Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cơ quan, chính quyền, người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng chưa cao; các cơ sở trồng trọt, ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THỰC TRẠNG THI HÀNH LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM 2010 – NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Kiều Vân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội và
sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS Chu Thị Hoa về đề tài luận văn: "Thực trạng thi hành Luật An toàn thực phẩm 2010 - những bất cập và hướng hoàn thiện"
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Trường Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Trường
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Chu Thị Hoa đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Kiều Vân
Trang 51.4 Các yếu tố tác động đến việc thi hành pháp luật an toàn thực phẩm 13
1.4.1 Yếu tố kinh tế và lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh 14
1.4.3 Yếu tố ý thức pháp luật và đạo đức của các chủ thể tham giam
quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm 17
1.4.4 Yếu tố hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có
1.4.5 Yếu tố kỹ thuật công nghệ và tài chính kính phí 19
Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM
2.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn
2.2 Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm và một số quy định
đặc thù liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm 23
2.3 Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực
phẩm, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn
2.4 Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm 28
2.5 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm 33
Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt,
Not Bold, Font color: Auto
Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt,
Not Bold, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color:
Trang 6Chương 3: THỰC TRẠNG THI HÀNH LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM
2010 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 39
3.1 Thực trạng thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010 tại Việt
3.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật 64
PHỤ LỤC
Formatted: Font: Times New Roman, 13 pt,
Not Bold, Font color: Auto, Check spelling and grammar
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm là vấn đề có thể tác động trực tiếp thường xuyên hàng
ngày đến sức khỏe của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại,
du lịch và an sinh xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình hội nhập quốc tế và về lâu dài
còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc [14] Theo số liệu của Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) ngày 2/4/2015, mỗi năm trên thế giới có 582 triệu ca mắc phải một
trong 22 căn bệnh truyền qua thực phẩm, 351.000 người chết có liên quan đến an
toàn thực phẩm Có thể thấy an toàn thực phẩm là mối quan tâm chung của thế giới
Công tác bảo đảman toàn thực phẩm được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và
toàn thể xã hội rất quan tâm và đã có nhiều tiến bộ trong những năm qua Để thực
hiện điều đó có thể bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng một trong giải pháp mũi
nhọn, lâu dài là xây dựng và hoàn thiện được hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
về quản lý an toàn thực phẩm Hệ thống pháp luật về an toàn thực phẩm đã được
ban hành khá đồng bộ Luật an toàn thực phẩm được Quốc hội thông qua ngày
17/6/2010, có hiệu lực từ 1/7/2011 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an
toàn thực phẩm, và mới đây thay thế cho Nghị định này là Nghị định số
15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm
có hiệu lực từ ngày 2/2/2018, Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy
định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm Và mới nhất là Luật số
28/2018/QH14 ngày 15/6/2018 sửa đổi bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan
đến quy hoạch trong đó có sửa đổi bổ sung một số điều của Luật an toàn thực phẩm
năm 2010, có hiệu lực từ 01/01/2019
Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương cũng
đã bản hành gần 70 văn bản quy phạm pháp luật đã ghi nhận tương đối toàn diện về
Formatted: Font: 14 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Deleted: vệ sinh Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 9quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm Tạo
được nền tảng pháp lý nên bên cạnh giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật công
tác phối hợp liên ngành được tăng cường và ngày càng có hiệu quả; công tác giáo
dục truyền thông được đẩy mạnh, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, nâng
cao trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và người tiêu
dùng, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề an toàn thực phẩm vẫn
còn nhiều bất cập như là khả năng áp dụng pháp luật còn nhiều hạn chế, nội dung
điều chỉnh còn mang tính nguyên tắc, khó áp dụng Hơn nữa việc đưa các chế tài
mạnh mẽ để xử lý các hành vi vi phạm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh thực phẩm còn chưa được chú trọng làm cho pháp luật mất tính giáo dục, răn
đe Nhiều hành vi đã xác định rõ chế tài xử lý nhưng mức phạt quá nhẹ khiến cho
nhiều cơ sở kinh doanh sẵn sàng nộp phạt để rồi tiếp tục tái phạm Hay có thể dễ
dàng nhận thấy công tác quản lý chưa kiểm soát và ngăn chặn triệt để tình trạng một
số nơi rau quả bị ô nhiễm hóa chất độc hại; thịt gia súc, gia cầm, thủy sản của một
số cơ sở sản xuất còn dư lượng kháng sinh, hóc môn; việc sử dụng các hóa chất,
phụ gia không đúng quy định trong chế biến, bảo quản thực phẩm; việc kinh doanh
thực phẩm và dịch vụ ăn uống tại các chợ, đường phố, khu du lịch, lễ hội, trường
học, bệnh viện chưa được quản lý tốt, ngộ độc thực phẩm tại các bếp ăn tập thể, các
khu công nghiệp vẫn xảy ra làm ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân và ảnh hưởng
tới phát triển kinh tế, du lịch, văn minh đô thị Tình trạng hàng thực phẩm giả, kém
chất lượng, hàng thực phẩm nhập lậu qua biên giới chưa được kiểm soát chặt chẽ;
các vi phạm pháp luật chưa được xử lý kịp thời, nghiêm minh
Nguyên nhân của tình trạng trên một phần là do nhận thức và ý thức trách
nhiệm của các cơ quan, chính quyền, người sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng
chưa cao; các cơ sở trồng trọt, chăn nuôi và chế biến thực phẩm chủ yếu vẫn ở trình
độ thấp; hệ thống tổ chức, quản lý an toàn thực phẩm ở Việt Nam còn chưa hoàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 10chỉnh, năng lực quản lý còn hạn chế, đặc biệt là chính quyền các cấp chưa quan tâm
đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác quản lý an toàn thực phẩm ở địa
phương Một phần là do tính khả thi cũng như tính ổn định của Luật an toàn thực
phẩm năm 2010 còn chưa cao, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
áp dụng, cho đến nay Luật mới được sửa đổi bổ sung một số điều, tuy nhiên việc
sửa đổi là chưa đáp ứng được đòi hỏi này (Sửa đổi bổ sung 07 điều của Luật an
toàn thực phẩm năm 2010) Việc ban hành các văn bản dưới luật của các cơ quan
quản lý còn chậm trễ, số lượng văn bản rất lớn, trong khi nguồn lực để rà soát hệ
thống pháp luật hiện hành còn hạn chế nên tính thống nhất trong một số quy định của
pháp luật còn chưa đảm bảo, dẫn đến việc thi hành Luật còn gặp rất nhiều khó khăn
Vì những lẽ đó, việc nghiên cứu đề tài: "Thực trạng thi hành luật an toàn
thực phẩm năm 2010 - những bất cập và hướng hoàn thiện" là một vấn đề cấp
bách, mang nhiều ý nghĩa cả về lý luận cũng như trên thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho tới thời điểm này, an toàn thực phẩm mặc dù là một trong những vấn
đề quan trọng đối với đời sống như vậy, nhưng vẫn còn rất ít các công trình nghiên
cứu Vấn đề này chủ yếu mới chỉ được đề cập đến như một phần nhỏ trong các bài
viết, khóa luận, luận văn Tập trung chủ yếu là nhóm các bài viết còn các nghiên
cứu khoa học khác cũng rất ít đề cập đến việc nghiên cứu về pháp luật an toàn thực
phẩm đặc biệt là luật an toàn thực phẩm với tư cách một công trình riêng biệt
