1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan thi hành án dân sự địa phương

96 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iên quan đến thi hành án dân sự còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, như: uận án tiến sĩ luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn T

Trang 1

TÔ MINH TÂM

THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI

CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

ĐỊA PHƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60380102

Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS TRƯƠNG ĐẮC LINH

Tp Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu sử dụng trong bài viết là chính xác và trung thực Nếu có sai trái, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm điểm và nhà trường theo Quy chế đào tạo sau đại học của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo

TP.HCM, ngày 05 tháng 10 năm 2013

Người cam đoan

Tô Minh Tâm

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THANH TRA,

KIỂM TRA ĐỐI VỚI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỊA

1.1.3 Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án

dân sự địa phương 11

1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân

1.3 Chủ thể thực hiện thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành

án dân sự địa phương 21

1.3.1 Chủ thể có thẩm quyền thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân

Trang 4

1.5 Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan

Thi hành án dân sự địa phương 31

1.5.1 Kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 31

1.5.2 Thực hiện hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 34

1.5.3 Kết luận và thực hiện kết luận thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 35

Kết luận Chương 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỊA PHƯƠNG (TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN) VÀ KIẾN NGHỊ 40

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên - xã hội tỉnh Long An và các cơ quan Thi hành án dân sự tại tỉnh Long An 40

2.1.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Long An 40

2.1.2 Một vài nét về công tác tư pháp tỉnh Long An 40

2.1.3 Các cơ quan Thi hanh án dân sự tỉnh Long An 41

2.1.4 Tình hình thi hành án dân sự tại tỉnh Long An 43

2.2 Thực trạng hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương và kiến nghị 44

2.2.1 Thực trạng hoạt động thanh tra của Thanh tra Chính phủ đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 44

2.2.2 Thực trạng hoạt động thanh tra của Thanh tra Bộ Tư pháp đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 45

2.2.3 Nhận xét và kiến nghị về hoạt động thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 51

Trang 5

2.3.1 Thực trạng hoạt động kiểm tra của Tổng Cục Thi hành án dân sự

đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương 62 2.3.2 Thực trạng hoạt động kiểm tra của các cơ quan Thi hành án

dân sự địa phương 67 2.3.4 Nhận xét và kiến nghị về hoạt động kiểm tra đối với các cơ

quan Thi hành án dân sự địa phương 79

Kết luận Chương 2 84

KẾT LUẬN 86

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, là một hoạt động nhằm đưa Bản án, Quyết định về phần dân sự của Toà án, quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế

Việc các Bản án, Quyết định của Toà án được thi hành đúng pháp luật trên thực tế không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà còn có ý nghĩa trong việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác thi hành án dân sự

là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tư pháp, đã có nhiều quan tâm chỉ đạo, ban hành các Nghị quyết, uật và các văn bản dưới luật về v n đề này Ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII thông qua uật Thi hành án dân sự, theo đó việc tổ chức và quản lý thi hành án dân sự thay đổi, cơ quan Thi hành án dân sự được tổ chức theo hệ thống thống nh t từ trung ương xuống địa phương, các quy định về thi hành án dân sự chặt chẽ hơn, bảo đảm sự quản lý các cơ quan Thi hành

án dân sự tập trung thống nh t, tổ chức và hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự từng bước được kiện toàn đi vào nề nếp, về chuyên môn nghiệp vụ đã có nhiều chuy n biến tích cực đạt được nhiều kết quả khả quan

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, công tác thi hành án dân sự hiện

v n còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng m c cần phải được giải quyết Hiệu quả công tác thi hành án dân sự đạt được chưa thật sự bền vững, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ; Hoạt động thi hành án chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật; Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã đạt một số kết quả nhưng còn những vụ việc tồn đọng kéo dài chưa được giải quyết; Công tác ch p hành kỷ cương, kỷ luật của một số cán bộ, công chức thi hành án chưa nghiêm, v.v Đây là v n đề r t bức xúc đang đặt ra trong công tác thi hành án dân sự hiện nay Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, như: Hệ thống các văn bản pháp lý về thi hành án dân sự chưa đầy đủ, chậm được bổ sung, sửa đổi kịp thời; Công tác thanh tra, ki m tra thi hành án dân sự chưa được chú trọng đúng mức

Trang 7

Vì vậy, đ giải quyết tình trạng trên và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, chúng ta cần nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ, thống nh t trong công tác thi hành án dân sự, đặc biệt là công tác thanh tra, ki m tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương Vì công tác thanh tra, ki m tra thi hành án dân sự là nhiệm vụ thiết yếu, thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự; thông qua đó phát hiện những khuyết đi m, vi phạm, giúp cho cơ quan Thi hành

án dân sự kh c phục, rút kinh nghiệm và xử lý kịp thời, đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành triệt đ , chính xác, đầy đủ, đúng pháp luật Công tác thanh tra, ki m tra thi hành án dân sự còn giúp cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác thi hành án dân sự

Với t t cả những lý do trên, tôi chọn Đề tài “ h nh t t ơ

u n th h nh n n hương làm luận văn thạc sĩ luật chuyên ngành uật

hành chính

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về v n đề thi hành án

dân sự, như: Đề tài nghiên cứu khoa học c p Bộ “Mô hình quản lý thống nhất công

tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp

chủ trì thực hiện; Đề tài c p Nhà nước đang thực hiện: “ uận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ

Tư pháp chủ trì; Đề tài: “Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của

Dự án VIE/98/001” do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án iên quan đến thi hành

án dân sự còn có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, như: uận án tiến sĩ luật

học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn

Thanh Thuỷ (bảo vệ năm 2008 tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh); uận án tiến sĩ luật học “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi

hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Quang Thái (bảo vệ năm 2008

tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh); Các uận văn thạc sĩ

luật học như: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và

hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công ong; “Hoàn thiện pháp luật thi hành

án dân sự" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy; “Khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực thi hành án dân sự” của tác giả ê Thị ệ Duyên; “Xử phạt hành chính trong thi hành án dân sự” của tác giả Hồ Chí Bửu Nghi; “Tổ chức và hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí

Trang 8

Minh)” của tác giả Nguyễn Thị Huỳnh Phượng; “Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự” của tác giả Đinh Duy Bằng Ngoài ra, còn có một số bài báo

khoa học đăng trên các tạp chí, như: Bài viết “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn

Thanh Thuỷ đăng trên Tạp chí kiểm sát, số 10/2008; “Công tác ki m sát thi

hành án dân sự theo uật THADS 2008” của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng

đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề Thi hành án dân sự và

v n đề xã hội hoá năm 2009; “Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự” của tác giả ê Anh Tu n

đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 10/2009; v.v

Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau, nhưng chưa có công trình nào chuyên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về thanh tra, ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự ở địa phương nói chung, trong đó có các cơ quan Thi hành án dân sự tại tỉnh ong An nói riêng Vì vậy, đề tài “Thanh tra, ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương” của luận văn này không tr ng l p với các công trình đã được công bố ở nước ta những năm gần đây

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những v n đề lý luận, pháp lý và thực tiễn thanh tra, ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, tác giả luận văn đề xu t các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác thanh tra, ki m tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự ở địa phương nước ta nói chung, các cơ quan Thi hành án dân sự tại tỉnh ong An, nơi tác giả công tác nói riêng trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Đ đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về về thanh tra, ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

- Nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh tra, ki m tra đối với cơ quan Thi hành

án dân sự tại tỉnh ong An, nơi tác giả đang công tác

- Đề xu t các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, ki m tra đối với

cơ quan Thi hành án dân sự địa phương nói chung, ở tỉnh ong An nói riêng

Trang 9

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành luật hành chính, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, pháp lý và thực trạng về thanh tra,

ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

uận văn tập trung khảo sát thực tiễn hoạt động thanh tra, ki m tra đối với các

cơ quan Thi hành án dân tại tỉnh ong An, nơi tác giả đang công tác và trong thời gian những năm gần đây (từ năm 2009 đến năm 2013), k từ khi uật Thi hành án

dân sự năm 2008 có hiệu lực thi hành (01/7/2009)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở quan đi m duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- ênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, tác giả sử dụng các phương pháp cụ th như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, v.v đ giải quyết những v n đề đặt ra của đề tài

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- uận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, có tính hệ thống về thanh tra,

ki m tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương ở nước ta

- Một số kiến nghị của tác giả nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động thanh tra, ki m tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương nếu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tham khảo, tiếp thu sẽ góp phần đổi mới và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động thanh tra, ki m tra đối với công tác thi hành án dân sự ở nước ta nói chung và công tác thi hành án dân sự ở địa phương nói riêng

- uận văn còn là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên, sinh viên chuyên ngành luật hành chính và những người làm công tác thực tiễn liên quan đến lĩnh vực thi hành án dân sự, cũng như ai quan tâm đến đề tài này

