Khoản 1- Điều 2 - Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 1 năm2015 Quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường nêu rõ vị trí, mục tiêu giáo dục thể chất trong
Trang 1MỤC LỤC
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4
3. Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học phòng tránh
bệnh cong vẹo cột sống
8
I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Ngày 27/03/1946 “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của Bác Hồ đăng trên báo Cứu quốc số 199, “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”của Bác Hồ với ý
tưởng cao đẹp của Người có ảnh hưởng sâu sắc với tình cảm, tinh thần và hành động của nhân dân và mọi người hăng hái làm theo tiếng gọi của vị lãnh tụ kính yêu
Trang 2Khoản 1- Điều 2 - Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31 tháng 1 năm
2015 Quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường nêu
rõ vị trí, mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà trường: Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Với mục tiêu trên hoạt động giáo dục thể chất bậc tiểu học là một nội dung giáo dục bắt buộc của chương trình giáo dục, có nhiệm vụ trang bị cho học sinh một số tri thức kỹ năng đơn giản cần thiết, nhằm rèn luyện tư thế cơ bản, làm giàu vốn kỹ năng vận động, bên cạnh đó còn góp phần rèn luyện cho học sinh nếp sống lành mạnh, vui tươi, có ý thức tổ chức kỷ luật và một số phẩm chất đạo đức khác, tạo tiền đề cho quá trình hình thành nhân cách đúng cho các em Từ
đó giúp các em học tập sinh hoạt có hiệu quả, góp phần làm thay đổi mọi mặt của giáo dục toàn diện Vì vậy hoạt động giáo dục thể chất bậc tiểu học có vị thế hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh có đầy đủ thể lực, sức khỏe
để tham gia các hoạt động học tập và lao động khác cũng như trong công cuộc bảo vệ tổ quốc
Mục đích hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường Tiểu học nhằm bảo
vệ sức khỏe, cung cấp những kiến thức cơ bản, hình thành thói quen tập luyện, biết thực hiện một số động tác cơ bản cũng như các trò chơi vận động tạo nên môi trường phát triển tự nhiên của trẻ em, gây được không khí vui tươi lành mạnh, nhanh nhẹn, mạnh dạn, dũng cảm Đồng thời giảm thiểu một số loại bệnh tật thường gặp như bệnh cong vẹo cột sống, cận thị, còi xương, béo phì, Nguyên nhân chính của bệnh cong vẹo cột sống ở học sinh cấp tiểu học không phải là do di truyền hay khách quan mang lại mà chính vì những nguyên nhân chủ quan của chúng ta đã dần hình thành nên bệnh cong vẹo cột sống
Từ việc ý thức được những nguyên nhân ảnh hưởng đến bệnh cong vẹo cột sống ở học sinh, từ tầm quan trọng của một cơ thể khoẻ mạnh thì trước hết con người đó phải có một cấu trúc xương bền vững, phù hợp với quy luật tự nhiên, một thể hình tương đối chuẩn về cấu trúc xương và các cơ quan khác Từ đó tôi lựa chọn nghiên cứu những nguyên nhân cơ bản ảnh hướng đến sự phát triển của
bệnh cong vẹo cột sống tôi xin mạnh dạn đề xuất “Một số bài tập thể chất và biện pháp giúp học sinh Tiểu học phòng tránh bệnh cong vẹo cột sống” tại
Trường Tiểu học Cẩm Châu, Cẩm Thủy, Thanh Hóa
2 Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để đưa ra một số bài tập thể chất và biện pháp giúp học sinh Tiểu học phòng tránh bệnh cong vẹo cột sống
3 Đối tượng nghiên cứu:
Một số bài tập thể chất và biện pháp giúp học sinh phòng tránh bệnh cong vẹo cột sống tại Trường Tiểu học Cẩm Châu, Cẩm Thủy, Thanh Hóa
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học giáo dục thể chất nói riêng trong đó có phương pháp dạy một số bài tập thể chất phòng tránh bệnh cong vẹo cột sống ở trường tiểu học
- Điều tra thực trạng việc dạy học giáo dục thể chất và bệnh cong vẹo cột sống của học sinh trường Tiểu học
- Luyện tập thực hành
- Thống kê, xử lý số liệu