Liên quan đến đề tài, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
- Nhóm công trình luận văn, luận án
Luận văn thạc sĩ luật học: "Thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm ở cấp
phường trên địa bàn thành phố Hà Nội", của Trần Mai Vân, năm 2013; Luận văn
thạc sĩ luật học: "Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn
Hà Nội", của Lê Thị Linh, năm 2016; Luận văn thạc sĩ luật học: "Tội vi phạm quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm trong luật hình sự Việt Nam - một số vấn đề lý luận và
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Condensed by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 11thực tiễn", của Hoàng Trí Ngọc, năm 2009; Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm", của Nguyễn Ngân Giang, năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: "Pháp luật về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong hoạt động thương mại ở Việt Nam", của Đặng Công Hiến, năm 2012; Luận văn thạc sĩ luật học: "Trách nhiệm doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn - vệ sinh thực phẩm theo pháp luật Việt Nam", của Võ Thị Trâm Anh, năm 2017
- Nhóm công trình sách, bài viết, tài liệu tham khảo
Sách chuyên khảo: "Vệ sinh và an toàn thực phẩm" của Đàm Sao Mai, Trần
Thị Mai Anh, Vũ Chí Hải, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010; Sách:
"Vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm đối với đời sống văn hóa - sức khỏe" của Trần Ngọc Trinh, Nguyễn Thị Thu Cúc, Nhà xuất bản Tổng hợp Đồng Nai, năm 2003 ; Sách: "Những điều cần biết về vệ sinh an toàn thực phẩm", của Hà Thị Anh Đào, Phan Thị Kim, Nhà xuất bản Y học, năm 1999; Sách: "Vệ sinh an toàn thực phẩm", của Nguyễn Văn Huân, Nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2009; Bài viết: "Ăn ruốc hay ăn thuốc độc?" Báo Phụ nữ Thủ đô, trang 14, năm 2013; Bài viết: "Những vấn đề cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn thực phẩm đối với sức khỏe của con người hệ thống quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về phụ gia thực phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm", của Quí Long, Kim Thư, trang 56-59, Nhà
xuất bản Lao động xã hội, năm 2010
Các công trình nghiên cứu kể trên đã đề cập và phân tích ở các cấp độ khác nhau về những vấn đề lý luận, hệ thống hóa quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề an toàn thực phẩm Tổng hợp số liệu thống kê thực tiễn để từ đó đưa
ra những bất cập cùng những giải pháp kiến nghị đề xuất hoàn thiện Một số công trình cũng đưa ra các quan điểm về các giải pháp khác tăng cường công tác quản lý cũng như bảo đảm an toàn thực phẩm Luận văn sẽ tiếp thu có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học nói trên làm nền tảng lí luận cho đề tài
Trang 12Tuy nhiên, từ thời điểm Luật an toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu lực
phần lớn các nghiên cứu kể trên nghiên cứu vấn đề an toàn thực phẩm đặt trong
một lĩnh vực hay địa bàn nhất định, chưa có công trình thể hiện nghiên cứu toàn
diện về thực thi Luật an toàn thực phẩm năm 2010 Do đó, trên cơ sở các nghiên
cứu này, tác giả tiếp tục phân tích sâu, đưa ra những bình luận, nhận định khoa
học và kiến nghị, giải pháp riêng của mình để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về an
toàn thực phẩm
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về việc
thi hành Luật an toàn thực phẩm năm 2010, đánh giá thực trạng của quá trình thi
hành pháp luật an toàn thực phẩm, qua đó tìm ra những điểm còn bất cập vướng
mắc để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao bảo đảm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định
của Luật an toàn thực phẩm năm 2010 và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: trong khả năng của tác giả và trong khuôn khổ của
một luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số nội
dung các quy định cơ bản của Luật An toàn thực phẩm năm 2010; những vấn đề khi
áp dụng Luật an toàn thực phẩm năm 2010 bao gồm cả các văn bản hướng dẫn thi
hành, để từ đó tìm ra những điểm còn bất cập, chồng chéo và đưa ra kiến nghị hoàn
thiện pháp luật
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Deleted: pháp luật đặc biệt là luật vệ sinh an toàn Deleted: đó
Deleted: và từ Deleted: vệ sinh
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 135 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề an toàn thực phẩm
Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: sử
dụng kết hợp các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, nghiên cứu tài liệu,
nghiên cứu bản án, phương pháp suy luận logic, phương pháp quy nạp diễn dịch và
phương pháp phỏng vấn các chuyên gia để có được những quan điểm của họ về vấn
đề tác giả quan tâm… tất cả các phương đều được sử dụng kết hợp nhằm làm sáng
tỏ các vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về Luật an toàn
thực phẩm năm 2010 nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về an
toàn thực phẩm Do đó, luận văn có những đóng góp về mặt lý luận như sau:
- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm;
- Luận văn làm rõ nội dung cơ bản cũng như các bất cập trong quy định
pháp luật Việt Nam hiện nay về an toàn thực phẩm;
- Luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn thực phẩm
Ý nghĩa thực tiễn:
- Với kết quả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật an toàn thực phẩm
và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay, luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam liên quan đến an toàn thực phẩm
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia, sinh
viên, học viên cao học tại các Trường Đại học và những người quan tâm nghiên cứu
về pháp luật an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay
Deleted: vệ sinh Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm
Chương 2: Những nội dung cơ bản của luật an toàn thực phẩm năm 2010
Chương 3: Thực trạng thi hành luật an toàn thực phẩm năm 2010 và một số
kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color: Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Italic, Font color:
Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1 Thực phẩm và an toàn thực phẩm
Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm để
duy trì sự sống Thực phẩm là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với mỗi
con người mỗi ngày Theo quy định tại khoản 20 Điều 2 Luật an toàn thực phẩm
năm 2010 thì thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc
đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá
và các chất sử dụng như dược phẩm
An toàn thực phẩm hay an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn
khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng
những phương pháp phòng ngừa, chống bệnh tật do thực phẩm gây ra An toàn thực
phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực
hiện để tránh các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe An toàn thực phẩm
luôn là vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên toàn cầu bởi vai trò quan trọng
bậc nhất đó chính là sức khỏe, tính mạng con người, sự tồn tại và phát triền giống
nòi Trước đây, theo Pháp lệnh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-QBTVQH11 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, an toàn thực phẩm được hiểu là việc phải thực hiện
các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm cho thực phẩm không gây hại đến
sức khỏe và tính mạng con người Tuy nhiên đề phù hợp với tiến trình hội nhập
quốc tế sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
vào ngày 01/01/2007, khái niệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp
hơn được thể hiện trong Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2011, theo đó an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại
đến sức khỏe, tính mạng con người
Có thể hiểu một cách đơn giản an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề
cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo, an toàn đối với thực phẩm nhằm bảo vệ cho
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Vietnamese
Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color:
Auto, English (U.S.)