7 Cơ cấu của Luận văn

uận văn ngoài ời mở đầu, Kết luận, các Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Chương 2: Thực trạng về thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân

sự địa phương (từ thực tiễn tỉnh Long An) và kiến nghị

Trang 10

1.1.1 Khái niệm thanh tra thi hành án dân sự

Theo Đại Từ đi n Tiếng Việt, thanh tra được hi u là hoạt động “điều tra, xem

xét để làm rõ sự việc”1 Tức là trực tiếp xem xét làm rõ các tình tiết của vụ việc đ

đi đến kết luận đúng hay sai, đồng thời làm rõ tính ch t, mức độ, nguyên nhân và hậu quả của vụ việc

Xét ở góc độ quản lý nhà nước, thanh tra là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, là phương thức bảo đảm cho quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước được thực hiện đúng phạm vi, quyền hạn mà pháp luật quy định Thanh tra là những hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có thanh tra Chính vì vậy, khi bàn về quản lý nhà nước, về ý nghĩa, tầm

quan trọng của công tác thanh tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thanh tra là một

nhiệm vụ vẻ vang và quan trọng Nó theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ” Như thế đủ

hi u, công tác thanh tra giống như “ngọn đèn pha” giúp nhìn rõ ưu đi m, khuyết

đi m, n m ch c tình hình trong lãnh đạo, quản lý Vì thế, “cấp lãnh đạo các bộ,

ngành, các cấp nhất định phải có cơ quan thanh tra của mình để theo dõi công tác ngay từ đầu, kịp thời uốn nắn, sửa chữa sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra, đồng thời phải trực tiếp chỉ đạo cơ quan thanh tra của mình”2

Thanh tra là một khâu quan trọng trong chu trình quản lý nhà nước, đòi hỏi

phải tuân theo những nguyên t c và trình tự do pháp luật quy định Thanh tra nhà

nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành 3

Trang 11

Thanh tra thi hành án dân sự là một khái niệm hoàn toàn mới, hiện nay chưa được sử dụng chính thức trong một văn bản pháp luật nào Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 17 uật Thanh tra năm 2010 và Điều 1 và khoản 2 Điều 7 Nghị định 74/2006/NĐ-CP ngày 01/8/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh

tra Tư pháp, có th hi u: Thanh tra thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan

Thanh tra nhà nước, bao gồm Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Bộ Tư pháp đối với các cơ quan Thi hành án dân sự trong việc thực hiện chính sách, pháp luật thuộc nhiệm vụ, quyền hạn (thẩm quyền) theo quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, một lĩnh vực phức tạp liên quan đến nhiều mặt trong đời sống xã hội, mà vốn dĩ bản thân các lĩnh vực đó đã r t phức tạp như lĩnh vực đ t đai, tài chính, ngân hàng, bán đ u giá tài sản, chuy n nhượng tài sản… Đồng thời, đây là lĩnh vực luôn động chạm đến quyền, lợi ích của nhân dân và g n liền với v n đề vật ch t cụ th , trực tiếp ảnh hưởng đến quyền về tài sản, nhân thân của các bên đương sự và những người có liên quan Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc ch m dứt quyền và nghĩa vụ

về tài sản của các bên đương sự Vì vậy, việc không ch p hành án, chống đối thi hành án của người phải thi hành án luôn luôn xảy ra; Bên cạnh đó, còn phải k đến

sức “cám dỗ” vật ch t - nguồn gốc có th làm phát sinh các hành vi tiêu cực của cán

bộ thi hành án, Ch p hành viên Do đó, bên cạnh việc không ngừng phát huy phẩm

ch t đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ ch p hành viên, cán bộ thi hành án thì vai trò thanh tra trong lĩnh vực này r t quan trọng

Khái niệm thanh tra thi hành án dân sự có th khái quát như sau: Thanh tra thi

hành án dân sự là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Bộ Tư pháp) tiến hành đối với hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự, của các chấp hành viên, cán bộ công chức của cơ quan này trong việc thực hiện chính sách, pháp luật và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao

Qua khái niệm trên, thanh tra thi hành án dân sự có một số đặc đi m sau:

Thứ nhất, Thanh tra thi hành án dân sự vừa là thanh tra hành chính vừa là thanh tra chuyên ngành

Do hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động mang tính ch t hành chính - tư pháp nên thanh tra trong hoạt động thi hành án dân sự vừa thuộc thanh tra hành chính, lại vừa thuộc thanh tra chuyên ngành, t y từng đối tượng và trường hợp cụ

Trang 12

th mà hoạt động thanh tra này được coi là thanh tra hành chính hoặc thanh tra

chuyên ngành

Trước hết, Thanh tra thi hành án dân sự là thanh tra hành chính

Vì theo Khoản 2 Điều 3 uật Thanh tra 2010 quy định: Thanh tra hành chính

là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Còn theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 74/2009/NĐ-CP

ngày 09/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của uật Thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, hệ thống tổ chức cơ quan Thi hành án dân sự được tổ chức

và quản lý tập trung, thống nh t theo ngành dọc, đứng đầu là Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp

Hoạt động thanh tra của Thanh tra Bộ Tư pháp đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn

trong lĩnh vực thi hành án dân sự là hoạt động thanh tra hành chính

Mặt khác, Thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương trong việc

ch p hành pháp luật về thi hành án dân sự là thanh tra chuyên ngành

Điều này được lý giải như sau: Khoản 3 Điều 3 uật Thanh tra năm 2010 quy

định: Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có

thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó

Khoản 2 và 3, Điều 7 của Nghị định số 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ Tư pháp như sau: Thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc ch p hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp theo quy định của pháp luật, trong đó có việc ch p hành pháp luật của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Trong trường hợp, qua thanh tra phát hiện các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp

Trang 13

Từ những quy định của các văn bản pháp luật trên cho th y hoạt động thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc ch p hành pháp luật về thi hành án

dân sự là thanh tra chuyên ngành

Nói tóm lại, thanh tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự vừa thuộc thanh tra hành chính lại vừa thuộc thanh tra chuyên ngành, t y từng đối tượng và trường hợp

cụ th mà hoạt động thanh tra này được coi là thanh tra hành chính hoặc thanh tra chuyên ngành4

Thứ hai, Thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương chỉ do Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Bộ Tư pháp tiến hành

Khác với thanh tra đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, thanh tra đối với lĩnh vực thi hành án dân sự địa phương chủ yếu do Thanh tra Bộ Tư pháp trực tiếp thực hiện (chỉ trong những trường hợp đặc biệt Thanh tra Chính phủ cũng có

th tiến hành thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương theo thẩm quyền)

Ví dụ: Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức thi hành

bản án (phần dân sự) trong vụ án “Bình Hà an” hay vụ án Epco Minh Phụng Việc

tổ chức thi hành án có nhiều sai phạm, Thanh tra Bộ Tư pháp đã tiến hành thanh tra việc tổ chức thi hành án vụ việc trên

Ở địa phương có Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh nhưng khác với các Sở thuộc UBND c p tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh không có cơ quan Thanh tra trong khi đó các Sở khác đều có cơ quan Thanh tra chuyên ngành trực thuộc

Ví dụ, Thanh tra Sở Tư pháp, Thanh tra Sở xây dựng, Thanh tra Sở Công thương, Thanh tra Sở Giáo dục - Đào tạo, v.v

Khác với thanh tra hoạt động thi hành án dân sự ở địa phương, thanh tra trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác, như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, v.v thanh tra trong các lĩnh vực này do Thanh tra Chính phủ, Thanh tra

Bộ, ngành ở trung ương và Thanh tra tỉnh và cả thanh tra các Sở, ngành thuộc UBND c p tỉnh đều có thẩm quyền tiến hành thanh tra

Hoạt động thanh tra trong lĩnh vực xây dựng ở địa phương có th do Thanh tra

Bộ Xây dựng trực tiếp thanh tra, cũng có th do Thanh tra tỉnh, hoặc Thanh tra Sở Xây dựng trực tiếp thanh tra Tương tự, trong lĩnh vực y tế cũng vậy: Thanh tra Bộ

Y tế và Thanh tra tỉnh, Thanh tra Sở Y tế đều có quyền thanh tra trực tiếp trong lĩnh

4 Nguyễn Th ng ợi (2011), Thanh tra, kiểm tra lĩnh vực thi hành án dân sự, tr.5

www.moj.gov.vn/TongCucThiHanhAn/News/Lists

Trang 14

vực y tế ở địa phương Trong khi đó, thanh tra đối với hoạt động thi hành án dân sự

ở địa phương chủ yếu do Thanh tra Bộ Tư pháp thực hiện, hãn hữu Thanh tra Chính phủ mới tiến hành thường theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ

Thứ ba, Cơ sở pháp lý của thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, trước hết là Luật Thi hành án dân sự năm 2008

Cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở địa phương là uật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản do Chính phủ ban hành trên cơ sở và nhằm thi hành các quy định của uật Thi hành án dân sự năm

2008, như: Nghị định số 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động

chi tiết và hướng d n thi hành một số điều của uật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Trong khi đó cơ sở pháp lý của thanh tra trong lĩnh vực xây dựng là uật Xây dựng, trong lĩnh vực y tế là uật Y tế và các văn bản hướng d n chuyên ngành các luật này, v.v

Thứ tư, Mục đích thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa

phương là nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành đầy

Trang 15

1.1.2 Khái niệm kiểm tra thi hành án dân sự

Theo Đại từ đi n Tiếng Việt, khái niệm ki m tra được hi u là: “việc xem xét

thực chất, thực tế” đ đánh giá, nhận xét6

Còn tiếp cận dưới góc độ quyền lực nhà nước, ki m tra được sử dụng ở hai phạm vi:

Theo nghĩa rộng, Ki m tra được d ng trong ki m tra xã hội (tương tự như giám sát của các tổ chức xã hội và của công dân), ki m tra Đảng Với ý nghĩa này,

ki m tra ít mang tính quyền lực nhà nước, vì không có quyền trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, mà chỉ có th áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội, k cả ki m tra đảng Tuy nhiên, trên thực tế ki m tra Đảng mang tính quyền lực r t lớn, nhưng quyền lực đó mang tính chính trị chứ không phải là tính pháp lý

Theo nghĩa hẹp, Ki m tra là chức năng thường xuyên của thủ trưởng cơ quan

c p trên tiến hành trong mối quan hệ với cơ quan, nhân viên c p dưới thuộc quyền quản lý theo quy định của pháp luật nhằm xem xét mọi mặt hoạt động của c p dưới khi cần thiết, hoặc ki m tra một v n đề cụ th nào đó, việc thực hiện quyết định nào

đó Vì vậy, trong khi thực hiện ki m tra, thủ trưởng c p trên có quyền áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật, k cả bồi thường thiệt hại đối với c p dưới7

Khái niệm ki m tra thi hành án dân sự chưa được quy định cụ th trong các văn bản pháp luật nào, ki m tra thi hành án dân sự được quy định như là một trong những chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thi hành án dân

sự và coi ki m tra là một khâu của chu trình quản lý, quản lý g n với ki m tra Do

đó, hoạt động ki m tra thường do các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, chính trị được giao

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hoạt động ki m tra thi hành án dân sự được các cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện nhằm đánh giá kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của Tòa án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật8

Nguyễn Cửu Việt (2005), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, tr 626-627

8 Hoàng Thế Anh, (2011), Bàn về công tác kiểm tra thi hành án dân sự,

www.moj.gov.vn/huongdannv/Lists/ /

Trang 16

Ki m tra thi hành án dân sự là một trong những công cụ quan trọng của quản

lý nhà nước về thi hành án dân sự; là phương thức bảo đảm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước đối với thi hành án dân sự Ki m tra thi hành án dân

sự luôn g n liền với quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, nếu quản lý không có

ki m tra, thì quản lý sẽ rời xa thực tiễn, không đáp ứng được các đòi hỏi linh hoạt của quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện việc ki m tra thi hành án dân sự đối với các cơ quan Thi hành án dân sự c p dưới, đ kịp thời phát hiện những sai sót trong các quyết định quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành án dân sự,… từ đó có biện pháp xử lý kịp

Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định pháp luật cũng phải thường xuyên tiến hành hoạt động ki m tra

cơ quan Thi hành án dân sự c p dưới trực tiếp; Ki m tra hoạt động công tác của cán

bộ, công chức, ch p hành viên thuộc quyền quản lý của mình khi thi hành công vụ

Tóm lại, Kiểm tra thi hành án dân sự là việc xem xét, nhận xét, đánh giá mang

tính chủ động, thường xuyên, liên tục của các chủ thể kiểm tra thi hành án dân sự (cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, thủ trưởng cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự địa phương) đối với các hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự, chấp hành viên, các công chức khác của cơ quan Thi hành án dân sự và các cơ quan, cá nhân

có liên quan đến việc thi hành án dân sự nhằm tổ chức thi hành có hiệu quả nhất các bản án, quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án và Trọng tài Thương mại 1.1.3 Sự khác nhau giữa thanh tra và kiểm tra thi hành án dân sự

Thực tế cho th y v n còn có những lúng túng, chưa phân biệt được rõ ràng giữa hoạt động thanh tra và hoạt động ki m tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự Vậy, giữa thanh tra và ki m tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự có gì khác nhau?

Có th nói giữa hoạt động thanh tra và ki m tra có mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi và có nhiều đi m giao thoa nhau, có mối quan hệ đan chéo nhau Bởi vì, thanh tra và ki m tra đều là những công cụ quan trọng, một chức năng chung của quản lý nhà nước, là một khâu của chu trình quản lý Qua thanh tra, ki m tra, các cơ quan quản lý nhà nước có th phân tích, đánh giá, theo dõi quá trình thực hiện các mục

9

Hoàng Thế Anh (2005), Kỹ năng Thi hành án dân sự, NXB Thống kê, Hà Nội, tr 86

Trang 17

tiêu, nhiệm vụ quản lý đề ra Nếu hi u theo nghĩa rộng thì thanh tra là một loại hình đặc biệt của ki m tra, ngược lại nếu hi u theo nghĩa hẹp, thanh tra lại bao hàm cả

ki m tra Các hoạt động, thao tác nghiệp vụ trong một cuộc thanh tra như việc ki m tra sổ sách, tài liệu của đối tượng thanh tra; So sánh, đối chiếu, đánh giá, xác minh tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình thanh tra đó là ki m tra Chính vì vậy, trong thực tiễn nhiều người thường hay nhầm l n, đồng nh t thanh tra với ki m tra

Tuy nhiên, với tư cách là một hoạt động độc lập, thanh tra cũng có những đi m khác biệt với ki m tra Trong lĩnh vực thi hành án dân sự giữa thanh tra và ki m tra

có sự khác biệt cơ bản sau:

Một là, Chủ thể tiến hành thanh tra và kiểm tra trong lĩnh vực thi hành án dân

sự

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, thanh tra về thi hành án dân sự hiện nay chủ yếu do Thanh tra Bộ Tư pháp là chủ th có thẩm quyền tiến hành thanh tra, trong trường hợp cần thiết Thanh tra Chính phủ cũng có thẩm quyền thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự

Trong khi đó, khác với chủ th của hoạt động thanh tra, chủ th của hoạt động

ki m tra thi hành án dân sự thì do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện, như: Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự hoặc cơ quan Thi hành án dân sự c p trên tiến hành ki m tra cơ quan Thi hành án dân sự c p dưới, thậm chí các cơ quan Thi hành án dân sự c ng c p tiến hành ki m tra chéo với nhau

Tổng Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ki m tra đối với Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và các Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện Cục Thi hành án dân

sự có thẩm quyền ki m tra đối với các Phòng chuyên môn, Ch p hành viên, cán bộ công chức thuộc Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và các Chi cục Thi hành án dân

sự c p huyện; Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện có thẩm quyền

ki m tra đối với các Ch p hành viên, cán bộ công chức thuộc quyền quản lý của đơn vị mình phụ trách

Hai là, Đối tượng được thanh tra và kiểm tra trong lĩnh vực thi hành án dân

sự là khác nhau

Trong hoạt động thanh tra, đối tượng được thanh tra là Cục Thi hành án dân sự

c p tỉnh và các Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện

Trang 18

Ví dụ, Thanh tra Bộ Tư pháp có thẩm quyền tiến hành thanh tra tại Cục Thi

hành án dân sự c p tỉnh và tại các Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện

Còn trong hoạt động ki m tra, đối tượng được ki m tra là Cục Thi hành án dân

sự c p tỉnh và các Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện Cục Thi hành án dân sự

c p tỉnh là đối tượng được ki m tra của Tổng Cục Thi hành án dân sự nhưng cũng

là chủ th ki m tra đối với các Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện là chủ th ki m tra đối với các Ch p hành viên, cán bộ, công chức đơn vị mình nhưng là đối tượng được ki m tra của Tổng cục Thi hành án dân sự và Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh

Ba là, Phạm vi và mục đích thực hiện thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Trong phạm vi hoạt động ki m tra thi hành án dân sự thường theo bề rộng, được tiến hành thường xuyên, liên tục, đối với mọi mặt hoạt động, công tác với nhiều hình thức khác nhau

Ví dụ: Ki m tra định kỳ thường xuyên của Tổng Cục Thi hành án dân sự đối với các Cục Thi hành án dân sự, Chi cục Thi hành án dân sự và có th ki m tra toàn diện hoặc ki m tra theo chuyên đề, như: Ki m tra công tác tổ chức cán bộ, ki m tra

hồ sơ thi hành án, ki m tra giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, ki m tra báo cáo thống kê, v.v

