kế tự động TR - 4000 (Tomray Orbis) để xác định cận thị
Trang 192.6.2 Khám cột sống phát hiện cong vẹo cột sống
Phương tiện, dụng cụ khám: Bục đứng khám HS, miếng gỗ chêm chân, màng che, dây dọi, bút xạ, ghế khám của bác sĩ
Học sinh khám phải cởi trần, mặc quần lót, đối với HS nữ lớn mặc nịt
vú và quần lót, tóc quấn lên cao, hở gáy để có thể quan sát được toàn bộ hình dạng cột sống và hai bên lưng, chân đi đất, đứng chụm hai gót chân Chỗ đứng khám phải bằng phẳng, có đủ ánh sáng để nhìn rõ lưng [6], [36], [39], [55]
Người khám ngồi trên ghế, cách lưng HS 0,5m, nhìn vào chính giữa lưng
HS và nhìn cho đều hai phần nửa cơ thể bên phải và bên trái nửa cột sống
Khám chung
Quan sát tư thế đi lại của HS xem có gì bất thường không
Khám tư thế trước sau
Học sinh đi chân không, đứng thẳng, thả lỏng ở tư thế tự nhiên, hai chân thẳng, gót chụm, hai tay buông thẳng, mắt nhìn thẳng, không ngã người
ra trước, ra sau: không nghiêng phải, nghiêng trái: không so vai, ưỡn ngực
Thầy thuốc nhìn phía trước xem có gì bất thường không, các điểm mốc đối xứng hai bên như mỏm vai, mào chậu, vị trí, khoảng cách các điểm đó
- Thầy thuốc nhìn phía sau (trước – sau) lưu ý vị trí, khoảng cách các điểm đối xứng hai bên cơ thể:
Khám tư thế cúi
Học sinh đứng dang hai chân bằng vai, người cúi gập hai tay buông song song thẳng góc với nền nhà Quan sát: Các gai đốt sống có thẳng hàng không, khối cơ lưng có đều hai bên, có bên nào lồi cao hơn không, đánh dấu
Trang 20gai đốt sống xem có xoáy vặn đốt sống không Thầy thuốc dùng ngón tay miết theo các gai đốt sống hoặc có thể dùng bút đánh dấu các gai đốt sống, trong trường hợp cong vẹo cột sống có cấu trúc, sẽ thấy các gai đốt sống bị xoáy vặn làm cho các gai đó không nằm trên một đường thẳng
Khám tư thế nghiêng
Xem mỏm vai có nhô ra phía trước hay sau, các đoạn cong của cột sống có gì bất thường không Khi có cong vẹo cột sống, xương bả vai nhô lên, hai mỏm vai dãn xa nhau, ngực lõm ra sau, xương sườn lộ rõ, bụng ưỡn ra trước [36]
Tiêu chuẩn chẩn đoán cong vẹo cột sống
Chẩn đoán cong vẹo cột sống theo 10 loại vẹo và hình dạng vẹo như sau: Vẹo chữ C thuận toàn bộ, C thuận đoạn lưng, C thuận thắt lưng, C ngược toàn bộ, C ngược lưng, C ngược thắt lưng, S thuận, S ngược, gù, ưỡn
Ký hiệu: Ct, Ctl, Cttl, Cn, Cnl, Cntl, St, Sn, G, U
Phân loại cong vẹo cột sống theo mức độ vẹo từ nhẹ đến nặng: Vẹo độ
I, vẹo độ II, vẹo độ III Vẹo có cấu trúc và vẹo không có cấu trúc [6], [12], [32], [36], [39], [55]
2.6.3 Kỹ thuật đánh giá vệ sinh trường lớp
Tiêu chuẩn đánh giá vệ sinh trường lớp áp dụng theo quy định về vệ sinh trường học, ban hành kèm theo quyết định số: 1221/2000/QĐ-BYT, ngày 18/04/2000 của Bộ trưởng Bộ Y tế [8]
Vệ sinh môi trường học tập
Địa điểm xây dựng trường, diện tích khu trường, diện tích cây xanh, diện tích sân chơi cho học sinh
