Công cuộc đổi mới đã kéo theo hàng loạt những biến đổi tích cực trong đất nước và bước đầu tạo ra những điều kiện tiền đề cho sự ra đời và hoạt động hiệu quả của thị trường chứng khoán..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DL KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM KHOA QUÂN TRỊ KINH
DOANH
ĐÊ TÀI:
TRƯỬNGIHDL-KTCN THƯ VIỆN
* ể
sõ^ùẤmm—
GVHD : Trần Thị
Thanh Hằng SVTH : Trần Thụy Kim Ly MSSV : OOĐQT135 Lđp : QT Ngoại Thương Khoá : 2000
TPHCM 9/2004
Trang 2MỤC LỤC Lời mở đầu
Phần I: Tổng Quan về Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Chương I:
Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
THƯ VIỆN * ể 1
sõ^ùẤmm— 1
rĐc/ỉaf 2
PtẩNb 3
tư 7
Cổ phiếu: 1.1.1 Cổ phiếu thường 1.1.2 Cổ phiếu ưu đãi 5.2Trái phiếu 5.2.1 Trái phiếu công ty 5.2.2 Trái phiếu chính phủ THƯ VIỆN * ể 1
sõ^ùẤmm— 1
rĐc/ỉaf 2
PtẩNb 3
tư 7
Chỉ số thu hồi nợ trung bình 1.1 Chỉ sô" thanh toán trung bình 1.2 Chỉ số hàng tồn kho THƯ VIỆN * ể 1
sõ^ùẤmm— 1
rĐc/ỉaf 2
PtẩNb 3
tư 7
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
rĐc/ỉaf
Thị trường chứng Ịiíioán mặc dù ra đời cách chúng ta gần s thế ịiỹ và đóng vai trò càng to íớn và có hiệu <juả, tạo thành phương thức huy động vốn
và đầu tư vốn nàng động và hấp dẫn cùng với <JUÓ trình phát triển nền Jtirih
té nhiều nước trên thể giới Tuy nhiên vì đây íà một íoại thị trường cao cấp, Ịihi íem iét vé hàng hoá mà nó đưa ra giao dịch, phướng thức tổ chưc mà nó tiến hành, những nguyên tắc cơ bản mà nó phải tuân theo, cùng với các thủ tục và phương pháp công nghệ trong Việc phát hành cliứng ịthoán và phán tích chứng ịihoán Chính vì íẽ đó, Ịiíiông phải tất cả các thị trường đều mang íại hiệu <Ịuả, và cũng Ịthỏng phải tát cả mọỉ thị trường đều có thể đứng vững cjua
Trang 3những cơ sóng gió của cạnh tranhễ Lịc-h sử phát triển các thị trường chưng Ịihoán trên thế giới đã trải <jua những giai đoạn huy hoàng nhất, cùng những sụp đỗ của "ngày thứ năm đen tối" năm 1929 và "ngày thứ hai sương mù” nám
1987 Tất cả đều đó cho chúng ta thấy tính phức tạp, đa dạng và có ^hi gần như là một sự 'huyền bí", mà các nhà Ịũnh tế thường cho íà như thế.
ơ tiệt Nam để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cần phải giải <ju^ết đồng bộ nhiều vấn dề có ỹ nghía vừa cấp bách và vừa íáu dài trong đó có yéu tố hết sức <juan trọng, đó íà việc sử íỹ vấn đề vổnỆ Để xử íý vấn đề này, ngoài những công cụ J*.hác nhau, Ịihông thể Ịihông Jtể đến việc hình thành mộỉ thị trường chứng (ihoán trong thực tế Tuy nhiên, vấn đề Ịihông phải íà chỉ Việc hình thành, mà điều cốt yếu ÍÀ íàm sao cho nó được vận hành
và phái trỉển mạnh để thúc đẩy nền íúnh tế đi lên Để íàm được điều đó,
trong những bước đi ban đầu của thời ịiỹ này, cần thỉết phải đề cập đến tính phổ biến rộng rãi, sự am Kiểu, cũng như tỉnh nhản thức về tầm <Ịuan trọng của thị trường này trong nền Ịũníi tế hiện nay Đồng thời phân tích rõ từng chỉ
số chứng Ịihoán để íựa chọn những cổ phiếu thích hợp Ịiíii đầu tư.