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 16sức khỏe của người tiêu dùng Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu hằng ngày của con
người, cung cấp cho con người nguồn dinh dưỡng, năng lượng để duy trì sự sống và
phát triển Tuy nhiên khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc an toàn thực phẩm chưa đốt
thì thực phẩm lại là nguồn bệnh nguy hiểm gây ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm
trọng đến sự phát triển của con người và xã hội Như vậy an toàn thực phẩm là tất
cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối,
vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn,
không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng
1.2 Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm
Nhà nước Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, pháp luật xã hội chủ
nghĩa là công cụ chuyên chính giai cấp, là phương tiện để bảo vệ lợi ích cho giai
cấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện những mục đích mà nhà nước và
nhân dân đề ra; mặt khác pháp luật là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội
mang tính quy phạm và tính bắt buộc chung để tổ chức quản lý các mặt khác nhau
của đời sống xã hội vì sự tồn tại và phát triển của mỗi con người và của cả xã hội
pháp luật còn là công cụ để bảo vệ công lý và công bằng xã hội Pháp luật là công
cụ để nhà nước quản lý hiệu quả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, là
phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước làm cho
đường lối đó có hiệu lực thi hành và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội; là
công cụ để cho nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, các cơ
quan, các nhân viên nhà nước và mọi công dân; là công cụ để bảo vệ lợi ích của nhà
nước, của xã hội, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tài sản,
danh dự, uy tín của các tổ chức Pháp luật tạo ra cơ sở pháp lý, khung pháp lý cho tổ
chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Pháp luật cũng là phương tiện để nhà nước
kiểm tra tính đúng đắn trong đường lối lãnh đạo chỉ đạo của mình đối với xã hội
Mặt khác, bắt nguồn từ nguồn gốc và vai trò của thực phẩm đối với con
người như vậy nên công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm có vị trí rất quan
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Condensed by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 17trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi đời sống kinh tế có phần được nâng
cao, cải thiện hơn Vấn đề an toàn thực phẩm là một vấn đề rất nóng, bao gồm là tất
cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối,
vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn,
không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vì vậy, an toàn thực phẩm
là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực
phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng
Tuy vậy, nhưng ở Việt Nam vấn đề an toàn thực phẩm vẫn đang diễn biến
hết sức phức tạp Thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về
các vụ ngộ độc, có nơi số lượng lên tới vài trăm người Theo thống kê của Bộ Y Tế
trong những năm gần đây, hàng năm có khoảng 200-600 vụ ngộ độc thức ăn,
khoảng 5000-7000 người mắc bệnh Trong đó có vài chục người chết Khoảng
20-30% là ngộ độc do hóa chất (chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, khoảng 50% là do vi
sinh vật, 14-20% do thức ăn có độc [38] Trong khi đó các vấn đề liên quan trực
tiếp đến sức khỏe, chất lượng an toàn thực phẩm là mối quan tâm hàng đầu của
người tiêu dùng Như vậy có thể thấy vấn đề an toàn thực phẩm hiện nay ở nước ta
còn nhiều tồn tại Các vụ ngộ độc thực phẩm vẫn thường xuyên xảy ra ở các thành
phố cũng như ở nông thôn và co chiều hướng gia tăng sau sau cao hơn năm trước
Nguồn gốc nguyên nhân gây ra ngộ độc là do môi trường sản xuất nông nghiệp gồm
đất, nước tưới tiêu không đảm bảo; kỹ thuật canh tác trong trồng trọt và chăn nuôi
còn nhiều bất cập như lạm dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc kháng
sinh, công nghệ sau thu hoạch như hóa chất sử dụng trong bảo quản, kỹ thuật bảo
quản cũng như thiết bị bảo quản, việc chế biến thực phẩm chưa tuân thủ các quy
định Đối với bất kì loại thực phẩm nào khi đưa ra thị trường cần được xác định rõ
về xuất xứ, ghi rõ những hàm lượng, chất lượng và chỉ dẫn rõ ràng để tiện dụng cho
người tiêu dùng Việc quảng cáo những thực phẩm cũng chưa được quản lý một
cách chặt chẽ dẫn đến nguy cơ gặp nhiều vấn đề sức khỏe trong tương lai
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 18Như vậy có thể thấy an toàn thực phẩm trong cả nước nói chung đang tạo
nhiều lo lắng cho người dân Trong khi chúng ta đang cố gắng tạo ra những ưu thế
về nhiều mặt để có nhiều lợi thế nhất để trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng
Vấn đề then chốt là làm thế nào để tạo được được hành lang pháp lý, xây được hệ
thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề an toàn thực phẩm tạo một sân chơi
bình đẳng, công bằng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đồng
thời tạo ra được những quy trình chuẩn mực vè an toàn thực phẩm cũng như xử lý
vi phạm về an toàn thực phẩm Có như vậy mới đáp ứng được vừa đòi hỏi quyền
được sử dụng được hưởng an toàn thực phẩm của người dân, vừa đáp ứng được việc
chuẩn hóa quy định pháp luật cho tiến trình hội nhập quốc tế
1.3 Khái niệm thi hành pháp luật và thi hành luật an toàn thực phẩm năm 2010
Có lẽ chưa bao giờ vấn đề an toàn thực phẩm lại được quan tâm đặc biệt
như trong thời gian gần đây Trên các mặt báo, các phương tiện thông tin đại chúng
liên tục đưa tin về các hiện tượng vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm Hệ
thống các văn bản pháp luật như: Luật An toàn thực phâlụađược Quốc Hội nước
Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2011; Nghị định 38/2012/ NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định
91/2012/NĐ- CP của Chính phủ ngày 08/11/2012 quy định xử phạt hành chính về
an toàn thực phẩm hay mới đây nhất là nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã tạo một
hành lang pháp lý cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm Tuy nhiên việc đưa các
văn bản này vào cuộc sống lại là một bài toán khó vì đây là việc mà các cấp, các
ngành và mọi tổ chức cá nhân phải thực hiện tốt việc thi hành pháp luật
Thi hành pháp luật là một trong bốn hình thức của thực hiện pháp luật (thực
hiện pháp luật bao gồm: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật
và áp dụng pháp luật), theo đó thi hành pháp luật về an toàn thlụa phẩm là việc các
chủ thể pháp luật về an toàn thực phẩm phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình
bằng hành động tích cực và chủ động
Formatted: Font: Times New Roman Bold, 13
pt, Font color: Auto, Condensed by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Deleted:
Deleted:
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Trang 19Các vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khoẻ, chất lượng an toàn thực phẩm
luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà chức trách và người tiêu dùng Bên cạnh
đó, tại các đô thị lớn với phần đông người tiêu dùng đang phải đối mặt với vô số
khó khăn trước những thách thức của xã hội Một trong những khó khăn đó là
nguồn cung cấp thực phẩm Các yếu tố: An toàn, cân bằng dinh dưỡng, hợp khẩu vị,
thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu và phong cách sống của nthụài tiêu dùng được
đặt ra những thách thức cho các nhà quản lý và cả chính người tiêu dùng
Trước tình hình này, hơn ai hết các cấp chính quyền ở địa phương là nơi
gần dân nhất cần phải có những động thái tích cực trong việc thi hành pháp luật về
an toàn thực phẩm Cần nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước của Ủy ban nhân
dân các cấp, đặc biệt là ở cấp xã, phường, cụ thể:
+ Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình với Hội đồng nhân dân cùng cấp, Ủy
ban nhân dân cấp trên ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật
địa phương Xây dựng và tổ chức thực hthụa quy hoạch vùng, cơ sở sản xuất thực
phẩm an toàn để bảo đảm việc quản lý được thực hiện trong toàn bộ chuỗi cung cấp
thực phẩm Chính quyền cơ sở phải là người chủ trì trong các hoạt động nâng cao
chất lượng an toàn thực phẩm gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
