1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định về giao kết hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện

18 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 138,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 có rất nhiều điểm mới – những sửa đổi, bổ sung cơ bản và toàn diện nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc sửa đổi, bổ sung lần này là nhằm xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành. Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong. Giao kết hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản. để xác lập hợp đồng thì một bên chủ thể hiện ý chí của mình cho bên kia biết để cùng tham gia. Ý chí của một bên được thể hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu bên kia giao kết hợp đồng với mình hay còn được đề nghị giao kết hợp đồng.

Trang 1

A LỜI NÓI ĐẦU

Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII và có hiệu lực thi hành

kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 có rất nhiều điểm mới – những sửa đổi, bổ sung cơ bản và toàn diện nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005 Việc sửa đổi, bổ sung lần này

là nhằm xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do,

tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành

Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong Giao kết hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản để xác lập hợp đồng thì một bên chủ thể hiện ý chí của mình cho bên kia biết để cùng tham gia Ý chí của một bên được thể hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu bên kia giao kết hợp đồng với mình hay còn được đề nghị giao kết hợp đồng

Các quy định về giao kết hợp đồng trong bộ luật dân sự được coi là quy định chung về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng

B NỘI DUNG:

I NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ

LUẬT DÂN SỰ 2015:

1 Hợp đồng dân sự:

Được quy định tại điều 385 bộ luật Dân sự 2015: ”Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Hợp đồng dân sự thể hiện nét cơ bản:

(1) Sự thỏa thuận của các bên

(2) Làm phát sinh hậu quả pháp lý (xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự)

Sự thỏa thuân là yếu tố bắt buộc phải có trong hợp đồng Khi giao kết hợp đồng bao giờ củng có ít nhất của hai bên Hợp đồng được thiết lập khi có

sự thỏa thuận của các bên, tức là khi giao kết phải có sự thống nhất ý chí giữa

Trang 2

các bên trong việc làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định Muốn có sự thỏa thuận các chủ thể phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định để chủ thể có thể nhận biết ý chí của nhau, để cùng bàn bạc đi đến sự thống nhất ý chí

Có một số trường hợp tuy không có sự bàn bạc giữa các bên mà một bên đơn phương ấn định các điều khoản của hợp đồng, còn bên kia có chấp nhận hay không chấp nhận Như vây không có nghĩa là không có sự thỏa thuận mà

sự thỏa thuận đây đã được các bên đồng ý hay không đồng ý trong khi giao kết hợp đồng

Sự thỏa thuận của các bên mới chỉ là điều kiện cần chứa chưa đủ để hình thành hợp đồng Nếu sự thỏa thuận của các bên không nhăm mục đích tạo lập

ra hiệu lực pháp lý thì cũng không hình thành hợp đồng Có những thỏa thuận không làm phát sinh một nghĩa vụ pháp lý dân sự

Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 có nêu lên hệ thống các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự trong hệ thống căn cứ đó hợp đồng dân sự đóng vai trò quan trọng nhất Hợp đồng luôn luôn là phương tiện phổ biến nhất để xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự

(a) Trong khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc của giao

kết hợp đồng được quy định tại khoản 2,3 điều 3 Bộ luật dân sự 2015 quy định một số nguyên tắc cơ bản như sau:

“khoản 2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyên, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức

xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và được chủ thể khác tôn trọng Khoản 3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.”

(b).Nguyên tắc đầu tiên cơ bản nhất của hợp đồng bao giờ cũng là

nguyên tắc tự do của các bên ký kết hợp đồng Quyền tự do định đoạt việc tham gia hay không tham gia ký kết hợp đồng Đó là năng lực hành vi dân sự cho phép mọi chủ thể được tham gia vào nhiều hợp đồng dân sự khác nhau Việc tham gia hay không tham gia vào giao kết hợp đồng nào đó phải xuất phát

từ nhu cầu của mỗi chủ thể Mọi sự ép buộc trái quy định của pháp luật xâm phạm quyền công dân thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu

1 Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử, được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản

2 Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng

3 Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực

Trang 3

4 Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

5 Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự

(c) Chủ thể tham gia hợp đồng giao dịch dân sự phải có các yếu tố:

1 Năng lực pháp luật là yếu tố quan trọng trong để chủ thể tham gia giao

dịch dân sự quy định tại điều 16 bộ luật dân sự 2015, “Năng lực pháp luật dân

sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.”