Để íàm được bài íuận Văn này, em xin cảm ớn sự íutóng dẫn của Cô Giáo và công tỵ thực tập đã giúp em hoàn thành tốt bài íuận Vàn tốt nghiệp này.
GVHD: Trần Thị Thanh Hằng SVTH: Trần Thụy Kim Ly
PtẩNb
TCNG CU AN VỂ TH TEl/ỜNG CHỦNe rHCẤN
VỆT NAM
CHƯƠNG I: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Sự ra đời và hoạt động của thị trường chứng khoán Yiệt Nam (TTCKVN) trong năm
2000 đánh một dấu mốc quan trọng trong những nỗ lực xây dựng một nền kinh tế thị trường phát triển qua đó khởi thông dòng chảy vốn cho các doanh nghiệp và tạo một kênh mới cho các nhà đầu tư
TTCKVN được thành lập xuất phát từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế.
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, do đó nhu cầu về vốn là rất lớn Theo ước tính của các chuyên gia kinh tế, trong thời kỳ 1996 - 2000 để đạt mục tiêu tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người, Việt Nam cần một lượng vốn đầu
Trang 4tư vào khoảng 41 - 42 tỷ USD vốn đầu tư cho giai đoạn 2001 - 2010 dự kiến còn lớn hơn nữa Các nguồn vốn đầu tư này được huy động từ nhiều nguồn khác nhau: các nguồn ngân sách, vốn thông qua hệ thống ngân hàng, vein ODA Trong nguồn vốn huy động thông qua các ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu phục vụ cho các hoạt động doanh nghiệp và cho đầu tư của toàn xã hội Sự phụ thuộc quá lớn vào hệ thông ngân hàng làm hạn chế khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp đồng thời cũng gia tăng rủi ro cho hệ thông ngân hàng Vì vậy xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một cách thức hữu hiệu nhất để huy động vốn từ mọi tầng lớp xã hội, tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, giảm rủi ro cho thị trường tài chính Việt Nam
gần 15 năm đổi mới Công cuộc đổi mới đã kéo theo hàng loạt những biến đổi tích cực trong đất nước và bước đầu tạo ra những điều kiện tiền đề cho sự ra đời và hoạt động hiệu quả của thị trường chứng khoán Thuận lợi cơ bản là Việt Nam có hệ thống chính trị ổn định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp yên tâm làm ăn lâu dài ở Việt Nam Bên cạnh đó nền kinh tế Việt Nam đang phát triển với tô"c độ cao, ổn định, lạm phát được khống chế Chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh, huy động mọi nguồn vốn cho phát triển sản xuất Quá trình cải
cách cũng đã cho ra đời một hệ thống ngân hàng rộng khắp, mạnh mẽ và được hiện đại hoá Hệ thông pháp luật ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, hệ thông kiểm toán kể
cả kiểm toán nội bộ cũng đã được hình thành và ngày càng phát triển Việt Nam là nước đang phát triển, tài nguyên chưa được thăm dò và khai thác đầy đủ Đó là yếu tcí quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mà lâu nay Việt Nam mới chú trọng khai thác theo hướng trực tiếp, trong khi chưa chú trọng khai thác đầu tư gián tiếp thông qua thị trường chứng khoán Đây chính là nhân tô" quan trọng cho sự phát triển của thị trường vốn và tiền đề để xây dựng và phát triển TTCKVN
Quá trình hình thành và phát triển của TTCKVN thể hiện trên những mặt sau:
1. Cơ quan quán lv thi trường:
1.1 Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN):
Để chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán, ngày 28/11/1996, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập theo Nghị định 75/CP của Chính phủ, đây là cơ quan thay mặt Chính phủ quản lý Nhà nước một cách toàn diện đến tất cả các hoạt động liên quan đến thị trường chứng khoán Ngoài chức năng mà hầu hết các nước đều quy định
