1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật

91 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một nhiệm vụ quan trọng trong đề tài là chỉ ra những điểm bất cập xung quanh việc thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, có thể bất cập từ những quy định của pháp lu

Trang 1

*********

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2011 - 2015

ĐỀ TÀI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ DOANH NGHIỆP - MỘT SỐ BẤT CẬP

VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

CẦN THƠ – THÁNG 11 NĂM 2014

Giảng viên hướng dẫn:

Thạc sĩ Trương Thanh Hùng

Bộ môn Luật Tư pháp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

Sinh viên thực hiện: Phạm Chánh Tính MSSV: 5115766 Lớp: Luật Thương mại 1 Khóa: 37

Trang 2

Để hoàn thành tốt luận văn Thi hành án dân sự đối với người phải thi hành

án là doanh nghiệp – Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật người viết

nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ từ gia đình, thầy cô, bạn bè

Trước tiên con xin gửi đến cha, mẹ lời cảm ơn chân thành và xâu sắc nhất Cha, mẹ luôn yêu thương, quan tâm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để con hoàn thành ước

mơ học vấn

Em xin cảm ơn thầy, cô Khoa Luật, những người đã trực tiếp giảng dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như kinh nghiệm sống cho em trong suốt thời gian em học tập tại Đại học Cần Thơ Em cảm ơn cán bộ thư viện Khoa Luật – Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể tìm kiếm tài liệu phục vụ cho việc viết luận văn của mình

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy Trương Thanh

Hùng, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận

văn tốt nghiệp Nhân đây em xin chúc thầy sức khỏe, hạnh phúc, thành tựu trong công tác giảng dạy

Với điều kiện thời gian cho phép, khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, chắc rằng luận văn có nhiều sai xót Nhưng với sự nghiên cứu nghiêm túc, lòng đam mê tìm tòi em hy vọng đóng góp ý kiến nhỏ của mình vào sự phát triển chung của nền khoa học pháp lý Rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tình của quý thầy cô, những người đi trước, những anh chị đọc giả đã quan tâm đến đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014

Ths Trương Thanh Hùng

Trang 4

Cần thơ, ngày tháng 11 năm 2014 Giảng viên phản biện 1

Trang 5

Cần Thơ, ngày tháng 11 năm 2014

Giảng viên phản biện 2

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… ……… 1

2 Phạm vi nghiên cứu ………….……… 2

3 Tình hình nghiên cứu ……….……… 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……….……… 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu …….……… 5

6 Bố cục của luận văn ……….……….6

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ DOANH NGHIỆP 1.1 Những khái niệm liên quan ….…… ……….……… 5

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự …… ……….7

1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp ……… ……… 9

1.2 Khái niệm và đặc điểm của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ………13

1.2.1 Khái niệm thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiêp ……… …… 13

1.2.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án ….14 1.3 Vai trào , ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài ……… ……… 18

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự đối với người thi hành án là doanh nghiệp ………18

1.3.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài……… 19

Kết chương 1 ……… 20

CHƯƠNG 2 QUI ĐÌNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỂN ÁP DỤNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI THI HÀNH ÁN LÀ DOANH NGHIỆP 2.1 Những qui định chung của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 21

2.1.1 Căn cứ điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ………22

2.1.1.1 Những bản án quyết định được dưa ra thi hành ………22

Trang 7

nghiệp ……… 24 2.1.2.1 Vai trò của công tác xác minh điều kiện thi hành án trong thi hành án dân

sự đối với người phải thi hanh án là doanh nghiệp ……….24 2.1.2.2 Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ………25 2.1.2.3 Xác minh điều kiện thi hành án trong thi hành án chủ động đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 26 2.1.2.4 xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……….26 2.1.2.6 Xác minh điều kiện thi hành án trong các trường hợp cụ thể đối với doanh nghiệp phải thi hành án ……… 29 2.1.3 Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 33 2.1.3.1 chuyển giao nghĩa vụ thi hành án dân sự trong trường hợp doanh nghiệp phải thi hành án tổ chức lại doanh nghiệp theo hình thức chia, tách, sáp nhập, hợp nhất ……… 33 2.1.3.2 Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án dân sự trong trường hợp doanh nghiệp phải thi hành án chuyển đổi thành công ty cổ phần ………34 3.1.3.3 Thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự tron trường hợp phá sản doanh

nghiệp phải thi hành án ……… 35 3.1.3.4 Chuyển giao nghĩa vụ trong trường hợp doanh nghiệp phải thi hành án giải thể ……….36 2.2 Thủ tục thi hành án dân sự với người phải thi hành án là doanh nghiệp …… 38 2.2.1 Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiêu yêu câu thi hành án ………38 2.2.1.1 Quyền yêu cầu thi hành án ……….38 2.2.1.2 Thể hiện yêu cầu thi hành án ………39 2.2.2 Thủ tục cấp bản án, quyết định trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 40 2.2.3 Thủ tục chuyển giao và nhận bản án, quyết định trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……….42 2.2.3.1 Thủ tục chuyển giao bản án, quyết định trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 42 2.2.3.2 Thủ tục nhận bản án, quyết định trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ……… 43 2.2.4 Ra quyết định thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án … 44 2.2.4.1 Chủ động ra quyết định thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án ………44

Trang 8

2.2.5.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phai thi hành án……….……… 46 2.2.5.2 Điều kiện áp dụng cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án ……… 47 2.2.5.3 Nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án ………48 2.2.5.4 Căn cứ cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án……… 49 2.2.5.5 Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự ấp dụng đối với doanh nghiệp phải thi hành án ……… 49 2.2.5.6 Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung trong trường hợp thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án……… 50 2.2.5.7 Thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án……… 51 2.3 Kết quả thi hành án dân sụ trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ………54 2.3.1 Hoãn thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp ….55 2.3.2 Tạm đình chỉ thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án … 57 2.3.3 Đình chỉ thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án ……… 58 2.3.4 Kết thúc việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án … 59 Kết chương 2 ……… 60

CHƯƠNG 3 THỰC TIỂN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI

NGƯƠI PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ DOANH NGHIỆP 3.1 Khó khăn trong thực tiển xác minh vốn điều lệ của doanh nghiệp phải thi hành

án và hướng hoàn thiện pháp luật ……….61 3.1.1 Khó khăn trong thực tiễn xác minh vốn điều lệ của doanh nghiệp phải thi hành án ……….61 3.1.2 Đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết kho khăn trong xác minh vốn điều lệ của doanh nghiệp phải thi hành án ……… 67 3.2 Khó khăn trong thực tiễn xác minh tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành

án tại các tổ chức tín dụng và hướng hoàn thiện pháp luật ………71 3.2.1 Khó khăn trong thực tiễn xác minh tài khoản của doanh nghiệp phải thi hành

án tại các tổ chức tín dụng ……….71

Trang 9

thể và hướng hoàn thiện pháp luật ………72 3.3.1 Khó khăn trong thực tiễn thi hành án khi doanh nghiệp phải thi hành án giải thể ……….73 3.3.2 Đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật trong thi hành án dân sự khi doanh

nghiệp phải thi hành án giải thể trái pháp luật ……… 75 KẾT LUẬN ……… 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh “Xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”

Những tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước còn được thể chế hóa thành pháp luật mà cụ thể là Luật thi hành án dân sự 2008 được pháp điển hóa từ Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Mặc dù Luật thi hành án dân sự 2008 đã quy định một cách

rõ ràng và tạo một cơ chế thông thoáng cho thi hành án dân sự nhưng do đòi hỏi của thực tế ngành thi hành án mà Luật thi hành án dân sự 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành tỏ ra khá lung túng trong một số trường hợp Những bất cập trong công tác thi hành án đối với doanh nghiệp là một trong số đó Thực tế cho thấy thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp rất khó khăn và phức tạp bởi tính gắn bó của nó với nền kinh tế cũng như cơ chế hình thành và sở hữu tài sản doanh nghiệp rất đặc thù Đồng thời những bất cập trong Luật thi hành án cũng là một hạn chế lớn đối với chấp hành viên khi tham gia vào công tác thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của việc thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp nên

người viết quyết định chọn đề tài “Thi hành án dân sự đối với người phải thi hành

án là doanh nghiệp – Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật” làm luận văn

Trang 11

Với đề tài này người viết sẽ xây dựng một cái nhìn tổng thể về thi hành án dân

sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Cung cấp những kiến thức pháp lý xung quanh đề tài Chỉ ra tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp Nhìn nhận một số điểm bất cập của thi hành án dân sự đối với người phài thi hành án là doanh nghiệp Từ đó đề ra những hướng hoàn thiện những điểm bất cập đó nên người viết chọn đề tài này để nghiên cứu

2 Phạm vi nghiên cứu

Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là một nội dung tương đối rộng Vì vậy trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật người viết giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình ở những vấn đề bất cập của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Người viết chỉ đi sâu và tập trung vào những quy định của pháp luật, thực tiễn thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án doanh nghiệp mà nó tỏ ra bất cập Để từ đó nhận ra được những nguyên nhân nào dẫn tới thực trạng trên, đó có thể là nguyên nhân khách quan hay chủ quan và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành

án là doanh nghiệp Doanh nghiệp được người viết nghiên cứu là những loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

3 Tình hình nghiên cứu

Nhận thức được tầm quan trọng của thi hành án dân sự cũng như những bất cập trong thi hành án dân sự mà có nhiều công trình nghiên cứu khoa học Luật nghiên cứu

về lĩnh vực này có thể kể đến như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Những cơ sở

lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại”, do Viện Nghiên cứu khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án”, do Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu ở cấp độ thạc sĩ luật học như: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học

“Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thúy; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về “Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam”; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Anh Tuấn về “Đổi mới thủ tục thi hành

án dân sự ở Việt Nam”…

Bên cạnh đó còn có các sách, giáo trình chuyên khảo như: Một số vấn đề về thi hành án dân sự ở Việt Nam của tác giả Tiến sĩ Lê Thu Hà, giáo trình “Kỹ năng thi

Trang 12

3

hành án dân sự” do Tiến sĩ Lê Thu Hà chủ biên Ngoài ra còn có một số giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa luật Đại học Cần Thơ và các trường đại học có chuyên ngành Luật

Thêm vào đó là các bài viết đặc sắc về thi hành án dân sự được đăng trên các tạp chí uy tín như: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Luật học, tạp chí Dân chủ và Pháp luật

Nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu kể trên ít nhiều cũng có liên quan đến thi hành án dân sự nhằm nghiên cứu toàn bộ ngành thi hành án dân sự hay một lát cắt

về thi hành án dân sự theo chiều ngang Đề tài của người viết chọn khác với các đề tài trên là ở nội dung và cách tiếp cận vấn đề trong thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp Cụ thể ở đây người viết tiếp cận vấn đề tuần tự theo chiều dọc đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu này người viết sẽ có nhiệm vụ đưa ra một cái nhìn tổng thể về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Cái nhìn tổng quát về đề tài được xây dựng trên một số phương diện như làm rõ những khái niệm liên quan đến đề tài, chỉ ra những đặc điểm nỗi bật của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp và xác định tầm quan trọng của công tác thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Một nhiệm vụ quan trọng trong đề tài là chỉ ra những điểm bất cập xung quanh việc thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, có thể bất cập từ những quy định của pháp luật hay thực tiễn thi hành án của Chấp hành viên thông qua cách tiếp cận tuần tự theo chiều dọc từ những căn cứ, điều kiện thi hành án cho đến kết thúc quá trình thi hành

án Từ đó người viết sẽ tìm ra nguyên nhân dẫn đến những bất cập trên và cuối cùng là

đề ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án nói chung và thi hành

án dân sự đối với người phải thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp nói riêng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài này người viết dã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Cụ thể: Người viết đã triệt để tận dụng phương pháp phân

Trang 13

tích luật viết để phân tích những quy định của pháp luật liên quan đến đề tài để làm cho những quy định của pháp luật đó trở nên tường minh hơn Mặt khác, giúp cho người viết thấy được những hạn chế của pháp luật khi chưa được áp dụng vào thực tế Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp đối chiếu, so sánh giữa những quy định của pháp luật giữa các văn bản luật về thi hành án đã hết hiệu lực văn bản đang có hiệu lực và văn bản luật liên quan đến đề tài đang trong giai đoạn dự thảo để thấy được những ưu khuyết điểm của những văn bản luật kể trên Người viết còn dùng phương pháp chứng minh trong luận văn để chứng minh một luận điểm mà người viết nêu ra trong luận văn Để cho tất cả luận văn được bố trí một cách hợp lí và khoa học người viết còn sử dụng phương pháp logic Đối với một luận văn thì có rất nhiều nội dung để thể hiện vì vậy phương pháp logic tỏ ra vô cùng hữu ích Với một lượng tài liệu phong phú liên quan đến thi hành án dân sự người viết cần phải xác định, chọn lọc những tài liệu nào thực sự cần thiết cho dề tài nghiên cứu của mình Vì vậy, phương pháp nghiên cứu tài liệu cũng là một lựa chọn của người viết Bên cạnh đó thông qua những cuộc trao đổi với những người làm trong công tác thi hành án dân sự cũng giúp ích không nhỏ tới việc nghiên cứu đề tài của người viết

6 Bố cục của luận văn

Ngoài những phần mục lục, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu luận văn chia thành ba chương:

án là doanh nghiệp

dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trang 14

5

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI

PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ DOANH NGHIỆP

Thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp chỉ là một dạng của thi hành án dân sự được phân biệt bởi đối tượng phải thi hành án là doanh nghiệp Trình tự thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án cũng giống như các chủ thể phải thi hành án khác Tuy nhiên vì tính đặc thù của chủ thể phải thi hành án là doanh nghiệp nên khi tổ chức thi hành án đối với đối tượng này cũng có một số nét đặc thù Vì thế trước khi đi sâu vào nghiên cứu đề tài người viết định hình một cái nhìn sơ khởi về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp thông qua nghiên cứu ở một số khía cạnh như khái niệm thi hành án dân

sự, khái niệm thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, khái niệm các loại hình doanh nghiệp, đặc điểm, ý nghĩa, vai trò của công tác thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

1.1 Những khái niệm liên quan

Trong mục này người viết cung cấp cái nhìn sơ khởi nhất về đề tài thông qua

những khái niệm liên quan đó là khái niệm thi hành án dân sự và khái niệm doanh nghiệp Đối với khái niệm thi hành án dân sự người viết tập trung làm rõ hai khái niệm

bên trong đó là khái niệm thi hành án và khái niệm dân sự dựa trên những quan điểm khác nhau thông qua những cách tiếp cận khác nhau Đồng thời người viết cũng nêu lên chính kiến cho vấn đề được nêu lên Vì người phải thi hành án mà người viết đang hướng tới là doanh nghiệp nên khái niệm doanh nghiệp phải được làm rõ trên nhiều phương diện: chức năng, phát triển, hệ thống và pháp luật Bên cạnh đó các khái niệm

về các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2005 cũng được lồng ghép vào

để phân tích làm rõ

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự

Xét theo góc độ cú pháp Tiếng việt thì cụm từ thi hành án dân sự được cấu tạo

từ hai từ là thi hành án và dân sự Vì vậy muốn hiểu rõ như thế nào là thi hành án dân

sự thì bắt buộc phải hiểu được như thế nào là thi hành án và như thế nào là dân sự

Khái niệm thi hành án: Pháp luật thi hành án dân sự không đưa ra khái niệm

chính thức về thi hành án nên có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận

và cách tiếp cận khác nhau về thi hành án:

Trang 15

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình

tố tụng1 Theo quan điểm này thì việc điều tra, hoà giài, xét xử giải quyết vụ án thực ra mới chỉ là những giai đoạn đầu của quá trình bảo vệ quyền lợi đương sự Ở giai đoạn này toà án mới chỉ quyết định về nội dung vụ án, mới chỉ xác định các quyền và nghĩa

vụ đương sự Các quyết định của toà án muốn được trở thành hiện thực trong cuộc sống thì phải thông qua việc thi hành Tổng hợp các hành vi pháp lý thực hiện các quyết định của toà án trong các bản án, quyết định được đưa ra thi hành thành một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng Căn cứ duy nhất để thi hành án là bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật Tính lệ thuộc của thi hành án vào công tác xét xử được thể hiện ở việc khẳng định xét xử là tiền đề của thi hành án Trong quá trình thi hành án vai trò và trách nhiệm của toà án gắn chặt với thi hành án thể hiện ở trách nhiệm của toà án trong việc giải thích những điểm chưa rõ có sai sót hoặc sai lầm về số liệu trong bản án, quyết định khi cơ quan thi hành án yêu cầu hoặc thẩm quyền hoãn thi hành án theo thời gian luật định hay xem xét kháng nghị để xét

xử theo thủ tục giám đốc thẩm tái thẩm đối với những bản án quyết định có sai thủ tục

tố tụng khi Cơ quan thi hành án kiến nghị Hậu quả pháp lý của việc xem xét theo trình

tự này có thể làm thay đổi kết quả thi hành án hay cách thức tiến hành thi hành án của

cơ quan thi hành án Với lập luận này, thi hành án được hiểu là một giai đoạn kết thúc của quá trình tố tụng

Quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án là hoạt động hành chính – tư pháp

Theo quan điểm này quá trình tố tụng mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án chấm dứt khi toà án ra phán quyết nhân danh nhà nước, trong đó Toà án đã xác định quyền và nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng bởi vì “thi hành án

có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật”2

Quan điểm thứ ba cho rằng thi hành án là hoạt động tư pháp3 Quan điểm này được lý giải bởi vì cái gốc của hoạt động thi hành án là bản án quyết định của Toà án

và các quyết định theo quy định của pháp luật Khi thực hiện nhiệm vụ Cơ quan thi hành án phải thi hành theo đúng quyết định của toà án chứ không theo mệnh lệnh hành

1 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003

2 Nguyễn Minh Tâm (2001), Thử bàn mấy vấn đề lý luận về thi hành án, Tạp chí luật học, số 2/2001

3 Nguyễn Quang Thái : Đổi mới tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự ờ Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003

Trang 16

7

chính Quan điểm này cũng cho rằng bản chất của việc thi hành án là như thế nào không phụ thuộc nhiều vào chủ thể thực hiện nó mà phải xét đến bản chất của việc thi hành án