+ Nâng cao trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn thông qua
công tác quản lý điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất,
kinh doanh thực phẩm, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố, an
toàn thực phẩm tại các chợ, đặc biệt là các chợ cóc, chợ tạm trên địa bàn
+ Báo cáo với cơ quan cấp trên định kỳ và đột xuất về công tác quản lý an
toàn thực phẩm trên địa bàn để có hướng chỉ đạo giải quyết tích cực nhằm đảm bảo
dân sinh
+ Bố trí nguồn lực, nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm an
toàn thực phẩm trên địa bàn
+ Huy động sự quan tâm, phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể trong
các biện pháp giáo dục, tuyên truyền về an toàn thực phẩm nhằm nâng cao về nhận
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Trang 20thức và thực hành của người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm Các trạm
Y tế phải thể hiện vai trò tham mưu tích cực
+ Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch và đột xuất Xử
phạt các hành vi vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm theo đúng quy định của
pháp luật
Để làm tốt công tác quản lý về an toàn thực phẩm tại địa phương vấn đề
then chốt là làm thế nào để đưa các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm
gắn kết với đời sống, phù hợp với điều kiện thực tế để từng bước nâng cao chất
lượng thực phẩm, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, đóng góp tích cực vào phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước
Công tác đảm bảo an toàn thực phẩm để thực hiện tốt cần những nỗ lực rất
lớn của Chính phủ, các bộ ngành và của toàn xã hội Việc đưa Luật An toàn thực
phẩm vào cuộc sống có ý nghĩa quyết định với kết quả của công tác này Để phù
hợp với xu hướng quốc tế khi tham gia vào WTO một số khái niệm về an toàn
thực phẩm đã thay đổi được quy định cụ thể tại Điều 2 Luật An toàn thực phẩm
số 55/2010/QH12
Các khái niệm này đã thể hiện sự khác biệt với Pháp lệnh vệ sinh an toàn
thực phẩm năm 2003 được thể hiện rõ nét hơn, chi tiết hơn, là công cụ để góp phần
bảo vệ tốt hơn sức khỏe, tính mạng của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước
1.4 Các yếu tố tác động đến việc thi hành pháp luật an toàn thực phẩm
Thi hành pháp luật của chủ thể pháp luật nói chung và thi hành pháp luật an
toàn thực phẩm nói riêng chịu sự tác của rất nhiều yếu tố Xã hội không chỉ là sự
vận hành của hệ thống kinh tế mà còn là một tổng thể phức hợp của các mối quan
hệ đa dạng, sự tương tác lẫn nhau của các nhân tố kinh tế và nhân tố kinh tế, phi
kinh tế Các nhân tố phi kinh tế tác động đến pháp luật trong một chỉnh hợp thống
nhất và đa dạng, đan xen nhau Mỗi một hành vi của cá nhân có thể cùng lúc chịu
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Trang 21sự điều chỉnh của các yếu tố đạo đức, pháp luật, phong tục, tập quán, lối sống, tâm lý; tôn giáo, tín ngưỡng, đoàn thể mà cá nhân đó là thành viên Các yếu tố tác động đến việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm của công dân rất bao gồm:
Các yếu tố cơ bản như: điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa; đạo đức; phong tục, tập quán, nghệ thuật, các loại quy tắc xã hội khác; yếu tố lợi ích; thói quen, nếp nghĩ, lối sống; hệ thống chính sách, pháp luật; thái độ, cách thức phục vụ, thực thi pháp luật của các cơ quan và cá nhân công quyền; khả năng tiếp cận pháp luật, tiếp cận công lý; điều kiện và môi trường tự nhiên; địa lý; khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng;
kỹ thuật, khoa học và công nghệ; tâm sinh lý; tính cách; lối sống, lối tư duy Sau đây là những yếu tố cơ bản nhất tác động đến việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm:
1.4.1 Yếu tố kinh tế và lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh
Thứ nhất, yếu tố kinh tế trong sản xuất, kinh doanh
Yếu tố này bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế- xã hội, hệ thống các chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong thực
tế xã hội Nền kinh tế- xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội Ngược lại, nền kinh tế - xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm của các chủ thể pháp luật Yếu tố kinh tế là nền tảng của sự nhận thức, hiểu biết pháp luật và thực hiện pháp luật nên có tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm của các chủ thể pháp luật
Thực tế hiện nay cho thấy rằng điều kiện kinh tế- xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến lợi ích và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với pháp luật nói chung cũng như pháp luật an toàn thực phẩm nói riêng Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầng
Trang 22lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi, tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà nước Khi đó, niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật an toàn thực phẩm được củng cố, hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích cực, thuận lợi, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật an toàn thực phẩm hiện hành
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán
bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ
và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành như cầu tự giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ Điều đó giúp cho hoạt động thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm của các chủ thể mang tính tự giác, tích cực Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp còn gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm, đi ngược lại các giá trị, chuẩn mực pháp luật, như tệ quan liêu, của quyền,tham nhũng trong cán
bộ, viên chức nhà nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, thực phẩm tồn dư lượng chất hóa học…trong bộ phận người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, thực phẩm
Bên cạnh đó cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo
ra tâm lý thụ động, ỷ lại; do đó, nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh - chấp hành Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay
Trang 23với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó, sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm của các chủ thể trong các hoạt động sản xuất kinh doanh sinh hoạt và tiêu dùng Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm, vì đồng tiền mà người sản xuất kinh doanh, mua bán thực phẩm có thể bất chấp tất cả Đây là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi trái pháp luật an toàn thực phẩm, là môi trường cho các loại vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm phát triển
Thứ hai, yếu tố lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh
Là khoản chênh lệch thu được giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để sản xuất một sản phẩm tiêu dùng nhất định Đây là một chỉ tiêu mà hầu hết người sản xuất, kinh doanh trông đợi Lợi nhuận càng cao càng phản ánh mức độ thành công và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của họ Tuy nhiên trên thực tế thì lợi nhuận của người sản xuất kinh doanh thường không đi cùng với quyền lợi của người tiêu dùng Muốn thu được chỉ tiêu lợi nhuận cao trong bối cảnh tiêu dùng đắt đỏ và lạm phát thường xuyên như hiện nay thì người sản xuất kinh doanh buộc phải hạ thấp một số chỉ tiêu cho sản phẩm mình làm ra hoặc kinh doanh luân chuyển Mà trong đó quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm, hoặc tính năng suất của sản phẩm, hoặc thời hạn
sử dụng của sản phẩm,… Muốn sản phẩm có năng suất cao thì phải dùng đến hóa chất, chất kích thích, muốn hình thức của sản phẩm tiêu dùng đẹp thì phải dùng đến chất kích thích, tạo màu, làm trắng, muốn sản phẩm sử dụng được trong thời gian lâu dài thì phải có chất bảo quản, Như vậy có thể thấy yếu tố lợi nhuận đang bao trùm hoạt động sản xuất và kinh doanh Khi mà các cơ quan quản lý chưa siết chặt chính sách, hoạt động chưa thực sự hiệu quả thì người sản xuất và kinh doanh vẫn còn tâm lý bất chấp pháp luật, bất chấp sự nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng
Trang 24của người tiêu dùng, vẫn vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm nhằm thu về lợi
nhuận kinh tế cao