kể trên thì UBCKNN còn được giao một nhiệm vụ đặt biệt quan trọng đó là “Tổ chức xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam”, đây là một nhiệm vụ đặc thù của Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Với cách làm trên TTCKVN không hình thành một cách tự phát, thiếu sự quản lý của Nhà nước mà nó được hình thành một cách trình tự, bước đi thích hỢp và ngay từ đầu đã được quản lý bởi một cớ quan chuyên trách của Chính phủ Sự ra đời của UBCKNN thể hiện quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 51.2 Trung tâm Giao dịch chứng khoán TPHCM:
Ngày 20/7/2000, Trung tâm Giao dịch TPHCM (HSTC) đã khai trương hoạt động với khả năng xử lý 300.000 lệnh trong một phiên giao dịch Mô hình trung tâm giao dịch chứng khoán được lựa chọn do TTCKVN bước đầu còn sơ khai, hàng hoá cho
thị trường còn ít, cơ sở vật chất, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế Khi có
đủ các điều kiện cần thiết, HSTC sẽ chuyển thành sở giao dịch chứng khoán, với quy mô lớn hơn Đây là một sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, kinh phí hoạt động do ngân sách Nhà nước cấp HSTC đã và đang cung cấp một môi trừơng giao dịch công bằng, minh bạch và hiệu quả cao cho các thành viên tham gia thị trường Trong 3 năm qua, HSTC đã thực hiện hơn 500 phiên giao dịch một cách an toàn HSTC được tổ chức theo
mô hình tập trung với quy mô nhỏ, thực hiện chức năng
xác định giá chứng khoán theo quan hệ cung cầu Hình thức khớp lệnh là định kỳ vào cuôì mỗi đợt giao dịch trong ngày nên tính thanh khoản chưa cao và lượng giao dịch thấp Hệ thống giao dịch của HSTC cũng chưa cho phép các công ty chứng khoán truy cập trực tiếp vào hệ thông giao dịch, nên các công ty chứng khoán phải có đại diện tại sàn giao dịch để nhập lệnh vào hệ thông Chính thực tế này đã hạn chế khả năng tự động hoá và khả năng mở rộng thị trường của các công ty
2 Khuôn khố pháp luât;
Cho đến nay các hoạt động chứng khoán dựa trên Nghị định 48/CP về chứng khoán và TTCK và các văn bản pháp quy có liên quan như: Nghị định 17/CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra chứng khoán; Nghị định 22/CP về xử phạt hành chính về chứng khoán và TTCK; Quyết định 139 về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCKVN; Quyết định 39 về ưu đãi thuế tạm thời đôi với hoạt động kinh doanh chứng khoán và các thông tư hướng dẫn khác Các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay còn chưa đầy đủ,
do vậy chưa phản ánh được nhiều môi quan hệ phát sinh trong hoạt động chứng khoán Hiện nay, UBCKNN đã hoàn thành dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 48/CP để trình Chính phủ ký ban hành
3. Các tổ chứ c kinh doanh chứng khoán:
3.1 Các công ty chứng khoán:
Vào thời điểm thị trường bắt đầu hoạt động có 7 công ty chứng khoán tại Việt Nam, con
số này cho đến 28/7/2003 là 12 công ty Mô hình công ty chứng khoán của Việt Nam là
sự kết hợp giữa mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán và công ty kinh doanh đa năng một phần Trong số 12 công ty chứng khoán, có 7 công ty hoạt động dưới hình thức trách nhiệm hữu hạn một thành viên và 5 công ty dưới hình thức cổ phần Hiện tại các công ty chứng khoán ở Việt Nam được thực hiện 6 nghiệp vụ chính là tư vấn đầu tư, môi giới, tự doanh, quản lý danh mục đầu tư, bảo lãnh phát hành và lưu ký chứng khoán Tuỳ theo số vốn pháp định tối thiểu cho mỗi hoạt động mà các công ty chứng khoán có thể được thực hiện một hay nhiều hoạt động và để thực hiện tất cả các loại
Trang 6hình này cần số vốn pháp định là 43 tỷ đồng Trong số 12 công ty chứng khoán có 8 công ty được cấp phép hoạt động tất cả các nghiệp vụ kể trên
Môi giới là hoạt động sôi động nhất trong tất cả các nghiệp vụ kinh doanh và được các