2 Năng lực hành vi dân sự là môt điều kiện quan trọng trong để chủ thể tham gia giao dịch dân sự, pháp luật yêu cầu chủ thể có năng lực hành vi dân

sư khi giao dịch dân sự thì bản chất giao dịch mới được đảm bảo quy định tại khoản 2 điều 20 bộ luật dân sự năm 2015 “ Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của

Bộ luật này.”

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản để xác lập hợp đồng thì một bên chủ thể hiện ý chí của mình cho bên kia biết để cùng tham gia Ý chí của một bên được thể hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu bên kia giao kết hợp đồng với mình hay còn được đề nghị giao kết hợp đồng Theo quy định tại

Điều 386 BLDS 2015 “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).

Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.”

Ngày nay, trong thời đại phát triển thì thông tin được lan truyền bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua tư điện tử, thư tay và các phương tiện khác Đặc biệt kinh doanh qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để quảng bá hàng hóa cho hàng đạt hiệu quả cao Để ràng buộc trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng điều 386 bộ luật dân sự 2015 Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp thường tận dụng các cơ hội để tiếp xúc khách hàng Đăc biệt khi hệ thống truyền hình, truyền thanh và internet phát triển thì thương mại điện tử có nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng Vì vậy pháp luật có nhưng ràng buộc các doanh nghiệp quảng cáo trên truyền hình,truyền thanh, trên điện thoại di động… khi đưa ra những lời quảng cáo có tính chất đề nghị giao kết hợp đồng thi thông tin quảng cáo có giá trị pháp lý khoản 1 điều 386 Bộ luật

Trang 4

dân sự 2015 từ “Hoăc tới công chúng”, đây là căn cứ để xác định lời đề nghị giao kết hợp đồng của cá nhân, doanh nghiệp quảng cáo bằng tờ rơi, trên phương tiện thông tin đại chúng, trên điện thoại di động… Tổ chức cá nhân đưa ra cam kết phải trách nhiệm về nội dung cam kết đó

Khi chuẩn bị giao kết hợp đồng thì các thông tin liên quan đến đối tượng, chủ thể … của hợp đồng là quan trọng, qua các thông tin mà một bên cung cấp cho bên kia biết, bên tiếp nhận thông tin sẻ phân tích đánh giá sự ảnh hưởng của thông tin đó đối với việc tham gia hợp đồng, nên bên cạnh thông tin đó việc tham gia hợp đồng, nên bên nhận thông tin sẻ đưa ra quyết định giao kết hoặc không giao kết hợp đồng đó Quy định tại điều 387 Bộ luật dân sự 2015,

về thông tin trong giao kết hợp đồng “ Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết

Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.”

Trong việc giao kết hợp đồng thì sự minh bạch các thông tin liên quan đến đối tượng giao dịch có ý nghĩa quan trọng Đặc trong sản xuất kinh doanh thì thông tin đối với quá trình sản xuất hàng hóa, thông tin về chủ thể sản xuất hàng hòa, về khả năng sử dụng của hàng hóa hoặc có thông tin khác ảnh hưởng đến hậu quả của việc giao kết hợp đồng thì các bên cần phải thông báo cho nhau biết để quyết định giao kết hợp đồng Nhưng thông tin bí mật kinh doanh

mà một bên khi giao kết hợp đồng thì cần phải được giữ kín không được tiết lộ cho người thư ba biết, không được sử dụng thông tin bí mật đó trong hoạt động kinh doanh của mình Trường hợp sử dụng hoặc để lộ bí mật kinh doanh đó thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của luật Sở hữu trí tuệ

Khi giao kết hợp đồng các bên cần phải thực hiện nguyên tắc thiện chí, trung thực, nên trong thời hạn đề nghị giao kết hợp đồng mà có thông tin làm ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì cân phải thông báo cho bên kia biết để đưa ra quyết định phù hợp