Quan điểm thứ tư cho rằng thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp4 Theo quan điểm này thì không nên hiểu hoạt động tố tụng chỉ là thưa kiện tại Toà án nói chung, là hoạt động của cơ quan toà án xét xử để đi tìm chân lý mà cần xem xét đến bản chất của tố tụng Đó là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình thức theo thủ tục nhất định để giải quyết các quan hệ xã hội theo đúng sự điều chỉnh của pháp luật nội dung nhằm đảm bảo lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tố tụng được thực hiện bởi nhiều cơ quan, hoạt động nào tuân thủ quy định pháp luật hình thức là hoạt động tố tụng Ngoài ra nếu xét về tính chất của việc thi hành án thì tất cả các bản án, quyết định của Toà án và phán quyết của Trọng tài đều có tính tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là không chỉ là việc xét xử mà bao gồm lĩnh vực bổ trợ tư pháp Vì tất cả những lý do nêu trên thi hành án được hiểu theo nghĩa rộng là thủ tục tố tụng tư pháp

Mỗi quan điểm được đưa ra đều dựa trên những cách nhìn, lập luận và cách tiếp cận riêng Các quan điểm trên đều có những lý lẽ làm người viết bị thuyết phục và người viết tôn trọng những quan điểm trên Tuy nhiên, người viết lại ủng hộ quan điểm thứ tư hơn cả là coi thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp Có thể nói quan điểm thứ tư – coi thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp là quan điểm thoáng nhất trong tất cả quan điểm được người viết nêu lên vì nó thoát khỏi những cái nhìn truyền thống về thi hành án Vì theo quan điểm này có nêu lên những quyết định của hoạt động bổ trợ tư pháp cũng được tham gia vào hoạt động thi hành án mà những quan điểm khác không

đề cập tới Hay nói cách khác các quan điểm khác chỉ xoáy vào các hoạt động xét xử của toà án hay các phán quyết của Toà án là căn cứ để thi hành án mà quên rằng các căn cứ để thi hành án không chỉ xuất phát từ cơ quan Toà án và những phán quyết của Toà án Mà theo quan điểm thứ tư thì tố tụng là hoạt động của nhiều cơ quan và hoạt động nào tuân theo pháp luật hình thức quy định là hoạt động tố tụng Bên cạnh những phán quyết của Toà án được tổ chức thi hành thì những quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng được đưa ra thi hành theo pháp luật thi hành án Vì vậy với cái nhìn thoáng hơn, người viết nhận thấy quan điểm thứ tư là hợp

lý hơn cả

4 Lê Anh Tuấn : Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội, 2004

Trang 17

Tóm lại theo quan điểm người viết thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp bao gồm những hoạt động do Cơ quan thi hành án tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các phán quyết của Toà án hoặc các quyết định của các hoạt động tư pháp khác được thực hiện trên thực tế theo đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo

vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Khái niệm dân sự: Hiện nay có hai ý kiến về nghĩa từ dân sự trong cụm từ thi

hành án dân sự là nghĩa từ dân sự theo nghĩa hẹp và nghĩa từ dân sự theo nghĩa rộng

Nghĩa từ dân sự được hiểu theo nghĩa hẹp: Cơ sở để đưa ra ý kiến này xuất phát

từ Điều 1 Bộ luật dân sự 2005: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự) Theo cách hiểu này thì những quan hệ dân sự xuất phát từ các quan hệ về nhân thân và tài sản trong dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động

Nghĩa từ dân sự theo nghĩa rộng: Theo pháp luật nhiều nước trên thế giới, việc

tổ chức thi hành các phán quyết có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân

sự, luật kinh doanh thương mại, luật hôn nhân gia đình, luật lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung quy định trong bộ luật tố tụng dân sự Trong trường hợp này có thể nói nghĩa của từ dân sự còn bao gồm luôn cả những quan hệ dân sự xuất phát từ bộ luật tố tụng dân sự bên cạnh các quan hệ dân sự kể trên

Theo quan điểm của người viết ủng hộ với quan điểm thứ hai Tuy nhiên với góc độ thi hành án dân sự thì cần nên hiều thêm về nghĩa từ dân sự theo điều 1 Luật thi hành án dân sự 2008: “Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý

vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử

lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự”

Trang 18

9

Hai khái niệm thi hành án và khái niệm dân sự được làm sáng tỏa thì khái niệm

thi hành án dân sự cũng được hiểu như sau: Thi hành án dân sự là một loại của thi hành án, vì vậy thi hành án dân sự cũng mang bản chất là thủ tục tố tụng tư pháp bao gồm những hoạt động do Cơ quan thi hành án tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các phán quyết về dân sự của Toà án hoặc các quyết định Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được thực hiện trên thực tế theo đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một phạm trù tương đối rộng, vì vậy khi xây dựng khái niệm như thế nào là doanh nghiệp thì có nhiều quan điểm của những nhà khoa học được đưa

ra dựa trên những những quan điểm lập luận thuyết phục mang ý nghĩa, nội dung nhất định:

Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp

nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế

độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật

và chính sách thực thi

Xét theo quan điểm chức năng: Theo quan điểm này doanh nghiệp được định

nghĩa như sau: Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh

lệch giữa giá bán sản phẩm và giá thành sản phẩm ấy

Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là cộng đồng người sản xuất ra

những của cải vật chất, nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công

có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được5

Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các bộ phận

được tổ chức có tác động qua lại và cùng theo đuổi một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm bốn phân hệ sau: Sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự

Trong bối cảnh khái niệm doanh nghiệp được nghiên cứu trong phạm vi luật học nên khái niệm doanh nghiệp theo quan điểm pháp luật mà cụ thể được thể hiện

5 D Larua.A Caillat: Kinh tế doanh nghiệp, Nhà xuất bản khoa học xã hội 1992

Trang 19

trong khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 tỏ ra thích hợp hơn: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng , có tài sản, có trụ sở giao dịch

ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”6

Khoản 2 Điều 4 cũng quy định rõ về kinh doanh: Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lợi7

Theo khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp thì muốn trở thành doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thì phải đáp ứng một số điều kiện8:

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp: Tổ chức được hiểu theo nghĩa thường là một nhóm người được sắp xếp theo một cơ cấu nhất định để hoạt động vì một lợi ích hoặc một mục tiêu cụ thể nào đó Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được lập ra vì mục tiêu lợi nhuận Lợi nhuận là mục đích hang đầu mà doanh nghiệp hướng tới bên cạnh những mục tiêu xã hội Doanh nghiệp phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước có tẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Giấy đăng ký doanh nghiệp là bằng chứng ghi nhận sự hiện diện hợp pháp của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh

Doanh nghiệp có tên riêng: Tên doanh nghiệp có một ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp Nó vừa đánh dấu quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp vừa là cơ sở để nhà nước thực hiện công tác quản lý, thêm vào đó tên doanh nghiệp dùng để phân biệt các doanh nghiệp với nhau Tên doanh nghiệp được đặt phải tuân thủ theo quy định của pháp luật

Doanh nghiệp phải có tài sản: Tài sản doanh nghiệp được hình thành từ vốn góp của các tổ chức cá nhân, vốn do doanh nghiệp tạo lập trong quá trình hoạt động Tài sản của doanh nghiệp là nền tảng để doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh doanh đeo đuổi lợi nhuận

Doanh nghiệp phải có trụ sở giao dịch ổn định: Trụ sở giao dịch là nơi đặt cơ quan điều hành của doanh nghiệp, là địa điểm giao dịch liên lạc của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải có trụ sở chính, ngoài ra doanh nghiệp còn có thể thành lập các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh… Trụ sở của doanh nghiệp phải đặt trên lãnh thổ Việt Nam, có địa chỉ xác định9

6 Khoản 1 điều 4 luật doanh nghiệp 2005

7 Khoàn 2 điều 4 luật doanh nghiệp 2005

8 Thạc sĩ Nguyễn Mai Hân, Bài giảng luật thương mại 2, Tủ sách khoa Luật Đại học Cần Thơ, 2012

9 Điều 35 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Trang 20

11

Xác định mục tiêu kinh doanh là thu lợi nhuận: Như đã nói từ trước, mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu cơ bản hàng đầu khi muốn thành lập doanh nghiệp Mục tiêu này cũng là một cơ sở để phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức khác như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, quỹ từ thiện

Mặt khác có thể hiểu: “Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế được thành lập hợp pháp, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất con người nhằm thực hiện các hoạt động sàn xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ trên cơ sở tối đa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hoá lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp các mục tiêu xã hội”

Một số loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp hiện nay:

Dựa trên nền tảng là Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009 thì các nhà nghiên cứu luật học cho rằng có 4 loại hình doanh nghiệp đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân

Công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên)10: Công ty có tư cách pháp nhân

kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với chủ sở hữu công ty

Thành viên của công ty: Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì được phản ảnh ở ngay tên gọi, thành viên của công ty chỉ là một, thoáng qua có thể nhầm lẫn với doanh nghiệp tư nhân nhưng bản chất là hoàn toàn khác nhau ở tính trách nhiệm hữu hạn Còn đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì số lượng thành viên được khống chế ở mức tối thiểu là hai và mức tối đa là năm mươi thành viên Bản chất của loại hình doanh nghiệp này mang tính đóng chứ không mở như công ty cổ phần, đặc tính này có liên quan chặt chẽ dến việc huy động vốn của doanh nghiệp và cũng là điểm phân biệt cơ bản với công ty cổ phần Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vốn vào doanh nghiệp Công

ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần để huy động vốn

Công ty cổ phần 11 : Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần

bằng nhau gọi là cổ phần Người chủ sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần Công ty cổ phần có quyền phát hành nhiều loại cổ

