Có thể nói đây là độ tuổi trọng yếu trong sự phát triển con ngời vàchịu tác động rất nhiều của môi trờng học tập.. Các điều kiện vệ sinh môi trờnggiáo dục cùng với gánh nặng, thói quen h
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Sức khoẻ học đờng là một trong những vấn đề đang đợc quan tâm tạinhiều nớc trên thế giới, vì trẻ em hôm nay là những công dân của thế giới ngàymai Sự tồn tại, đợc bảo vệ và phát triển của các em là điều kiện tiên quyết cho
sự phát triển tơng lai của nhân loại [3]
Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho trẻ em là một vấn đề quan trọng trongchiến lợc phát triển nhân tố con ngời của Đảng và Nhà nớc ta, là một mục tiêuphấn đấu của chơng trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu của tổ chức y tế thế giới,nhằm mục đích là để cho lứa tuổi này phát triển tốt nhất về thể chất và tinhthần, nâng cao về tầm vóc và trí tuệ, trở thành con ngời phát triển toàn diện, lànguồn lực để bớc vào thế kỉ XXI, thực hiện đợc các yêu cầu xây dựng đất nớc
và phát triển đất nớc
Sự phát triển của con ngời ở giai đoạn tuổi học sinh là thời kì hết sứcquan trọng Có thể nói đây là độ tuổi trọng yếu trong sự phát triển con ngời vàchịu tác động rất nhiều của môi trờng học tập Các điều kiện vệ sinh môi trờnggiáo dục cùng với gánh nặng, thói quen học tập và giải trí cũng góp phần tác
động đến sức khoẻ của các em, làm cho các bệnh học đờng ngày càng gia tăng,
đặc biệt là bệnh cận thị và cong vẹo cột sống Bên cạnh đó, sự phát triển về kinh
tế xã hội đã nâng cao mức sống của ngời dân vì thế sức khoẻ, tầm vóc, thể lựchọc sinh có nhiều thay đổi, tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch về thu nhập giữathành thị và nông thôn Điều này làm ảnh hởng không nhỏ đến sức khoẻ, tầmvóc, thể lực và sự học tập của trẻ em, từ đó tạo nên nhiều sự khác biệt giữa họcsinh thành phố và học sinh nông thôn
Để đánh giá một số chỉ tiêu về hình thái, sự phát triển thể lực của họcsinh ở các độ tuổi thuộc các vùng khác nhau, đồng thời phát hiện mức độ cậnthị, tật cong vẹo cột sống trong giới học đờng nhằm góp phần tìm ra nguyênnhân và cách khắc phục để phòng ngừa các tật nói trên, chúng tôi chọn đề tài
“Điều tra một số chỉ tiêu hình thái - thể lực và tật cận thị, cong vẹo cột sống của học sinh THCS thuộc Thành phố Vinh và vùng phụ cận “.
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Nắm đợc các bớc thực hiện một hớng nghiên cứu khoa học
- Nắm đợc phơng pháp xác định một số chỉ tiêu hình thái của học sinh,
đánh giá sự phát triển thể lực của học sinh ở các vùng thuộc các độ tuổi khácnhau
- Khảo sát tỉ lệ học sinh cận thị và cong vẹo cột sống, các mức độ cận thị
và cong vẹo cột sống theo từng độ tuổi, ở các vùng khác nhau
- Tìm mối quan hệ của tật cận thị, cong vẹo cột sống và một số yếu tốliên quan
3 Nội dung nghiên cứu.
3.1 Khảo sát một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh
Khảo sát các chỉ tiêu hình thái: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trungbình của học sinh từ 12- 15 tuổi, tính các chỉ số thể lực BMI, Pignet Từ hai chỉ
số này, so sánh sự phát triển thể lực của học sinh nam và nữ ở các độ tuổi giữacác vùng khác nhau
3.2.3 Tật cận thị và một số yếu tố liên quan
- Mối quan hệ giữa cận thị và mức độ chiếu sáng tự nhiên
- Mối quan hệ giữa cận thị và thời gian học tập của học sinh
- Mối quan hệ giữa cận thị và thời gian vui chơi giải trí của học sinh
- Mối quan hệ giữa cận thị và kết quả học tập của học sinh
Trang 33.3 Đánh giá tật cong vẹo cột sống.