Văn hóa pháp luật được hình thành từ tổng thể các hoạt động xã hội - pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, văn hóa pháp luật là hệ thống các giá trị, chuẩn mực pháp luật được kết tinh từ trí thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật; có ảnh hưởng sau rộng tới các hình thức pháp luật từ tuân thủ, chấp hành, sử dụng, cho tới áp dụng pháp luật Văn hóa pháp luật được thể hiện ra trong đời sống pháp luật thông qua quá trình thực hiện pháp luật (hành vi pháp luật và lối sống theo pháp luật của các chủ thể) Giữa văn hóa pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Văn hóa pháp luật là cơ sở nền tảng khuôn mẫu tư duy và chuẩn mực hành vi của hoạt động thực hiện pháp luật, có định hướng đúng đắn Ngược lại hoạt động thực hiện pháp luật có tác dụng bổ sung làm phong phú sâu sắc thêm cho các giá trị chuẩn mực của văn hóa pháp luật
1.4.3 Yếu tố ý thức pháp luật và đạo đức của các chủ thể tham giam quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm
Sự tồn tại dai dẳng của văn hóa pháp luật do các chế độ cũ để lại có ảnh hưởng nhất định tới việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Một số người có quan niệm sai lầm cho rằng pháp luật chỉ chủ yếu là công cụ trừng phạt, do thiếu hiểu biết họ có tâm lý sợ hãi pháp luật Tâm lý lo sợ đó khiến cho hành vi của con
Trang 25người thiếu ổn định do đó khó có thể dẫn đến hành vi xử sự tích cực trước pháp luật
và đối với pháp luật
Tình trạng thờ ơ đối với pháp luật hoặc coi thường pháp luật an toàn thực phẩm ở một số người tác động tiêu cực đến việc thực hiện pháp luật của những người khác Vẫn còn tồn tại tình trạng không tuân thủ pháp luật, thờ ơ coi thường pháp luật, điều này không chỉ ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện pháp luật mà còn
có tác động không nhỏ tới xã hội cộng đồng
Ý thức, niềm tin đối với pháp luật an toàn thực phẩm của mỗi công dân có ảnh hưởng quan trọng tới việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Bởi lẽ nếu thiếu sự tin tưởng vào pháp luật, không có niềm tin vững chắc vào tính công bằng
và nghiêm minh của pháp luật… thì việc thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm cũng không thể tốt và chặt chẽ được
Chủ thể của quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm là cơ quan nhà nước hoặc
cá nhân có thẩm quyền, là người sản xuất kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng Một quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm sẽ ra sao là do ý thức và hành động của các chủ thể của quan hệ pháp luật đó xác lập nên Nếu các chủ thể có hiểu biết pháp luật sâu rộng, ý thức chấp hành pháp luật tốt, thì quan hệ pháp luật đó sẽ ít xảy
ra xung đột tranh chấp và ngược lại Đồng thời trong quá trình sản xuất, kinh doanh buôn bán thực phẩm, người sản xuất và kinh doanh có đạo đức nghề nghiệp, có ý thức tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật an toàn thực phẩm thì người tiêu dùng mới có cơ hội sử dụng sản phẩm thực phẩm sạch và an toàn Tuy nhiên thực tế những năm qua và nhất là gần đây cho thấy, ý thức pháp luật, đạo đức của người sản xuất và kinh doanh mua bán thực phẩm còn rất thấp kém Họ bất chấp tất cả, sự răn đe của pháp luật, các chế tài, sức khỏe thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng, thể chất của thế hệ tương lai Vì lợi nhuận họ có thể "đầu độc" nhân loại, khuất mắt bỏ qua mọi ranh giới an toàn chỉ để thu về lợi nhuận kinh tế cho chính mình
Trang 261.4.4 Yếu tố hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trong bối cảnh hiện nay khi mà ý thức pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của
người sản xuất, kinh doanh và mua bán thực phẩm còn quá thấp kém Họ bất chấp
tất cả để thu về lợi nhuận thì càng cần đến nỗ lực và sự hoạt động hết mình của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi thẩm quyền của mình cần áp dụng nhanh
chóng và triệt để các quy định, chế tài pháp luật an toàn thực phẩm vào việc quản lý
và xử lý những hành vi sai phạm, vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm Có như vậy
mới tạo ra sức mạnh cưỡng chế đối với những chủ thể pháp luật có liên quan khi mà
họ chưa tự ý thức, tự giác chấp hành pháp luật
1.4.5 Yếu tố kỹ thuật công nghệ và tài chính kính phí
Yếu tố kỹ thuật là một yếu tố mới nhưng hết sức cần thiết cho bất cứ một
hoạt động nào Nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà các mặt hàng tiêu dùng ngày
càng trở nên đa dạng và phong phú, tràn ngập khắp thị trường với các chiêu trò làm
hàng giả, mẫu mã đẹp, bắt mắt không thua kém gì hàng thật Nếu không có yếu tố
kỹ thuật, công nghệ, không có máy móc trang thiết bị hiện đại để kiểm nghiệm, đo
đạc thì khó có thể phát hiện ra được các hành vi sai phạm hoặc làm hàng giả, hàng
không đảm bảo chất lượng hoặc thực phẩm tồn dư hóa chất
Bên cạnh đó yếu tố tài chính kinh phí là yếu tố hàng đầu tác động đến và
quyết định hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm Muốn
công tác này thực hiện tốt trong thực tế thì phải có nguồn kinh phí thực hiện, phải
có tài chính và cơ sở vật chất đầy đủ hỗ trợ cho mọi công đoạn quản lý Từ khâu
ban hành pháp luật đến triển khai pháp luật an toàn thực phẩm vào đời sống, hay
hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm hay xử lý các vi phạm
Nếu không có nguồn kinh phí để thực hiện thì không một hoạt động nào có thể vận
hành tốt được
Formatted: Font: 13 pt, Not Bold, Font color:
Auto, Dutch (Netherlands)
Trang 27Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM NĂM 2010
2.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm
Tại Điều 3 của Luật an toàn thực phẩm năm 2010 quy định:
1 Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản
xuất kinh doanh thực phẩm
2 Sản xuất kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện về tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực
phẩm do mình sản xuất, kinh doanh
3 Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kĩ thuật tương ứng,
quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cá
nhân sán xuất công bố áp dụng
4 Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình
sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn
thực phẩm
5 Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ rằng và
phối hợp liên ngành
6 Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là vấn đề rộng lớn bao gồm nhiều
ngành cùng tham gia trong đó ngành y tế là đầu mối Trong những năm gần đây do
đổi mới chính sách kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang kinh
tế thị trường phát triển nhiều thành phần Công tác quản lý về an toàn thực phẩm
cần đáp ứng kịp sự phát triển của kinh tế - xã hội ở Việt Nam và liên tục được cải
cách Như vậy có thể chia các nhóm nhỏ theo quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm như sau:
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Expanded by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Trang 28Đối với chủ thể là cơ quan nhà nước
Loại chủ thể này khác với hai chủ thể còn lại ở chỗ đây là chủ thể chuyên
ban hành các mệnh lệnh hoặc quyết định hành chính trong phạm vi thẩm quyền do
pháp luật quy định Bên cạnh đó, bản thân chủ thể này cũng phải chịu sự điều chỉnh
của pháp luật nói chung và pháp luật an toàn thực phẩm nói riêng Trong một
quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm cụ thể, chủ thể này vừa có quyền và nghĩa vụ
theo quy định của văn bản pháp luật điều chỉnh Thông thường thì chủ thể này chính
là đại diện của nhà nước, nhân danh nhà nước sử dụng pháp luật an toàn thực phẩm
để giải quyết những tranh chấp, vi phạm về an toàn thực phẩm theo quy định của
pháp luật
Loại chủ thể này nếu hoạt động tốt, chấp hành và thực hiện triệt để quy
định của pháp luật an toàn thực phẩm thì sẽ không bị bỏ sót sai phạm, những vi
phạm về pháp luật an toàn thực phẩm sẽ được phát hiện và xử lý kịp thời có sức
mạnh răn đen lớn đối với hai chủ thể còn lại của pháp luật an toàn thực phẩm
Đây là chủ thể thường xuyên tham gia vào quan hệ pháp luật an toàn thực
phẩm, tuy nhiên hiệu quả hoạt động của chủ thể này trên thực tế còn chưa cao do
nhiều nguyên nhân Trong đó không thể tránh khỏi nguyên nhân nội tại, xuất phát
từ năng lực quản lý yếu kém của đội ngũ những cá nhân có chức vụ có thẩm quyền
được nhà nước giao phó thông qua những chức vụ, vị trí nhất định Đây cũng chính
là chủ thể cần triệt để đổi mới để công tác an toàn thực phẩm thực hiện tốt trong bối
cảnh hiện nay khi mà người sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