Còn trong phạm vi hoạt động thanh tra thi hành án dân sự thường hẹp hơn nhưng mục đích lại sâu hơn (ngoại diện hẹp hơn nhưng nội diện sâu hơn) hoạt động

ki m tra thi hành án dân sự Đối với các hoạt động thanh tra thì mục đích của cuộc thanh tra bao giờ cũng sâu hơn đối với các hoạt động ki m tra Thực tế, r t ít khi thanh tra toàn diện về công tác thi hành án dân sự ở địa phương, thường thanh tra chỉ đi sâu vào một lĩnh vực nhỏ, cụ th như thanh tra về: Hồ sơ thi hành án, thanh tra theo đơn thư khiếu nại, tố cáo, thanh tra xây dựng trụ sở làm việc hoặc chỉ thanh tra một vụ việc cụ th nào đó có d u hiệu vi phạm pháp luật

Bốn là, Mục đích thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Mục đích của thanh tra khác với mục đích ki m tra đối với cơ quan Thi hành

án dân sự địa phương Đối với các cuộc thanh tra đ giải quyết khiếu nại, tố cáo thì

sự khác biệt về mục đích, ý nghĩa giữa hoạt động thanh tra và ki m tra càng rõ hơn nhiều bởi: Thông thường khiếu nại, tố cáo phản ánh sự bức xúc, b t bình của nhân dân trước những việc mà nhân dân cho là cán bộ, công chức, Ch p hành viên cơ quan Thi hành án dân sự làm chưa đúng, làm sai hoặc có vi phạm pháp luật , cho

Trang 19

nên giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo giúp người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thi hành án dân sự bảo vệ được các lợi ích chính đáng của họ trước các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, Ch p hành viên các cơ quan Thi hành án dân sự Đồng thời cũng góp phần bảo vệ danh dự, uy tín của cán bộ, công chức, Ch p hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự trước những hành vi “m luật” và vô văn hoá của một số người vì động cơ cá nhân mà cố tình bôi nhọ danh dự, uy tín của cán bộ, công chức, Ch p hành viên và cơ quan Thi hành án dân sự, chống đối việc thi hành án,v.v

Còn đối với ki m tra, trên thực tế có những cuộc ki m tra, chỉ đạo về nghiệp

vụ trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã đạt kết quả nhưng chưa đạt được mục đích giải quyết triệt đ v n đề lại phải tiến hành một cuộc thanh tra

Ví dụ: Qua ki m tra các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài về thi hành án dân sự tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình, Thanh tra Bộ Tư pháp

th y rằng mục đích của cuộc ki m tra đã đạt được nhưng lại phát hiện một vụ việc cần phải được thanh tra, xác minh là rõ đ phục vụ cho công tác hướng d n, chỉ đạo, điều hành của Bộ và cũng là đ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan Do đó, Thanh tra Bộ Tư pháp đã đề xu t ãnh đạo Bộ cho thành lập 01 đoàn thanh tra, qua thanh tra đã có kết luận đối với vụ việc nói trên

Năm là, Phương pháp tiến hành thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Với mục đích rõ sâu, khi tiến hành thanh tra, Đoàn thanh tra áp dụng những biện pháp nghiệp vụ đi vào thực ch t đến tận c ng của v n đề như: thu thập chứng

cứ, đối thoại, ch t v n Đặc biệt, quá trình thanh tra các Đoàn thanh tra còn có th

áp dụng những biện pháp cần thiết đ phục vụ thanh tra theo quy định tại uật Thanh tra, các văn bản quy định chi tiết và hướng d n thi hành và Quy chế Tổ chức hoạt động Đoàn thanh tra, bao gồm các quyền như: Yêu cầu cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung c p thông tin cần thiết phục vụ cho việc thanh tra; yêu cầu

cơ quan, đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra; trưng cầu giám định; yêu cầu đối tượng thanh tra cung c p tài liệu, báo cáo bằng văn bản, trả lời

ch t v n của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên; khi cần thiết tiến hành ki m kê tài sản; quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản, khi có căn cứ đ nhận định

có vi phạm pháp luật; ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền,

đồ vật, gi y phép được c p hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét th y cần ngăn chặn ngay việc vi phạm pháp luật hoặc đ xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết

Trang 20

luận, xử lý; đình chỉ việc làm xét th y đang hoặc sẽ gây tác hịa đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân; tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuy n công tác người đang công tác với tổ chức thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra, nếu xét th y việc thi hành quyết định gây trở ngại cho việc thanh tra; cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên nhà nước cố ý cản trở việc thanh tra hoặc thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên; kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của pháp luật; chuy n hồ sơ về việc vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết, nếu xét th y có d u hiệu c u thành tội phạm10

s c hơn mà còn có th kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hình thức kỷ luật thích đáng, cá biệt nếu có d u hiệu vi phạm pháp luật hình sự còn

có th chuy n hồ sơ sang cơ quan điều tra đ xem xét khởi tố vụ án hình sự, khởi tố

bị can (như đề nghị khởi tố vụ án Kế toán cơ quan Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng, tỉnh ong An xâm tiêu tiền thi hành án hơn 50.000.000đ vào năm 2004) Tóm lại, việc phân biệt thanh tra và ki m tra có ý nghĩa r t quan trọng, bởi vì

có sự phân biệt này chúng ta mới xác định được khi nào cần ki m tra, khi nào cần thanh tra đ các hoạt động này đúng thẩm quyền, đúng nội dung và mục đích đề ra trong công tác thi hành án dân sự nhằm giúp cho công tác thi hành án dân sự ngày càng hoạt động hiệu quả hơn

1.2 Nguyên tắc thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

1.2.1 Nguyên tắc thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Nguyên t c hoạt động thanh tra là những tư tưởng chủ đạo, làm cơ sở, nền tảng đ tiến hành hoạt động thanh tra Thanh tra đối với hoạt động thi hành án dân

sự địa phương là một hoạt động thanh tra vừa mang tính hành chính và mang tính

10

Hoàng Thế Anh (2005), Kỹ năng Thi hành án dân sự, NXB Thống kê, Hà Nội, tr 88

Trang 21

chuyên ngành nên nó luôn phải tuân thủ các nguyên t c của hoạt động thanh tra nói chung và tuân thủ những nguyên t c đảm bảo tính đặc th nghề nghiệp trong hoạt động thi hành án dân sự

Theo uật Thanh tra năm 2010 và Nghị định 74/2006/NĐ- CP của Chính phủ, hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương phải tuân theo

các nguyên t c sau: Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật; đảm bảo chính

xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; Không tr ng lặp về phạm

vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân là đối tượng hoạt động thanh tra11

Thứ nhất, Nguyên tắc thanh tra thi hành án dân sự chỉ tuân theo pháp luật

Đây là nguyên t c ph hợp với nguyên t c pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Nguyên t c này được th hiện ở hai nội dung sau:

Một là, Mọi công việc được thực hiện khi tiến hành hoạt động thanh tra đều

phải được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Những quy định pháp luật trước hết đó là những quy định pháp luật hiện hành về thanh tra, đồng thời cũng phải dựa trên cơ sở những quy định pháp luật liên quan đến nội dung thanh tra và đối tượng thanh tra Nội dung này đòi hỏi chủ th tiến hành hoạt động thanh tra chỉ được thực hiện những hoạt động mà pháp luật cho phép

Hai là, Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật

vào hoạt động thanh tra Khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định, chủ th

có thẩm quyền tiến hành hoạt động thanh tra được quyền tiến hành hoạt động thanh tra một cách độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Cụ th trong lĩnh vực thi hành án dân sự, theo nguyên t c này khi tiến hành thanh tra, người ra quyết định thanh tra, người thực hiện quyết định thanh tra phải căn cứ vào các quy định pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, đưa ra các kết luận rõ ràng về những việc

cơ quan Thi hành án dân sự đã làm được hay chưa làm được Cụ th ở đây là phải căn cứ vào uật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng d n thi hành

đ xem xét, đánh giá những việc đã làm được, chưa làm được của cơ quan Thi hành

án dân sự, ch p hành viên, cán bộ, công chức thi hành án Đối với người thực hiện

11 Điều 7 uật Thanh tra năm 2010 và Điều 3 Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp

Trang 22

quyết định thanh tra, phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật quy định Nghiêm c m mọi hành vi lộng quyền, lạm quyền Các kết luận của thanh tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật mà ban hành12

Việc đảm bảo nguyên t c tuân theo pháp luật trong hoạt động thanh tra có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đặc biệt khi chúng ta đang tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mặt khác, hoạt động thanh tra liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhà nước, xã hội và quyền lợi của đối tượng thanh tra và các bên liên quan, những quyền lợi này chỉ có th được đảm bảo một cách tốt nh t khi hoạt động thanh tra tuân thủ chính xác nguyên t c này

