1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ mội trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

72 1,4K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ môi trường 2005, nếu đưa ra được những tiêu chí rõ ràng cho việc phân biệt chất thải với phế liệu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng và áp d

Trang 1

KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2008 – 2012 ĐỀTÀI:

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.s Kim Oanh Na Nguyễn Thị Ly

Lớp : Tư pháp 2 K34

Cần Thơ, năm 2012

Trang 2

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu .2

3 Phạm vi nghiên cứu .2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục luận văn 2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHẾ LIỆU, NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRONG TRONG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU 1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 Phế liệu – Chất thải – Chất thải nguy hại 4

1.1.2 Môi trường – Ô nhiễm môi trường – Hoạt động bảo vệ môi trường 8

1.1.3 Hoạt động xuất, nhập khẩu 10

1.2 Những lợi ích mang lại từ hoạt động nhập khẩu phế liệu 11

1.2.1 Lợi ích kinh tế 11

1.2.2 Lợi ích xã hội 12

1.3 Tác động của nhập khẩu phế liệu tới môi trường và sự cần thiết của việc quản lý nhà nước trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 13

1.3.1 Tác động của nhập khẩu phế liệu tới môi trường 13

1.3.2 Sự cần thiết của việc quản lý Nhà nước trong nhập khẩu phế liệu 14

1.4 Chính sách và pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 15

1.4.1 Chính sách bảo vệ môi trường 15

1.4.2 Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU 2.1 Nguyên tắc bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 19

2.2 Chủ thể và điều kiện nhập khẩu phế liệu 20

2.3 Chủ thể quản lý 21

Trang 3

2.5 Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan trong nhập khẩu phế liệu 29

2.5.1 Thủ tục hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 29

2.5.2 Kiểm tra hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 30

2.5.3 Giám sát hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 32

2.6 Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 33

2.6.1 Xử lý vi phạm pháp luật hành chính 33

2.6.2 Xử lý vi phạm pháp luật hình sự 36

CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI VÀ PHƯƠNG HƯƠNG ĐỀ XUẤT NHẰM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CÓ HIỆU QUẢ HƠN TRONG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU 3.1 Những vấn đề tồn tại của việc áp dụng pháp luật trong nhập khẩu phế liệu 41

3.2 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại của việc áp dụng pháp luật trong nhập khẩu phế liệu 42

3.3 Phương hướng đề xuất nhằm bảo vệ môi trường có hiệu quả hơn trong nhập khẩu phế liệu 45

3.3.1 Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến nhập khẩu phế liệu 45

3.3.2 Nâng cao trách nhiệm quản lý của cơ quan Nhà nước trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 46

3.3.3 Tuyên truyền, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 48

KẾT LUẬN 50 PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới, các nước chuyển từ đối đầu sang đối thoại hợp tác quan hệ trên cơ sở hai bên cùng có lợi, cùng nhau phát triển kinh tế Xu thế này đã góp phần tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển của nhiều nước trên thế giới Kể từ khi Việt Nam mở cửa 1986 trở đi đã làm cho quá trình hội nhập kinh tế ở nước ta được thực hiện thông qua việc mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài Trong đó hoạt động xuất nhập khẩu có tầm quan trọng hơn cả, là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh Nhập khẩu là để bù đắp những mặt hàng còn thiếu mà nền kinh tế trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng không đáp ứng yêu cầu trong nước

Trong giai đoạn hiện nay, đứng trước tình trạng nguồn tài nguyên, thiên nhiên của nước ta đang dần cạn kiệt do khai thác quá mức kéo theo đó là việc thiếu nguồn nguyên liệu để sản xuất ra các mặt hàng đang là một vấn đề rất nóng bỏng Vì vậy việc tận dụng phế liệu để tái chế lại các mặt hàng là vấn đề mà hiện nay rất được các doanh nghiệp quan tâm Và để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể chủ động trong nguồn nguyên liệu sản xuất thì Nhà nước ta đã cho phép nhập khẩu phế liệu vào trong nước để sản xuất, tái chế lại Tuy nhiên, không chỉ nhập khẩu phế liệu, một lượng rác thải đã được đưa vào nước ta gây tác động không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là môi trường

Trước tình hình trên Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động nhập khẩu phế liệu Qua thực tiễn áp dụng cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế như: quy định chưa rõ ràng, chồng chéo, mâu thuẫn Một số chủ thể kinh doanh nhập khẩu lợi dụng những sơ hở này để dùng những thủ đoạn tinh vi, lách luật nhằm lợi dụng nhập khẩu phế liệu để nhập khẩu rác thải vào Việt Nam gây ra không ít khó khăn cho công tác

quản lý của cơ quan chuyên môn Nghiên cứu “Thực trạng và phương hướng hoàn

thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu” là đề tài

mang tính cấp bách hiện nay Chính vì vậy người viết chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp cho mình

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ tầm quan trọng của môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu Qua nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực này bằng các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định để điều chỉnh con người nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu đã được ban hành và đi vào thực tế Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là bên cạnh những hiệu quả mang lại thì vẫn còn tồn tại những bất cập hạn chế Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật trong hoạt động nhập khẩu phế liệu sẽ góp phần không nhỏ cho công tác bảo vệ môi trường nước ta, đảm bảo cho sự phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay Mục đích nghiên cứu của đề tài là đi sâu tìm hiểu những quy định của pháp luật liên quan đến môi trường trong nhập khẩu phế liệu Qua nghiên cứu và phân tích đã đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu phế liệu

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, người viết chỉ nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu: Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Luật Hải quan năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2005; Luật Bảo vệ môi trường 2005; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương và Bộ Tài nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện điều 43 Luật bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu; Thông tư 43/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về môi trường , phân tích làm rõ các khái niệm liên quan, các quy định về chủ thể kinh doanh, quản lý, nội dung của vấn đề bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu Qua đó người viết đề xuất một số ý kiến đóng góp để các quy định về vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu ngày càng hoàn thiện hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tốt luận văn, bên cạnh vận dụng những kiến thức đã học được, người viết thu nhập và tổng hợp thêm những tài liệu liên quan về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu Ngoài ra người viết còn sử dụng phương pháp

Trang 8

nghiên cứu lý luận trên sách vở, phân tích, tổng hợp, liệt kê, so sánh và phương pháp phân tích luật viết

5 Bố cục của luận văn

Luận văn bao gồm các phần sau: Lời nói đầu, nội dung chính, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo

Phần nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phế liệu, nhập khẩu phế liệu và chính sách

của Việt Nam về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập

khẩu phế liệu

Chương 3: Những vấn đề tồn tại và phương hướng đề xuất nhằm bảo vệ môi

trường có hiệu quả hơn trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Trang 9

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHẾ LIỆU, NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU VÀ CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG

HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU

Chương này người viết tập trung đi sâu và phân tích một số khái niệm liên quan trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và nhập khẩu phế liệu; những ảnh hưởng của hoạt động nhập khẩu phế liệu đến môi trường và các chính sách của Việt Nam về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu

Dưới gốc độ ngữ nghĩa, phế liệu được hiểu là những nguyên liệu bị bỏ đi, không dùng nữa sau quá trình sử dụng Theo cách hiểu này thì phế liệu chỉ phát sinh trong quá trình sản xuất của con người, hay nói cách khác là tất cả những vẫn chất phát sinh sau quá trình sử dụng nguyên liệu bị chủ sở hữu bỏ đi đều trở thành phế liệu Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm phế liệu được định nghĩa tại khoản

13 Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2005 như sau:

“Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng

được thu hồi để làm nguyên liệu sản xuất”

Khái niệm phế liệu tiếp tục được định nghĩa tại khoản 4, Điều 3 Nghị định số

59/2007 NĐ – CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn như sau:

1

Từ điển bách khoa toàn thư: http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param [10/01/2012]

Trang 10

“Phế liệu là sản phẩm, vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được

thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác”

Qua các định nghĩa trên ta thấy mặc dù có sự khác nhau về việc sử dụng từ ngữ trong câu chữ nhưng bản chất pháp lý thì vẫn không có gì thay đổi

Theo các định nghĩa trên thì vật chất sẽ trở thành phế liệu khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau:2