nói chung ý thức còn quá thấp, vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm rất nhiều
Đối với chủ thể là tổ chức
Đây cũng là một chủ thể pháp luật của quan hệ pháp luật an toàn thực
phẩm Tuy nhiên, loại chủ thể này là chủ thể tham gia không thường xuyên, liên tục
như đối với chủ thể là cá nhân Đặc biệt chủ thể này tham gia với tính chất chuyên
biệt (không phải chủ thể nào là tổ chức cũng tham gia quan hệ pháp luật này) Loại
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Expanded by 0.2 pt
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Condensed by 0.2 pt
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Trang 29chủ thể này tham gia vào vào quan hệ pháp luật an toàn thực phẩm với tư cách là
một pháp nhân, chịu trách nhiệm pháp lý thông qua người đại diện Việc tuân thủ và
chấp hành pháp luật an toàn thực phẩm đối với chủ thể này được thể hiện thông qua
việc tuân thủ và chấp hành các quy định của pháp luật an toàn thực phẩm
Ví dụ: Một công ty chuyên chế biến lương thực và thực phẩm thì công ty đó
phải được pháp luật công nhận là hợp pháp thông qua các điều kiện về đăng ký kinh
doanh: vốn, giấy phép an toàn thực phẩm,… đồng thời trong quá trình hoạt động
sản xuất của mình, công ty đó phải luôn đảm bảo chấp hành các quy định của pháp
luật nói chung cũng như các quy định về an toàn thực phẩm nói riêng Đối với chủ
thể này, cần đặc biệt chú ý vì những hành vi pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp
luật an toàn thực phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo an toàn thực phẩm
nói chung Nếu chủ thể này mà chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật
đặc biệt là pháp luật an toàn thực phẩm thì sẽ có lượng lương thực, thực phẩm an
toàn qua khâu chế biến đến tay người tiêu dùng
Đối với chủ thể là cá nhân
Do nhiều nguyên nhân, xuất phát từ phía cơ quan quản lý, từ phía người sản
xuất và bán hàng, từ bản thân người tiêu dùng,…ý thức về an toàn thực phẩm và
nhận thức về pháp luật an toàn thực phẩm chưa cao nên về phía chủ thể là cá nhân,
cụ thể ở đây là người sản xuất và người kinh doanh còn làm bừa, làm ẩu, ngang
nhiên vi phạm pháp luật an toàn thực phẩm khi vẫn sản xuất và kinh doanh những
thực phẩm không an toàn, tồn dư lượng lớn hóa chất độc hại Một mặt họ biết đến
những quy định của luật an toàn thực phẩm nhưng vì lợi nhuận kinh tế nên vẫn bất
chấp bỏ qua Mặt khác bản thân họ không nhận thức được sản xuất và tiêu dùng là
một vòng tròn khép kín và có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau
Về phía người tiêu dùng dù biết thực phẩm hiện nay có rất nhiều mối nguy
hiểm nhưng họ phải chấp nhận và cố gắng làm giảm nguy cơ đến từ thực phẩm
không an toàn bằng hiểu biết của mình trong phạm vi điều kiện kinh tế cho phép
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: m
Deleted: vệ sinh Deleted: ,…
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: vệ sinh an toàn thực phẩm Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: an toàn vệ sinh thực phẩm Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 30Phần lớn họ đã ý thức được tầm quan trọng của thực phẩm và mối nguy hại do thực
phẩm nhiễm hóa chất gây lên Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi mà các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cũng đành bó tay, chấp nhận chung sống với nguồn thực
phẩm ô nhiễm thì bản thân số đông người tiêu dùng cũng không còn lựa chọn nào
khá hơn
Như vậy có thể thấy, về phía cá nhân việc thực hiện pháp luật an toàn thực
phẩm là thường thường xuyên liên tục, tuy nhiên hiệu quả thực hiện chưa cao vì có
sự tác động qua lại hai chiều giữa hai loại chủ thể: người sản xuất, kinh doanh và
người tiêu dùng Đây lại là hai chủ thể chính trong quan hệ pháp luật an toàn thực
phẩm Mỗi bên có quyền và nghĩa vụ tương ứng với bên còn lại Nếu như nhà nước
có thể điều hòa, cân đối quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa hai chủ thể pháp luật này
thông qua các chế tài pháp luật an toàn thực phẩm, thông qua tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật an toàn thực phẩm một cách rộng rãi thì hiệu quả của công tác
thực hiện pháp luật an toàn thực phẩm sẽ hoàn toàn thay đổi Người tiêu dùng cũng
sẽ biết tự bảo vệ mình bằng các quy định của pháp luật an toàn thực phẩm khi nhận
thấy quyền lợi của mình bị đe dọa hoặc xâm phạm
2.2 Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm và một số quy định đặc thù
liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm
Bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan đến sản xuất, kinh doanh thực phẩm
theo quy định của Luậ an toàn thực phẩm năm 2010 được cơ cấu ngoài mục 1 là
những quy định chung về bảo đảm an toàn thực phẩm liên quan đến sản xuất kinh
doanh thì có 4 tiểu mục còn lại là các quy định đặc thù liên quan đến sản xuất, kinh
doanh thực phẩm đó là: điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh
doanh thực phẩm tươi sống, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sơ chế, chế
biến thực phẩm, kinh doanh thực phẩm đã qua chế biến, điều kiện bảo đảm an
toàn thực phẩm trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, điều kiện bảo đảm an toàn thực
phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố Theo đó, điều kiện bảo đảm an toàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn
Deleted: luật vệ sinh an toàn Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto, Not
Expanded by / Condensed by
Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn Deleted: luật vệ sinh an toàn
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Trang 31thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều
kiện sau đây:
a) Có địa điểm, diện tích thích hợp, có khoảng cách an toàn đối với nguồn
gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố gây hại khác;
b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh
thực phẩm;
c) Có đủ trang thiết bị phù hợp để xử lý nguyên liệu, chế biến, đóng gói,
bảo quản và vận chuyển các loại thực phẩm khác nhau; có đủ trang thiết bị, dụng
cụ, phương tiện rửa và khử trùng, nước sát trùng, thiết bị phòng, chống côn trùng và
động vật gây hại;
d) Có hệ thống xử lý chất thải và được vận hành thường xuyên theo quy
định của pháp luật về bảo vệ môi trường;
đ) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ hồ sơ về
nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm và các tài liệu khác về toàn bộ quá trình
sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
e) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực
tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm
2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ
thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực
phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong bảo quản thực phẩm
1 Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện về bảo
quản thực phẩm sau đây:
a) Nơi bảo quản và phương tiện bảo quản phải có diện tích đủ rộng để bảo
quản từng loại thực phẩm riêng biệt, có thể thực hiện kỹ thuật xếp dỡ an toàn và
chính xác, bảo đảm trong quá trình bảo quản;
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.3 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Trang 32b) Ngăn ngừa được ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, côn trùng, động vật, bụi
bẩn, mùi lạ và các tác động xấu của môi trường; bảo đảm đủ ánh sáng; có thiết bị
chuyên dụng điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và các điều kiện khí hậu khác, thiết bị thông
gió và các điều kiện bảo quản đặc biệt khác theo yêu cầu của từng loại thực phẩm;
c) Tuân thủ các quy định về bảo quản của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh thực phẩm
2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ
thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong bảo quản thực phẩm thuộc lĩnh
vực được phân công quản lý
Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong vận chuyển thực phẩm
1 Tổ chức, cá nhân vận chuyển thực phẩm phải bảo đảm các điều kiện
sau đây:
a) Phương tiện vận chuyển thực phẩm được chế tạo bằng vật liệu không
làm ô nhiễm thực phẩm hoặc bao gói thực phẩm, dễ làm sạch;
b) Bảo đảm điều kiện bảo quản thực phẩm trong suốt quá trình vận chuyển
theo hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh;
c) Không vận chuyển thực phẩm cùng hàng hóa độc hại hoặc có thể gây