công ty chứng khoán hết sức chú ý Mặc dù, mới đi vào hoạt động nhưng các công ty chứng khoán không ngừng cải tiến, hoàn thiện, đa dạng hoá, nâng cao chất
Trang 7Phân tích chứng khoán
7
GVHD: Trần Thị Thanh Hằng SVTH: Trần Thụy Kim Ly
lượng dịch vụ, đưa ra hàng loạt các dịch vụ hỗ trợ giao dịch cho khách hàng, giúp khách hàng tôi đa hoá việc sử dụng nguồn vein, tăng khả năng nắm bắt cơ hội đầu
tư
Các công ty chứng khoán ngoài việc mở rộng phạm vi hoạt động thông qua các Đại lý tại nhiều tỉnh, thành phô" trên cả nước cũng đã nghiên cứu và triển khai các phương thức giao dịch từ xa qua điện thoại, fax, tiến tới tra cứu số dư tài khoản và giao dịch trực tuyến qua mạng internet Góp phần tạo thuận lợi cho khách hàng, các công ty chứng khoán đã kết hợp với các tổ chức tín dụng cung cấp các dịch vụ tiện ích như: cho vay ứng trước, vay cầm cố, bảo chứng Việc cung cấp thông tin cho khách hàng cũng được đặc biệt chú trọng Các bảng giao dịch chứng khoán trực tuyến được cập nhật liên tục về tình hình đặt mua chào bán, giá và khối lượng khớp lệnh của các chứng khoán trong các phiên giao dịch, giúp khách hàng có thể theo dõi và giao dịch trực tiếp qua mạng Các thông tin thị trường cũng có thể được cung cấp thông qua hình thức email, nhắn tin hoặc thông qua trang web của các công ty
Tư vấn phát hành, tư vấn tài chính và niêm yết chứng khoán cũng đuỢc phát triển thông
qua hình thức tư vấn tài chính, định giá doanh nghiệp, tư vấn cổ phần hoá, niêm yết và phát hành cổ phiếu
Hoạt động quản lý danh mục đầu tư mới chỉ được một vài công ty chứng khoán thực
hiện nhưng với quy mô nhỏ và chủ yếu là quản lý cho các công ty mẹ Hoạt động bảo lãnh phát hành mới chỉ dừng lại ở việc bảo lãnh phát hành trái phiếu trong khi chưa có
vụ bảo lãnh phát hành cổ phiếu nào được thực hiện Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng tham gia hoạt động tự doanh mua bán cho chính các công ty chứng khoán, nhưng nguyên tắc ưu tiên giao dịch của khách hàng trước Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán cũng được tất cả các công ty chứng khoán triển khai, hiện các công ty chứng khoán ở Việt Nam chưa thu phí lưu ký
3.2 Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ ẳ*
Mặc dù chưa có quỹ đầu tư trong nước được thành lập, nhưng đã có 8 quỹ đầu tư nước ngoài đã được thành lập và hoạt động tại Việt Nam đầu tư vào chứng khoán niêm yết, chưa niêm yết và bất động sản Cách thức tổ chức dưới dạng of - shore fund Hiện nay, các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam tuân theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, không chịu sự quản lý Nhà nước của UBCKNN Các quỹ đầu
tư hiện nay chủ yếu đầu tư trực tiếp hoặc thông qua một sô" đôi tác Việt Nam để mua cổ phiếu của các công ty cổ phần hoá trên thị trường sơ cấp Từ đầu năm 2002, một sô" quỹ đầu tư đã được cấp mã số kinh doanh
Trang 8Phân tích chứng khoán
GVHD.ễ Trần Thị Thanh Hằng
8
SVTH: Trần Thụy Kim Ly
chứng khoán và tham gia mua bán chứng khoán tại HSTCẾ Tuy vậy, do TTCKVN nhỏ, sô" lượng các công ty niêm yết và số vốn hạn chế nên các quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ còn rất dè dặt đầu tư vào thị trường này
Hiện nay, mới chỉ có một công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được cấp phép hoạt động, đó là Công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (Vietfund Managemnet Company - VFM) VFM là liên doanh giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sacombank (góp 70% vốn) và Công ty Dragon Capital (góp 30% vốn) với số vốn điều lệ 8 tỷ đồng và dự kiến sẽ huy động khoảng 100 - 150 tỷ đồng để thành lập quỹ Quỹ Viet - Fund
4 Các tố chức khác:
Công ty Kiểm toán: UBCKNN đã chấp thuận cho 7 tổ chức kiểm toán độc lập kiểm toán
báo cáo tài chính của các tổ chức phát hành, niêm yết chứng khoán và tổ chức kinh doanh chứng khoán gồm 6 tổ chức kiểm toán trong nước và 1 tổ chức kiểm toán nước ngoài Đây là các công ty kiểm toán đã có thời gian dài hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam và đáp ứng được yêu cầu kiểm toán cho các công ty niêm yết chứng khoán trên thị ưường chứng khoán
5ẳ Hàng hoá trên thi trường:
5.1 Cổ phiếu:
Tại thời điểm thị trường bắt đầu hoạt động, chỉ có hai cổ phiếu duy nhất của Công ty Cổ phần Cáp và Vật liệu Viễn thông (SAM) và cổ phiếu của Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (REE) với tổng mệnh giá 270 tỷ đồng được niêm yết Vào thời điểm 31/12/2000, thị trường chứng khoán đã có 5 loại cổ phiếu với tổng giá trị thị trường đạt 1.046 tỷ đồng Cuối năm 2001, đã có 10 công ty niêm yết trên HSTC giá trị thị trường đạt 1.660 tỷ đồng Trong năm 2002 có thêm 10 loại cổ phiếu niêm yết tại HSTC nâng tổng giá trị thị trường lên tới 2.539 tỷ đồng Tính ngày 28/7/2003, thời điểm tròn 3 năm hoạt động của thị trường chứng khoán có 21 loại cổ phiếu được giao dịch trên thị trường với tổng mệnh giá 1.088 tỷ đồng và giá trị thị ưường là 2.096 tỷ đồng Giá trung bình đối vđi mỗi
cổ phiếu giao
động ở mức 19.264 đồng, gấp 1,9 lần mệnh giá của mỗi cổ phiếu Giá trị thị trường
trung bình của các công ty niêm yết là 99,88 tỷ đồng Con số này cho thấy hầu hết các
công ty niêm yết đều là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với giá trị thị trường thâp 20 trong
số 24 công ty niêm yết hiện tại đều là các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hoá, có bề dày hoạt động và có kết quả hoạt động khá tốt trong quá khứ Các công ty niêm yết này phải thoả mãn các điều kiện: có mức vốn điều lệ tốì thiểu 10
GVHD: Trần Thị Thanh Hằng SVTH: Trần Thụy Kim Ly
Trang 9Phân tích chứng khoán
9
tỷ đồng, hoạt động kinh doanh có lãi trong hai năm liên tục gần nhất tính đến ngày xin phép niêm yết, tình hình tài chính lành mạnh, có triển vọng phát triển, tôi thiểu 20% vốn
cổ phần của tổ chức phát hành phải do trên 100 người đầu tư ngoài tổ chức phát hành nắm giữ, trường hợp công ty có vốn cổ phần trên 100 tỷ thì con số này là 15%, ý kiến kiểm toán trong hai năm liên tục gần nhất tính đến ngày xin phép niêm yết phải là “chấp nhận toàn bộ” hoặc “chấp nhận loại trừ”
Qua thực tê hoạt động cho thấy các công ty niêm yết đã bước đầu thực hiện tốt các quy định về công bô" thông tin trên thị trường và chú trọng nâng cao công tác quản trị công
ty Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán là một lĩnh vực mới, phức tạp nên các công ty niêm yết còn thụ động trong việc công bcí thông tin Trong thời gian qua, một sô" công
ty niêm yết đã có những vi phạm về công bô" thông tin gây mất lòng tin của công chúng đầu tư như: chậm nộp và công bô" báo cáo tài chính Nhìn chung các công ty niêm yết đều hoạt động có hiệu quả, bên cạnh đó cũng có những công ty đầu tư dàn trải, thiếu hiệu quả, ảnh hưởng không tốt tới tình hình tài chính cũng như sự phát triển của công ty Các công ty khi tham gia niêm yết cũng có những lợi thế không nhỏ như: quảng bá thương hiệu, được giảm 50% sô" thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong hai năm tiếp theo kể từ khi niêm yết chứng khoán lần đầu Thời gian tới có thể chính phủ cho phép duy trì ưu đãi này trong thời gian 5 năm
Hiện nay, 24 cổ phiếu niêm yết và giao dịch là quá ít so với sô" lượng gần 6000 doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam, và hơn 1000 doanh nghiệp Nhà nước đã trải qua quá trình