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Cột sống có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động sống của con người Cột sống là trụ cột của cơ thể, là chỗ dựa vững chắc cho các hệ thống cơ quan phát triển, bảo vệ tuỷ sống, giảm sóc cho bộ não Nhờ có cột sống mà cơ thể có thể vận động linh hoạt, quay sang trái, sang phải, cúi hoặc ưỡn, nhún nhảy một cách dễ dàng, tạo cho cơ thể có nhiều tư thế khác nhau
Biến dạng cột sống là sự thay đổi về hình dáng hoặc cấu trúc của cột sống
so với bình thường Biến dạng cột sống bao gồm cong cột sống (gù hoặc ưỡn) và vẹo cột sống Do vậy khi nói về biến dạng cột sống lứa tuổi học đường, người ta thường quen dùng thuật ngữ “Cong vẹo cột sống”
Cong cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong quá mức sinh lý bình thường ở đoạn cổ, đoạn ngực hoặc thắt lưng Khi đoạn cổ bị uốn cong quá mức, đầu sẽ ngả về trước, hai vai chùng xuống và giảm độ cong thắt lưng Nếu đoạn ngực bị uốn cong quá mức về phía sau, lưng tròn, vai thấp, đầu hơi ngả, bụng nhô về phía trước (tư thế gù) Nếu đoạn thắt lưng bị uốn cong quá mức về phía trước, bụng xệ, phần trên của thân hơi ngả về phía sau (tư thế ưỡn)
Vẹo cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong sang bên phải hoặc bên trái Khi bị vẹo cột sống, nếu đỉnh đường cong hướng về bên phải thì cột sống
có hình chữ C ngược, nếu đỉnh đường cong hướng về bên trái thì cột sống có hình chữ C thuận Nếu cột sống có hai cung uốn cong đối xứng nhau thì nó sẽ có hình chữ S thuận hoặc chữ S ngược
Cong vẹo cột sống ở trường học thường phát sinh do sự sai lệch tư thế (ngồi học với bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, mang cặp sách quá nặng về một bên tay, vai; chiếu sáng kém, bắt buộc học sinh phải cúi đầu khi đọc, viết hoặc học nghề); do các tư thế xấu (đi, đứng, ngồi không đúng tư thế); cường độ lao động không thích hợp với lứa tuổi…Ngoài ra, cong vẹo cột sống còn có thể do trẻ mắc các bệnh liên quan đến cột sống, thể trạng học sinh kém do ít hoạt động thể thao, suy dinh dưỡng (còi xương) hoặc do ngồi, đi đứng quá sớm [2]
Cong vẹo cột sống từng mức độ khác nhau có hậu quả khác nhau Cong vẹo cột sống ban đầu ở mức nhẹ ít gây ra hậu quả nghiêm trọng nó chỉ có thể là một trong các nguyên nhân gây nên chứng đau lưng.Tuy nhiên, bệnh có thể biến chuyển nặng hơn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống sau này, bệnh gây ảnh hưởng đến tâm lý trẻ, khiến chúng khó hòa nhập, mặc cảm, thiếu tự tin Trong một số trường hợp, bệnh ảnh hưởng lớn đến chức năng của tim, phổi ( Giảm
Trang 4dung tích của phổi), gây biến dạng xương chậu ảnh hưởng đến quá trình sinh đẻ của trẻ em nữ khi trưởng thành
Bệnh cong vẹo cột sống do những nguyên nhân chủ quan của chúng ta mang lại, nó không phải do một loại vi khuẩn, vi rút, hay bệnh lạ gây ra không mang yếu tố di truyền và cũng không phải do chính cơ thể tạo nên Nguyên nhân chính dẫn đến các em học sinh Tiểu học bị bệnh cong vẹo cột sống là do tính chủ quan của gia đình, nhà trường, xã hội và do chính các em vận động sai
tư thế
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1 Đối với giáo viên:
Là một giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có thời gian công tác lâu năm, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong thực tế giảng dạy đó là một thuận lợi cho quá trình hướng dẫn, giúp đỡ học sinh tập luyện
2.2 Đối với học sinh:
Qua thực tế quan sát và kết quả khám sức khoẻ của cơ quan y tế đối với học sinh theo định kì cho thấy học sinh có nguy cơ mắc bệnh cong vẹo cột sống và các bệnh khác
Nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh cong vẹo cột sống như:
- Do đeo cặp sách chưa đúng quy định:
Hiện nay các em học từ 7-8 buổi/ tuần Số đầu sách khá nhiều, trọng lượng
từ 3 - 5kg Mỗi ngày các em phải mang trên tay, trên vai 3 - 5kg cả 4 lượt đi đến trường và về nhà nếu các em chỉ dùng một tay hoặc một vai lâu ngày sẽ dẫn đến bệnh cong vẹo cột sống
Đeo cặp sách quá nặng, chưa đúng quy định.