Việc cung cấp thông tin của các bên có ý nghĩa trong việc giao kết hợp đồng Sau khi nhận được thông tin do một bên cung cấp, các bên thỏa thuận về nội dung hợp đồng và giao kết dưới một hình thức do các bên thỏa thuận trừ trường hợp luật quy định khác Thông thường, sự im lặng không được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng, tuy nhiên, các bên thỏa thuận sự im lặng là việc chấp nhận giao kết hợp đồng Để xác định rõ ý chí của các bên để nghị giao

kết hợp đồng ,khoản 2, điều 393 Bộ luật dân sự năm 2015 “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.

Chấp nhận giao kết hợp đồng là sự đồng ý tham gia vào hợp đồng , việc chấp nhận lời đề nghị được thể hiện thông qua lời nói hoặc văn bản, tuy nhiên sự im lăng của một bên cũng được coi là chấp nhận đề nghị trong trường hợp có thỏa thuận hoặc do thói quen mà các bên đã thực hiện liên tục trong thời gian dài

Trang 5

Sau khi các bên thỏa thuận về điều khoản của hợp đồng được giao kết và

sẻ làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng Hợp đồng giao kết bằng hình thức khác nhau bằng hành vi, bằng lời nói, văn bản Tuy nhiên, có những hợp đồng, sự in lăng có thể là sự đồng ý giao kết hợp đồng cho nên Điều 400 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng có sự bổ sung tại khoản 2 quy định sự im lặng là chấp nhận giao kết hợp đồng và hợp đồng được giao kết nếu các bên có sự thỏa thuận sự im lặng là chấp nhận đề nghị trong thời hạn, thì kết thúc thời hạn đó thì các bên không trả lời thì được coi là giao kết hợp đồng

(d) Hình thức hợp đồng là phương tiện ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội

dung của hợp đồng Đó là phương tiện ghi nhận các điều khoản mà các bên đã cùng nhau thống nhất cam kết Được quy định tại điều 119 Bộ luật dân sự năm

2015 có quy định hình thức của giao dịch dân sự:

“1 Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc băng hành vi cụ thể.”

(1) Hình thức bằng lời nói:

Hình thức bằng lời nói, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng Hình thức hợp đồng bằng lời nói được coi là độ xác thực thấp nhất Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao kết bằng lời nói với nhau bất kỳ bên nào củng có thể phủ nhận tất cả những cam kết trước dây của mình

Hình thức giao kết hợp đồng bằng lời nói được áp dụng trong những trường hợp các bên tham gia giao dịch hợp đồng đã có độ tin cậy lẫn nhau Độ tin cậy giữa các chủ thể thường được xác lập thông qua các mối quan hệ ruột thịt, quan hệ bạn bè , đồng nghiệp Hình thức bằng lời nói được áp dụng đối với những hợp đồng với giá trị nhỏ

(2) Hình thức bằng văn bản:

Các bên có ký kết hợp đồng dưới hình thức cùng nhau lập một văn bản viết Hình thức hợp đồng bằng văn bản mang tính xác thực hơn so với hình thức hợp đồng bằng lời nói Trong văn bản đó các bên ghi đầy đủ những nội dung thỏa thuận, cùng ký tên xác nhận vào văn bản Văn bản hợp đồng thường được soạn thành hai hay nhiều bản gốc giống nhau, đều phải có chữ ký của các bên, mỗi bên được giữ ít nhất một bản để thực hiện Đối với hình thức hình thức ký kết hợp đồng băng văn bản được quy định tại khoản 2 điều 119 Bộ luật

dân sự năm 2015: “ Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký phải tuân theo quy định đó.” với quy định này ta thấy hợp đồng bằng văn bản thông thường và

hợp đồng văn bản có chứng nhận của các tổ chức hành nghề công chứng hoăc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền Hợp đồng băng văn bản

có chứng nhận,chứng thực được coi là hình thức mang tính xác thực cao nhất

và thường được pháp luật quy định đối với các trường hợp.(1) Đối với hợp đồng tinh chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp.(2)Đối tượng là tài sản nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát

Trang 6

(3) Hình thức hợp đồng bằng hành vi:

Hình thức này thì chỉ cần các bên thực hiện một hoặc một vài hành vi là nghĩa vụ của hợp đồng đã được coi là giao kết

Thông thường các bên giao kết hợp đồng bằng một hình thức nhất định như lời nói văn bản Nhưng có trường hợp khi giao kết hợp đồng bằng lời nói, sau đó các bên ghi lại nội dung bằng văn bản đẻ phù hợp với thực tế giao kết

hợp đồng Điều 400 Bộ luật dân sự 2015 “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.

Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.

Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.

Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.” Bổ sung nguyên tắc xác định thời điểm giao kết hợp đồng khi các bên sử

dung hình thức giao kết và hình thức xác lập hợp đồng khác nhau nhưng trường hợp giao kết hợp đồng khi các bên sử dụng hình thức giao kết và hình thức xác lập hợp đồng khác nhau như trường hợp giao kết hợp đồng băng lời nói và sau

đó xác lập bằng văn bản thì thời điểm chấp nhận đề nghị là thời điểm thỏa thuận xong nội dung hợp đồng

2 Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:

Trình tự giao kết hợp đồng dân sự: là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏa ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhau xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau, xác định từng nội dung cụ thể của hợp đồng quá trình giao dịch dân sự chính thức được bắt đầu khi các bên đã xác định rõ được nhu cầu giao dịch củ mình Quá trình đó được mô hình hóa thông qua hai giai đoạn;

a) Đề nghị giao kết hợp đồng (quy định tại điều 386 Bộ luật dân sự năm 2015).

Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi nhất định Chỉ có như vậy bên đối tác mới có thể nhận biết được ý muốn của họ Và từ đó mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia ý muốn tham gia giao kết với người đó trong một hợp đồng dân sự Không phải lời đề nghị bất kì nào cũng được coi là đề nghị ký kết hợp đồng để cho lời đề nghị đó được coi

là lời đề nghị giao kết hợp đồng thì trong đó phải chứa đựng một số yếu tố cơ bản

Trang 7

(1) Đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ được nguyện vọng muốn đi đến giao kết hợp đồng của bên đề nghị

(2) Trong đề nghị giao kết hợp đồng phải chứa toàn bộ điều kiện cơ bản của hợp đồng

(3)Trong đề nghị giao kết hợp đồng phải xác định rỏ bên được đề nghị Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện nhiều cách khác nhau Người

đề nghị có thể trực tiếp với người được đề nghị để trao đổi, hoặc qua điện thoại… trong trường hợp này bên được đề nghị phải trả lời ngay, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời hạn trả lời hiệu lực của đề nghị được bắt đầu hoặc chấm

b) Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Đó là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kết hợp đồng với người đã đề nghị Không phải bất cứ câu trả lời nào của bên được đề nghị cũng đều được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng Câu trả lời của bên được đề nghị được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng khi người được đề nghị chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện các nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng Nếu câu trả lời không đáp ứng được 1 trong 2 yêu cầu đó thì sẽ được coi là lời đề nghị mới và cần được sự phúc đáp của phía bên kia Quá trình đó có thể được lặp đi lặp lại cho đến khi có được chấp nhận giao kết hợp đồng đúng yêu cầu thì hợp đồng được coi là giao kết

3 Nội dung của hợp đồng:

Quy định tại khoản 2 điều 398 Bộ luật dân sự năm 2015 “đối tượng

của hợp đồng Số lượng ,chất lượng Giá phương thức thanh toán.Thời hạn, địa điểm ,phương thức thực hiện hợp đồng Quyền, nghĩa vụ của các bên Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng,phương thức giải quyết tranh chấp”

Nôi dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định thẩm quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng Để nhận biết được một hợp đồng vá được pháp luật công nhận, bảo vệ hợp đồng thi các bên phải thỏa thuận được với nhau về một số nội dung quan trọng nhất định