3.3.1 Khám, phát hiện tật cong vẹo cột sống
- Vẹo hình chữ “c”, chữ “s”
- Các loại cong nh gù, ỡn, còng
3.3.2 So sánh các mức độ cong vẹo cột sống.
- Tỉ lệ cong vẹo cột sống ở đối tợng nghiên cứu
- So sánh tỉ lệ cong vẹo cột sống ở các độ tuổi và ở hai giới
- So sánh tỉ lệ cong vẹo cột sống của học sinh ở hai địa điểm thành phố
và nông thôn
3.3.3 Tật cong vẹo cột sống và một số yếu tố liên quan.
- Mối quan hệ giữa cong vẹo cột sống và t thế ngồi viết
- Mối quan hệ giữa cong vẹo cột sống và việc mang xách nặng
- Mối quan hệ giữa cong vẹo cột sống và việc luyện tập TDTT
Trang 4đầu nghiên cứu tìm ra những quy luật, những đặc điểm sinh lí của trẻ em [2,17]
Cuốn sách đầu tiên viết về sự tăng trởng chiều cao con ngời của Stocller
đợc xuất bản tại Đức năm 1729 Harpenden đã nghiên cứu học sinh quý tộc ờng Carxchile (Đức - 1772 - 1794)
tr-Các công trình nghiên cứu về tầm vóc, thể lực đầu tiên là Mondiere(1875) sau đó một loạt các công trình khác nh Beegon (1902), Thondihee(1903), Heman (1937), Bigot (1938) Freemon (1971) đã nghiên cứu sự pháttriển hình thái và sự phát triển trí tuệ của trẻ em ở lứa tuổi thiếu niên và nhi
đồng
Năm 1948, Tổ chức y tế thế giới vì sức khoẻ cộng đồng ra đời và tổ chứcnày đã đóng góp tích cực trong việc chăm sóc, đánh giá sự phát triển sức khoẻtrẻ em thông qua hai chỉ số chiều cao và cân nặng
Những năm 1960 ngời ta đã phát hiện ra hiện tợng “gia tốc” phát triển cơthể trẻ em ở lứa tuổi học đờng và nhận thấy chiều cao và cân nặng ở trẻ em tăng
so với các chỉ số đó cùng lứa tuổi ở các thập kỉ trớc Tiếp đó, một loạt các tácgiả đã có những giả thiết giải thích hiện tợng “gia tốc” này, đặc biệt thuyết
“Thành thị hoá” của Rudder đã nghiên cứu sâu về sự chênh lệch chiều cao vàcân nặng giữa trẻ em thành thị và nông thôn [17]
1.2 Tật cận thị và cong vẹo cột sống.
Trên thế giới có nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến vấn đề cận thị vàcong vẹo cột sống, đã có những công trình nghiên cứu về bệnh học đờng nóichung và bệnh cận thị, cong vẹo cột sống nói riêng ở nhiều góc độ khác nhau
Trang 5nh: điều tra thực trạng cận thị, cong vẹo cột sống, tìm hiểu nguyên nhân, phơngpháp phòng và chữa hai loại bệnh mà lứa tuổi học sinh đặc biệt mắc phải.