Thứ nhất: Là “Sản phẩm” hoặc “Vật liệu”

“Sản phẩm” là những thứ do lao động của con người tạo ra Các sản phẩm mà

con người tạo ra có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Dưới giác độ luật môi trường thì đó chỉ có thể là những sản phẩm tồn tại dưới dạng vật thể thuộc thành phần môi trường Do đó, những sản phẩm phi vật thể không thuộc khái niệm phế liệu

“Vật liệu” là những vật để làm cái gì đó Như vậy, vật liệu có thể là những vật

chất từ tự nhiên hoặc đã qua chế biến để có thể sử dụng trong sản xuất

Thứ hai: “Bị loại ra” từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng

“Bị loại ra” được hiểu là các sản phẩm hoặc vật liệu được đưa ra khỏi quá trình

sản xuất hoặc tiêu dùng Đối với hoạt động tiêu dùng, được coi là “được loại ra” khi chủ sở hữu không đưa nó vào khai thác giá trị, công dụng của vật chất đó Trong trường hợp sản xuất, hành vi “loại ra” cần có sự phân biệt giữa hành vi của người trực tiếp sản xuất (công nhân) với hành vi loại ra của chủ sở hữu hoặc người đại diện hợp pháp của chủ sở hữu Chỉ được nhìn nhận là “được loại ra” khỏi quá trình sản xuất khi chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu chủ động từ bỏ ý định sử dụng sản phẩm hoặc vật liệu đó vào quá trình sản xuất và tiêu dùng Điều này có nghĩa là một vật chất tồn tại dưới dạng phế liệu hay không phụ thuộc vào hành vi của chủ sở hữu (hoặc người đại diện hợp pháp) sản phẩm hoặc vật liệu đó Hành vi từ bỏ của chủ sở hữu có thể được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động

Thứ ba: Được thu hồi dùng làm nguyên liệu

Sản phẩm hoặc vật liệu có trở thành phế liệu hay không phụ thuộc vào việc đánh giá trên thực tế đối với hành vi "từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng" của chủ sở hữu và phải được xem xét một cách cụ thể đối với từng trường hợp, như thu hồi

để bán dưới hình thức hàng hóa, để sử dụng làm nguyên liệu hoặc để xử lý Ví dụ như những quần áo cũ mà chủ sở hữu không còn nhu cầu sử dụng, không có "ý định khai

2

Th.S Nguyễn Văn Phương ĐH Luật Hà Nội: Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí

Trang 11

thác giá trị, công dụng" của nó nhưng chủ sở hữu ngay sau khi từ bỏ, bán cho người

khác sử dụng với tư cách là hàng cũ (hàng secondhand) thì vật chất này là hàng hóa

Trong trường hợp chủ sở hữu "từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng" của quần áo

cũ nhưng sau đó lại đưa nó vào sử dụng làm nguyên liệu sản xuất hoặc bán cho người khác làm nguyên liệu thì nó trở thành phế liệu Trong trường hợp chủ sở hữu "từ bỏ ý định khai thác giá trị, công dụng" của quần áo cũ nhưng không có ý định sử dụng nó với bất cứ mục đích gì thì nó có thể là chất thải phải xử lý Khó có thể đưa ra những nguyên lý chung cho việc đánh giá mục đích thu hồi của chủ sở hữu Trên thực tế, việc đánh giá mục đích thu hồi chỉ có thể thực hiện được trong những trường hợp cụ thể thông qua việc xem xét, đánh giá hành vi, biểu hiện của chủ sở hữu

* Chất thải

Được định nghĩa chung là các dạng vật chất cụ thể ở thể rắn, lỏng, khí được thải

ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (khoản 10 Điều

3 Luật Bảo vệ môi trường 2005)

Như vậy, chất thải được hiểu là bất cứ một loại chất nào, bất cứ ở dạng nào bị con người loại bỏ Điều này có nghĩa là một vật chất phải là chất thải hay không phụ thuộc vào ý chí của người chủ sở hữu vật chất đó Một chất chỉ tồn tại dưới dạng chất thải từ khi chủ sở hữu loại bỏ nó tới khi sử dụng nó vào một quá trình sản xuất khác dưới dạng nguyên, nhiên hoặc vật liệu

Theo định nghĩa này thì vật chất sẽ trở thành chất thải khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:3

Thứ nhất: chất thải là vật chất, có thể tồn tại dưới những dạng như rắn, lỏng,

khí hoặc các dạng khác Những yếu tố phi vật chất không thể là chất thải Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những yếu tố cấu thành môi trường theo pháp luật môi trường

Thứ hai: vật chất bị chủ sở hữu thải ra trong các hoạt động của mình, cả trường

hợp chủ động và bị động sẽ trở thành chất thải

Thứ ba: vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải kể từ khi chủ sở hữu hoặc người

sử dụng hợp pháp thải ra cho tới khi con người đưa nó vào sử dụng trong một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác

3 Th.S Nguyễn Văn Phương ĐH Luật Hà Nội: Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí KHPL số 1 (38)/2007, [10/01/2012]

Trang 12

Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ môi trường 2005, nếu đưa ra được những tiêu chí rõ ràng cho việc phân biệt chất thải với phế liệu, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng và áp dụng các quy định trong hoạt động quản lý chất thải, phế liệu, trong đó có hoạt động nhập khẩu phế liệu Từ những phân tích ở trên, khái niệm chất thải và khái niệm phế liệu được đề cập tại Luật Bảo vệ môi trường 2005 có những sự khác biệt sau đây:4

Thứ nhất: các yếu tố có thể trở thành chất thải bao gồm các loại vật chất trong

đó có sản phẩm và vật liệu, là yếu tố có thể trở thành phế liệu

Thứ hai: với trường hợp trở thành nghĩa vụ của người sản sinh chất thải Trong

khi đó, mục đích "được thu hồi dùng làm nguyên liệu sản xuất" là một tiêu chí của khái niệm phế liệu Tiêu chí "được thu hồi dùng làm nguyên liệu sản xuất" là tiêu chí mang tính định tính Chúng ta khó có thể đánh giá được một chất thải cụ thể được thu hồi có thể "dùng làm nguyên liệu" cho một chu trình sản xuất nào đó, được thực hiện ở đâu đó trên lãnh thổ Việt Nam hoặc trên thế giới hay không Pháp luật quốc tế về môi trường và pháp luật các quốc gia không sử dụng tiêu chí này để xác lập khái niệm phế liệu và từ đó không phân biệt phế liệu với chất thải mà chỉ sử dụng khái niệm duy

nhất: chất thải (tiếng Anh: waste, tiếng Đức: Abfall), kể cả trong trường hợp thu hồi để

tái chế, tái sử dụng và trường hợp thu hồi để xử lý Theo phụ lục I của Công ước Basel

về kiểm soát vận chuyển chất thải nguy hiểm qua biên giới và việc tiêu hủy chúng, hoạt động thu hồi để tái sử dụng cũng là một công việc tiêu hủy và vì vậy vật chất thải

ra của các hoạt động khác nhau nhưng được thu hồi "dùng làm nguyên liệu" cũng là chất thải

Căn cứ vào khả năng sử dụng của chất thải, có thể phân loại chất thải thành hai loại: chất thải không còn giá trị sử dụng (chất thải cuối cùng) và chất thải còn khả năng

sử dụng vào sản xuất (phế liệu)

Từ đây có thể khẳng định rằng, nội hàm của khái niệm chất thải rộng hơn và bao trùm cả khái niệm phế liệu Hay nói một cách khác, phế liệu là một dạng của chất thải

* Chất thải nguy hại

Hiện nay ở Việt Nam có hai văn bản pháp luật định nghĩa về chất thải nguy hại:

4 Th.S Nguyễn Văn Phương ĐH Luật Hà Nội: Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí

Trang 13

Theo quy chế quản lý chất thải nguy hại năm 1999 ban hành kèm theo quyết định số 155/1999/QĐ – TTg của thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản

lý chất thải: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính gây nguy hại khác), hoặc tương tác với các chất gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người”

Theo Khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: “Chất thải nguy hại

là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”