10 Điều 38, điều 63 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

11 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Trang 21

phần Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập đăng ký kinh doanh Đây cũng là một đặc điểm phân biệt với công ty trách nhiện hữu hạn Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì việc chuyển nhượng vốn góp của các thành viên công ty bị hạn chế và việc chuyển nhượng này phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty trong khi đó đối với công ty cổ phần thì được tự do chuyển nhượng

Công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty Công ty cổ phần được quyền phát hành chứng khoán các loại ra công chúng để huy động vốn, cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn, rộng rãi ra công chúng Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Thông thường số lượng cổ đông của công ty cổ phần thường rất lớn

Công ty hợp danh12: Công ty hợp danh là một doanh nghiệp mà trong đó phải

có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung gọi là thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thêm thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Trong khi đó, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp vào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào

Doanh nghiệp tư nhân 13 : Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá

nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất cứ loại chứng khoán nào Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh Chủ doanh nghiệp

tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Thông thường loại hình doanh nghiệp này gắn với những hoạt động kinh doanh nhỏ và thường tạo được sự tin tưởng lớn từ khách hàng thông qua tính chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân

1.2 Khái niệm và đặc điểm của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

12 Điều 130 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

13 Điều 141 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Trang 22

13

Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp xét cho cùng đó chính là thi hành án dân sự Vì vậy trong phạm vi bài viết, người viết định nghĩa thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp dựa trên nền tảng khái niệm về thi hành án dân

sự Bên cạnh đó những đặc điểm của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án

là doanh nghiệp cũng được người viết đưa ra phân tích Vì doanh nghiệp là chủ thể phải thi hành án mang tính đặc thù nên ngoài việc mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động thi hành án dân sự thì còn mang những đặc điểm riêng mang tính đặc thù Chính những đặc điểm riêng này góp phần làm nên khác biệt cho hoạt động thi hành

án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Trước tiên phải khẳng định thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là thi hành

án dân sự Mà đã là thi hành án dân sự thì phải có bản chất và đặc điểm của thi hành án dân sự Tuy nhiên, điều khác biệt duy nhất của thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp chính là ở chổ người phải thi hành án là doanh nghiệp Trong khi đó người phải thi hành án có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức14 Trong đó, tổ chức mà pháp luật thi hành án đề cập tới có nhiều loại nhưng hướng đến nhiều hơn cả đó chính là doanh nghiệp Hay nói cách khác thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là một mảng nhỏ của thi hành án dân sự, nhưng mang đầy đủ những đặc trưng của hoạt động thi hành án dân sự

Tóm lại có thể hiểu thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là thủ tục tố tụng

tư pháp bao gồm những hoạt động do cơ quan thi hành án tiến hành theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo các phán quyết về dân sự theo nghĩa rộng của Toà án hoặc các phán quyết về dân sự theo nghĩa rộng của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến phần tài sản của doanh nghiệp phải thi hành án của Hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh được thực hiện trên thực tế theo đúng quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.2.2 Đặc điểm của thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp phải thi hành án

Thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp mang đầy đủ những đặc điểm của hoạt động thi hành án nói chung Do đó nó có những đặc điểm sau:

14 Khoản 3 điều 3 Luật thi hành án dân sự

Trang 23

Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính tài sản: Quan hệ dân sự là quan hệ

giữa người với người Nếu loại bỏ yếu tố tình cảm, cảm xúc thì còn lại quan hệ lợi ích với nhau mà biểu hiện cốt lõi và cơ bản nhất của lợi ích chính là tài sản Một khi tài sản có tranh chấp mà được giải quyết bằng luật pháp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật thì sẽ được Cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án Có thể nói bản chất các quan hệ dân sự là quan hệ mang tính chất tài sản chính vì thế mà quá trình thi hành án dân sự cũng mang tính chất tài sản

Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính định đoạt: Xuất phát từ quyền tự

định đoạt của các chủ thể trong luật dân sự Chủ thể có quyền được yêu cầu chủ thể khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc không thực hiện những hành vi nhất định

để đảm bảo lợi ích Có thể đơn cử trường hợp để chứng minh cho quyền tự định đoạt trong thi hành án dân sự: Một khi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự về tài sản được đặt ra đúng theo bản án, quyết định thì đồng nghĩa với việc xác định được chủ sở hữu của khối tài sản đó và chủ sở hữu khối tài sản được chuyển giao là người được thi hành án Tuy nhiên, xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự trong pháp luật dân

sự mà người được thi hành án có thể từ bỏ quyền sở hữu tài sản đó và không bắt buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án với mình Trong thi hành án dân sự thì từ bỏ quyền sở hữu tài sản xảy ra khi người được thi hành án từ bỏ quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 7 Luật thi hành án dân sự 2008 đối với những trường hợp thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu

Thi hành án dân sự là hoạt động mang tính thoả thuận Tự nguyện thoả thuận

là một đặc trưng của ngành luật dân sự Pháp luật công nhận sự thoả thuận của người được thi hành án và người phải thi hành án về việc chấp hành những phán quyết của toà án và những quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định của Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh liên quan đến tài sản của người phải thi hành án, nếu sự thoả thuận

đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội Nếu nghĩa vụ thi hành án dân sự không phải thuộc các khoản chủ động thi hành hành án thì trong mọi trường hợp người được thi hành án và người phải thi hành án đều có quyền thỏa thuận về nghĩa vụ thi hành án Thỏa thuận thi hành án có thể được thể hiện thông qua việc xác định lại phạm vi trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án giữa người được thi hành án và người phải thi hành án, thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thi hành án, thỏa thuận về tiến độ thực hiện nghĩa vụ thi hành án có thể sự thỏa thuận đó không đúng như bản án, quyết định được đưa ra thi hành nhưng miễn sao những thỏa thuận đó xuất phát từ ý chí tự nguyện của các đương Những thỏa thuận thi hành án được Cơ quan thi hành án tôn trọng và không can thiệp vào ngoại trừ việc Chấp hành viên có thể chứng kiến việc

Trang 24

15

thỏa thuận theo yêu cầu của đương sự Thỏa thuận trong đặc điểm này đơn thuần chỉ là

sự thỏa thuận giữa các đương sự, tuyệt nhiên không có sự tham gia của Cơ quan thi hành án với tư cách một bên của thỏa thuận bởi vì đơn giản Cơ quan thi hành án tham gia vào quan hệ thi hành án với tư cách của một Cơ quan nhà nước thực hiện chức năng tổ chức thi hành án

Thi hành án dân sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước Hoạt động thi

hành án có phương pháp điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước là mệnh lệnh quyền

uy phục tùng Các phán quyết của toà án, các quyết định của Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được đảm bảo thi hành trên thực tế thông qua Cơ quan thi hành án Quyền lực nhà nước được thể hiện ra bên ngoài bởi những cá nhân

có thẩm quyền như Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên Những cá nhân này có thẩm quyền ra các quyết định về thi hành án dân sự theo đúng trách nhiệm, quyền hạn được quy định trong Luật thi hành án dân sự 2008 buộc các đương sự phải tuyệt đối chấp hành như: Quyết định thi hành án dân sự, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự, quyết định cưỡng chế thi hành án dân sự, quyết định hoãn thi hành án dân

sự, quyết định tạm hoãn thi hành án dân sự, quyết định đình chỉ thi hành án dân sự Ở đặc điểm này nhấn mạnh vai trò của Cơ quan thi hành án được coi như là một công cụ của Nhà nước đảm bảo cho công lý được thực thi bằng các biện pháp mà biện pháp cuối cùng thể hiện mạnh mẽ quyền lực Nhà nước là cưỡng chế thi hành án

Hoạt động thi hành án dân sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang nhiều ý nghĩa và

có một vai trò không nhỏ trong đời sống Mọi sự sai xót dù là nhỏ cũng gây nên hậu quả nghiêm trọng cho các bên đương sự và Nhà nước Trong quan hệ thi hành án dân

sự Nhà nước sử dụng quyền lực công để đảm bảo thi hành án, nhưng Nhà nước cũng không cho phép Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên lạm dụng quyền lực Nhà nước quy định hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự một cách chi tiết,

cụ thể, khoa học, chặt chẽ bao gồm các nguyên tắc, trình tự thủ tục trong thi hành án dân sự nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên thực hiện nhiệm vụ thực thi các bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài thương mại, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên thực tế Trình tự thủ tục thi hành án không được quy định hoặc quy định không rõ ràng, không khoa học sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng pháp luật, làm phức tạp quá trình thi hành án, gây lãng phí tốn kém kinh phí, không kịp thời, không đảm bảo lợi ích Nhà nước, quyền và lời ích hợp pháp của đương sự dẫn đến khiếu kiện bức xúc

Trang 25

kéo dài Vì vậy hoạt động thi hành án dân sự phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ được quy định cụ thể trong Luật thi hành án dân sự 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong quá trình thi hành án dân sự Chấp hành viên, cán bộ thi hành án độc lập

và chỉ tuân theo pháp luật Sống và làm việc theo pháp luật là tư tưởng chỉ đạo của