Về thực trạng cận thị năm 1995, Tmachi ME và cộng sự điều tra ở cácvùng khác nhau ở Ankara 23810 học sinh ở 39 nhà trẻ và trờng tiểu học với các
điều kiện khác nhau Kết quả cho thấy tỉ lệ cận thị trong học sinh ở độ tuổi nhàtrẻ và tiểu học là 3,53% [24]
Trong khi cộng đồng dân c sống ở các quốc gia tại quần đảo Solomo tỉ lệcận thị chỉ xấp xỉ 1% thì cận thị ở các nớc thuộc Châu á lại khá phổ biến Cậnthị đã trở thành một vấn đề sức khoẻ quan trọng trong cộng đồng học sinh ở ĐàiLoan, tỉ lệ cận thị trong học sinh Đài Loan là 80% Tỉ lệ cận thị cao ở TrungQuốc, Nhật Bản và cao nhất là ở Đài Loan và Singapore Bên cạnh đó lại có một
số quốc gia, dân tộc, chủng tộc ngời có tỉ lệ cận thị thấp nh ngời Anh điêng ởMiheco không bao giờ có cận thị, dân tộc Palinegrit ở châu Phi tỉ lệ cận thị rấtthấp (0,14%) [16]
Nguyên nhân gây ra bệnh cận thị, phơng pháp phòng và chữa bệnh cậnthị đã đợc Trơng Mão Niên, Hà Khánh Hoa, Vơng Hồng tổng hợp từ các côngtrình nghiên cứu trong và ngoài nớc cùng kinh nghiệm của bản thân trong cuốnsách “Phòng và chữa bệnh cận thị” các tác giả đã tổng hợp nhiều vấn đề thành
100 mục, những vấn đề đợc đề cập đến là: hệ thống quang học của mắt, địnhnghĩa mắt cận thị và các triệu chứng biểu hiện, phân loại mắt cận thị, các phơngpháp khám phát hiện, phòng ngừa và chữa trị cận thị, những nguyên nhân có thểdẫn đến cận thị [17]
Cong vẹo cột sống đã đợc phát hiện và điều trị từ giai đoạn rất sớm củalịch sử phát triển y học Hyppocrate là một trong những tác giả đầu tiên trìnhbày về cong vẹo cột sống, ông đã mô tả việc sử dụng các thiết bị làm giảm tiếntriển của cong vẹo cột sống rất có ý nghĩa trong việc phòng và chữa cong vẹocột sống [1]
Cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, các nhà nghiên cứu đã tìm ra nguyênnhân, bệnh sinh của cong vẹo cột sống một cách đầy đủ và rõ ràng hơn Đó là
Trang 6thời điểm đánh dấu bớc phát triển vợt bậc trong việc phòng và chữa trị bệnh học
đờng
Năm 1849, Hare cho rằng, cong vẹo cột sống có liên quan đến t thế sai,rối loạn phát triển thể chất, còi xơng Ông cũng mô tả việc sử dụng khuôn bằngthạch cao để điều trị cong vẹo cột sống có hiệu quả [1]
Cùng năm đó Edward Lonsdato viết luận thuyết về điều trị cong vẹo cộtsống, ông cho rằng biến dạng cột sống ở trẻ em gái khi ngồi khâu vá, mặc áo nịtngực quá chặt, bế ẵm trẻ nhỏ ở một bên tay ở giai đoạn cột sống phát triển quánhanh dẫn đến cong vẹo cột sống [1]
Năm 1982 tại Singapore J.S Daruwalla và cộng sự khám sàng lọc cho110.749 học sinh ở các nhóm tuổi, kết quả là tỉ lệ CVCS ở nhóm 6 -7 tuổi là0,12%, 11-12 tuổi là 1,7% và 16 - 17 tuổi là 3,1%
2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1 Hình thái và sự phát triển thể lực.