Tuy có sự khác nhau về từ ngữ nhưng cả hai định nghĩa đều có nội dung tương

tự nhau, giống với định nghĩa của các nước và các tổ chức trên thế giới, đó là nêu lên đặc tính gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng của chất thải nguy hại

1.1.2 Môi trường – Ô nhiễm môi trường – Hoạt động bảo vệ môi trường

* Môi trường

Môi trường là một khái niệm nội hàm vô cùng rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau Trong cuộc sống, người ta dung nhiều khái niệm môi trường như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường giáo dục… Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”, là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”

Môi trường trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu là những yếu

tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong đó yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, các hệ thực vật, hệ động vật có ý nghĩa và đặc biệt hơn cả Những yếu tố này được coi là thành phần cơ bản của môi trường Chúng hình thành và phát triển theo quy luật tự nhiên vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động tới chúng ở trong chừng mực nhất định Bên cạnh những yếu tố tự nhiên môi trường còn bao gồm yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra nhằm tác động tới các yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình như: hệ thống đê điều, các công trình kỹ thuật, các công trình

Trang 14

văn hóa kiến trúc mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác dựng nên Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là yếu tố mang tính tự nhiên như nước, đất, không khí, hệ thực vật, hệ động vật Tình trạng môi trường thay đổi theo chiều hướng xấu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu cũng như trong phạm vi mỗi quốc gia.5

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì “Môi

trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

* Ô nhiễm môi trường

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến

sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức

xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới gốc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ

số hóa học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dưới gốc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác.6

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Khoản 6, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường, không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”

Có thể thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi trường là chúng đều đề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người và sinh vật

Trang 15

* Hoạt động bảo vệ môi trường

Lịch sử Việt Nam đã có truyền thống lâu đời góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Ví dụ như truyền thuyết các khu “Rừng cấm” hoặc “Suối thần” để bảo vệ rừng đầu nguồn và nguồn nước Tôn giáo truyền bá cuộc sống giản dị, tiết kiệm, tôn trọng đời sống các sinh vật Gần đây là phong trào “Tết trồng cây” các chương trình dự án, các hoạt động cộng đồng trong bảo vệ môi trường ngày càng có quy mô rộng lớn Tất cả những kiến thức, nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã tạo nên sự bền vững hàng nghìn năm của nền nông nghiệp lúa nước Đồng bằng Sông Hồng Quan điểm cơ bản trong kế hoạch bảo vệ môi trường của Việt Nam là phải bảo đảm sự cân đối giữa khai thác sử dụng tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội, dân số và các vần đề môi trường.7

Bảo vệ môi trường là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia và vì thế nó được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau

Theo khoản 3, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì hoạt động bảo vệ môi trường là:

“Hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa hạn chế tác động xấu đến với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học”

1.1.3 Hoạt động xuất, nhập khẩu

Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài theo hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa Đối tượng của hoạt động xuất nhập khẩu là các loại hàng hóa phù hợp với ngành nghề ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh trừ những mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu và những mặt hàng tạm ngừng xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp có thể tiến hành xuất nhập khẩu theo phương thức trực tiếp (trực tiếp quan hệ giao dịch, ký hợp đồng, thanh toán…) hay phương thức ủy thác hoặc kết hợp trực tiếp

cả ủy thác Thông thường, phương thức trực tiếp được sử dụng khi doanh nghiệp có đủ khả năng tổ chức đàm phán, ký kết hợp đồng, am hiểu đối tác và am hiểu thị trường

7

Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan: Giáo trình Môi trường và con người, Nxb Giáo dục Việt Nam,

2010, tr.215, tr.216

Trang 16

cũng như mặt hàng xuất nhập khẩu Ngược lại, nếu chưa thực sự am hiểu thị trường hay bạn hàng mới với những mặt hàng mới hoặc chưa đủ khả năng tổ chức đàm phán

ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu, doanh nghiệp có thể xuất nhập khẩu hàng hóa theo phương thức ủy thác Trong điều kiện như nước ta hiện nay còn khó khăn về mọi mặt thì hoạt động xuất nhập khẩu ủy thác là một trong những hoạt động quan trọng và chủ yếu trong kinh doanh xuất nhập khẩu

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hoạt động xuất nhập khẩu được định nghĩa như sau:

* Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.8

* Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ

nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.9

Qua hai khái niệm trên thì xuất nhập khẩu là hai quá trình luân chuyển hàng hóa trái ngược nhau Trong đó xuất khẩu là dịch chuyển hàng hóa từ trong nước ra nước ngoài hoặc đến các khu vực hải quan đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam; nhập khẩu thì ngược lại hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ khu vực hải quan đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam vào Việt Nam

1.2 Những lợi ích mang lại từ hoạt động nhập khẩu phế liệu

1.2.1 Lợi ích kinh tế

Nhập khẩu phế liệu ngoài tác dụng nâng cao mặt hàng sản xuất nội địa còn góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ vốn eo hẹp trong việc phải lấy nguồn nguyên liệu ngay từ đầu để sản xuất Trước đây do không nhận thức được nguồn lợi kinh tế từ các loại chất thải còn có khả năng tái sử dụng hoặc tái chế để làm nguyên liệu sản xuất (còn gọi là phế liệu) cho nên các phế liệu này bị bỏ đi vừa gây lãng phí vừa ô nhiễm môi trường Ngày này, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ việc tận dụng phế liệu trong sản xuất và sinh hoạt ngày càng phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tuy nhiên, Việt Nam là một nước đang phát triển với nền công nghiệp còn non trẻ, trong nhiều công nghiệp như (sản xuất gang thép, đóng tàu, hóa

Trang 17

chất, chế biến khoáng sản, kim loại, chế tạo thiết bị điện tử… việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn với công nghệ khoa học kỹ thuật còn yếu Việt Nam không thể tự khai thác các nguyên liệu để sản xuất ra các mặt hàng Vì vậy, đòi hỏi các ngành công nghiệp của Việt Nam phải chọn giải pháp nhập khẩu phế liệu đã qua sử dụng để làm nguyên liệu sản xuất với mục đích: thứ nhất là cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước và thứ hai là giá thành tái chế phế liệu rất rẽ

Ví dụ: Ông Huỳnh Văn Tân - Giám đốc Công ty cổ phần Thép Thành Lợi

(Thành phố Đà Nẵng), đơn vị đang có hàng trăm tấn phế liệu nhập về ở cảng Đà Nẵng tiết lộ: Một tấn thép phế liệu hiện nay khi luyện lại sẽ cho ra thành phẩm khoảng 870

kg thép Còn ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội thép cho biết chỉ cần 1,1 tấn thép phế liệu cho vào lò luyện hồ quang là doanh nghiệp thu được một tấn thép thành phẩm Như vậy, nếu tính giá nhập phế liệu hiện thời là khoảng 540 USD/tấn, giá thép bán ngoài thị trường hơn 1.100 USD/tấn thì khi cho ra thành phẩm, doanh nghiệp thu lợi gấp đôi Riêng mặt hàng phế liệu nhựa, con số lợi nhuận còn cao gấp hai lần tiền vốn ban đầu Hiệp hội nhựa Việt Nam tính toán: một sản phẩm nhựa hoàn chỉnh phải

sử dụng hết 80% nguyên liệu là hạt nhựa chính phẩm Trong khi đó, nếu sử dụng nhựa tái chế thì doanh nghiệp có thể tiết kiệm phân nửa loại hạt nhựa chính phẩm Cụ thể hơn, chủ một cơ sở tái chế nhựa ở quận 8 (Thành phố Đà Nẵng) khẳng định khi tận dụng nguồn phế liệu tái chế, lợi nhuận mang về khoảng 200% so với chi phí nhập phế liệu ban đầu Ông này phân tích: Một tấn nhựa phế liệu nhập hiện có giá 200 USD, trong khi một tấn hạt nhựa chính phẩm nhập có giá 1.600 - 2.200 USD Như vậy, trừ tất cả những chi phí như vận chuyển, tiền mua hàng, tái chế thì doanh nghiệp nhập phế liệu nhựa lãi to.10

Thứ ba nữa là rút ngắn được thời gian chu kỳ sản xuất, chính điều đó đã tạo nên một nhu cầu rất lớn đối với phế liệu nhập khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu trên