Các điều khoản cơ bản là những điều khoản mà nếu thiếu chúng thì hợp đồng không thể được coi là đã giao kết điều khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định, ngoài ra còn bao gồm cả những điều khoản mà các bên tự cảm thấy cần thiết quy định với nhau là các điều khoản cơ bản thể hiện rằng, chúng nêu lên bản chất của loại hợp đồng đó.Không có chúng thì hợp đồng không được xếp vào loại này hay loại khác

Các điều khoản bảo hiểm được quy định tại các văn bản pháp luật Tổng hợp các điều kiện cơ bản tạo thành nội dung chủ yếu của hợp đồng Bên cạnh những điều khoản cơ bản do pháp luật quy định còn có những điều khoản mà được coi là cơ bản theo đề nghị của một trong các bên ký kết hợp đồng

Trang 8

Khác với các điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới việc hợp đồng có được coi là ký kết hay không Nếu khi giao kết hợp đồng các bên không thỏa thuận những điều khoản này thì khi có phát sinh tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật

Thực ra pháp luật không tạo ra nội dung của hợp đồng, mà chỉ điều chỉnh các quan hệ của hợp đồng do các bên xác lập Cũng như các điều khoản khác của hợp đồng, các diều khoản thông thường được các bên thỏa thuận thì khi phát sinh tranh chấp sẽ áp dụng các quy phạm tùy nghi để điều chỉnh Ngoài ra, ngoại trừ các điều khoản pháp luật có nội dung mang tính chất bắt buộc, các bên có thể thỏa thuận với nhau những nội dung khác với nội dung quy định trong pháp luật

Đối với mọi loại hợp đồng thì điều khoản về đối tượng hợp đồng bao giờ cũng được coi là điều khoản cơ bản hợp đồng không thể được coi là ký kết nếu như trong đó chưa xác định rõ đối tượng của hợp đồng Nếu đối tượng của hợp đồng là tài sản thì tài sản đó phải được phép giao dịch Nếu đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện thì công việc đó phải không bị pháp luật cấm

Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận hay không thỏa thuận tất cả các điều khoản ghi trên Các bên có thể bổ sung vào hợp đồng những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy cần thiết

Số lượng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định đối tượng của hợp đồng Trong một số hợp đồng, điều khoản hợp đồng đóng vai trò rất quan trọng

Yêu cầu về chất lượng thường do các bên thỏa thuận Trong một số loại hợp đồng, chất lượng được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và giám sát

Thời hạn của hợp đồng thường được coi là yếu tố quan trọng của hợp đồng thời hạn xác định khoản thời gian tồn tại của chính hợp đồng,khoản thời gian mà các bên phải thực hiện cho nhau các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thời hạn được xác định bằng hai cách chính: bằng thời điểm cụ thể theo lịch… và bằng phương pháp tính độ dài thời gian…

Thời hạn chung của hợp đồng được xác định một cách gián tiếp thong qua thời hạn thực hiện những nghĩa vụ của hợp đồng

Trong quan hệ nghĩa vụ thì quyền của một bên tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Do vậy, cùng một thời hạn nhưng đối với một bên của hợp đồng làm phát sinh quyền, nhưng đối với bên kia lại phát sinh nghĩa vụ

Giá cả của hợp đồng đóng vai trò công cụ chủ yếu để xác định giá trị tương đương của đối tượng hợp đồng giá cả thong thường được các bên tự thỏa thuận hoặc các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ 3 trung gian định giá Đối

Trang 9

với một số mặt hàng chiến lược hay một số dịch vụ quan trọng thì nhà nước có quy định khung giá chuẩn mang tính bắt buộc các bên hoặc thỏa thuận với nhau giá cả cụ thể, hoặc thỏa thuận phương pháp để tính giá cho đối tượng của hợp đồng trong thời hạn thực hiện hợp đồng

4 Địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng:

Quy định tại điều 399 Bộ luật dân sự năm 2015.

“ Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.”

Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết

Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó

Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng

Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản

c Hiệu lực của hợp đồng:

Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác

Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy

bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật

5 Phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng:

Sau khi hợp đồng được giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp luật của hợp đồng các chủ thể liên quan phải tôn trọng và thực hiện đúng nội dung của hợp đồng Đặc biệt đối với các bên giao kết hợp đồng thị phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đã phát sinh từ hợp đồng Măc dù vây, trong thời hạn thực hiện hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận sủa đổi, hủy bỏ, đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại điều 434, 424, 425, 426 và 428 Bộ luật

dân sự năm 2015 Khoản 2 điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định.” Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.” Thông thường hợp

đồng, khi hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Trường hợp vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ Tuy nhiên, có những hợp đồng , thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm xác lập đối kháng với người thư ba khác nhau nên khi hợp đồng có hiệu lực thì buộc các bên phải thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền Trường hợp nến có tranh chấp với người thứ ba thì không làm phát sinh hiệu lực đối kháng Quy định điều kiện cho các bên đúng nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng giao kết được biệt tạo điều kiện thuận lợi cho bên có quyền trong việc xử lý tài sản bảo đảm khi không đăng ký biện pháp bảo đảm Hợp đồng được giao kết dưới nhiều hình thức khác nhau do thỏa thuận theo pháp luật quy định Hợp đồng

Trang 10

giao kết là thể hiện ý chí chung của các bên, do đó, thời điểm giao kết các bên phải thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng Khi hợp đồng có hiệu lực, một bên không được tự ý sửa đổi hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận hoăc luât có quy định

Sau khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung của hợp đồng đã được giao kết Mặc dù vậy, có những trường hợp do các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc dung câu chữ có thể biểu hiện theo nhiều nghĩa… dẫn đến sự việc thực hiện các điều khoản đó gặp khó khăn Vì vậy, để thống nhất cách hiểu và các bên cần phải giải thích một nội dung đó cho rõ ràng hoặc thống nhất các hiểu về nội dung đó để tiếp tục hợp đồng việc giả thích hợp đồng dựa trên nhiều căn cứ như giải thích theo ngữ pháp, theo tập quán nơi giao kết hợp đồng… Tuy nhiên, vấn đề quan trọng khi giả thích hợp đồng là phải căn cứ vào ý chí của các bên để giải thích cho phù hợp với nguyện vọng của các bên nhằm đạt được mục đích tham gia hợp đồng

khoản 1 điều 404 Bộ luật dân sự năm 2015.”Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn

bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng” Hợp đồng là sự

thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, nên khi giải thích điều khoản của hợp đồng thì phải xem xét ý chí đích thực của các bên đã được thể hiện trong sút quá trình chuận bị giao kết và trong khi thực hiện hợp đồng Ý chí của các bên

có thể đã được thể hiện khi thỏa thuận về nội dung của hợp động hoặc thông qua các hành vi thực hiện hợp đồng có thể biết được ý chí đó

6 Các loại hợp đồng:

a Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ với

nhau Quy định tại khoản 1 điều 402 Bộ luật dân sự năm 2015.“ Hợp đồng

song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau” Trong nội

dung Hợp đồng song vụ mỗi bên chủ thể là người vừa có quyền vừa có nghĩa vụ, quyền dân sự của các bên này tương ứng với nghĩa vụ bên kia và ngược lại.

b Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng trong đó một bên chỉ có quyền và bên kia chỉ có nghĩa vụ Quy định tại khoản 2 điều 402 Bộ luật dân sự năm

2015.“ Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ;”.

Như vậy, cơ sở để xác định một hợp đồng có tính chất song vụ hay đơn vụ chính là mối liên hệ giữa quyền và nghĩ vụ của các bên tại thời điểm hợp đồng dân sự có hiệu lực.

c Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực của nó không phụ thuộc vào hợp đồng phụ Quy định tại khoản 3 điều 402 Bộ luật dân sự năm

2015 “Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp

đồng phụ;” Hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp

luật quy định thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên từ thời điểm giao kết hợp đồng

d Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp

đồng chính Quy định tại khoản 4 điều 402 Bộ luật dân sự năm 2015 “Hợp

đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính” Trước hết

Ngày đăng: 03/04/2019, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w