ở Việt Nam, việc nghiên cứu thể lực đợc chú ý từ những năm 30 của thế
kỉ XX tại ban nhân học thuộc viện Đông bác cổ
Các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học ngời Việt Nam đợc tiếptục sau ngày miền Bắc đợc giải phóng Nhiều công trình nghiên cứu của các tácgiả về các chỉ số hình thái, thể lực đã đợc trình bày trong hội nghị “Hằng sốsinh học ngời Việt Nam” những năm 1967, 1972 Kết quả nghiên cứu của cáctác giả báo cáo trong hai hội nghị này là cơ sở cho ra đời cuốn sách “Hằng sốsinh học ngời Việt Nam” do giáo s Nguyến Tấn Gi Trọng làm chủ biên và đợcnhà xuất bản y học ấn hành năm 1975 Cho đến nay, cuốn sách này vẫn đợc làm
t liệu tham khảo cho nhiều công trình nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học ngờiViệt Nam
Trong những năm 1975 - 1976, Nguyễn Quang Quyền và Lê Gia Vinh đã
có công trình nghiên cứu ở đối tợng từ 16 - 70 tuổi trên 2100 ngời thuộc tỉnh HàTây [21]
Nguyễn Quang Quyền đã có công trình “Nghiên cứu các chỉ số đánh giáthể lực học sinh Hà Nội”; “Một số đặc điểm ngời Việt Nam hiện tại và vấn đề
Trang 7thích nghi của cơ thể”; “Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên ngời ViệtNam” [20, 22]
Năm 1980, Nguyễn Văn Lục và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trênsinh viên Đại học thuộc khu vực Thái Nguyên, đối tợng nghiên cứu thuộc cácnhóm ngời dân tộc Kinh và các dân tộc ít ngời và đã đa ra nhận xét cơ bản vềtầm vóc, chiều cao và cân nặng của sinh viên Đại học Thái Nguyên tốt hơn hẳn
so với hằng số sinh học năm 1975, thể lực đợc xếp vào loại tốt trong thang phânloại ngời Việt Nam bình thờng Trong đó nữ có thể lực phát triển tốt hơn, cơ thểphát triển cân đối hơn nam sinh viên cùng lứa tuổi [15]
Năm 1989, Thẩm Hoàng Điệp và cộng sự cũng tiến hành nghiên cứu về
sự phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của ngời Việt Nam lứa tuổi 1- 55thuộc cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam và đã rút ra kết luận là chiều cao của namtăng nhanh đến 18 tuổi, ở nữ tăng nhanh đến 14 tuổi, có quy luật gia tăng chiềucao cho ngời Việt Nam (tăng 4 cm/ 20 năm) Chiều cao tăng nhanh nhất củanam là từ 13 - 15 tuổi, ở nữ là từ 10 - 12 tuổi Vòng ngực tăng nhanh nhất là từ
13 - 16 tuổi đối với nam và từ 11 - 14 tuổi đối vớ nữ
2.2 Tật cận thị và cong vẹo cột sống
ở nớc ta mạng lới y tế học đờng, chăm sóc sức khỏe cho học sinh, phòngchống các bệnh trờng học nh cận thị và cong vẹo cột sống đã đợc nhà nớc quantâm và giao nhiệm vụ cho ngành y tế và ngành giáo dục Trong những năm gần
đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều lứa tuổi ở các khu vực khácnhau
Theo điều tra của Hà Huy Khôi (1960) tỉ lệ học sinh Hà Nội bị cận thị là4% [12]; Ngô Nh Hoà (1964) đã tiến hành điều tra cận thị học đờng và đã thu
đợc kết quả ở cấp tiểu học 2,1% HS cận thị, THCS 4,2% HS cận thị, THPT9,6% HS cận thị [10]
Trần Cao Minh (1975) đã tiến hành điều tra cận thị học đờng cho thấy sốhọc sinh cận thị ở cấp tiểu học là 0,4 %, THCS là1,6% và THPT là 8,12%
Trang 8Theo Trần Đình Long, Dơng Bính Hồng, Nguyễn Hoài An [14] nghiêncứu CVCS ở học sinh các trờng học khu vực Hà Nội là 12%, tỉ lệ này tăng dầntheo cấp học, ở cấp I là 27,4%, cấp II là 31,3%, cấp III là 34%.