1.2.2 Lợi ích xã hội

Những năm gần đây, cùng với sự bùng nổ dân số và sự phát triển như vũ bảo của khoa học công nghệ, môi trường một số khu vực và một số yếu tố môi trường toàn cầu đã bị suy thoái nghiêm trọng cuộc sống ở nhiều vùng trên thế giới không những không được cãi thiện mà thậm chí đang xấu đi Lượng tài nguyên thì đang dần cạn kiệt

mà việc sử dụng tài nguyên để phục vụ nhu cầu của con người ngày càng tăng Vì vậy

10 Bùi Nhơn, Nhập tái chế rác thải đều lãi to,

http://suckhoedinhduong.nld.com.vn/238113p0c1002/nhap-tai-che-rac-phe-lieu-deu-lai-to.htm, [15/01/2012]

Trang 18

trước những vấn đề cấp bách đó thì nhập khẩu phế liệu là tiền đề cho việc duy trì sự sống, hay nói cách khác nhập khẩu phế liệu chính là cách tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong nước

Dân số ngày càng tăng, nền thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp Việc phân bố dân cư ở nước ta chưa đồng đều, trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp ở các thành phố lại thiếu hụt lao động trầm trọng Vì vậy vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm ngày càng diễn ra phổ biến, trước tình hình trên thì nhập khẩu phế liệu ngoài lợi ích là tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong nước thì nó cũng đóng góp một phần lớn trong việc tạo công ăn việc làm cho một số người dân bị thất nghiệp tạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển toàn diện hơn

1.3 Tác động của nhập khẩu phế liệu tới môi trường và sự cần thiết của việc quản lý Nhà nước trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

1.3.1 Tác động của nhập khẩu phế liệu tới môi trường

Ngày nay cùng với những quy định khá thông thoáng của pháp luật trong nhập khẩu phế liệu thì kéo theo đó là những tác động xấu ảnh hưởng tới môi trường Bởi bên cạnh các loại phế liệu được nằm trong danh mục được phép nhập khẩu của Bộ tài nguyên và Môi trường thì vẫn có nhiều trường hợp lén nhập về những phế liệu nguy hại, có lẫn hóa chất gây nguy cơ ô nhiễm sinh học

Luật Bảo vệ môi trường chưa đưa ra khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu, do đó trong quá trình áp dụng, phải sử dụng khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu trong các lĩnh vực pháp luật khác, như Luật Thương mại, Luật Hải quan Cụ thể, Điều 28 Khoản 2 Luật Thương mại 2005 quy định: “Nhập khẩu hàng hoá là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” Ngoài ra, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định rõ “khu vực hải quan riêng bao gồm khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu”.Tuy nhiên, vấn

Trang 19

đề đặt ra là khi các doanh nghiệp trong khu vực này không có nhu cầu sử dụng phế liệu hoặc các doanh nghiệp trong các khu vực này phát sinh chất thải mà không có hệ thống xử lý chất thải thì chất thải và phế liệu có thể được đưa ra ngoài để tái chế, tái sử dụng và xử lý không? Dưới giác độ của Luật Thương mại, đây là hoạt động nhập khẩu chất thải, phế liệu vào Việt Nam với đặc thù là chất thải, phế liệu phát sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam, trong khu vực có quy chế riêng về kinh tế Theo pháp luật hiện hành, hành vi vận chuyển chất thải không có trong danh mục phế liệu được phép nhập khẩu

từ các khu vực kinh tế đặc biệt ra ngoài khu vực này là hành vi vi phạm pháp luật.11

Và như thế sẽ tạo ra một hệ lụy rất đáng lo ngại cho môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí và cả con người Tình trạng trên không được ngăn chặn và xử lý kịp thời sẽ dẫn tới suy thoái môi trường, gây ảnh hưởng cho nhân loại hiện tại và trong tương lai

1.3.2 Sự cần thiết của việc quản lý Nhà nước trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Kể từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa năm 1986 trở đi, vấn đề nhập cảng các phế liệu từ nước ngoài để tái sử dụng, biến chế thành nguyên vật liệu cho phát triển ở Việt Nam đã trở thành một vấn nạn không nhỏ Nắm bắt được sự quản lý còn lỏng lẽo nhiều cơ quan nhà nước, doanh nghiệp quốc doanh, thậm chí doanh nghiệp tư nhân đã nhập cảng nhiều phế liệu không đúng quy định, điều này đã tạo ra một tình trạng bất

ổn định về phế thải xảy ra từ Bắc chí Nam Việc nhập cảng phế thải để biến thành nguyên vật liệu hay tái thành phẩm trở thành một kỹ nghệ không nhỏ ở Việt Nam, đặc biệt là ở những thành phố lớn, gần biển, gần biên giới Trung Quốc và Cambodia Đa

số các loại phế thải nhập cảng thường thấy là: giấy vụn đủ loại, giấy carton, các loại nhựa dẽo, vỏ bao nylon phế thải, chai nhưạ hoặc thủy tinh đã được dùng qua, thiết bị

cũ, máy truyền hình, máy điện toán v.v…Hiện nay tình trạng nhập cảng ngày càng trở nên phức tạp và có thể nói hai cơ quan Hải quan ở Sài Gòn và Hải Phòng hoàn toàn bị động vì tình trạng này

Đứng trước tình trạng đó, hiện nay Nhà nước ta đang từng bước xây dựng được

hệ thống tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu Ngoài các tiêu chuẩn môi trường trong hệ thống tiêu chuẩn môi trường quốc gia, Nhà nước đã

11 Nguyễn Minh Hương: (Báo điện tử đại biểu nhân dân): Phế liệu nào được phép nhập,

http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=232147, [17/01/2012]

Trang 20

ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể danh mục các sản phẩm, thiết bị công nghệ cũ, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường không được phế xuất nhập khẩu ở thị trường Việt Nam Những quy định này được thể hiện rõ trong Thông Tư số 02 /2007/TTLT - BCT - BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương - Bộ Tài nguyên

và Môi trường hướng dẫn thi hành Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2005 về tiêu chuẩn điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu Danh mục này liệt kê cụ thể các loại phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, điều kiện đối với phế liệu nhập khẩu, điều kiện đối với cá nhân tổ chức nhập khẩu phế liệu… Quyết định số 491/QĐBKHCNMT ngày 29/4/1998 có quy định cụ thể về điều kiện nhập khẩu thiết

bị công nghệ cũ đã qua sử dụng Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật (2001) cũng

có quy định khá rõ về điều kiện nhập khẩu các loại sinh vật, tài nguyên thực vật Đặc biệt Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã quy định cụ thể các yêu cầu bảo vệ môi trường trong nhập khẩu quá cảnh hàng hóa (Điều 42), bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu (Điều 43) Đây thực sự là cơ sở pháp lý rất quan trọng để bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất nhập khẩu đạt hiệu quả cao

1.4 Chính sách và pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

1.4.1 Chính sách bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đảng

và Nhà nước ta đã có những chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta đã đạt được những kết quả bước đầu, đã xuất hiện những gương người tốt, việc tốt về bảo vệ môi trường Tuy nhiên, việc bảo

vệ môi trường ở nước ta hiện chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế -

xã hội trong giai đoạn mới Nhìn chung môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng Việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường chưa nghiêm minh Ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn môi trường công cộng chưa trở thành thói quen trong cách sống của đại bộ phận dân cư Rừng tiếp tục bị tàn phá nặng nề, khoáng sản bị khai thác bừa bãi Đất đai bị xói mòn và thoái hoá, đa dạng sinh học trên đất liền và dưới biển đều bị suy giảm Nguồn nước mặt và nước ngầm đang ngày càng

bị ô nhiễm và cạn kiệt, vùng biển đã bắt đầu bị ô nhiễm Nhiều đô thị và khu công

Trang 21

nghiệp bị ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn Điều kiện vệ sinh môi trường

ở nông thôn quá thấp kém, tiêu chuẩn an toàn lao động và an toàn thực phẩm bị vi phạm Các sự cố môi trường ngày càng gia tăng