- Do học sinh lao động và tập luyện không đúng tư thế:
Do một số gia đình làm nông nghiệp vì vậy các em phải thường xuyên lao động chân tay giúp đỡ gia đình: các gia đình không thể xác định được ở tuổi các
em lao động với khối lượng và thời gian thế nào là đúng và đủ Vì vậy cũng dẫn đến các em làm quá sức, ảnh hưởng đến cột sống của các em
Một số học sinh trong khi luyện tập đã thiếu tập trung chú ý dẫn đến tập không đúng kĩ thuật động tác, sai tư thế cơ bản làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cột sống các em
Trang 5Lao động và tập luyện không đúng tư thế.
- Do học sinh ngồi học không đúng tư thế
Tư thế ngồi học không đúng, cúi đầu quá mức, nằm bò ra bàn, mắt gí sát vào vở, ngồi khom lưng, chống cằm, tựa đầu hay ngồi gục xuống bàn để viết bài hoặc viết lệch vai gây ảnh hưởng đến cột sống
Một số HS ngồi học không đúng tư thế trong tiết học tại nhà trường.
2.3 Đối với nhà trường và gia đình học sinh:
Nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến bệnh cong vẹo cột sống như:
- Do chỗ ngồi chưa phù hợp:
Việc học sinh ngồi học một vị trí cũng dẫn đến cong vẹo cột sống Nếu các em chỉ ngồi phía bên phải hoặc bên trái bảng, lâu ngày cột sống của em học sinh đó sẽ bị vẹo sang bên trái hoặc bên phải và mắt cũng bị ảnh hưởng
Trang 6Cong vẹo cột sống sang trái, sang phải.
- Do bàn ghế không chuẩn:
Hiện nay ở trường tôi, điều kiện gia đình học sinh còn khó khăn về cơ sở vật chất, chính vì vậy ghế và bàn học ở nhà của học sinh được đóng bằng gỗ, bàn ghế nhựa kích thước không đúng quy chuẩn, các em phải ngồi gắng cố lên hoặc phải cúi xuống để viết
Bàn ghế không đạt chuẩn
- Do chưa đảm bảo ánh sáng:
Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến thị giác Khi các em không đủ ánh sáng thường phải nghiêng người trườn lên bàn hoặc nhìn với góc độ nhỏ lên trên
Trang 7bảng, ảnh hưởng trực tiếp đến thị lực của các em dễ bị cận thị và cong vẹo cột sống
Không đảm bảo ánh sáng khi học.