Diện tích phòng học
Đo chiều dài, chiều rộng của phòng học, số học sinh trong lớp
Kỹ thuật đo chiếu sáng phòng học
Trang 21Khi đo tắt hết đèn và mở hết cửa sổ Đo độ rọi ngoài trời (Eng) đo ở dưới mái hiên ngay vị trí giọt nước, trong điều kiện không có tia nắng rọi thẳng [5], [6], [36], [39], [55]
Đo diện tích cửa sổ, số bộ cửa sổ, chiều ánh sáng chính của phòng học
Hệ thống chiếu sáng nhân tạo trong lớp học: Số bóng đèn điện, loại đèn, cách treo đèn
Kỹ thuật đánh giá bàn ghế học sinh
Đo kích thước bàn, ghế: Chiều rộng, chiều dài, chiều cao , hiệu số chiều cao giữa bàn và ghế [36], [39], [55]
Đo khoảng cách từ bàn đầu đến bảng, bàn cuối đến bảng
Kỹ thuật đánh giá bảng học
Đo chiều dài, rộng bảng, khoảng cách nền nhà đến dưới mép bảng [8]
Kỹ thuật đo chiều cao đứng
Theo thường quy kỹ thuật của viện YHLĐ và VSMT [55] [32],
2.6.4 Phương tiện thu thập thông tin
Máy đo cường độ ánh sáng Luxmetre điện tử: Testo 545
Bảng đo thị lực vòng hở Landotl, hộp thử kính, kính lỗ
Máy khúc xạ kế tự động: TR-400 (Tomray Orbis)
Đèn soi đáy mắt kính K180 (Heine)
Đèn soi bóng đèn tử Skíacopie (Heine Beta 200)
Cặp thước kính Parent (Heine)
Bục đứng khám cột sống HS: Chiều dài 45cm, rộng 30cm gồm 2 bậc Miếng gỗ có kích thước18x24 cm, dày 0,3cm, 1cm, 2cm để kê chân Thước đo chiều cao Anthropometer, thước dây, dây dọi, bút xạ
2.6.5 Công cụ thu thập thông tin
Phiếu đo đạc chiếu sáng phòng học
Phiếu điều tra khảo sát vệ sinh trường lớp
Bảng chấm điểm vệ sinh trường học
Trang 22Phiếu khám mắt và cột sống
Phiếu điều tra thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường
2.6.6 Nhân lực thu thập thông tin
Khám mắt, phát hiện cận thị: Y bác sĩ bệnh viện huyện Đăk Hà
Khám cột sống, phát hiện cong vẹo cột sống: Y bác sĩ phụ trách y tế học đường, đội Y tế Dự phòng huyện Đăk Hà
Khảo sát vệ sinh trường học, đo chiếu sáng phòng học: Cán bộ khoa Sức khoẻ cộng đồng - Trung tâm y tế Dự phòng tỉnh
Đo chiều cao học sinh, khảo sát thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường: Cán bộ Đội y tế Dự phòng và Trung Tâm y tế huyện Đăk Hà
Ban giám hiệu nhà trường và giáo viên chủ nhiệm tham gia tổ chức lớp và ổn định học sinh trong quá trình khám mắt, cột sống, đo chiều cao và phát phiếu điều tra học sinh tại các lớp học
2.6.7 Phương pháp tiến hành thu thập thông tin
Tập huấn điều tra
Mời chuyên gia tập huấn cho y bác sĩ tham gia khám mắt và cột sống Tập huấn cho cán bộ tham gia khảo sát vệ sinh trường học, đo chiếu sáng, đo chiều cao đứng, điều tra thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường
Điều tra thực địa
Làm việc trực tiếp với ban giám hiệu các trường để chọn lớp, thống nhất thời gian đến khám, khảo sát vệ sinh trường lớp, phát phiếu điều tra học sinh