Đảng và nhà nước nhằm góp phần làm cho ý thức pháp luật của mọi thành phần trong quần chúng nhân dân được nâng cao Còn đối với Chấp hành viên, cán bộ thi hành án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật lại có một ý nghĩa khác Khi chấp hành viên, cán bộ thi hành án chấp hành nhiệm vụ, khi đó họ thay mặt Nhà nước đảm bảo cho công lý được thực thi Vì vậy, cái mà chấp hành viên, cán bộ thi hành án dựa vào để đảm bảo cho công lý được thực thi chỉ có thể là pháp luật Bởi vì pháp luật là đại diện cho những lý lẽ phải Và chỉ khi tuân theo pháp luật thi thi hành nhiệm vụ thì tính độc lập được thể hiện Luật thi hành án dân sự 2008 không quy định chính thức về nguyên tắc này nhưng có thể dựa vào những quy định riêng lẻ của pháp luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn, những việc được làm, những việc không được làm của Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên mà có thể khái quát thành nguyên tắc trên Chứng minh cho điều này thì có thể đơn cử trường hợp như sau: Khi

Cơ quan thi hành án nhận được yêu cầu thi hành án dân sự thì Thủ trưởng Cơ quan thi hành án căn cứ vào những quy định của pháp luật thi hành án để ra quyết định thi hành

án và sau đó phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành Trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình Chấp hành viên có thể thực hiện các hành vi, ra các quyết định như xác minh tài sản thi hành án, triệu tập đương sự, quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án miễn sao những quyết định đó đúng thẩm quyền theo quy định pháp luật mà không phải phụ thuộc vào những chỉ đạo xen ngang của cấp trên

Bên cạnh những đặc điểm chung của thi hành án dân sự thì thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp còn có những đặc điểm đặc thù cơ bản như sau:

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp sẽ nhân danh cho doanh nghiệp để thực hiện các hành vi liên quan đến nghĩa vụ thi hành án của doanh nghiệp

Mặc dù chủ thể phải thi hành án được xác định trong bản án, quyết định là doanh nghiệp nhưng người thay mặt cho doanh nghiệp phải thi hành án thực hiện các hành vi

để thực hiện trách nhiệm thi hành án của doanh nghiệp lại là cá nhân đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đó bởi doanh nghiệp là một tổ chức vì thế không thể tự mình xác lập hành vi được Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc), Chủ tịch

Trang 26

17

Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị Khi những người có thẩm quyền ra các quyết định về thi hành án dân sự phải xác định người phải thi hành án là doanh nghiệp chứ không phái cá nhân ông A, ông B là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiêp đại diện cho ý chí chủ

sở hữu doanh nghiệp để thực hiện các hành vi nhằm tương tác với Cơ quan thi hành

án, Chấp hành viên chỉ để cho việc tổ chức thi hành án được diễn ra thuận lợi

Đặc thù về tính trách nhiệm hữu hạn và quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp phải thi hành án Hầu hết các doanh nghiệp, ngoại trừ doanh nghiệp tư nhân và công

ty hợp danh, đều có tính chịu trách nhiệm hữu hạn Nghĩa là những thành viên góp vốn vào doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn cam kết Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ việc góp vốn của các thành viên, tài sản hình thành từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng nghĩa với phần tài sản đó trở thành tài sản riêng của doanh nghiệp Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh độc lập với tài sản riêng, tài sản của thành viên góp vốn là tách bạch hoàn toàn với tài sản doanh nghiệp Vì vậy trong trường hợp trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án có lớn hơn khả năng thực hiện nghĩa vụ thi hành án của doanh nghiệp phải thi hành án thì Chấp hành viên cũng không được cưỡng chế tài sản của thành viên góp vốn để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của doanh nghiệp Còn đối với doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh thì mặc dù doanh nghiệp vẫn có tài sản riêng để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng do tính trách nhiệm vô hạn của hai loại hình doanh nghiệp này mà tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, tài sản của thành viên hợp danh công ty hợp danh vẫn bị kê biên để đảm bảo cho nghĩa vụ thi hành án của doanh nghiệp khi tài sản doanh nghiệp không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án đối với doanh nghiệp phải thi hành án là hoạt động mang tính đặc thù Tính đặc thù trong việc xác minh điều kiện thi hành án đối

với doanh nghiệp xuất phát từ tài sản của doanh nghiệp phải thi hành án Tài sản của doanh nghiệp cũng như tài sản của cá nhân hay cơ quan tổ chức khác được tồn tại dưới dạng vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản như theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 Tuy nhiên tính đặc thù ở tài sản doanh nghiệp là ở cơ chế hình thành của tài sản đó Tài sản khi thành lập doanh nghiệp được hình thành từ vốn góp của các thành viên doanh nghiệp đó Thành viên doanh nghiệp có thể góp vốn khi thành lập doanh nghiệp hay cam kết góp vốn tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và điều lệ doanh nghiệp và được đăng ký thành vốn điều lệ đối với doanh nghiệp đó (vốn đầu tư ban đầu đối với doanh nghiệp tư nhân) tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Đây là

Trang 27

một đặc trưng trong cơ chế hình thành tài sản của doanh nghiệp, khi khác minh Chấp hành viên cần phải biết được những tài sản nào đã được góp và những tài sản nào chưa được góp vào doanh nghiệp, có thể chưa đến hạn góp vốn hay đã quá hạn góp vốn mà không góp để thuận tiện cho việc xác minh

1.3 Vai trò, ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp

và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Thi hành án dân sự góp phần bảo vệ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Thi hành án dân sự nói chung là một hoạt động vô cùng ý nghĩa và quan trọng

của nhà nước Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Toà án nhân danh nhà nước, thể hiện ý chí của nhà nước trở thành hiện thực, công lý xã hội được thực hiện Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi những phán quyết của Toà

án được thi hành kịp thời và đầy đủ Nếu công tác thi hành án không được thực hiện hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động xét xử trước đó, quyền lực nhà nước bị xem thường, quyền và lợi ích hợp pháp cùa nhân dân bị xâm hại Thi hành án hiệu quả, kịp thời sẽ mang lại niềm tin cho nhân dân, tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần bảo vệ pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thi hành án dân sự là thước đo hiệu quả hoạt động xét xử của Toà án Thông

qua thi hành án dân sự, kết quả công tác xét xử được cũng cố, hiệu lực các bản án quyết định được đảm bảo Mặc khác thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm những phán quyết của Toà án, phản ánh trung thực chất lượng và hiệu quả xét xử Vì nếu như bản án tuyên đúng với bản chất hiện tượng khách quan, vừa có lý vừa có tình thì quá trình thi hành án sẽ thuận lợi hơn những bản án tuyên không đúng sự thật Đây

là một lý do để cho quá trình thi hành án bị trì hoãn trong thực tế

Thi hành án dân sự góp phần nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Thi

hành án dân sự là hoạt động thuần tính tài sản, vì vậy ít nhiều cũng ảnh hưởng đến người phải thi hành án Hoạt động thi hành án là bằng chứng trực quan sinh động cho nhân dân sống, cư xử theo pháp luật để tránh việc phải trở thành người phải thi hành

án cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Thông qua những gì được chứng kiến chắc hẳn sẽ dễ dàng thuyết phục mọi người sống và làm việc theo pháp luật hơn Bên cạnh đó đặc thù của thi hành án dân sự là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sự phối hợp các cơ quan tổ chức có liên quan và sự đồng tình của của quần

Trang 28

19

chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng Trong thi hành án dân sự không chỉ là hoạt động hoạt động riêng rẽ của cơ quan thi hành án dân sự mà đó là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương là sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tổ chức hữu quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội Thông qua công tác thi hành án dân sự ý thức pháp luật của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của cơ quan tổ chức được nâng lên

1.3.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Trên cơ sỏ nghiên cứu một số vấn đề về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp người viết nhận thấy việc nghiên cứu đề tài này có các ý nghĩa sau:

Cung cấp những kiến thức pháp luật về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp và làm cho những quy định đó được tường minh hơn

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, người viết cung cấp những quy định của pháp luật thi hành án dân sự chung và áp dụng vào trường hợp người phải thi hành án dân sự là doanh nghiệp Đồng thời người viết cũng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu làm cho những quy định đó trở nên tường minh và dễ hiểu hơn Có thể nói kết quả nghiên cứu đề tài là một tập hợp có hệ thống những kiến thức pháp lý về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp bên cạnh những lập luận liên quan đến đề tài của người viết Cũng có thể nói kết quả nghiên cứu của người viết là một tài liệu chuyên khảo về

đề tài để cho những ai nghiên cứu pháp luật liên quan có thể tham khảo

Chỉ ra những bất cập của thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp và đề xuất những giải pháp khắc phục góp phần nhằm hoàn thiện pháp luật

Những bất cập trong pháp luật là điều không thể tránh khỏi, bởi vì lý thuyết và thực tiễn không hề giống nhau Quan trọng hơn cả là nhìn nhận ra những bất cập và hoàn thiện pháp luật Pháp luật thi hành án dân sự cũng vậy Thông qua việc nghiên cứu đề tài một cách tuần tự theo chiều dọc người viết có cơ hội tiếp xúc nhiều với những quy định của pháp luật liên quan đến đề tài, thông qua phân tích đối chiếu để nhận ra những những bất cập của pháp luật cùng với thực tiễn liên quan đến đề tài người viết đang thực hiện Những bất cập đó sẽ không bị người viết bài xích hay lên

án mà người viết sẽ tìm ra nguyên nhân của bất cập trên Từ đó người viết đưa ra những hướng hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, góp phần hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự

Ý nghĩa đối với người viết

Trang 29

Thông qua việc nghiên cứu đề tài – Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp - một số bất cập và hướng hoàn thiện Người viết có cơ hội tiếp tiếp cận nhiều hơn với pháp luật thi hành án dân sự nói chung, pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp nói riêng Kiến thức của người viết về đề tài cũng được tăng lên