Thứ hai, Nguyên tắc bảo đảm chính xác, khách quan, dân chủ, công khai, kịp thời trong hoạt động thanh tra

Đây là nguyên t c quan trọng, b t cứ một kết quả, hành vi nào trong thanh tra không đảm bảo tính chính xác, khách quan, dân chủ, công khai và kịp thời sẽ d n tới hậu quả x u và gây ra những tác hại nghiêm trọng, làm cho việc nhìn nhận, đánh giá đối tượng thanh tra bị sai lệch, d n tới các biện pháp xử lý sai đối tượng thanh tra Vì vậy trong hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương ta phải đảm bảo các yêu cầu chính xác, khách quan, dân chủ, công khai và kịp thời

Trước hết, Hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

phải bảo đảm tính chính xác Bởi vì thanh tra là việc xem xét đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch của nhà nước, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp xử lý ph hợp đ đảm bảo chính sách, pháp luật, kế hoạch của nhà nước được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc, từ đó tăng cường hiệu quả quản lý hành chính nhà nước Mỗi kết luận, kiến nghị hay quyết định trong hoạt động thanh tra đều r t quan trọng vì nó phải làm rõ sự đúng sai, tình hình và tính ch t sự việc, v n đề trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân…Vì vậy trong hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương cần phải bảo đảm tính chính xác Bản thân nguyên

t c tuân theo pháp luật trong hoạt động thanh tra cũng đã tạo cơ sở khách quan cho nguyên t c chính xác vì khi tuân theo đầy đủ những quy định của pháp luật có nghĩa

là đã có căn cứ rõ ràng theo quy định của pháp luật, việc thực hiện những nhiệm vụ,

12 Hoàng Thế Anh (2005), Kỹ năng Thi hành án dân sự, NXB Thống kê, Hà Nội, tr.89

Trang 23

quyền hạn pháp lý hoàn toàn ph hợp với quy định của pháp luật thì lúc này tính chính xác được thực hiện

Ngoài ra, trong hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa

phương đòi hỏi đảm bảo khách quan, trung thực Việc đảm bảo sự khách quan, trung thực trong hoạt động thanh tra được hi u ở hai khía cạnh:

Một là, Việc tiến hành hoạt động thanh tra phải xu t phát từ thực tiễn quản lý

hành chính nhà nước V n đề này đòi hỏi hoạt động thanh tra phải dựa trên những căn cứ khách quan xảy ra trong thực tế quản lý và những căn cứ này phải ph hợp với quy định của pháp luật Tính khách quan đảm bảo phản ánh đúng sự thật, phải

đi sâu đi sát, n m ch c thực tế, tôn trọng sự thật, mọi nhận định về đối tượng không được tuân theo ý chí chủ quan của cá nhân, tổ chức nào

Hai là, Mọi kết luận, quyết định, kiến nghị trong hoạt động thanh tra đều phải

xu t phát từ thực tiễn khách quan chứ không th là kết quả của sự suy diễn chủ quan, hay áp đặt ý chí cá nhân Như vậy, muốn đảm bảo tính khách quan trong hoạt động thanh tra đòi hỏi cán bộ thanh tra phải có sự hi u biết về pháp luật và phải có năng lực chuyên môn đ có th độc lập, khách quan trong suy nghĩ và trong hành động của mình

Hoạt động thanh tra phải đảm bảo nguyên t c công khai, dân chủ ý do là bản ch t của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ, công khai nên những quy định của pháp luật về thanh tra từ cơ c u, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn đến trình tự thủ tục thanh tra đã th hiện nội dung của nguyên t c công khai, dân chủ Nội dung hoạt động thanh tra được thông báo một cách đầy đủ và rộng rãi cho mọi đối tượng liên quan biết; Cơ quan thanh tra phải có trách nhiệm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động này Kết luận, kiến nghị thanh tra phải được thông báo đến các đối tượng

có liên quan biết; phải tạo điều kiện thuận lợi đ quần chúng cung c p thông tin cho thanh tra, phải cho đối tượng thanh tra được giải trình về những kết luận thanh tra Hoạt động thanh tra phải đảm bảo tính kịp thời Đây là yêu cầu mang tính đặc

th trong phương pháp hoạt động thanh tra Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra nhằm đảm bảo vừa phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật vừa bảo vệ kịp thời lợi ích của nhà nước, tập th và cá nhân trong hoạt động xã hội Tính kịp thời đòi hỏi: Khi có đầy đủ cơ sở tiến hành thanh tra, tổ chức thanh tra phải nhanh chóng tiến hành hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật Mọi công việc tiến hành hoạt động thanh tra phải được thực hiện trong thời gian do pháp luật quy định

Trang 24

Thứ ba, Nguyên tắc không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan quan thực hiện chức năng thanh tra

Nguyên t c này th hiện chủ yếu ở giai đoạn xây dựng kế hoạch thanh tra, thực

hiện khảo sát Nếu trong giai đoạn này phát hiện những nội dung dự kiến thanh tra

đã nằm trong kế hoạch hoặc đang được tiến hành thanh tra bởi một cơ quan khác thì nội dung đó sẽ không đưa vào kế hoạch thực hiện thanh tra nữa, nhằm tránh sự chồng chéo, tr ng lặp, gây lãng phí về các nguồn lực và hiệu quả của công tác thanh

tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Thứ tư, Nguyên tắc không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra:

Hoạt động thanh tra là nhằm góp phần tăng cường quả quản lý hành chính nhà nước Pháp luật trao cho cơ quan Thanh tra thẩm quyền tiến hành hoạt động thanh tra nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan,

tổ chức và cá nhân là đối tượng thanh tra Có như vậy, thanh tra mới thực sự là công

cụ đ tăng cường pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước Nguyên

t c này có ý nghĩa thực tiễn r t lớn, tránh tình trạng thanh tra viên, cán bộ thanh tra lợi dụng hoạt động thanh tra đ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, tiêu cực Nguyên t c này cũng l y nguyên t c tuân theo pháp luật làm cơ sở nền tảng và cũng được cụ th hoá thành những hành vi bị c m trong hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

1.2.2 Nguyên tắc kiểm tra đối cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Theo Thông tư số 22/2011/TT-BTP ngày 02 tháng 12 năm 2011 của Bộ Tư pháp, hướng d n thực hiện một số thủ tục trong quản lý hành chính về thi hành án dân sự

Công tác ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương phải đảm bảo các nguyên t c sau: Nguyên t c ki m tra không được làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị ki m tra; Nguyên t c ki m tra phải công khai, dân chủ, các đánh giá, kết luận phải chính xác, khách quan; Nguyên t c kết thúc ki m tra phải có kết luận ki m tra về những nội dung được ki m tra và nguyên t c ki m

Trang 25

Thứ nhất, Nguyên tắc kiểm tra không được làm ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị được kiểm tra

Hoạt động ki m tra là nhằm góp phần tăng cường quản lý hành chính nhà nước Các cơ quan có thẩm quyền ki m tra có quyền tiến hành hoạt động ki m tra nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng ki m tra Như vậy, ki m tra mới thực sự là công cụ đ tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương và tính pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự Nguyên t c này có ý nghĩa thực tiễn r t lớn, tránh tình trạng lợi dụng việc tra đ nhũng nhiễu, tiêu cực

Thứ hai, Nguyên tắc kiểm tra phải công khai, dân chủ; các đánh giá, kết luận phải chính xác, khách quan

Trước hết hoạt động ki m tra phải đảm bảo nguyên t c công khai, dân chủ Như chúng ta đã biết bản ch t của chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ, công khai nên những quy định của pháp luật về ki m tra từ cơ c u, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn đến quy trình ki m tra đã th hiện nội dung của nguyên t c công khai dân chủ Nội dung hoạt động ki m tra được thông báo một cách công khai, đầy đủ và rộng rãi cho mọi đối tượng liên quan biết; Đoàn ki m tra phải có trách nhiệm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động ki m tra Kết luận, ki m tra phải được thông báo đến các đối tượng có liên quan biết

Ngoài ra kết luận, đánh giá trong ki m tra đòi hỏi đảm bảo khách quan, chính xác Việc đảm bảo sự khách quan, chính xác trong hoạt động ki m tra phải xu t

phát từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước V n đề này đòi hỏi hoạt động ki m tra phải dựa trên những căn cứ khách quan xảy ra trong thực tế quản lý và những căn cứ này phải ph hợp với quy định của pháp luật chứ không phải là ý muốn chủ quan, tuỳ tiện của chủ th có thẩm quyền Mọi đánh giá, kết luận trong hoạt động

ki m tra đều phải xu t phát từ thực tiễn khách quan chứ không th là kết quả của sự suy diễn chủ quan, hay áp đặt ý chí cá nhân Như vậy, muốn đảm bảo tính khách quan trong hoạt động ki m tra đòi hỏi cán bộ ki m tra phải có sự hi u biết về pháp luật và phải có năng lực chuyên môn đ có th độc lập, khách quan trong suy nghĩ