Việc gia tăng dân số, việc di dân tự do diễn ra ồ ạt và không kiểm soát được, việc khai thác có tính chất huỷ diệt các nguồn lợi sinh vật trên cạn và dưới nước, việc phấn đấu thực hiện một số chỉ tiêu quan trọng liên quan đến môi trường mà Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra cho năm 2000 như: phủ xanh 40% diện tích rừng, bảo đảm 80% dân số được cung cấp nước sạch, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm đang là những thách thức gay gắt đối với nước ta hiện nay Các vấn đề môi trường toàn cầu, như biến đổi khí hậu, suy giảm tầng ôzôn, dâng cao mực nước biển, ô nhiễm xuyên biên giới, suy giảm chất lượng nước của các dòng sông lớn và các thảm rừng chung biên giới, hiện tượng mưa axít, hiện tượng Elnino (thời tiết bất thường) ngày càng ảnh hưởng xấu đến môi trường nước ta.13

Để góp phần bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chỉ thị 36 - CT /TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã đánh giá một cách khách quan các nguy cơ và thách thức đối với môi trường và đề ra 8 giải pháp hết sức quan trọng nhằm bảo vệ môi trường bền vững trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Ngoài ra tại Điều 5 của Luật Bảo vệ môi trường

2005 cũng đề ra những chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường trong thời kì đổi mới Với quan điểm phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa, chặt chẽ với bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, phòng ngừa là chủ yếu và bảo vệ môi trường phải kết hợp hài hòa giữa nội lực và hợp tác quốc tế Có như vậy thì vấn đề bảo vệ môi trường của nước ta mới ngày càng được hoàn thiện và đó là một phần không nhỏ cho công cuộc phát triển bền vững đất nước

1.4.2 Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Các chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh về bảo vệ môi trường Chính phủ đã có những

cố gắng cho việc soạn thảo và ban hành, nhưng thực tế các văn bản vẫn chưa nhiều đặc biệt là trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu có Luật bảo vệ môi trường ngày 27/12/1993; Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005; Luật hải quan số 29/2001 QH10 ngày

13

Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 22

29/06/2001; Luật số 42/2005/QH11 ngày 14/06/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 29/2001/QH11 ngày 29/06/2001; Bộ Luật hình sự năm 1999 (sửa đổi

bổ sung năm 2009); Luật Thương mại năm 2005; và các văn bản dưới luật như Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn; Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương và

Bộ Tài nguyên Môi trường về hướng dẫn thực hiện điều 43 Luật Bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu; Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan, thuế xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan; Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài; Nghị định số 128/2005/NĐ-CP của chính phủ ngày 16/12/2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 và pháp lệnh sửa đổi bổ sung một

số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT ngày 08/09/2006 của

Bộ Tài nguyên Môi trường về việc ban hành danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất Ngoài ra Việt Nam còn tham gia công ước Basel ngày 13/3/1995 về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và tiêu hủy chúng, có hiệu lực đối với Việt Nam ngày 11/6/1995; Thông tư 43/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, sửa đổi bổ sung 2007, 2008; Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 “quy định chi tiết thi hành một

số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008”; Nghị định

Trang 23

117/2009/NĐ - CP ngày 31/12/2009 “Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường”

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG

HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU

2.1 Nguyên tắc bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu

Để thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu thì trước tiên các chủ thể kinh doanh nhập khẩu phế liệu cần phải có những nguyên tắc bảo vệ môi trường như sau:14

Thứ nhất: Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo

đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước, bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu

Thứ hai: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm

của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

Thứ ba: Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là

chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường

Thứ tư: Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn

hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

Thứ năm: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có

trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, khi thực hiện hoạt đông xuất nhập khẩu thì hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, vận chuyển đúng tuyến đường qua cửa khẩu theo quy định của pháp luật Kiểm tra hàng hóa được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp hành pháp luật của chủ hàng, mức độ rủi ro về

vi phạm pháp luật hải quan để đảm bảo quản lý nhà nước và không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu Hàng hóa, phương tiện vận tải được thông quan sau khi đã làm thủ tục hải quan Thủ tục hải quan phải được thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và theo đúng quy định của pháp luật Việc bố trí nhân lực, thời gian làm việc phải đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.15

14

Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường 2005

Trang 25

Trên đây là những nguyên tắc bảo vệ môi trường nói chung và trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu nói riêng, đòi hỏi các cá nhân, cơ quan tổ chức khi kinh doanh nhập khẩu các mặt hàng nói chung cũng như phế liệu nói riêng cần phải ý thức, hiểu

rõ và tuân thủ những nguyên tắc này đảm bảo kinh doanh nhập khẩu không những đạt hiệu quả cao mà còn góp phần bảo vệ môi trường

2.2 Chủ thể và điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu

* Chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu

- Thương nhân có cơ sở sản xuất trực tiếp sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế

- Thương nhân nhập khẩu uỷ thác phế liệu cho thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế

- Thương nhân nhập khẩu phế liệu để phân phối cho thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế

* Điều kiện được phép nhập khẩu phế liệu

- Thương nhân có cơ sở sản xuất trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải có đủ điều kiện sau đây mới được phép nhập khẩu phế liệu: có kho, bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu bảo đảm các điều kiện về bảo vệ môi trường;

Có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với nhập khẩu phế liệu, có công nghệ, thiết

bị tái chế, tái sử dụng phế liệu đạt tiêu chuẩn môi trường

- Thương nhân nhập khẩu uỷ thác phế liệu cho thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu phải có hợp đồng nhập khẩu uỷ thác ký với thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế có đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu

- Thương nhân nhập khẩu phế liệu để phân phối cho thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải có kho bãi dành riêng cho việc tập kết phế liệu bảo đảm các điều kiện về môi trường; Có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu thuộc chủ sở hữu hoặc thuê dài hạn 01 năm trở lên và phải bán hết phế liệu nhập khẩu sau ba tháng kể từ ngày phế liệu nhập khẩu về đến cửa khẩu Việt Nam

* Trách nhiệm của chủ thể nhập khẩu phế liệu

- Thương nhân sau khi có đủ các điều kiện được phép nhập khẩu phế liệu như trên thì gửi hồ sơ về Sở tài nguyên và Môi trường ở địa phương nơi đặt cơ sở sản xuất

Trang 26

hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu để được cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu, hồ sơ gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu theo mẫu (Phụ lục số 01) Bản sao Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc phiếu xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường của thương nhân trực tiếp sản xuất sử dụng phế liệu về kho bãi chứa phế liệu Bản sao báo cáo giám sát môi trường đợt gần nhất, nhưng không quá 06 tháng tính đến ngày đề nghị cấp giấy xác nhận (đối với thương nhân sản xuất) hoặc bản sao các hợp đồng bán phế liệu của kỳ nhập khẩu trước (đối với thương nhân nhập khẩu phế liệu để phân phối)

- Thông báo nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất bằng văn bản cho Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 43 của Luật Bảo vệ môi trường theo mẫu (Phụ lục số 03)

- Chậm nhất ngày 31 tháng 01 của năm sau, báo cáo tình hình nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu của năm trước cho Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu để theo dõi theo mẫu (Phụ lục số 04) Riêng đối với thương nhân nhập khẩu phế liệu để phân phối, thời hạn báo cáo là 6 tháng 1 lần

- Trường hợp thương nhân có các cơ sở sản xuất và kho bãi chứa phế liệu ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì phải lập hồ sơ đề nghị cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu cho từng cơ sở, kho bãi ở từng tỉnh, thành phố

- Ngoài ra thương nhân nhập khẩu phế liệu còn có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Chậm nhất là năm ngày trước khi tiến hành bốc dỡ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu về chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu, cửa khẩu nhập, tuyến vận chuyển, kho, bãi tập kết phế liệu và nơi đưa phế liệu vào sản xuất; Xử lý tạp chất đi kèm phế liệu nhập khẩu, không được cho, bán tạp chất

đó

2.3 Chủ thể quản lý

Dựa trên nền tảng Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2005, Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương và Bộ Tài