nhiễm chéo ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm
2 Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quy định về phương tiện vận
chuyển thực phẩm; đường vận chuyển thực phẩm đối với một số loại thực phẩm
tươi sống tại các đô thị
Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực
phẩm nhỏ lẻ
1 Cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ phải tuân thủ các điều kiện
bảo đảm an toàn thực phẩm sau đây:
a) Có khoảng cách an toàn đối với nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm;
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Trang 33b) Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
c) Có trang thiết bị phù hợp để sản xuất, kinh doanh thực phẩm không gây
độc hại, gây ô nhiễm cho thực phẩm;
d) Sử dụng nguyên liệu, hóa chất, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến
thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong sơ chế, chế biến,
bảo quản thực phẩm;
đ) Tuân thủ quy định về sức khỏe, kiến thức và thực hành của người trực
tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
e) Thu gom, xử lý chất thải theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ
môi trường;
h) Duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và lưu giữ thông tin
liên quan đến việc mua bán bảo đảm truy xuất được nguồn gốc thực phẩm
2 Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Bộ trưởng Bộ Công thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định cụ
thể về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm
nhỏ lẻ thuộc lĩnh vực được phân công quản lý
3 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương, quy
định cụ thể điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực
phẩm nhỏ lẻ đối với thực phẩm đặc thù trên địa bàn tỉnh
2.3 Kiểm nghiệm thực phẩm, phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm,
phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm
Trong giai đoạn 2011 -2016 các bộ đã ban hành 05 thông tư về quản lý
hoạt động kiểm nghiệm thực phẩm; có 107 phòng kiểm nghiệm thực phẩm phục
vụ quản lý nhà nước được chỉ định và duy trì được hiệu lực chỉ định, bao gồm các
phòng kiểm nghiệm thuộc các cơ quan nhà nước (Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, Bộ Khoa học - Công nghệ, ) và 10 phòng kiểm nghiệm xã
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.3 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Trang 34hội hóa Quyết định chỉ định các phòng kiểm nghiệm an toàn thực phẩm có hiệu
lực trong vòng 3 năm và mỗi năm đều có hoạt động đánh giá giám sát, những nội
dung không đạt yêu cầu được phát hiện trọng quá trình đánh giá giám sát sẽ ban
hành quyết định đình chỉ hiệu lực nội dung tương ứng Các phòng kiểm nghiệm
này ở các cấp độ khác nhau đều đã được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại; một số
phòng kiểm nghiệm được trang bị máy móc thiết bị tương đương với các nước
thuộc nhóm đầu ở ASEAN để phân tích được hầu hết các chỉ số về an toàn thực
phẩm theo qui định quốc tế như: sắc ký khối phổ phân giải cao phân tích dioxin;
thiết bị đo hàm lượng phóng xạ; quang phổ phát xạ khối phổi phân tích kim loại
nặng; sắc khí lỏng, sắc khí ký khối phổ phân tích tồn dư thuốc bảo vệ thực vật,
thuốc thú y, hooc môn, phụ gia thực phẩm; thiết bị PCR thời gian thực phân tích
thực phẩm biến đổi gen Cơ chế hoạt động chủ yếu của các phòng kiểm nghiệm
được chỉ định là cung cấp dịch vụ và thu phí để duy trì hoạt động Cán bộ, nhân
viên các phòng kiểm nghiệm đều đã được đào tạo trong và ngoài nước Mặc dù số
lượng các phòng kiểm nghiệm thực phẩm khá nhiều nhưng lại phân bố không đều,
tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố lớn dẫn đến tình trạng các tỉnh vùng sâu,
vùng xa, biên giới còn phải gửi mẫu phân tích về các tỉnh thành phố lớn không
đảm bảo về thời gian kiểm nghiệm phục vụ công tác quản lý an toàn thực phẩm tại
địa phương
Tại địa phương, đối với ngành y tế, các phòng kiểm nghiệm an toàn thực
phẩm đặt tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh, trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm,
thực phẩm Đến nay đã có 42/63 tỉnh có phòng kiểm nghiệm được công nhận
ISO/IEC/17025, trong đó phòng kiểm nghiệm của Trung tâm Y tế dự phòng thành
phố Hải Phòng, Đà Nẵng và tỉnh Quảng Trị, Tây Ninh nằm trong danh sách 14 đơn
vị được Bộ Y tế chỉ định là đơn vị kiểm tra nhà nước về chất lượng thực phẩm nhập
khẩu 15/63 Trung tâm y tế dự phòng đang xây dựng các phòng kiểm nghiệm đạt
tiêu chuẩn ISO 17025
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto,
Expanded by 0.1 pt
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto
Trang 352.4 Thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm
Theo quy định việc quảng cáo thực phẩm phải được cơ quan chức năng
thẩm định nội dung quảng cáo trước khi phát hành quảng cáo Tại Trung ương,
trong giai đoạn 2011 - 2016, các đơn vị chức năng của 3 ngành: Y tế, Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Công Thương đã thẩm định hồ sơ và cấp Giấy xác nhận nội
dung quảng cáo thực phẩm cho 14.978 hồ sơ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản
phẩm thực phẩm trong nước và thực phẩm nhập khẩu Trong quá trình thẩm định hồ
sơ hoặc hậu kiểm, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều vi phạm về quảng cáo
của các doanh nghiệp như quảng cáo thực phẩm khi chưa được cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo; quảng cáo các sản phẩm thực phẩm
có nội dung không đúng với nội dung đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt; quảng
cáo quá công dụng của sản phẩm, gây hiểu lầm với thuốc chữa bệnh; quảng cáo
kèm theo các bài viết của phóng viên có tác dụng điều trị bệnh hoặc có tác dụng
như thuốc chữa bệnh
Theo quy định Luật an toàn thực phẩm 2010 thì:
Các thực phẩm phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo
- Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm
dùng cho chế độ ăn đặc biệt
- Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi không thuộc trường
hợp cấm quảng cáo quy định tại Điều 7 của Luật quảng cáo
Đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm
Việc đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm ngoài việc phải tuân thủ các
quy định của pháp luật về quảng cáo còn phải tuân thủ các quy định sau:
1 Trước khi quảng cáo, tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo phải đăng
ký nội dung quảng cáo với cơ quan cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sản
phẩm theo quy định hiện hành
2 Nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng của sản phẩm
đã được công bố trong bản công bố sản phẩm Không sử dụng hình ảnh, thiết bị,
Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt
Trang 36trang phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế, thư
cảm ơn của người bệnh, bài viết của bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế để quảng cáo
thực phẩm
Đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe:
a) Phải có khuyến cáo "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác
dụng thay thế thuốc chữa bệnh"; chữ viết phải rõ ràng, có màu tương phản với
màu nền;
b) Quảng cáo trên báo nói, báo hình phải đọc rõ khuyến cáo theo quy định
tại điểm a khoản này;
c) Việc quảng cáo trên báo hình, báo nói với thời lượng ngắn dưới 15 giây
thì không phải đọc "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay
thế thuốc chữa bệnh", nhưng phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo
Hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo gồm:
a) Đơn đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo theo Mẫu số 10 Phụ lục I ban
hành kèm theo Nghị định này;
b) Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm và Bản công bố sản phẩm
đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
c) Mẫu nhãn sản phẩm (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
d) Đối với quảng cáo trên báo nói, báo hình thì phải có kịch bản dự kiến
quảng cáo và nội dung dự kiến quảng cáo ghi trong đĩa hình, đĩa âm thanh; đối với
quảng cáo trên các phương tiện khác thì phải có ma két (mẫu nội dung) dự kiến
quảng cáo (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
đ) Đối với nội dung quảng cáo ngoài công dụng, tính năng của sản phẩm
ghi trong bản công bố sản phẩm thì phải có tài liệu khoa học chứng minh (bản sao
có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