Trang 26

định Nguyên t c này được quy định đ tránh trường hợp sau khi kết thúc cuộc thanh tra mà Đoàn thanh tra vì nhiều yếu tố liên quan tác động nên chậm ban hành kết luận ki m tra, làm ảnh hưởng đến đơn vị được ki m tra

Thứ tư, Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên

Nhằm phát hiện kịp thời những sai phạm, thiếu sót của cơ quan Thi hành án dân sự, ch p hành viên, cán bộ thi hành án trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, của Trọng tài thương mại, cũng như những quyết định quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự không còn ph hợp với thực tế, việc ki m tra thi hành án dân sự phải được các cơ quan quản lý Thi hành án dân sự tiến hành một cách thường xuyên Trong quá trình thi hành án, các

cơ quan Thi hành án dân sự không phải đợi đến khi có các khiếu nại, tố cáo hay xảy

ra vi phạm trong thi hành án dân sự mới tiến hành ki m tra Hàng năm các cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, các cơ quan Thi hành án dân sự phải có kế hoạch ki m tra của mình Việc ki m tra có th được tiến hành định kỳ hoặc đột xu t, t y thuộc vào tình hình cụ th ở từng giai đoạn và ph hợp với các yêu cầu về quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự14

Cơ quan (chủ th ) có thẩm quyền thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương là Thanh tra Chính phủ và Thanh tra Bộ Tư pháp

Trang 27

Thanh tra Chính phủ là cơ quan của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; thực hiện hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng theo quy định pháp luật Với vai trò là cơ quan của Chính phủ, giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thanh tra, Thanh tra Chính phủ có thẩm quyền thực hiện chức năng thanh tra lĩnh vực thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước Trong hoạt động thanh tra của mình, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn thanh tra việc ch p hành pháp luật, các quy định về chuyên môn, quy t c quản lý và các mặt khác trong lĩnh vực thi hành án dân sự Thanh tra Chính phủ có quyền thanh tra hành chính đối với các cơ quan Thi hành án dân sự trong cả nước, k cả ở trung ương l n địa phương

Cụ th Thanh tra Chính phủ là chủ th thanh tra của Tổng Cục Thi hành án dân

sự thuộc Bộ Tư pháp, của Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện Hay nói cách khác Tổng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện là đối tượng thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong lĩnh vực thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong thực tế Thanh tra Chính phủ r t ít tiến hành thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Thứ hai, Thanh tra Bộ Tư pháp

Theo quy định Khoản 1 Điều 167 uật Thi hành án dân sự năm 2008, Bộ Tư pháp

chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự

và có các nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan Thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải th các cơ quan Thi hành

án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Ch p hành viên, Thẩm tra viên; hướng

d n, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Ch p hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự; ki m tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự; v.v

Đ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với công tác thanh tra thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp giao cho cơ quan Thanh tra Bộ Tư pháp giúp Bộ Tư pháp nhiệm vụ thanh tra đối với lĩnh vực thi hành án dân sự Thanh tra Bộ Tư pháp

là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp;

Trang 28

thực hiện thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc

Với vai trò là cơ quan tham mưu của Bộ Tư pháp đồng thời thực hiện chức năng thanh tra nhà nước trong lĩnh vực quản lý của Bộ, Thanh tra Bộ Tư pháp thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Bộ Tư pháp có nhiệm vụ và quyền hạn thanh tra việc ch p hành pháp luật chuyên ngành, các quy định về chuyên môn, quy

t c quản lý trong lĩnh vực thi hành án dân sự Với chức năng được giao Thanh tra

Bộ xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra và tổ chức thực hiện sau khi được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt; Thanh tra Bộ trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định việc thanh tra đột xu t khi phát hiện có d u hiệu vi phạm pháp luật; Thanh tra Bộ ra quyết định thanh tra theo thẩm quyền; Trong những trường hợp cần thiết Thanh tra

Bộ ra quyết định đ thanh tra viên tiến hành thanh tra độc lập đối với những vụ việc đơn giản, có quy mô nhỏ trên cơ sở xác định rõ đối tượng và phạm vi, nhiệm vụ và thời hạn tiến hành thanh tra

Cụ th Thanh tra Bộ Tư pháp là chủ th thanh tra của Tổng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, của Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và Chi cục Thi hành

án dân sự c p huyện Hay nói cách khác Tổng Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh và Chi cục Thi hành án dân sự c p huyện là đối tượng thanh tra của Thanh tra Bộ Tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự.Theo uật Thanh tra năm 2010 và Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ có quy định một chế định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm: Tổng cục, Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Tuy nhiên, hệ thống cơ quan Thi hành án dân sự không có cơ quan nào được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực này Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự c p tỉnh không có chức năng thanh tra về thi hành

án dân sự đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương Đây là một hạn chế trong công tác thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực thi hành án dân sự

Đ công tác thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương hiệu quả, nhanh chóng, kịp thời hơn thì cần thiết phải kiện toàn cơ quan thanh tra trong lĩnh

15 Điều 1 Quyết định số 1747/QĐ-BTP ngày 09/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ c u tổ chức của Thanh tra Bộ Tư pháp

Trang 29

vực thi hành án dân sự từ trung ương đến địa phương Có th giao thẩm quyền thanh tra đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương cho Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự thực hiện

1.3.2 Chủ thể có thẩm quyền kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Theo quy định của uật Thi hành án dân sự năm 2008; Nghị định 74/2009/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 12 Thông tư 22/2011/TT-BTP, thẩm quyền ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương là Tổng Cục Thi hành án dân sự, Cục Thi hành án dân sự tỉnh và Chi Cục Thi hành án dân sự c p huyện

Thứ nhất, Tổng Cục Thi hành án dân sự

Theo Khoản 2 Điều 167 uật Thi hành án dân sự năm 2008, Tổng cục Thi hành án dân sự là cơ quan quản lý nhà nước về thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự

và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tổng Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ki m tra toàn diện hoặc chuyên đề đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương (cả c p tỉnh l n c p huyện) nhằm giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự ở địa phương trong phạm vi cả nước

Ví dụ: Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về tăng cường ki m tra đối với công tác thi hành án dân sự nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Quốc hội, chương trình công tác của Thủ tướng Chính phủ, ngày 16/4/2013 Tổng Cục Thi hành án dân sự và thanh tra Bộ Tư pháp có Kế hoạch số 859/KH-TCTHADS-TTr, ki m tra việc ra quyết định thi hành án, thụ lý thi hành án, phân loại việc, tiền thi hành án dân sự, kết quả thi hành án dân sự và công tác thống kê thi hành án dân sự năm 2013 đối với các cơ quan Thi hành án dân sự trong phạm vi

toàn quốc

Thứ hai, Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh

Theo Khoản 1 Điều 14 uật Thi hành án dân sự năm 2008, Cục Thi hành án dân sự tỉnh có thẩm quyền quản lý, chỉ đạo về hoạt động thi hành án dân sự trên toàn địa bàn tỉnh, trong đó có ki m tra công tác thi hành án dân sự đối với các phòng chuyên môn thuộc Cục Thi hành án dân sự tỉnh và các cơ quan Thi hành án dân sự c p huyện Đ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền ki m tra toàn diện hoặc chuyên đề đối với các phòng chuyên môn thuộc Cục Thi hành án

Trang 30

dân sự tỉnh và các cơ quan Thi hành án dân sự c p huyện và các cán bộ, công chức,

Ch p hành viên cơ quan thi hành án dân sự theo kế hoạch ki m tra hoặc ki m tra đột xu t hoặc ki m tra theo đơn tố cáo, khiếu nại của tổ chức và công dân

Ví dụ: Ngày 20/02/2013 Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh ong An có Quyết định số 114/QĐ-CTHA, ban hành kế hoạch ki m tra công tác thi hành án dân

sự đối với Ch p hành viên Cục Thi hành án dân sự tỉnh, Chi cục Thi hành án dân sự

các huyện, thành phố năm 2013

Thứ ba, Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện

Theo Điều 16 uật Thi hành án dân sự năm 2008, cơ quan Thi hành án dân sự

c p huyện có quyền thực hiện ki m tra đối với hoạt động của các cán bộ, công chức,

Ch p hành viên thuộc sự quản lý của đơn vị mình, ki m tra theo kế hoạch hoặc

ki m tra đột xu t hoặc theo đơn tố cáo, khiếu nại của tổ chức và công dân

Ví dụ: Ngày 06/12/2011 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An có kế

hoạch số 215/KH-CCTHA, về ki m tra toàn diện và chuyên đề về tổ chức thi hành

án đối với các ch p hành viên thuộc Chi cục năm 2012

1.4 Nội dung thanh tra, kiểm tra trong hoạt động thi hành án dân sự địa phương

1.4.1 Nội dung thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Nội dung thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương gồm nhiều

v n đề khác nhau liên quan đến hoạt động thi hành án dân sự của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương Thông thường thanh tra các nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, Thanh tra về thụ lý thi hành án dân sự