- Do chế độ dinh dưỡng:
Do điều kiện kinh tế gia đình nhiều học sinh còn khó khăn nên các em ở đây ăn uống không đúng khẩu phần và định lượng Vì vậy không thể đủ chất dinh dưỡng đúng tiêu chuẩn cũng ảnh hưởng đến bệnh cong vẹo cột sống
Trang 8Qua kiểm tra của trung tâm y tế dự phòng Cẩm Thủy đầu năm học 2018 –
2019, 18,6% học sinh có nguy cơ bị mắc bệnh cong vẹo cột sống và một số bệnh khác
3 Một số giải pháp giúp học sinh tiểu học phòng tránh bệnh cong vẹo cột sống:
Giải pháp 1: Một số bài tập thể chất giúp các em phòng tránh bệnh cong
vẹo cột sống
Bài tập 1: Tập động tác lưng bụng lớp 4 (Động tác được tập sau Bài tập
khởi động).
Tăng lượng vận động và số lần của động tác Lưng - bụng
Giáo viên cho tập hợp thành 4 hàng ngang, đứng so le
Đội hình tập luyện
GV giải thích - làm mẫu
+ Nhịp 1: Bước chân trái sang ngang rộng bằng vai, đồng thời gập thân, hai tay giơ ngang, bàn tay sấp, ưỡn căng ngực, mặt hướng trước
+ Nhịp 2: Hai tay với xuống mũi bàn chân, đồng thời vỗ tay và cúi đầu
+ Nhịp 3: Như nhịp 1
+ Nhịp 4: Về TTCB
+ Nhịp 5,6,7,8 như nhịp 1,2,3,4 nhưng đổi bên
- GV hô, học sinh thực hiện, giáo viên quan sát, sửa sai
- GV chia tổ tập luyện, cán sự điều khiển nhắc các em ở nhịp 2 thực hiện chậm đúng kĩ thuật
- Số lần tăng từ 5-7 lần
Trang 9HS thực hiện động tác lưng bụng trong tiết học
Bài tập 2: Tập cơ lưng – bụng Áp dụng cho lớp 4, 5.
- Giáo viên chia lớp thành 4 tổ, trước mỗi tổ đặt một tấm thảm
Lần lượt 4 em đứng đầu tổ lên nằm ngửa trên thảm hai tay để xuôi
- Khi có lệnh các em dùng sức co của bụng và cơ lưng dưới đưa hai chân từ mặt ghế lên trên, gập về phía trước
- Giáo viên: khi thực hiện các em hít vào, dùng lực của cơ bụng, lực đưa hai chân lên, hai chân không co gót thẳng mũi bàn chân, khi chân được hạ xuống đồng thời thở sâu ra
- Giáo viên yêu cầu từng em thực hiện từ 2- 4 lần như vậy
- Lần lượt theo phương pháp làn sóng
- Giáo viên quan sát, sửa sai
Tập cơ lưng – bụng
Trang 10Bài tập 3: Tập cơ lưng: Áp dụng cho lớp 4, 5
- Giáo viên chia lớp thành 4 tổ
- Lần lượt 2 em trong tổ lên trước thảm thực hiện
- Một em nằm ngửa trên thảm, dang hai tay, sau đó gập khuỷu tay, sao cho các ngón tay chạm vào gáy mình
- Bạn còn lại đứng về cuối chân bạn, dùng 2 tay giữ vào 2 cổ chân của bạn sao cho 2 chân của bạn không di chuyển
- Khi có lệnh: em nằm dưới thảm dùng toàn bộ lực của cổ, vai, hông, bụng kéo phần trên của thân trên tư thế nằm lên trên chuyển sang tư thế ngồi hai chân duỗi thẳng
- Giáo viên yêu cầu thực hiện động tác dùng hết lực kéo thân trên ngồi lên sau
đó thở sâu, từ từ về tư thế chuẩn bị để làm lần tiếp theo
- Giáo viên yêu c u các em th c hi n t 1-3 l n.ầu các em thực hiện từ 1-3 lần ực hiện từ 1-3 lần ện từ 1-3 lần ừ 1-3 lần ầu các em thực hiện từ 1-3 lần
Học sinh tập cơ lưng
Bài tập 4: Học động tác vặn mình: Lớp 5
- Giáo viên cho tập hợp thành 4 hàng ngang, đứng so le