Các tài liệu trong hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo phải được thể
hiện bằng tiếng Việt; trường hợp có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được
dịch sang tiếng Việt và được công chứng
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Trang 375 Thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo:
a) Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo gửi hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo đến cơ quan cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trả kết quả theo Mẫu số 11 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này Thời hạn này được tính từ ngày đóng dấu đến của cơ quan tiếp nhận hồ sơ nếu hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặc ngày hồ sơ hoàn chỉnh được tiếp nhận trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến
Trong trường hợp không đồng ý với nội dung quảng cáo của tổ chức, cá nhân hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản nêu rõ
lý do và căn cứ pháp lý của việc yêu cầu Cơ quan tiếp nhận hồ sơ chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung 01 lần
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thẩm định hồ sơ và có văn bản trả lời Sau 90 ngày làm việc kể
từ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu tổ chức, cá nhân không sửa đổi, bổ sung thì hồ sơ không còn giá trị;
c) Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệm thông báo công khai tên, sản phẩm của tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo sản phẩm thực phẩm trên trang thông tin điện tử (website) của mình và cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm;
d) Tổ chức, cá nhân đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệm nộp phí thẩm định hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ
6 Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo; tổ chức, cá nhân phát hành quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã được xác nhận
Các thực phẩm phải đăng ký nội dung trước khi quảng cáo
1 Thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt
Trang 382 Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi không thuộc trường
hợp cấm quảng cáo quy định tại Điều 7 của Luật quảng cáo
Đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm
Việc đăng ký nội dung quảng cáo thực phẩm ngoài việc phải tuân thủ các
quy định của pháp luật về quảng cáo còn phải tuân thủ các quy định sau:
1 Trước khi quảng cáo, tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo phải đăng
ký nội dung quảng cáo với cơ quan cấp Giấy tiếp nhận bản đăng ký công bố sản
phẩm theo quy định hiện hành
2 Nội dung quảng cáo phải phù hợp với công dụng, tác dụng của sản phẩm
đã được công bố trong bản công bố sản phẩm Không sử dụng hình ảnh, thiết bị, trang
phục, tên, thư tín của các đơn vị, cơ sở y tế, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế, thư cảm ơn
của người bệnh, bài viết của bác sĩ, dược sĩ, nhân viên y tế để quảng cáo thực phẩm
3 Đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe:
a) Phải có khuyến cáo "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác
dụng thay thế thuốc chữa bệnh"; chữ viết phải rõ ràng, có màu tương phản với
màu nền;
b) Quảng cáo trên báo nói, báo hình phải đọc rõ khuyến cáo theo quy định
tại điểm a khoản này;
c) Việc quảng cáo trên báo hình, báo nói với thời lượng ngắn dưới 15 giây
thì không phải đọc "Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay
thế thuốc chữa bệnh", nhưng phải thể hiện khuyến cáo trong quảng cáo
4 Hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo gồm:
a) Đơn đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo theo Mẫu số 10 Phụ lục I ban
hành kèm theo Nghị định này;
b) Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm và Bản công bố sản phẩm
đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận (bản sao có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
c) Mẫu nhãn sản phẩm (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, Condensed by 0.2 pt Formatted: Font: 13 pt
Trang 39d) Đối với quảng cáo trên báo nói, báo hình thì phải có kịch bản dự kiến quảng cáo và nội dung dự kiến quảng cáo ghi trong đĩa hình, đĩa âm thanh; đối với quảng cáo trên các phương tiện khác thì phải có ma két (mẫu nội dung) dự kiến quảng cáo (bản có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
đ) Đối với nội dung quảng cáo ngoài công dụng, tính năng của sản phẩm ghi trong bản công bố sản phẩm thì phải có tài liệu khoa học chứng minh (bản sao
có xác nhận của tổ chức, cá nhân);
Các tài liệu trong hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo phải được thể hiện bằng tiếng Việt; trường hợp có tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch sang tiếng Việt và được công chứng
5 Thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo:
a) Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo gửi hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo đến cơ quan cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm xem xét hồ sơ và trả kết quả theo Mẫu số 11 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này Thời hạn này được tính từ ngày đóng dấu đến của cơ quan tiếp nhận hồ sơ nếu hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặc ngày hồ sơ hoàn chỉnh được tiếp nhận trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến
Trong trường hợp không đồng ý với nội dung quảng cáo của tổ chức, cá nhân hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có văn bản nêu rõ
lý do và căn cứ pháp lý của việc yêu cầu Cơ quan tiếp nhận hồ sơ chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung 01 lần
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ sửa đổi, bổ sung, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thẩm định hồ sơ và có văn bản trả lời Sau 90 ngày làm việc kể
từ khi có công văn yêu cầu sửa đổi, bổ sung nếu tổ chức, cá nhân không sửa đổi, bổ sung thì hồ sơ không còn giá trị;
c) Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệm thông báo công khai tên, sản phẩm của tổ chức, cá nhân đã được cấp
Trang 40Giấy xác nhận nội dung quảng cáo sản phẩm thực phẩm trên trang thông tin điện tử
(website) của mình và cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm;
d) Tổ chức, cá nhân đăng ký xác nhận nội dung quảng cáo có trách nhiệm
nộp phí thẩm định hồ sơ tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ
6 Tổ chức, cá nhân có sản phẩm quảng cáo; tổ chức, cá nhân phát hành
quảng cáo chỉ được tiến hành quảng cáo sản phẩm đã được cấp Giấy xác nhận nội
dung quảng cáo và chỉ được quảng cáo phù hợp với nội dung đã được xác nhận
2.5 Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền
Trong giai đoạn 2011-2016, đã có 123 văn bản quy phạm pháp luật do các
cơ quan trung ương ban hành, trong đó 6 văn bản của Quốc hội, 23 văn bản của
Chính phủ, 20 thông tư của Bộ Y tế, 45 thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn và 12 thông tư của Bộ Công Thương Đáng chú ý Luật an toàn
thực phẩm đã phân công nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho ba
Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Công Thương theo nguyên tắc
quản lý theo chuỗi cung cấp thực phẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ
thể; Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật an toàn thực phẩm, và Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày
14/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn thực phẩm là
những văn bản quy phạm pháp luật được các tổ chức quốc tế đánh giá là cách tiếp
cận hiện đại
Đối với các vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của 3 bộ,
để thống nhất hướng dẫn thực hiện, Bộ Y tế đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương ban hành 3 Thông tư liên tịch
hướng dẫn, trong đó Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT
ngày 09/4/2014 đã cụ thể hóa nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho
ba bộ với nguyên tắc cơ bản là: Một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự quản lý
Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, Italic, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt, Italic
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.) Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.),
Expanded by 0.1 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.1 pt
Formatted: Font: 13 pt, Expanded by 0.1 pt
Condensed by