Thụ lý các bản án, quyết định của Toà án, đơn yêu cầu thi hành án (được quy định tại Điều 29 và 33 uật Thi hành án dân sự năm 2008) là cơ sở phát sinh trách nhiệm thi hành án theo quy định của pháp luật đối với cơ quan thi hành án Đây là khâu đầu tiên trong nghiệp vụ thi hành án, nếu làm tốt khâu này sẽ là tiền đề cho việc hoàn thành tốt các bước tiếp theo

Thực tế việc chuy n giao bản án, quyết định của Toà án cho cơ quan Thi hành

án thường bị chậm, không thường xuyên Khi chuy n giao bản án, quyết định, Tòa án nhân dân các c p không đồng thời chuy n giao các vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ việc như tài sản tạm giữ, tài sản kê biên, biên bản thu giữ vật chứng, tài sản, các gi y tờ sở hữu về tang vật, tài sản, tiền và các gi y tờ khác Cơ quan Thi hành án dân sự m t nhiều thời gian đ liên hệ yêu cầu Toà án chuy n giao vật chứng, tài liệu nhưng cũng không dễ dàng Bên cạnh đó, khi c p bản sao bản án, quyết định cho người được thi hành án, người phải thi hành án, Toà án phải ghi “đ thi hành”, đồng thời phải giải thích cho người được

Trang 31

thi hành án, người phải phải thi hành án quyền yêu cầu thi hành án, thời hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án, nhưng thực tế Tòa án nhân dân các c p thiếu quan tâm thực hiện nội dung này, gây hi u lầm cho người dân “các cơ quan làm khó”, d n đến bức xúc không hợp tác, không tự nguyện thi hành và gây khó khăn cản trở cho công tác thi hành án dân sự16

Vì vậy, đ việc thụ lý thi hành án đúng theo quy định pháp luật, cần tăng cường thanh tra trong công tác này

Thứ hai, Thanh tra về việc ra quyết định thi hành án

Việc ra quyết định thi hành án được quy định tại Điều 36 uật Thi hành án dân

sự

Quyết định thi hành án là văn bản pháp quy do cơ quan thi hành án có thẩm quyền ban hành xác định quyền, nghĩa vụ của cơ quan thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án và những người liên quan trong một vụ việc cụ th

Vì vậy quyết định thi hành án là văn bản không th thiếu trong hồ sơ thi hành án Nội dung của quyết định phải th hiện được toàn bộ nghĩa vụ của người phải thi hành, đồng thời cũng là quyền của người được thi hành và trách nhiệm của cơ quan thi hành án, của ch p hành viên Hình thức của quyết định thi hành án phải đúng theo qui định Việc ra quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan Thi hành án có

ý nghĩa r t quan trọng đối với thi hành một vụ việc cụ th , cho nên quyết định thi hành án phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác, kịp thời

Thứ ba, Thanh tra về xác minh điều kiện thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án đượcquy định chặt chẽ tại Điều 44 uật Thi hành án dân sự

Xác minh điều kiện thi hành án là một khâu r t quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án, vì trên cơ sở xác minh ta mới có sơ sở phân loại án có điều kiện

và không điều kiện đ xử lý các bước tiếp theo theo quy định Không điều kiện thì

ta xử lý theo uật Thi hành án dân sự, như: Hoãn thi hành án, đình chỉ thi hành án,

ủy thác thi hành án, trả đơn yêu cầu thi hành án; Đối với án có điều kiện thì tổ chức vận động tự nguyện thi hành án, trường hợp cố tình chây ỳ, chống đối không thi hành thì cưỡng chế thi hành án theo quy định Chính vì mang tính ch t quan trọng như vậy và trong thực tế việc xác minh điều kiện thi hành án cũng còn nhiều sai sót,

16 ê Anh Tu n (2009), “Vai trò của Toà án trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số

chuyên đề Thi hành án dân sự và v n đề xã hội hoá, tr.82-88

Trang 32

cần thường xuyên thanh tra vào công tác xác minh thi hành án đ đảm bảo việc thi hành án được thi hành đúng theo quy định

Thứ tư, Thanh tra về cưỡng chế thi hành án

Cưỡng chế thi hành án là nội dung r t quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, được quy định chi tiết, chặt chẽ từ Điều 70 đến Điều 121 uật Thi hành án dân sự

Cưỡng chế thi hành án là biện pháp gay g t, quyết liệt do cơ quan Thi hành án dân sự áp dụng nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc hành vi đ thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Trong thực tế khi tiến hành cưỡng chế thi hành án thường phát sinh r t nhiều tình huống phức tạp mà cơ quan Thi hành án phải xử lý Vì vậy, khi thanh tra xem xét việc cưỡng chế thi hành án, trước hết phải xem xét các điều kiện đ áp dụng cưỡng chế, sau đó là việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế và toàn bộ quá trình tổ chức việc cưỡng chế; đặc biệt chú ý việc xử lý các tình huống phát sinh khi cưỡng chế thi hành án, như: Đương sự chống đối, cản trở hoặc cố tình gây khó khăn trong quá trình cưỡng chế và cách xử lý của ch p hành viên như thế nào, có đúng quy định không, hậu quả như thế nào?

Ví dụ: Năm 2005 cơ quan Thi hành án thị xã Tân An, tỉnh ong An tiến hành

cưỡng chế tài sản của bà Nguyễn Thị Bông, ở phường 2, thị xã Tân An, ong An đ giao cho người mua trúng đ u giá Bà Nguyễn Thị Bông và gia đình chống đối quyết liệt và tố cáo đến Bộ Tư pháp, sau đó Thanh tra Bộ Tư pháp tiến hành thanh

tra vụ cưỡng chế trên theo quy định

Thứ năm, Thanh tra công tác thu, chi tiền thi hành án

Công tác thu, chi tiền thi hành án được quy định cụ th , chặt chẽ tại Điều 47 uật Thi hành án dân sự Công tác thu, chi tiền thi hành án là nội dung r t quan trọng, luôn tiềm ẩn tiêu cực, sai phạm làm ảnh hưởng đến kết quả thi hành án Trong thực tế thi hành án, việc thu chi tiền thi hành án của các cơ quan Thi hành án dân sự điạ phương cũng còn nhiều thiếu sót, sai phạm

Khi tiến hành thanh tra việc thu, chi tiền thi hành án, cần xem xét việc sử dụng các m u biên lai, phiếu thu, phiếu chi các chứng từ, tài liệu lưu trong hồ sơ thi hành

án có quy định và có ph hợp thực tế hay không; có phản ánh trung thực đầy đủ quá trình thi hành vụ việc không? Khi cần thiết phải đối chiếu với sổ sách, tài liệu, chứng từ của kế toán, thủ quỹ hay đối khớp với các hồ sơ, tài liệu khác

Trang 33

Ngoài ra, t y tình hình, yêu cầu thực tế hoặc có đơn tố cáo, cơ quan Thanh tra

có th thanh tra nhiều nội dung khác trong hoạt động thi hành án của cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, như: Trong công tác tài chính, kế toán, kinh phí hoạt động, thu phí thi hành án, mua s m tài sản công, xây dựng cơ bản, công tác tổ chức cán bộ, v.v

Ví dụ: Năm 2012, Thanh tra Bộ Tư pháp đã tiến hành thanh tra về công tác tổ chức cán bộ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh (do có đơn tố cáo của nội bộ đơn vị)

1.4.2 Nội dung kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Nội dung ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương được quy định tại Điều 15 Thông tư 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp

Căn cứ tình hình công tác thực tế của đơn vị và yêu cầu quản lý, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự Bộ Tư pháp, Cục trưởng Cục Thi hành án dân

sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân

sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định nội dung ki m tra17

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, hoạt động ki m tra là công tác thường xuyên được các cơ quan quản lý Thi hành án dân sự và cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện nhằm đánh giá kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của Toà án hoặc các quyết định khác theo quy định của pháp luật

Nội dung ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương gồm: Ki m

tra toàn diện và ki m tra chuyên đề Ki m tra toàn diện là ki m tra một cách toàn diện toàn bộ hoạt động thi hành án dân sự của các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, của các ch p hành viên, cán bộ công chức thi hành án dân sự Ki m tra chuyên đề là ki m tra một mặt hoạt động hoặc một chuyên đề, lĩnh vực cụ th nào