Tỉ lệ CVCS ở trờng THPT Trần Quốc Toản - Hoàn Kiếm - Hà Nội từ năm
1982 đến 1997 gặp ở học sinh nam là 10,32%, học sinh nữ là 9,88% và tỉ lệchung là 10,10% [10]
Nguyễn Bích Liên, Trần Văn Dần, Nguyễn Thị Thu, Đào Thị Mùi, LêQuang Giao đã nghiên cứu trên đối tợng học sinh khối lớp 1, 5, 9 và 12 thuộchai quận nội thành và hai huyện ngoại thành Hà Nội tại 12 trờng, trong đó có 4trờng tiểu học, 4 trờng THCS, 4 trờng THPT và cho kết quả nh sau: tỉ lệ họcsinh Hà Nội bị cong vẹo cột sống trong thời điểm nghiên cứu (2004 - 2005) là18,9% Trong đó học sinh nam chiếm tỉ lệ 19,6% và học sinh nữ chiếm tỉ lệ18,3% Học sinh ở ngoại thành có tỉ lệ cong vẹo cột sống tăng dần theo cấp học,
đặc biệt từ cấp tiểu học lên THCS, nhất là khu vực nội thành[3]
Bộ y tế và Bộ giáo dục đã phối hợp triển khai nghiên cứu và biên soạnmột số tài liệu y tế học đờng để triển khai trong trờng học và trong nhân dân nh
“Sổ tay y tế học đờng”; “Sổ tay thực hành y tế học đờng”; “Vệ sinh học đờng”trong đó có đề cập đến cận thị và cong vẹo cột sống ở nhiều góc độ, đồng thờicũng đã tiến hành triển khai một số công trình nghiên cứu cận thị học đờng tại
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh [9, 15, 20]
Theo Ngô Thị Bê, Nguyễn Ngọc Hợi, Lê Thị Việt Hà, Tôn Thị Bích Hoài, Nguyễn Thị Giang An đã nghiên cứu trên 2233 học sinh từ 16 đến 18 tuổi tr-ờng THPT Nam Đàn I thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong đó có 1056nam và 1177 nữ đã đa ra kết quả số học sinh cận thị và cong vẹo cột sống tăngdần theo lứa tuổi, thấp nhất là ở lứa tuổi 16 (cận thị 9,25%, CVCS 30,20%) vàcao nhất là ở lứa tuổi 18 (cận thị 9,91%, CVCS 35,71%) [3]
II Cơ sở khoa học của đề tài.
1 Cơ sở lí luận.
1.1 Sức khoẻ và sự sinh trởng của cơ thể.
1.1.1 Khái niệm sức khoẻ [25, 26]
Trang 9Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa “Sức khoẻ là một trạng tháithoải mái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là tình trạng
có bệnh hay không có bệnh, hay thơng tật theo nghĩa hiểu thông thờng”(Genere, 1975) Vì vậy chăm sóc sức khoẻ cho mọi ngời nói chung và học sinhnói riêng là đặc biệt quan trọng
1.1.2 Khái niệm về sinh trởng và phát triển [13, 18]
Sinh trởng và phát triển là đặc điểm cơ bản của cơ thể sống Hai quá trìnhnày xảy ra liên tục từ lúc trứng mới thụ tinh phát triển thành phôi thai đến khi ra
đời trởng thành cho đến lúc già, chết Mỗi giai đoạn có đặc điểm và tính chấtkhác nhau
Sinh trởng là một quá trình thay đổi về mặt số lợng Đặc điểm cơ bản của
nó là sự tăng trởng về mặt kích thớc, khối lợng của toàn bộ hoặc từng bộ phận
do sự tăng kích thớc của cơ thể hoặc tế bào
Phát triển là một quá trình thay đổi về chất, nó bao gồm sự biệt hoá vềhình thái và biến đổi chức năng của từng bộ phận hoặc từng mô của cơ thể
Sinh trởng và phát triển là hai khái niệm khác nhau nhng có liên quanmật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau nhiều khi không có sự phân biệt.Sinh trởng là điều kiện của phát triển và phát triển lại làm thay đổi sự sinh trởng
nh cơ thể thúc đẩy tăng nhanh hay ức chế kìm hãm sự sinh trởng tuỳ theo từnggiai đoạn
1.1.3 Sự phát triển thể lực ở trẻ em [3, 8, 12, 13, 24, 26]
Trẻ em là một cơ thể đang sinh trởng và phát triển, quá trình sinh trởng
và phát triển của trẻ em cũng tuân theo những quy luật chung của tiến hoá sinhvật, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Quá trình tiến hoá này khôngphải là một quá trình tuần tiến mà có những bớc nhảy vọt và có sự khác nhau vềchất chứ không phải đơn thuần về lợng Vì vậy khi nói đến trẻ em không thể nóichung, mà mỗi lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng chi phối sự sinh trởng
và phát triển của trẻ Sự phát triển về thể chất của trẻ em tuân theo một số quyluật
+ Trẻ càng nhỏ tốc độ phát triển càng nhanh
Trang 10+ Sự phát triển theo chiều hớng đi lên.