- GV giải thích + làm mẫu
+ Nhịp 1: Bước chân trái sang ngang một bước rộng bằng vai, đồng thời hai tay dang ngang căng ngực, bàn tay ngửa, mắt nhìn thẳng
+ Nhịp 2: Quay thân 90o sang trái, hai chân giữ nguyên, đồng thời hai tay dang ngang bàn tay ngửa
+ Nhịp 3: Về như nhịp 1
+ Nhịp 4: Về TTCB
Nhịp 5,6,7,8: Như nhịp 1, 2, 3, 4, nhưng đổi bên
- GV hô, học sinh thực hiện, giáo viên quan sát, sửa sai
- Ở nhịp 2, giáo viên hô chậm, yêu cầu học sinh vặn hông sang trai (phải) chậm, 2 chân thẳng, thở sâu
- GV chia tổ tập luyện, cán sự điều khiển nhắc các em ở nhịp 2 thực hiện chậm đúng kĩ thuật Số lần tăng từ 5 - 7 lần
Trang 11Động tác vặn mình
Bài tập 5: Tập chống đẩy: Áp dụng cho lớp 4, 5.( Kết hợp vào lúc khởi động).
+ Giáo viên chia lớp thành 3 hàng ngang, cự li rộng hơn một sải tay + Giáo viên làm mẫu động tác
Bước 1: Ngồi xuống đưa hai tay ra trước, các ngón tay khép, hai tay rộng bằng
vai
Bước 2: Dùng lực đẩy của tay và lực bật của chân đưa hai chân ra sau, chống
bằng 10 đầu ngón chân đầu hơi cúi, hai chân cách nhau 20-25cm
Bước 3: Khi có lệnh khuỷu tay hạ thấp dần sao cho mặt, ngực, bụng cách đầu
khoảng 7 - 12cm rồi từ từ dùng lực của vai, tay, chân đẩy cơ thể về vị trí chuẩn bị
- Khi hạ thấp tay hít sâu vào, khi đẩy cơ thể lên thở sâu
- Yêu cầu thực hiện từ 1 - 3 lần
Bài tập chống đẩy
Trang 12Giải pháp 2: Mang cặp sách phù hợp.
Trao đổi cùng giáo viên chủ nhiệm, nhà trường, gia đình giúp học sinh dùng cặp đeo phù hợp và sắp xếp thời khoá biểu hợp lý để giảm trọng lượng các
em phải mang mỗi khi đến trường, đề nghị phu huynh luôn kiểm tra sách vở theo đúng thời khoá biểu khi đi học Khi đeo cặp phải đeo cả hai vai hoặc phải đổi bên đeo cặp đều đặn nếu cặp chỉ có một dây
Mang cặp sách đúng quy định
Giải pháp 3: Lao động vừa sức, tập luyện đúng kĩ thuật.
Thông qua việc trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, đề nghị phụ huynh không để con em mình lao động quá sức đặc biệt là mang vác quá sức cho phép sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển cột sống của các em Trong các buổi tập luyện TDTT giáo viên chú ý hướng dẫn học sinh tập đúng kĩ thuật động tác và đúng các tư thế cơ bản nhằm phát triển toàn diện về thể chất
Giải pháp 4: Ngồi học đúng tư thế.
Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, họp hội đồng Nhà trường để trao với các giáo viên cũng như trao đổi trực tiếp hoặc qua điện thoại với phụ huynh để rèn tư thế ngồi học cho học sinh Thường xuyên nhắc nhở học sinh tư thế ngồi học Tư thế ngồi viết phải thoải mái không gò bó Khoảng cách từ mắt đến vở từ 25 – 30cm Cột sống luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi Hai chân thoải mái, không chân co chân duỗi Hai tay phải đặt đúng điểm tựa quy định Ánh sáng phải đủ độ và thuận chiều chiếu từ bên trái sang
Tư thế ngồi học đúng cho trẻ