Trang 27

nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện điều 43 Luật bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu và các văn bản pháp luật khác có liên quan, việc quản lý chất thải và nhập khẩu rác thải đầu tiên phải là trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường với vai trò là cơ quan quản lý Nhà Nước về môi trường nói chung và trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu nói riêng Sau nhiều năm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương đã từng bước được kiện toàn và đi vào hoạt động ổn định Ở Trung ương, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục Môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, có chức năng giúp Bộ trưởng thống nhất thực hiện chức năng quản lý môi trường trên phạm vi cả nước Tại các Bộ, Ngành đều đã thành lập các đầu mối quản lý môi trường Nhiều tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, Ban quản lý khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh lớn cũng đã thành lập phòng, ban, bộ phận hoặc bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Bộ Công an và các phòng cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã được thành lập nhằm góp phần nâng cao năng lực giám sát và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường Ở địa phương, đã thành lập các Chi cục Bảo vệ môi trường thuộc Sở Tài

nguyên và Môi trường với số lượng biên chế từ 10 đến 15 người

Trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu, trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà Nước được quy định như sau:16

- Đối với Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: phối

hợp chỉ đạo kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn xử lý vi phạm pháp luật trong việc nhập khẩu phế liệu Hằng năm, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường tình hình nhập khẩu,

sử dụng phế liệu và các vấn đề môi trường liên quan đến phế liệu nhập khẩu tại địa phương mình

- Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố Trực thuộc Trung

ương: nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc kho bãi chứa phế liệu chịu trách nhiệm kiểm tra và

cấp giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu theo mẫu (phụ lục số 02) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho các tổ chức cá nhân có nhu cầu, giấy xác nhận có giá trị trong 12 tháng Hoặc có văn bản thông báo lý do không cấp giấy

16

Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương và Bộ Tài nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện điều 43 Luật bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập khẩu phế liệu Mục IV

Trang 28

xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu Kiểm tra định kỳ và đột xuất công tác bảo

vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân nhập khẩu và sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế (trong đó có việc duy trì đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu) và có quyền thu hồi giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu nếu phát hiện

vi phạm các điều kiện quy định Hàng năm tổng hợp và báo cáo tình hình nhập khẩu phế liệu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường và các vấn đề môi trường liên quan đến phế liệu nhập khẩu tại địa phương mình theo mẫu (Phụ lục số 05)

2.4 Nội dung cơ bản về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Nội dung cơ bản về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu được quy định

rõ trong Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và cụ thể:

 Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường như: Đã được phân loại, làm sạch, không lẫn những vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển; thuộc danh mục phế liệu được phép nhập khẩu do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định

 Tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải

có đủ các điều kiện nhập khẩu phế liệu mới được phép nhập khẩu phế liệu

 Tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu có trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan; chậm nhất là năm ngày trước khi tiến hành bốc dỡ phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu về chủng loại, số lượng, trọng lượng phế liệu, cửa khẩu nhập, tuyến vận chuyển, kho, bãi tập kết phế liệu và nơi đưa phế liệu vào sản xuất; Xử lý tạp chất đi kèm phế liệu nhập khẩu, không được cho, bán tạp chất đó

 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến phế liệu nhập khẩu; Hằng năm, báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường tình hình nhập khẩu, sử dụng phế liệu và các vấn đề môi trường liên quan đến phế liệu nhập khẩu tại địa phương mình

Ngoài ra, dựa trên nền tảng Luật Bảo vệ môi trường 2005, Thông tư 43/2010/TT-BTNMT của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường quy định quy chuẩn

kỹ thuật quốc gia về môi trường và nhu cầu cấp bách của tình hình xuất nhập khẩu

Trang 29

hiện nay của nước ta trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu Dưới đây, người viết đưa ra được quy định kỹ thuật quốc gia về môi trường trong lĩnh vực nhập khẩu phế liệu Ngoài các quy định về phân loại, cấu kiện, khối lượng , quy chuẩn bắt buộc phế liệu trước khi nhập khẩu phải được làm sạch và không được để lẫn các thành phần nguy hại, chất phóng xạ, chất chống cháy, chất dễ cháy nổ, chất thải y tế và hóa chất có nguồn gốc từ động vật

* Quy định kỹ thuật đối với phế liệu sắt, thép nhập khẩu

Thứ nhất: Phân loại làm sạch phế liệu

Lô hàng phế liệu sắt, thép nhập khẩu chỉ được bao gồm một hoặc một số khối hàng phế liệu sắt, thép đã được phân loại riêng biệt theo từng mã HS thuộc Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Từng khối hàng phế liệu sắt, thép nhập khẩu phải được sắp xếp tách riêng trong lô hàng nhập khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra tại cửa khẩu Trong mỗi khối hàng phế liệu sắt, thép nhập khẩu, lượng phế liệu sắt, thép có mã HS khác với mã HS khai báo trong hồ sơ nhập khẩu không được vượt quá tỷ lệ 20% tổng khối lượng của khối hàng Lô hàng phế liệu sắt, thép nhập khẩu phải được làm sạch để loại bỏ chất thải, những loại vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đáp ứng các yêu cầu cụ thể

về loại phế liệu sắt, thép không được phép nhập khẩu và tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập khẩu

Thứ hai: Loại phế liệu sắt, thép được phép nhập khẩu

Đoạn thanh, đoạn ống, đầu mẩu, đầu tắm, đầu cắt, phoi, sợi, khối, thỏi mạnh vụn bằng sắt, thép hoặc gang được loại ra từ các quá trình gia công kim loại hoặc các quá trình sản xuất khác Thép đường ray, thép tà vẹt, thép tấm, thép lá, thép tròn, thép hình, thép ống, thỏi đúc, lưới thép đã qua sử dụng Vật liệu bằng sắt, thép hoặc gang được lựa chọn, thu hồi từ công trình xây dựng, phương tiện vận tải, máy móc, thiết bị và các sản phẩm khác sau khi đã cắt phá, tháo dỡ tại nước ngoài hoặc lãnh thổ xuất khẩu để loại bỏ các tạp chất, vật liệu, vật phẩm cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam Vật liệu sắt, thép đã qua sử dụng có thể còn bám dính một số tạp chất không mong muốn được phép còn lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập khẩu

Thứ ba: Loại phế liệu sắt, thép không được phép nhập khẩu:

Trang 30

Vỏ bao bì, thùng phuy, lon, hộp, bằng sắt hoặc thép đã sử dụng để chứa dầu, nhớt, mỡ, hoá chất, nhựa đường, thực phẩm mà chưa được làm sạch để đáp ứng các quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập khẩu, tạp chất không mong muốn được phép còn lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập khẩu

và giới hạn hoạt động phóng xạ của phế liệu sắt, thép

Thứ tư: Tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập

khẩu, bao gồm:

Hoá chất, vật liệu chứa hoặc nhiễm chất phóng xạ, chất dễ cháy, chất dễ nổ, chất thải y tế và hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ động vật, thực vật Vũ khí, bom, mìn, đạn, bình kín, bình ga mà chưa được cắt phá, tháo dỡ tại nước ngoài hoặc lãnh thổ xuất khẩu để loại bỏ nguy cơ về an toàn cháy, nổ Tạp chất nguy hại

Thứ năm: Tạp chất không mong muốn được phép còn lẫn trong phế liệu sắt,

thép nhập khẩu, bao gồm:

Các tạp chất bám dính do quá trình vận chuyển, xếp, dỡ như: gỉ sắt, bụi, đất, cát Các vật liệu còn sót lại sau khi sử dụng, còn bám dính vào sắt, thép, như: dầu, mỡ, sơn, lớp mạ, vật liệu khác không phải là sắt, thép hoặc gang Cao su, nhựa, giẻ và các loại vật liệu khác không phải là sắt, thép, gang bám dính vào sắt, thép trong quá trình phân loại phế liệu nhưng đã bị rời ra khỏi sắt, thép trong quá trình vận chuyển, xếp,

dỡ, đáp ứng yêu cầu về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu sắt, thép nhập khẩu

Thứ sáu: Giới hạn hoạt động phóng xạ của phế liệu sắt, thép

Hoạt động phóng xạ bề mặt As (ánh sáng) của khối phế liệu sắt, thép không được vượt quá 0,04Bq/cm2 đối với nguồn phóng xạ µ và không được vượt quá 0,4Bq/cm2 đối với nguồn phóng xạ b