Giáo viên chủ nhiệm lớp lập danh sách học sinh các lớp được chọn
Tổ chức đoàn khảo sát đánh giá, đo đạc các chỉ số vệ sinh trường học
Tổ chức đoàn khám mắt và cột sống, đo chiều cao và phát phiếu điều tra thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường
Trang 232.7 XỬ LÝ SỐ LIỆU
2.7.1 Hoàn thiện những công cụ thu thập thông tin
Kiểm tra, hoàn thiện các phiếu khám mắt và cột sống, điều tra khảo sát vệ sinh trường lớp, phiếu điều tra thời gian biểu, thói quen sức khoẻ học đường
Hiệu chỉnh các sai số, làm sạch thông tin số đã thu thập được
2.7.2 Tính các chỉ số
HSAS: Là tỷ lệ % giữa tổng diện tích các cửa sổ so với diện tích phòng học, tiêu chuẩn ≥ 20% Tổng diện tích cửa sổ không tính cửa ra vào, nếu có chấn song sắt thì trừ đi 10% diện tích, nếu chấn gỗ trừ đi 20% [6], [35], [47]
HSCSTN (K.E.O): Là tỷ lệ phần trăm giữa độ rọi trung bình trong phòng học và độ rọi của ánh sáng bên ngoài trên cùng một mặt phẳng và thời điểm (đo bằng Lux) [23], [27], [35] Tiêu chuẩn: K.E.O= 3%-5% và tính theo công thức
Vệ sinh bàn ghế: Dựa vào 6 loại kích cỡ bàn ghế, đồng bộ giữa bàn và ghế, kích thước bàn, ghế phù hợp với tầm vóc học sinh: Cao bàn, cao ghế, hiệu số chiều cao bàn, ghế so với chiều cao HS, Tỷ lệ HS có chỗ ngồi thích hợp (≥90%) [36]
Diện tích phòng học trung bình: Lấy tổng diện tích 4 phòng, chia cho 4 Diện tích phòng học bình quân cho 1 HS: lấy diện tích phòng học, chia cho số học sinh của lớp
Diện tích khu trường bình quân cho 1 HS: Lấy diện tích khu trường chia cho tổng số HS của trường
Chiều cao đứng chỗ học sinh: Đánh giá theo trung bình và độ lệch chuẩn (X± SD cm) theo khối lớp và giới tính [39], [55], [56]
Số lux ngoài trời
Trang 242.7.3 Phân định các biến nghiên cứu
Khối lớp: Được phân thành 2 nhóm (Khối 6,7 và khối 8,9)
Dân tộc kinh và dân tộc thiểu số
Hệ số ánh sáng: Đạt ≥20%, không đạt < 20%
Hệ số chiếu sáng tự nhiên (K.E.O): Đạt: ≥3%, không đạt; < 3%
Số bóng đèn trong phòng học: Đạt ≥ 8 bóng Không đạt: < 8 bóng
2.7.4 Nhập số liệu và phân tích số liệu
Thông tin, số liệu được nhập và xử lý trên phần mềm EPI INFO 6.04
Sử dụng test χ2
khi so sánh các tỷ lệ quan sát [24], [25]
Trang 25Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
3.1.1 Tỷ lệ học sinh trong mẫu theo khối lớp
Bảng 3.1 Tỷ lệ học sinh trong mẫu nghiên cứu theo khối lớp
44 50 59
Biểu đồ 3.1 Số học sinh nghiên cứu theo khối lớp
Tỷ lệ học sinh theo trường và theo khối lớp là tương đương nhau ở các trường phổ thông cơ sở
Trang 263.1.2 Phân bố theo giới
Bảng 3.2 Phân bố tỷ lệ nam nữ theo khối lớp
Khối lớp Số
lượng
Tỷ lệ (%) Số lượng
Tỷ lệ (%) Số lượng
Tỷ lệ (%)
3.1.3 Phân bố thành phần dân tộc theo khối lớp
Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ thành phần dân tộc theo khối lớp
Đối tƣợng HS dân tộc Kinh HS dân tộc thiểu