Kết chương 1

Nhiệm vụ của chương 1 là cung cấp một cái nhìn sơ khởi nhất về đề tài Thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Để hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu ở chương này người viết đã tự vạch ra các khía cạnh để cung cấp những thông tin sẵn có và phân tích những thông tin đó Bên cạnh đó là những nhận định mang tính cá nhân của người viết thông qua những nền tảng có sẵn và góc tiếp cận khác Trong chương này người viết đã làm rõ được những khái niệm liên quan đến

đề tài Đó là khái niệm về thi hành án dân sự và khái niệm doanh nghiệp Nổi bật nhất trong nội dung này người viết đã đưa ra quan điểm cá nhân về khái niệm thi hành án Đồng thời bảo vệ quan điểm của mình bằng những lập luận có cơ sở thuyết phục Cái nhìn sơ khởi về đề tài của người viết cũng được thể hiện ở những khía cạnh như vai trò

và đặc điểm của hoạt động thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Tuy nhiên, nội dung trọng tâm theo quan điểm của người viết là việc tìm ra những đặc điểm đặc thù của thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án dân sự

là doanh nghiệp Cũng có thể nói chính vì sự đặc thù này mà những khó khăn trong công tác thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp cũng có những nét riêng Trong phần vai trò và ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp người viết tập trung vào hướng phân tích đặt công tác thi hành là một công cụ của nhà nước để đảm bảo cho những bản án, quyết định được thi hành trên thực tế và tính hiệu quả của công cụ này vào việc bảo vệ pháp luật, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nghĩa là trong nội dung này sẽ đi trả lời câu hỏi công tác thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp thì

sẽ đóng góp được gì trên mọi phương diện? Cuối chương là phần tự đánh giá của người viết về việc ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài Ý nghĩa của phần nội dung này

là góp phần vạch ra hướng đi để người viết không lạc đề và giúp cho người viết tự nhận thấy khi nghiên cứu đề tài này đã mang lại ý nghĩa khoa học như thế nào

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN LÀ

DOANH NGHIỆP

Trang 30

21

Thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp là thi hành án dân sự Vì vậy, để xây dựng cái nhìn tổng thể về thi hành án dân sự người viết xây dựng dựa trên ba nội dung lớn: Thứ nhất là phân tích những quy định chung của pháp luật về thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp trong đó bao gồm những quy định về căn cứ, xác minh điều kiện thi hành án, chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án Tuy nhiên, trong nội dung đầu tiên người viết muốn nhấn mạnh ở việc xác minh điều kiện thi hành án và chuyển giao nghĩa vụ thi hành án Bởi vì ở hai nội dung này đã làm nổi bật lên những đặc điểm chỉ có ở người phải thi hành án là doanh nghiệp và người viết cũng tìm thấy những bất cập điển hình khi tổ chức thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Thứ hai là phân tích những quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án đối với người phải thi hành án từ việc chuyển giao trách nhiệm từ Tòa

án sang Cơ quan thi hành án mà trọng tâm là công tác cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp Thứ ba, phân tích về kết quả thi hành án, mà đặc trưng là các quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án dân sự và việc kết thúc một quá trình thi hành án thành công Thực ra nội dung được phân tích ở đây xét cho cùng cũng là thủ tục thi hành án tuy nhiên vì đây là những thủ tục đặc biệt nên người viết tách ra để phân tích rõ hơn Trong khi nghiên cứu chương 2 người viết sẽ nêu lên những nội dung nào mà người viết nhận thấy là bất cập trong việc thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật ở chương 3

2.1 Những quy định chung của pháp luật về thi hành án dân sự đối với

người phải thi hành án là doanh nghiệp

Cơ quan thi hành án tiến hành thực hiện các hoạt động thi hành án trước tiên là phải có những căn cứ theo luật định Căn cứ để thi hành án đó chính là những bản án, quyết định được đưa ra thi hành và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án đúng thẩm quyền Trong phạm vi đề tài người viết nhận thấy những quy định về xác minh điều kiện thi hành án cũng như quy định về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án là những nội dung quan trọng mang tính đặc trưng của đối tượng người thi hành án là doanh nghiệp nên người viết trình này thành hai tiểu mục bố trí trong mục này

2.1.1 Căn cứ thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Trang 31

Căn cứ để thi hành án đối với doanh nghiệp phải thi hành án là những bản án, quyết định dân sự về người phải thi hành án là doanh nghiệp được đưa ra thi hành và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án

2.1.1.1 Những bản án quyết định được đưa ra thi hành

Theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008 những bản án quyết định được đưa ra thi hành gồm có:

Thứ nhất, những bản án, quyết định quy định tại Điều 1 Luật thi hành án dân

sự 2008 có hiệu lực pháp luật:

Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không

bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án; Quyết định của Trọng tài thương mại

Thứ hai, những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 1 Luật thi hành án dân sự 2008: “Luật này quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản

án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự”

Như vậy, khái niệm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành là một khái niệm rộng Nó bao gồm không chỉ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà còn có

Trang 32

23

những bản án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được đưa ra thi hành ngay Những bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành là điều dễ hiểu nhưng còn những bản án quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn được đưa ra thi hành ngay sẽ gây chút ngạc nhiên Tuy nhiên xét đến bản chất của vấn đề thì thấy rõ rằng

Sở dĩ hiệu lực thi hành án phát sinh sớm hơn hiệu lực pháp luật của bản án hoặc quyết định của Toà án trong những trường hợp nói trên là nhằm hạn chế, khắc phục khả năng

vi phạm quyền sống tối thiểu của con người và nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục hoặc đảm bảo việc thi hành án

Có thể thấy rằng Luật thi hành án dân sự 2008 quy định phạm vi điều chỉnh rộng hơn các pháp lệnh trước đó Những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục

do Luật thi hành án dân sự quy định không chỉ là bản án, quyết định của Toà án mà còn là quyết định xử lý vụ việc canh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của trọng tài thương mại Những quyết định của hoạt động bổ trợ tư pháp được đưa vào thi hành án kể từ Pháp lệnh thi hành án 2004 khi quy định những quyết định đưa vào thi hành có thể là quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam có hiệu lực thi hành.15 Đến Luật thi hành án dân sự 2008 những quyết định của hoạt động bổ trợ tư pháp được bổ sung thêm là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến phần tài sản của bên phải thi hành án mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án.16

Khi pháp luật quy định về những quyết định bổ trợ tư pháp này vào căn cứ để thi hành

án thì mục tiêu của quy định này hướng vào chính là doanh nghiệp Bởi chỉ có doanh nghiệp mới là đối tượng điều chỉnh chính của pháp luật về trọng tài thương mại cũng như pháp luật cạnh tranh Khi phải luật tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp cho doanh nghiệp thông qua Trọng tài thương mại hay Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thì đồng thời cũng phải xây dựng một cơ chế để đảm bảo cho những quyết định đó được thực thi

2.1.1.2 Quyết định thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

15 Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004

16 Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 33

Quyết định thi hành án dân sự là quyết định của Thủ trưởng Cơ quan thi hành

án dân sự nhằm đưa những bản án, quyết định nói chung có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế Quyết định thi hành án dân sự được ra dưới hai dạng là chủ động ra quyết định thi hành án và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của đương sự Chủ động ra quyết định thi hành án được Thủ trưởng Cơ quan thi hành án đưa ra thuộc một trong các trường hợp quy định trong khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự Ngoài những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự nếu muốn Cơ quan thi hành án tổ chức thi hành thì cần phải có đơn yêu cầu từ đương sự

2.1.2 Xác minh điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

2.1.2.1 Vai trò của công tác xác minh điều kiện thi hành án trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Xác minh có vai trò quan trọng đối với hầu hết các giai đoạn của quá trình thi hành án Kết quả xác minh sẽ là cơ sở để Cơ quan thi hành án thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, ra các quyết định khác như quyết định uỷ thác, quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án, quyết định hoãn thi hành án, quyết định đình chỉ thi hành án, lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế… Cụ thể:

Thứ nhất, kết quả xác minh sẽ là cơ sở để thuyết phục chủ thể phải thi hành án

tự nguyện thi hành án Tự nguyện thi hành án trong thi hành án dân sự luôn được hoan

nghênh Tuy nhiên sự tự nguyện thi hành án xuất phát từ chính suy nghĩ độc lập của chủ thể phải thi hành án, cũng có trường hợp để có được suy nghĩ tự nguyện đó chủ thể cần có sự tác động Đó là nhiệm vụ của công tác thuyết phục chủ thể thi hành án tự nguyên thi hành Để công tác thuyết phục được thuận lợi và thành công thì Cơ quan thi hành án cần có công cụ, đó chính là kết quả xác minh điều kiện thi hành án Và lập luận mà chấp hành viên thường đưa ra trong trường hợp này là quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật thi hành án dân sự “Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế theo quy định của Luật này” Dĩ nhiên lập luận này phải được xuất phát từ cơ sở kết quả xác minh điều kiện thi hành án

Thứ hai, kết quả xác minh điều kiện thi hành án dân sự là cơ sở để lựa chọn áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Theo quy định tại Điều 71 Luật thi

hành án dân sự, có sáu biện pháp để Chấp hành viên lựa chọn áp dụng trong quá trình thi hành án: Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản

Trang 34

25

của người phải thi hành án; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định Chấp hành viên có thể dựa vào kết quả xác minh để tiến hành chọn các biện pháp cưỡng chế nêu trên