ở từng giai đoạn khác nhau tốc độ phát triển của mỗi cơ quan, bộ phậncũng nh toàn bộ cơ thể không giống nhau, phụ thuộc vào tình trạng dinh dỡng,bệnh tật và môi trờng mà trẻ sinh sống và đặc biệt phụ thuộc vào đặc điểm sinh
lý của trẻ
Hiện nay cha có cách phân chia đồng nhất về các giai đoạn phát triển củatrẻ Trong tâm lý lứa tuổi và tâm lý giáo dục, ngời ta thờng dựa vào các tiêuchuẩn giáo dục học để phân chia giai đoạn phát triển Theo cách phân chia này,tuổi học trò gồm 3 thời kỳ lớn: học sinh lớp nhỏ (từ lớp 1 đến lớp 5), học sinhlớp giữa (từ lớp 6 đến lớp 9), học sinh lớp lớn (từ lớp 10 đến lớp 12) Trongkhuôn khổ nội dung nghiên cứu, chúng tôi đề cập đến giai đoạn phát triển củatrẻ em ở giai đoạn lớp giữa, tức là giai đoạn học sinh tuổi từ 12- 15 Giai đoạnnày chính là thời kỳ dậy thì (từ 12- 15 tuổi ở nữ, 13- 16 tuổi ở nam)
Giới hạn của tuổi dậy thì không chặt chẽ vì tuỳ thuộc vào cơ thể và khácbiệt giữa các vùng, tuổi dậy thì có thể đến sớm hoặc muộn hơn từ 1 - 2 năm
Đây là lứa tuổi hoàn toàn khác với các giai đoạn khác về đặc điểm sinh lý cũng
nh về tốc độ phát triển
Biểu hiện rõ rệt nhất về mặt sinh lý của tuổi dậy thì là tốc độ sinh trởng.Chiều cao ở lứa tuổi này có thể tăng 5 - 8 cm/ 1 năm; khối lợng tăng 4 - 8 kg/ 1năm Sự tăng chiều cao trong giai đoạn dậy thì xảy ra chủ yếu do tăng kích thớccủa các xơng, các xơng ống dài ra, trong khi xơng tứ chi phát triển thì lồngngực lép do các xơng sờn không phát triển, kết quả là trẻ thờng gầy, cao, chântay lèo khèo, nhịp thở khó khăn Đây là thời kỳ biệt hoá giới tính do tác dụngcủa hoocmon tuyến yên và tuyến sinh dục, cho nên đã làm xuất hiện hàng loạtbiến đổi về hình thái cũng nh chức năng
1.1.4 Các yếu tố ảnh hởng đến sự sinh trởng và phát triển [1, 3, 12]
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và phân tách thành 2 nhóm yếu tố ảnhhởng đó là: Yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Sự hiểu biết về tác động củatừng nhóm yếu tố sẽ giúp cho chúng ta có thể tạo đợc những điều kiện thuận lợicho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em
Trang 11a Yếu tố bên trong.
- Tính di truyền: yếu tố di truyền chủng tộc sẽ quy định tốc độ và giớihạn sự phát triển của cơ thể, ngoài ra còn thể hiện ở tất cả tình trạng khác chitiết hơn nh đặc điểm hình thái, trạng thái tinh thần, khả năng t duy trí nhớ
- Giới tính: do cấu trúc di truyền giữa nam và nữ khác nhau đợc quy địnhbởi cặp NST giới tính, đã làm xuất hiện nhiều tính trạng đặc trng riêng cho từnggiới phân biệt giữa nam và nữ nh hình thái cơ thể, thời kỳ dậy thì
- Các tuyến nội tiết: đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cơthể, sự hoạt động không bình thờng của các tuyến này có thể gây ra những rốiloạn hoạt động của các cơ quan chức năng
b Yếu tố bên ngoài
Cùng với các yếu tố bên trong cơ thể, các yếu tố bên ngoài có tác độngkhông nhỏ đến sự phát triển thể lực của trẻ, chủ yếu là một số yếu tố sau:
- Dinh dỡng: nếu trẻ đợc nuôi dỡng tốt sẽ có tốc độ lớn nhanh hơn và đạt
đợc mức độ tối đa về kích thớc cơ thể mà giới hạn di truyền cho phép