cổ phần hoá và chuyển đổi thành công ty cổ phần Trong sô" các doanh nghiệp cổ phần hoá đó, có hàng trăm doanh nghiệp có giá trị thị trường trên 10 tỷ đồng Ước tính có từ
50 đến 60% các công ty này đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết tại HSTC Trong vòng 3 năm qua cũng đã có hàng tỷ USD tiền vốn được huy động để thành lập trên 3000 công ty cổ phần mới Chính vì vậy, Chính phủ đang có kế hoạch đưa thêm nhiều doanh nghiệp lớn có tình hình kinh doanh tốt ra niêm yết trên thị trường chứng khoán
5.1.1 Cổ phiếu thường (Common Stocks):
Là loại cổ phiếu mà lợi tức của nó phụ thuộc vào mức lợi nhuận thu được của công ty, tức là công ty sẽ không cô" định mức số lãi sẽ được chia vào cuối năm quyết toán Mỗi
cổ phiếu thường thể hiện quyền lợi sở hữu của cổ đông trong công ty số lượng cổ phiếu
mà cổ đông nắm càng nhiều thì quyền sở hữu của cổ đông trong công ty càng lớn Hầu hết các công ty cổ phần thường ấn định mệnh giá cho mỗi cổ phiếu thường Mệnh giá cổ phiếu không liên quan trực tiếp đến giá thị trường của
SVTH: Trần Thụy Kim Ly
mỗi cổ phiếu đó Mệnh giá thể hiện tầm quan trọng nhât của nó vào thời điểm cổ phần lần đầu tiên được phát hành
Tuy nhiên, một công ty cổ phần cũng có thể phát hành cổ phiếu, chẳng hạn như các cổ
Trang 10Phân tích chứng khoán
GVHD.ễ Trần Thị Thanh Hằng
10
phiếu đặc biệt dành cho các sáng lập viên của công ty cổ phiếu này có đặc điểm là chỉ được hưởng lời sau khi tiền lời thuần túy đã chia cho các cổ đông
5.1.2 CỔ phiếu ưu đãi (prefered stocks):
Cổ phiếu ưu đãi hay còn gọi là cổ phiếu đặc quyền là loại cổ phiếu được hưởng những quyền líu tiên Loại cổ phiếu này có những đặc điểm như sau:
• Được hưởng một mức cổ tức riêng biệt có tính cô" định hàng năm Thông thường, cổ tức này được in trên cổ phiếu
• Được ưu tiên chia lãi cổ phần trước loại cổ phiếu thường
• Được ưu tiên phân chia tài sản còn lại của công ty khi phá sản trước loại
cổ phiếu thường
Tuy nhiên, không giông với cổ phiếu thường, người mua cổ phiếu ưu đãi không được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát công ty Giá của cổ phiếu ưu đãi trên thị trường chứng khoán thường không giao động lên hoặc xuống nhiều như giá các cổ phiếu thường Giống như cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá ơ đây, mệnh giá cũng không có mối liên quan trực tiếp đến giá thị trườngể Nếu có một cể phiếu ưu đãi có mệnh giá, thì cổ tức có thể được tính theo giá trị tuyệt đối hoặc theo tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá Tuy nhiên, nếu cổ phiếu ưu đãi không có mệnh giá thì cổ tức sẽ được công bố tính theo giá trị tuyệt đô"iắ
Thông thường, một công ty cổ phần chỉ phát hành một loại cổ phiếu thường nhưng nó có thể phát hành nhiều loại cổ phiếu Ưu đãi
5.2 Trái phiếu:
Tính đến 30/10/2003 có 86 loại trái phiếu Chính phủ và 2 loại trái phiếu doanh nghiệp với tổng mệnh giá 9.051 tỷ đồng được niêm yết và giao dịch tại HSTCề Tuy nhiên, trái phiếu niêm yết chủ yếu là trái phiếu chính phủ, phát hành và niêm yết trái phiếu doanh nghiệp vẫn chưa thịnh hành ở Việt Nam
5.2.1 Trái phiếu công ty ịcorporate bonds):
Là một loại chứng nhận nợ có kỳ hạn do các công ty phát hành Đến thời hạn, công ty phát hành trái phiếu đó phải hoàn trả cả vốn lẫn lợi tức cho người mua nó
Trái phiếu công ty có những đặc điểm sau:
GVHD: Trần Thị Thanh Hằng SVTH: Trần Thụy Kim Ly
• Trái phiếu có thời gian đáo hạn Khi đến thời điểm đáo hạn, người chủ sở hữu sẽ được hoàn lại tiền
• Trái phiếu có lợi tức cố định, tiền lãi phải trả cho chủ trái phiếu không phụ thuộc vào mức lợi nhuận của công ty
• Chủ trái phiếu thường không có quyền đầu phiếu Tuy nhiên, nếu là trái phiếu có thể