Thứ ba, kết quả xác minh điều kiện thi hành án là cơ sở đối với việc cưỡng chế thi hành án Cưỡng chế thi hành án là biện pháp nghiêm khắc nhất mà pháp luật cho

phép cơ quan thi hành án áp dụng để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ trong quyết định, bản án Kết quả xác minh cho Chấp hành viên biết tài sản của chủ thể phải thi hành án là những gì, giá trị, hiện trạng ra sao để thuận tiện cho công tác kê biên đảm bảo cưỡng chế thi hành án Kết quả xác minh điều kiện thi hành án có vai trò

rõ rệt trong công tác này

Thứ tư, kết quả xác minh điều kiện thi hành án là cơ sở đối với việc ra các quyết định khác trong quá trình thi hành án Đối với việc ra các quyết định khác trong

quá trình thi hành án, kết quả xác minh có vai trò đặc biệt quan trọng Là cơ sở để Cơ quan thi hành án thực hiện một số công việc như: trả lại đơn yêu cầu thi hành án, uỷ thác thi hành án…

2.1.2.2 Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Pháp luật thi hành án dân sự không quy định chính thức về xác minh điều kiện thi hành án dân sự Tuy nhiên, dựa vào những quy định pháp luật rời rạc về thi hành án dân sự và thực tiễn công tác xác minh thì có hai nguyên tắc cơ bản: Xác minh một cách trực tiếp và xác minh một cách chặt chẽ và đầy đủ17

Nguyên tắc xác minh một cách trực tiếp Theo quy định của pháp luật thì khi

Chấp hành viên có yêu cầu hỗ trợ công tác xác minh đều kiện thi hành án dân sự thì các đơn vị hữu quan tiến hành hỗ trợ Chấp hành viên Trong quá trình hỗ trợ đó, có thể kết quả hổ trợ của các đơn vị hữu quan là đầy đủ theo yêu cầu của Chấp hành viên Tuy nhiên, Chấp hành viên không chỉ dựa vào kết quả yêu cầu hỗ trợ đó mà cần phải trực tiếp xác minh Không chỉ là những kết quả hỗ trợ mà ngay cả kết quả theo lời trình bày của đương sự cũng phải được trực tiếp xác minh Bởi vì, Chấp hành viên sẽ khó mà quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nào, hoặc là kê biên tài sản nào (tài sản thuộc sở hữu riêng hay tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, tài sản là động sản hay tài sản là bất động sản của người phải thi hành án) hoặc khi đã kê biên tài sản chung của người phải thi hành án thì Chấp hành viên sẽ kê

17 Ts Lê Thu Hà (chủ biên), Giáo trình kỹ năng thi hành án dân sự (phần nghiệp vụ), Nhà xuất bản Tư pháp,

2010, trang 103

Trang 35

biên toàn bộ hay chỉ kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án nếu Chấp hành viên không xác minh một cách cụ thể hiện trạng của tài sản

Nguyên tắc xác minh một cách chặt chẽ và đầy đủ Xác minh điều kiện thi hành

án dân sự là một mắc xích quan trọng, nếu kết quả xác minh không phản ánh đúng sự thật khách quan thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng công tác thi hành

án Kết quả xác minh đúng sự thật sẽ giúp quá trình thi hành án diễn ra thuận lợi, kết quả thi hành án đúng với bản án, quyết định được đưa ra Có thể đơn cử một trường hợp là nếu một kết quả xác minh là chủ thể phải thi hành án không có tài sản để thi hành án mà trong khi đó chủ thể phải thi hành án đó có tài sản để thi hành án Thủ trưởng cơ quan thi hành án căn cứ vào kết quả xác minh của Chấp hành viên ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án Điều đó rõ ràng là làm mất quyền lợi của chủ thể được thi hành án, mất uy tín Cơ quan thi hành án, chưa kể những rắc rối do đương sự khiếu nại… Như vậy, việc xác minh một cách chặt chẽ và đầy đủ là một nguyên tắc tối quan trọng mà Chấp hành viên phải tuân thủ khi tiến hành xác minh nếu không muốn sai lầm ở những giai đoạn thi hành án tiếp theo

2.1.2.3 Xác minh điều kiện thi hành án trong thi hành án chủ động đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật thi hành án dân sự, trong trường hợp thi hành quyết định thi hành án chủ động như: Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; Tịch thu sung quỹ nhà nước, Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản; Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Chấp hành viên phải chủ động tiến hành xác minh Quy định này xuất phát từ bản chất của việc ra quyết định thi hành án chủ động và tổ chức thi hành chủ yếu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, của tập thể Vì vậy, trách nhiệm xác minh thuộc về Chấp hành viên được mặc định mà không cần phải có yêu cầu xác minh

2.1.2.4 Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu trong thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án là doanh nghiệp

Luật thi hành án dân sự đã 2008 bổ sung trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án, cụ thể theo quy định của Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008, đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì chủ thể được thi hành án phải tự xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án và Chấp hành viên chỉ tiến hành xác minh khi được chủ thể được thi hành án yêu cầu: “Trường hợp thi hành án theo đơn

Trang 36

27

yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể

tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh Việc yêu cầu này phải được lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh.” Quy định này hoàn toàn mới so với Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 Tuyệt nhiên trong Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 không có quy định gì về việc tự chủ thể được thi hành án dân sự xác minh điều kiện của chủ thể phải thi hành án Trong pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 quy định nhiệm vụ xác minh điều kiện thi hành án là của Chấp hành viên18

Có thể thấy mặc dù quy định trên là mới so với Pháp lệnh thi hành án dân sự

2004 nhưng chưa thực sự tiến bộ Bởi bên cạnh những thuận lợi khiêm tốn là tháo gỡ gánh nặng cho Chấp hành viên cũng như Cơ quan thi hành án thì tồn tại khá nhiều bất cập Theo Ông Phạm Văn Gòn – Đại biểu Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự

2008 thì “theo Luật Thi hành án dân sự hiện hành việc xác minh điều kiện thi hành án thuộc trách nhiệm của người được thi hành án điều này gây nhiều khó khăn cho người được thi hành án Vì không phải ai cũng có điều kiện kinh tế để nhờ người đi xác minh giúp mình, trong quá trình xác minh họ gặp trở ngại nhất là đến liên hệ đến các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức tín dụng, ngân hàng (vì nơi đây

là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền thì các đơn vị này mới cung cấp) việc không cung cấp được kết quả xác minh sẽ kéo dài vụ việc thi hành án, có trường hợp người phải thi hành án đã chuyển dịch tài sản cho người khác làm cho vụ án bế tắc không thi hành được và là một trong những nguyên nhân làm lượng án tồn tăng lên”19

Cân nhắc giữa những thuận lợi đạt được và những khó khăn từ quy định trên nên trong Tờ trình tờ trình Chính phủ về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự Chính phủ đã nhất trí với phương án sửa đổi Luật theo hướng chuyển trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành án từ người được thi hành án sang Chấp hành viên và miễn chi phí xác minh điều kiện thi hành án cho người được thi hành án Tuy nhiên, người được thi hành án cũng có quyền xác minh điều kiện thi hành án (tự mình hoặc thông qua việc yêu cầu Chấp hành viên, Thừa phát lại xác minh

và chịu chi phí xác minh điều kiện thi hành án) nhằm đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án Bên cạnh đó trong Báo cáo đánh giá tác động của dự án sửa đổi một

18 Khoản 4 Điều 4 Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004

19 Trang thông tin điện tử Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

http://www.vksnd.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/Lists/Posts/Post.aspx?List=ad9f76af-6b80-4ea2-a8be-%2093f18b9cad72&ID=182&Web=1eac1f4b-1d0d-4ae2-8f9a-e7c7668eac57 , [Truy cập ngày 8/8/2014]

Trang 37

số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 và trong Báo cáo thẩm định dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự cũng nhất trí với phương án sửa đổi của Chính phủ.20 Hy vọng trong thời gian tới bất cập này được giải quyết trong khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 được thông qua theo tinh thần dự thảo

Xuất phát từ lợi ích của chủ thể được thi hành án mà pháp luật cho phép chủ thể được thi hành án có thể tự mình hoặc ủy quyền cho chủ thể khác xác minh điều kiện thi hành án cho mình vì vậy, chủ thể được thi hành án sẽ có một lựa chọn nữa cho việc xác minh điều kiện thi hành án đảm bảo thực hiện hiệu quả quyền mà phát luật cho phép

Khi tiến hành xác minh điều kiện thi hành án Chấp hành viên cần đến sự hỗ trợ

từ rất nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể là Bảo hiểm xã hội Việt Nam, các tổ chức tín dụng, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức khác Để đảm bảo sự thuận lợi cho Chấp hành viên, pháp luật thi hành án dân sự quy định cho Chấp hành viên quyền được yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng

10 năm 2013: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan” Tuy nhiên, trên thực tế khi Chấp hành viên yêu cầu được cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án thì lại rất khó khăn vì các đơn vị hữu quan viện dẫn nhiều lí do để trốn tránh trách nhiệm

2.1.2.5 Thời hạn xác minh điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án

là doanh nghiệp

Thời hạn tiến hành xác minh điều kiện thi hành án đối với Chấp hành viên là 10 ngày, kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải

20 Xem thêm Tờ trình chính phủ, Báo cáo đánh giá, Báo cáo thẩm định về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 38

29

xác minh ngay21 Đối với những kết quả xác minh mà Chấp hành viên xét thấy cần thiết phải tiến hành xác minh lại thì thời hạn xác minh là 10 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp22