- Môi trờng sống: mỗi sinh vật cũng nh mỗi cá thể con ngời đều sinh ra,lớn lên, hoạt động trong môi trờng nhất định Môi trờng bao gồm: môi trờngkhông khí, môi trờng nớc, môi trờng đất, môi trờng sinh vật, riêng con ngời cómôi trờng xã hội (chế độ chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa ) Tất cả các yếu
tố môi trờng đó đều ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh trởng
và phát triển của cơ thể
1.2 Quá trình phát triển của vệ sinh học đờng [ 1, 6, 11]
Vệ sinh học đờng là một môn khoa học đã đợc loài ngời quan tâm từnhững thế kỷ trớc Vào thế kỷ XIII - XIV khi xây dựng trờng lớp ở châu Âu ng-
ời ta đã chú ý tới sự yên tĩnh và ánh sáng của lớp học, tuy nhiên ngời ta chaquan tâm nhiều tới sự thích hợp của bàn ghế và độ cao bảng viết đối với tầm caocủa học sinh
ở Việt Nam trong nhiều năm kể từ năm 1960, y tế trờng học đã thấy có
sự quan tâm chỉ đạo của bộ y tế, Bộ giáo dục và đã có những nghiên cứu về cácphơng tiện học đờng với sức khoẻ học sinh Một trong những vấn đề trong xây
Trang 12dựng trờng học cần chú ý giải quyết chống nóng và chống rét, tận dụng gió và
ánh sáng tự nhiên, hệ thống đèn chiếu sáng phải đảm bảo không gây chói, loáhoặc sấp bóng Đặc biệt chú ý tới sự phù hợp giữa học sinh và kích cỡ bàn ghế,
độ cao của bảng cũng nh khoảng cách giữa bảng và học sinh Đồng thời cungcấp cho ngời học những hiểu biết về vệ sinh phòng chống các loại bệnh truyềnnhiễm trong trờng học
1.3 Tật cận thị và cong vẹo cột sống trờng học.
F
Hình 1 Mắt cận thị
Trang 13Theo Hoàng Văn Tiến, nguyên nhân chính dẫn đến cận thị ở học sinh hiện naygồm có:
+ Hiểu biết về cận thị còn quá ít, nhất là hiểu biết về tác hại nặng nề củacận thị Cận thị lâu năm gây thoái hoá võng mạc mắt có thể dẫn đến mù và congvẹo cột sống Vì vậy mà phần lớn chúng ta không quan tâm phát hiện cận thị + Ngoài việc học tập trẻ em lạm dụng vui chơi giải trí bằng mắt (xem ti vi,chơi điện tử, đọc truyện, sách báo ), ít hoạt động thể lực Đây là lý do trực tiếpdẫn đến cận thị ở học sinh và xảy ra chủ yếu tại gia đình
+ Chế độ ăn uống mất cân đối, cơ thể thiếu một số vi chất dinh dỡng nh
Ca, Mg, Zn và thói quen ăn uống không hợp lý của các gia đình, không cho trẻ
ăn sáng hoặc ăn sáng rất ít trong khi trẻ phải học tập nhiều, hoạt động vui chơinhiều ở trờng làm cho trẻ thiếu năng lợng dẫn đến mờ mắt thờng xuyên
+ Chất lợng hoạt động của y tế trờng học cha cao Việc khám sức khoẻcho học sinh hàng năm để phát hiện cận thị và có chế độ điều trị thích hợp cha
đem lại hiệu quả
+ Bàn ghế, ánh sáng, bảng có thể chỉ là yếu tố kết hợp chứ không phải lànguyên nhân chính
+ Do chơng trình học quá nặng và phải chịu sức ép về thành tích cho nêngiáo viên chỉ lo hoàn thành chơng trình và kết quả học văn hoá, cha quan tâm
đến việc phòng chống cận thị cho học sinh, gia đình chỉ quan tâm đến kết quảhọc tập của con, ít quan tâm đến việc rèn luyện sức khoẻ ở nhà và ở trờng vì vậycha có sự phối hợp giữa gia đình và nhà trờng trong việc phòng chống tật cận thị[5]
1.3.1.3 Tác hại của cận thị [7, 8, 9, 11, 13]