* Quy định kỹ thuật đối với phế liệu nhựa nhập khẩu

Thứ nhất: Phân loại, làm sạch phế liệu

Lô hàng phế liệu nhựa nhập khẩu chỉ được bao gồm một hoặc một số khối hàng phế liệu nhựa đã được phân loại riêng biệt theo từng mã HS thuộc danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Từng khối hàng phế liệu nhựa nhập khẩu phải được sắp xếp tách riêng trong lô hàng nhập khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra tại cửa khẩu

Trang 31

Trong mỗi khối hàng phế liệu nhựa nhập khẩu, lượng phế liệu nhựa có mã HS khác với mã HS khai báo trong hồ sơ nhập khẩu không được vượt quá tỷ lệ 20% tổng khối lượng của khối hàng Lô hàng phế liệu nhựa nhập khẩu phải được làm sạch để loại bỏ chất thải, những loại vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đáp ứng các yêu cầu cụ thể về quy định loại phế liệu nhựa không được phép nhập khẩu và tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu

Thứ hai: Loại phế liệu nhựa được phép nhập khẩu

Nhựa được loại ra từ các quá trình sản xuất, chưa qua sử dụng, có hình dạng khác nhau Bao bì bằng nhựa PET (Polyethylene terephthalate) đựng nước khoáng, nước tinh khiết đã qua sử dụng Nhựa đã qua sử dụng ở một trong các dạng: khối, cục, thanh, dây, băng, nẹp và đáp ứng yêu cầu quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu Mẩu vụn nhựa được băm, cắt từ các sản phẩm bằng nhựa đã qua sử dụng và đã được rửa sạch để loại bỏ các tạp chất nguy hại, đáp ứng yêu cầu quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu (kích thước mỗi chiều của mẩu vụn không quá 10cm, tỷ lệ các mẩu vụn có kích thước vượt quá 10cm không được vượt quá 5% khối lượng của khối hàng)

Thứ ba: Loại phế liệu nhựa không được phép nhập khẩu

Vật liệu, sản phẩm bằng nhựa đã qua sử dụng mà không được băm, cắt và rửa sạch như quy định về mẩu vụn nhựa được băm, cắt từ các sản phẩm bằng nhựa đã qua

sử dụng và đã được rửa sạch để loại bỏ các tạp chất nguy hại, đáp ứng yêu cầu quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu (kích thước mỗi chiều của mẩu vụn không quá 10cm, tỷ lệ các mẩu vụn có kích thước vượt quá 10cm không được vượt quá 5% khối lượng của khối hàng) Trừ các loại phế liệu nhựa là bao bì bằng nhựa PET (Polyethylene terephthalate) đựng nước khoáng, nước tinh khiết đã qua sử dụng và nhựa đã qua sử dụng ở một trong các dạng: khối, cục, thanh, dây, băng, nẹp và đáp ứng yêu cầu quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu Vỏ nhựa của các thiết bị, đồ dùng điện

tử đã qua sử dụng, như: Ti vi, máy tính, thiết bị văn phòng, v.v có thành phần chất

Trang 32

chống cháy hợp chất PBDE (Polybrominated diphenyl ether), hợp chất PBB (Poly Brominated Biphenyl), các hợp chất gốc phthalate Nhựa đã bị cháy dở

Thứ tư: Tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập

khẩu, bao gồm:

Hoá chất, vật liệu chứa hoặc nhiễm chất phóng xạ, chất dễ cháy, chất dễ nổ, chất thải y tế và hợp chất hữu cơ có nguồn gốc từ động vật, thực vật Cao su, giẻ, kim loại vác vật liệu khác không phải là nhựa, trừ khi các vật liệu này còn bám dính vào phế liệu nhựa hoặc bị rời ra trong quá trình vận chuyển, xếp, dỡ Tạp chất nguy hại

Thứ năm: Tạp chất không mong muốn được phép còn lẫn trong phế liệu nhựa

nhập khẩu, bao gồm:

Các tạp chất bám dính do quá trình vận chuyển, xếp, dỡ như: bụi, đất, cát Các tạp chất do in ấn, các loại mác, nhãn còn bám dính trên vật liệu nhựa hay đã bị rời ra trong quá trình vận chuyển, xếp dỡ Cao su, nhựa, giẻ và các loại vật liệu khác không phải là nhựa bám dính hoặc rời khỏi phế liệu nhựa trong quá trình vận chuyển, xếp,

dỡ, đáp ứng yêu cầu quy định về tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu nhựa nhập khẩu Trong mỗi khối hàng, tổng lượng các loại tạp chất quy định tại mục này không vượt quá 2% khối lượng của khối hàng

* Quy định kỹ thuật đối với phế liệu giấy nhập khẩu

Thứ nhất: Phân loại, làm sạch phế liệu

Lô hàng phế liệu giấy nhập khẩu chỉ được bao gồm một hoặc một số khối hàng phế liệu giấy đã được phân loại riêng biệt theo từng mã HS thuộc Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Từng khối hàng phế liệu giấy nhập khẩu phải được sắp xếp tách riêng trong lô hàng nhập khẩu để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra tại cửa khẩu Trong mỗi khối hàng phế liệu giấy nhập khẩu, lượng phế liệu giấy có mã HS khác với mã HS khai báo trong hồ sơ nhập khẩu không được vượt quá tỷ lệ 20% tổng khối lượng của khối hàng Lô hàng phế liệu giấy nhập khẩu phải được làm sạch để loại

bỏ chất thải, những loại vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, đáp ứng các yêu cầu quy định loại phế liệu giấy không được phép nhập khẩu và tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu giấy nhập khẩu

Trang 33

Thứ hai: Loại phế liệu giấy được phép nhập khẩu

Các loại giấy (bao gồm cả các loại giấy đã được tráng phủ bề mặt) và các loại tông, được lựa chọn, phân loại từ giấy và các tông đã qua sử dụng, hoặc bị loại ra trong quá trình sản xuất, phân loại, gia công, in ấn được sử dụng để tái sản xuất thành bột giấy, giấy và các tông

Thứ ba: Loại phế liệu giấy không được phép nhập khẩu

Vỏ bao bì giấy đã qua sử dụng để chứa dầu, nhớt, mỡ, hoá chất, thực phẩm; các loại bao bì giấy còn đóng kín Giấy hoặc các tông đã qua sử dụng để bọc cửa trong khách sạn, nhà chung cư có thành phần chất chống cháy (hợp chất PBDE (Polybrominated diphenyl ether), hợp chất PBB (Poly Brominated Biphenyl), các hợp chất gốc phthalate) Giấy hoặc các tông đã bị cháy dở

Thứ tư: Tạp chất, vật phẩm, vật liệu không được lẫn trong phế liệu giấy nhập

khẩu, bao gồm:

Vật liệu chứa hoặc nhiễm chất phóng xạ, chất dễ nổ, chất thải y tế Các vật liệu khác không phải là giấy hoặc các tông, trừ khi các vật liệu này còn bám dính vào phế liệu giấy hoặc bị rời ra trong quá trình đóng gói, vận chuyển, xếp, dỡ Tạp chất nguy hại

Thứ năm: Tạp chất không mong muốn, được phép còn lẫn trong phế liệu giấy

nhập khẩu, bao gồm:

Các tạp chất bám dính do quá trình vận chuyển, xếp, dỡ như: bụi, đất, cát Các loại vật liệu còn sót lại mà thường được sử dụng cùng với giấy: đinh ghim, dây buộc, nilông, keo dán, vật liệu sử dụng để đóng kiện phế liệu giấy Trong mỗi khối hàng, tổng lượng các loại tạp chất quy định tại mục này không vượt quá 2% khối lượng của khối hàng Dư lượng hoá chất chống nấm, mốc, côn trùng, sử dụng để bảo quản phế liệu giấy trước khi vận chuyển Phế liệu giấy nhập khẩu phải có độ ẩm không vượt quá 20%

Trang 34

2.5 Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan trong nhập khẩu phế liệu