Một bất cập phát sinh từ quy định trên là sự thiếu chặt chẽ trong việc quy định thời hạn tự nguyện thi hành án và thời hạn xác minh điều kiện thi hành án Theo Điều

45 Luật Thi hành án dân sự quy định thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án trong khi đó thời hạn xác minh điều kiện thi hành án của Chấp hành viên là 10 ngày kể từ kể từ ngày chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được thi hành án Như vậy, trường hợp đương sự tự nguyện thi hành án vào ngày thứ 11 đến ngày thứ 15 thì kết quả xác minh của chấp hành viên trở nên vô nghĩa, gây lãng phí thời gian, công sức

Nhận thấy bất cập trên nên trong dự thảo Luật sử đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 đã quy định lại thời hạn xác minh điều kiện thi hành án

là 10 ngày kể từ ngày hết hạn tự nguyện thi hành án Nghĩa là sau thời hạn 10 ngày tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên mới tiến hành xác minh điều kiện thi hành án

Rõ ràng bất cập trên đã được giải quyết triệt để

2.1.2.6 Xác minh điều kiện thi hành án trong các trường hợp cụ thể đối với doanh nghiệp phải thi hành án

Xác minh vốn điều lệ của doanh nghiệp phải thi hành án

Thành lập doanh nghiệp là chuyện đơn giản nếu như đáp ứng được một số điều kiện tối thiểu theo pháp luật về doanh nghiệp Tuy nhiên, để đưa doanh nghiệp vào hoạt động và duy trì hoạt động của doanh nghiệp là điều khó khăn và đòi hỏi nhiều yếu

tố, trong đó có nguồn vốn Vì vậy trước khi muốn thành lập doanh nghiệp chủ thể muốn thành lập doanh nghiệp thường cân nhắc kỹ lưỡng về nguồn vốn Khoản 4 Điều

4 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” Bên cạnh đó có thể thấy tài sản góp vốn cũng rất nhiều loại và đó là điều quan trọng thách thức Chấp

21 Khoản 2 Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008

22 Khoản 1 Điều 6 Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013

Trang 39

hành viên xác minh Các khoản vốn góp này hình thành từ khi doanh nghiệp mới đi vào hoạt động hay là sự hình thành trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Chủ thể tiến hành góp vốn có thể là cá nhân hay tổ chức

Nói đến nguồn vốn của doanh nghiệp là người ta nghĩ ngay đến vốn điều lệ Vốn điều lệ là số vốn mà do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và đưa vào điều lệ công ty23 Có thể thấy vốn điều lệ không nhất thiết phải góp cùng một lượt mà nó có thể là cam kết góp theo lộ trình miễn sao thực hiện đúng cam kết như trong điều lệ là được Trong trường hợp thành viên cam kết góp vốn vẫn còn tư cách thành viên công ty không thực hiện góp vốn như đã cam kết thì phần cam kết góp vốn trở thành nợ của thành viên góp vốn đối với công ty Do đó trong trường hợp trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với doanh nghiệp được xác định khi có thành viên góp vốn vào doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ góp vốn như đã cam kết thì thành viên góp vốn đó vẫn phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn cam kết đó Tuy nhiên, một hệ lụy từ vấn đề trên là khi Chấp hành viên tiến hành xác minh những tài sản của doanh nghiệp phải thi hành án đó và nhận thấy tài sản thực có của doanh nghiệp phải thi hành án không đủ để thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên có quyền xác minh tài sản của thành viên không thực hiện cam kết góp vốn để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của doanh nghiệp tương ứng với phần vốn được xác định là nợ của công ty hay không trong khi người phải thi hành án là doanh nghiệp chứ không phải thành viên góp vốn Tóm lại, khi tiến hành xác minh trong trường hợp này Chấp hành viên nên xác định được tài sản nào đã được góp vào công

ty, tài sản nào chưa được góp vào công ty (do chưa đến hạn góp hoặc đã quá hạn góp vốn mà không góp) để đảm bảo cho việc xác minh được hiệu quả

Khi xác minh Chấp hành viên cũng phải lưu ý đến giá trị tài sản góp vốn được định giá có đúng với giá trị thực của tài sản đó hay không Bởi vì việc định giá tài sản góp vốn do thành viên, cổ đông sang lập hay một tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện24 chứ không phải một Cơ quan nhà nước có thẩm quyền định giá Vai trò Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư chỉ là xem xét kết quả định giá có hợp lý hay không Mặc dù vậy trên thực tế việc định giá tài sản góp vốn cũng gây không ít khó khăn cho Chấp hành viên khi tham gia tổ chức thi hành án Bởi vì tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực của tài sản góp vốn đó

23 Khoản 6 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

24 Khoản 1 Điều 30 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Trang 40

31

Pháp luật doanh nghiệp cũng quy định thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công

ty theo quy định của Luật doanh nghiệp Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền

sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền25 Thời điểm doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu đối với tài sản phải đăng ký, quyền sử dụng đất là khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp Đối với những loại tài sản này những cam kết góp vốn chỉ mang tính chất là cơ sở để thực hiện công đoạn tiếp theo là chuyển quyền sở hữu Còn đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản Đối với những loại tài sản này thì chỉ mang tính chất của một giao dịch có ghi nhận nhưng không cần phải thực hiện việc chuyển quyền Có thể đơn cử trưởng hợp thành viên góp vốn bằng tiền và đã chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp thì quá trình góp vốn đã hoàn thành và doanh nghiệp

có toàn quyến quyết định số tiền đó cho hoạt động của doanh nghiệp mà không cần bất

cứ thủ tục nào khác từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chấp hành viên cần nắm rõ thời điểm chuyển giao quyền sở hữu để cho công tác xác minh điều kiện thi hành án dân sự được thực hiện hiệu quả Chấp hành viên phân loại những tài sản nào cần thực hiện chuyển quyền sở hữu, tài sản nào không cần thực hiện quyền sở hữu, tài sản nào

đã chuyển quyền sở hữu và tài sản nào chưa chuyển quyền sở hữu để chấp hành viên

có hướng xử lý Bởi vì trên thực tế có những trường hợp thành viên góp vốn đã góp tài sản đó cho doanh nghiệp nhưng chưa chuyển quyền sở hữu theo quy định của pháp luật trong khi đó nghĩa vụ thi hành án đối với doanh nghiệp đó đã được đặt ra, điều này làm cho Chấp hành viên lung túng không biết phải ghi nhận tài sản này vào kết quả xác minh như thế nào, đồng thời cũng gây khó khăn các công tác thi hành án còn lại

Những quy định trên là đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì không có vốn điều lệ riêng để xác định Bởi thành viên góp vốn của doanh nghiệp tư nhân chính là chủ doanh nghiệp

tư nhân và chỉ có một người là chủ doanh nghiệp tư nhân Vì vậy khi xác minh điều kiện thi hành án đối với doanh nghiệp tư nhân là xác minh toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân Bởi vì tính trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp tư nhân, nghĩa

là chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình cho nghĩa vụ

25 Điểm a Khoản 1 Điều 29 Luật doanh nghiệp 2005 sửa đổi bổ sung 2009

Ngày đăng: 03/10/2015, 05:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Trương Thanh Hùng: Tập bài giảng Luật tố tụng dân sự, Thư viện khoa Luật, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Luật tố tụng dân sự
Tác giả: Trương Thanh Hùng
Nhà XB: Thư viện khoa Luật, Đại học Cần Thơ
8. Nguyễn Thị Thanh Lê: Công ty tại Việt Nam: Tính huống – Tranh chấp – Bình Luận, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty tại Việt Nam: Tính huống – Tranh chấp – Bình Luận
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Lê
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
9. Phạm Duy Nghĩa, Luật kinh tế: Tình huống – Phân tích và bình luận, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật kinh tế: Tình huống – Phân tích và bình luận
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2009
10. Nguyễn Minh Tâm: Thử bàn mấy vấn đề về thi hành án, tạp chí Luật học, số 2/2001 11. Nguyễn Thanh Thủy, Lê Tuấn Sơn: Người dân với Cơ quan thi hành án, nhà xuất bảnTư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người dân với Cơ quan thi hành án
Tác giả: Nguyễn Thanh Thủy, Lê Tuấn Sơn
Nhà XB: nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2005
12. Phạm Quang Thái: Đổi mới tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự ở Việt Nam, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Thái
Nhà XB: Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2003
1. Phạm Hồng Đức, Trang thông tin Công tác thi hành án dân sự: http://www.moj.gov.vn/ThiHanhAn/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemId=396 [Truy cập ngày 17/8/2014] Link
3. Cổng thông tin điện tử của Chính phủ: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu 4. Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp Link
7. Đinh Thị Mai Hương: Bình luận pháp lệnh thi hành án dân sự 2004, nhà xuất bản Tư pháp, 2006 Khác
13. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003Danh mục trang thông tin điện tử Khác
1. Sắc lệnh số 13-SL ngày 24 tháng Giêng năm 1946 về tổ chức Tòa án và ngạch thẩmphán Khác
2. Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật doanh nghiệp 2005 3. Tờ trình Chính phủ về dự án Luật doanh nghiệp 2005 (sửa đổi) Khác
4. Dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 Khác
5. Báo cáo đánh giá về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 Khác
6. Báo cáo thẩm định dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 Khác
7. Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 Khác
8. Tờ trình Chính phủ về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w