2.5.1 Thủ tục hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

Thủ tục nhập khẩu phế liệu thực hiện tại hải quan cửa khẩu Ngoài các chứng từ theo quy định của Luật Hải quan, thương nhân nhập khẩu phế liệu phải xuất trình cho

cơ quan Hải quan các chứng từ sau:18

Đối với các thương nhân có cơ sở sản xuất trực tiếp nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế cần có: Bản sao giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu được Sở Tài nguyên và Môi trường nơi đặt cơ sở sản xuất cấp (thương nhân nhập khẩu ký xác nhận và chịu trách nhiệm) Bản sao thông báo nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đã gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 43 của Luật Bảo vệ môi trường theo mẫu (Phụ lục số 03)

Đối với các thương nhân nhập khẩu uỷ thác cần có: Hợp đồng nhập khẩu uỷ thác được ký với thương nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế Bản sao giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu được Sở Tài nguyên và Môi trường nơi đặt cơ sở sản xuất của thương nhân uỷ thác nhập khẩu phế liệu cấp (thương nhân uỷ thác nhập khẩu ký xác nhận và chịu trách nhiệm) Bản sao thông báo nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đã gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 43 của Luật Bảo vệ môi trường theo mẫu (Phụ lục số 03)

Đối với các thương nhân nhập khẩu phế liệu để phân phối cần có:  Bản sao giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu được Sở Tài nguyên và Môi trường nơi đặt kho, bãi chứa phế liệu cấp (thương nhân nhập khẩu ký xác nhận và chịu trách nhiệm) Nếu kho, bãi chứa phế liệu nhập khẩu không thuộc sở hữu của thương nhân nhập khẩu phế liệu thì ngoài bản sao giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu,

do Sở Tài nguyên và Môi trường nơi đặt kho, bãi chứa phế liệu cấp, còn phải xuất trình bản sao hợp đồng thuê kho bãi Bản sao thông báo nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất đã gửi cho Sở Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh theo quy định tại Điểm b, Khoản 3, Điều 43 của Luật Bảo vệ môi trường theo mẫu (Phụ lục số 03)

18

Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/08/2007 của Bộ Công thương và Bộ Tài nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện điều 43 Luật bảo vệ môi trường về tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh nhập

Trang 35

2.5.2 Kiểm tra hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

 Kiểm tra hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu trong quá trình làm thủ tục hải quan được quy định rõ trong Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 Quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, thể hiện dưới hai hình thức:

Thứ nhất: Kiểm tra hồ sơ hải quan

- Nội dung kiểm tra gồm: Kiểm tra nội dung khai của người khai hải quan trên

tờ khai quan, đối chiếu nội dung khai với các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan quy định tại Điều 7 Nghị định số 154/1005/NĐ-CP, kiểm tra phù hợp giữa nội dung khai với quy định hiện hành của pháp luật

- Mức độ kiểm tra: Đối với chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan19 thì công chức hải quan kiểm tra việc khai các tiêu chí trên tờ khai, kiểm tra sơ bộ nội dung khai của người khai hải quan, kiểm tra đếm đủ số lượng, chủng loại các chứng từ kèm

tờ khai hải quan Trường hợp phát hiện có sai phạm thì thực hiện kiểm tra hồ sơ giống với việc kiểm tra đối với các chủ hàng khác, đối với chủ hàng khác thì công chức hải quan kiểm tra nội dung khai của người khai hải quan, kiểm tra số lượng, chủng loại giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan, tính đồng bộ giữa các chứng từ trong hồ sơ hải quan, kiểm tra việc tuân thủ chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, chính sách thuế và các quy định khác của pháp luật

Thứ hai: Kiểm tra thực tế hàng hóa

- Nội dung kiểm tra gồm: kiểm tra tên hàng, mã số, số lượng, trọng lượng, chủng loại, chất lượng, xuất xứ của hàng hóa Kiểm tra đối chiếu sự phù hợp giữa thực

tế hàng hóa với hồ sơ hải quan Việc kiểm tra thực tế hàng hóa do công chức hải quan kiểm tra trực tiếp hoặc kiểm tra bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp

vụ khác với sự có mặt của người khai hải quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký hồ sơ hải quan và hàng hóa đã được đưa đến địa điểm kiểm tra Trong một số trường hợp cụ thể như: để bảo vệ an ninh, để bảo vệ vệ sinh, môi trường; có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng; quá thời hạn quy định mà người khai hải quan không đến làm thủ tục hải quan theo đề nghị của người khai hải quan thì việc kiểm tra thực tế hàng hóa được tiến hành khi vắng mặt của người khai hải quan nhưng

19

Khoản 4, Điều 3, Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 Thông tư Hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 36

phải có sự chứng kiến của đại diện tổ chức vận tải hoặc đại diện ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi gần nhất

- Mức độ kiểm tra gồm: Miễn kiểm tra thực tế, kiểm tra thực tế tới toàn bộ lô hàng và kiểm tra xác suất tối đa không quá 5% tổng số tờ khai hải quan Cụ thể miễn kiểm tra thực tế hàng hóa đối với: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các chủ hàng khác đáp ứng các yêu cầu sau: Hàng hóa xuất khẩu (trừ hàng hóa xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu có điều kiện theo quy định về chính sách quản lý xuất khẩu hàng hóa), máy móc thiết bị tạo tài sản cố định thuộc diện miễn thuế của dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, hàng hóa từ nước ngoài đưa vào khu thương mại tự do, cảng trung chuyển, kho ngoại quan; hàng hóa cứu trợ khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Luật Hải quan 2001 sửa đổi bổ sung 2005, hàng hóa chuyên dùng trực tiếp cho an ninh quốc phòng, hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa tạm nhập - tái xuất có thời hạn quy định tại các Điều 30,31,32, và 37 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP; hàng hóa thuộc các trường hợp đặc biệt khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định; Hàng hóa khác không thuộc các trường hợp trên được miễn kiểm tra thực tế khi kết quả phân tích thông tin cho thấy không có khả năng vi phạm pháp luật hải quan (trừ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của chủ cửa hàng nhiều lần vi phạm pháp luật hải quan) Kiểm tra thực tế tới toàn bộ lô hàng đối với: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của chủ hàng nhiều lần vi phạm pháp luật hải quan;20 hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện miễn kiêm tra thực tế, nhưng cơ quan hải quan phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan, hàng hóa xác định có khả năng vi phạm pháp luật hải quan qua kết quả phân tích thông tin của cơ quan hải quan, hàng hóa có mức độ rủi ro cao trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ rủi ro của cơ quan hải quan, hàng hóa được lựa chọn ngẫu nhiên để đánh giá mức độ tuân thủ của chủ hàng Kiểm tra xác suất để đánh giá việc chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng tối đa không quá 5% tổng số tờ khai hải quan

Kiểm tra hải quan trong hoạt động nhập khẩu phế liệu sau thông quan:

 Kiểm tra sau thông quan được thực hiện sau khi hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong các trường hợp sau:

20

Khoản 6 Điều 3 Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 Thông tư Hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập

Ngày đăng: 26/11/2015, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tự điển bách khoa toàn thư: Khái niệm phế liệu http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=204CaWQ9MjQ0NDUmZ3JvdXBpZD0ma2luZD1leGFjdCZrZXl3b3Jk[10/01/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm phế liệu
2. Th.S Nguyễn Văn Phương ĐH Luật Hà Nội: Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí KHPL số 1 (38)/2007.http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=107:ctc20071&id=273:knplvbcplcpl&Itemid=110,[10/01/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí KHPL số 1 (38)/2007
4. Bùi Nhơn: Nhập,tái chế rác thải đều lãi to http://suckhoedinhduong.nld.com.vn/238113p0c1002/nhap-tai-che-rac-phe-lieu-deu-lai-to.htm,[15/01/2012] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập,tái chế rác thải đều lãi to
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam: http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=414, [15/01/2012] Link
1. Lê Hồng Hạnh, Vũ Thu Hạnh (chủ biên): Giáo trình luật môi trường. Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 2006 Khác
2. Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan: Giáo trình Môi trường và con người. Nhà xuất bản giáo dục việt Nam ( năm 2010), tr 215, tr. 216 Khác
3. Vũ Mạnh Thông, Đoàn Tấn Minh: Bình luận Bộ luật hình sự 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009, Nhà xuất bản lao động xã hội.Trang thông tin điện tử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w