đó trong hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự địa phương Trong quá trình thực hiện ki m tra, tuỳ thuộc vào việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, chính trị và kết quả thi hành án của từng địa phương ở các thời đi m khác nhau, việc ki m tra được tiến hành một cách thường xuyên, định kỳ, hoặc ki m tra theo chuyên đề

Thứ nhất, Kiểm tra toàn diện công tác thi hành án dân sự địa phương

Ki m tra toàn diện được tiến hành vào các nội dung chủ yếu như sau:

17 Điều 15 Thông tư 22/2011/TT-BTP ngày 02/12/2011 của Bộ Tư pháp, hướng d n thực hiện một số thủ tục trong quản lý hành chính về thi hành án dân sự

Trang 34

Một là, Kiểm tra công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Công tác tổ chức cán bộ là khâu quan trọng nh t đối với b t kỳ cơ quan nào Bởi vì yếu tố con người là sự quyết định sự thành bại của mọi v n đề, cơ quan nào

mà có tổ chức hoàn thiện, con người ổn định và có tâm có tầm là đảm bảo hơn một nữa sự hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan đó

Điều đó càng đúng hơn đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương, bởi vì như trên đã nói lĩnh vực thi hành án dân sự là lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm,

dễ đụng chạm và ảnh hưởng tới các quyền về tài sản và lợi ích thiết thực của các tổ chức và người dân Trong các năm qua các cơ quan quản lý Thi hành án dân sự và

cơ quan Thi hành án dân sự địa phương luôn tăng cường ki m tra đối với công tác

tổ chức cán bộ của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương Nội dung ki m tra

về sự quản lý điều hành của lãnh đạo, sự ch p hành pháp luật của cán bộ công chức

nh t là các Ch p hành viên, sự phân công công tác của lãnh đạo, trong công tác tuy n dụng, thi tuy n, đề bạt bổ nhiệm, thi đua, kỷ luật, đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch, phân loại công chức và các mặt khác xem việc thực hiện công tác tổ chức cán bộ của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương có đúng với quy định của uật Thi hành án dân sự, uật cán bộ công chức, Nghị định 74/2010/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng d n thi hành án khác theo quy định

Hai là, Kiểm tra hoạt động thi hành án của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Trong hoạt động thi hành án của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

có nhiều nội dung Nhưng thường ki m tra vào các nội dung sau: Ki m tra việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án và Trọng tài thương mại có đúng quy định không, như: Việc thụ lý thi hành án, ra quyết định thi hành án; công tác giải quyết án, các hồ sơ thi hành án dân sự, trong đó ki m tra việc ban hành các quyết định, các văn bản; việc thực hiện các thủ tục hành chính về thi hành án dân sự theo quy định; việc tác nghiệp của Ch p hành viên; việc cập nhật thống kê, lưu trữ các tài liệu, chứng từ thu - chi thi hành án vào hồ sơ thi hành án Ki m tra công tác nghiệp vụ kế toán thi hành án; phí thi hành án; kinh phí cưỡng chế; kinh phí họat động; việc quản lý và sử dụng tài sản công, xây dựng cơ bản Ki m tra công tác tiếp nhận, quản lý và xử lý tang - tài vật thi hành án Đây là công tác quan trọng, mang tính nhạy cảm trong thi hành án dân sự nên thường xảy ra vi phạm trong công tác này

Trang 35

Ví dụ: Tháng 10 năm 2012 Cục Thi hành án dân sự tỉnh ong An có kế hoạch

ki m tra toàn diện công tác thi hành án dân sự tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, cuộc ki m tra được tiến hành trong 15 ngày và có kết luận ki m tra cụ

th theo quy định

Ba là, Kiểm tra công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của ông dân

Đây là công tác được thực hiện thường xuyên trong hoạt động thi hành án dân

sự vì công tác thi hành án dân sự là công tác đem những quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan theo Bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc của Trọng tài thương mại ra thi hành trên thực tế nên thường xuyên đụng chạm, ảnh hưởng đến quyền lợi, tài sản thực sự của đương sự, cũng chính vì vậy mà đương sự thường có tâm lý bức xúc, chống đối đ cản trở thi hành án hoặc có khiếu nại, tố cáo cơ quan Thi hành án dân sự nhằm nhiều mục đích khác nhau Vì vậy cần phải tăng cường

ki m tra công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương nhằm giúp cơ quan được ki m tra thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Thứ hai, Kiểm tra chuyên đề công tác thi hành án dân sự địa phương

Ngoài ki m tra toàn diện như trên thì trong quá trình quản lý, t y tình hình thực tế của địa phương các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương có quyền ki m tra chuyên đề cụ th nào đó đối với cơ quan Thi hành án dân sự

Trong hoạt động ki m tra chuyên đề, cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự địa phương thường tiến hành ki m tra theo các chuyên đề chủ yếu sau: Ki m tra việc tổ chức thực hiện các chỉ đạo của lãnh đạo Cục Thi hành án dân sự tỉnh; ki m tra việc tổ chức tiếp công dân; ki m tra cụ th hồ

sơ thi hành án có đơn khiếu nại, tố cáo nhiều lần, khiếu nại vượt c p; ki m tra việc

ra quyết định thụ lý thi hành án; ki m tra việc phân loại thi hành án; ki m tra việc tổ chức thi hành án; ki m tra hồ sơ cưỡng chế thi hành án; ki m tra báo cáo thống kê thi hành án dân sự; ki m tra việc ch p hành tổ chức kỷ luật của cán bộ công chức, tác nghiệp thi hành án dân sự của Ch p hành viên, cán bộ công chức thi hành án dân sự; Ki m tra cụ th hồ sơ đang thi hành án của các ch p hành viên; v.v

Ví dụ: Ngày 11/1/2012 Cục Thi hành án dân sự tỉnh ong An có Kế hoạch số 11/KH-CTHA về ki m tra chuyên đề về hồ sơ thi hành án của các ch p hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ

Trang 36

1.5 Trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

1.5.1 Kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

1.5.1.1 Kế hoạch chuẩn bị thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Trình tự, thủ tục thanh tra là một quy trình nh t định được thực hiện bởi các chủ th thanh tra đối với các đối tượng thanh tra Hoạt động thanh tra với tư cách là chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước, là một khâu trong chu trình hoạt động quản lý nhà nước đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên t c và trình tự theo quy định của pháp luật Theo quy định của uật Thanh tra năm 2010; Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ và khoa học về nghiệp vụ thanh tra cũng như thực tiễn công tác thanh tra, một cuộc thanh tra được tiến hành theo ba bước gồm: Chuẩn

bị thanh tra, tiến hành thanh tra và kết thúc thanh tra

Trong lĩnh vực thi hành án dân sự một cuộc thanh tra cũng được tiến hành theo trình tự, thủ tục chung của pháp luật thanh tra, cụ th uật Thanh tra 2010, Thông tư 02/2010/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ Đồng thời nó còn tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành về tư pháp, về thi hành án dân sự, như: Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ Việc thanh tra có th tiến hành theo kế hoạch đã được phê duyệt, theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Tổng cục trưởng Tổng Cục Thi hành án dân sự hoặc khi có d u hiệu tiêu cực, vi phạm pháp luật có đơn thư khiếu nại, tố cáo của tổ chức và công dân

ập kế hoạch chuẩn bị thanh tra được quy định tại Điều 15 Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ và từ Điều 3 đến Điều 8 Thông tư 02/2010/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ Hàng năm Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ công tác của Bộ Tư pháp, yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo và hướng d n của cơ quan thanh tra c p trên đ xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra của năm trình Bộ trưởng phê duyệt Trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ trưởng, có trách nhiệm xem xét, quyết định, thông báo cho

ập kế hoạch chuẩn bị thanh tra là bước đầu tiên trong trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra Việc lập kế hoạch càng tốt thì hiệu quả cuộc thanh tra càng hiệu quả; trong kế hoạch thanh tra phải xác định rõ mục đích, yêu cầu thanh tra, vì công tác thi hành án dân sự r t nhiều lĩnh vực, nhiều yêu cầu nghiệp vụ phức

18

Điều 15 Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp

Trang 37

tạp, do đó phải biết chọn lọc những v n đề cần thiết, trọng tâm, trọng đi m đ tập trung thời gian, lực lượng thanh tra Trong bước này phải thực hiện một số yêu cầu sau: Thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin cần thiết và khảo sát, n m tình hình đ quyết định thanh tra; xây dựng kế hoạch thanh tra và ra quyết định thanh tra; phổ biến kế hoạch tiến hành thanh tra; tổ chức tập hu n, quán triệt; xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo; chuẩn bị điều kiện vật ch t, như xe cộ, phương tiện đi lại, văn phòng phẩm phục vụ cho việc thanh tra; thông báo về việc công bố quyết định thanh tra.

Về việc ra quyết định thanh tra theo chương trình, kế hoạch

Việc ra quyết định thanh tra theo chương trình, kế hoạch được quy định cụ th tại Điều 16 Nghị định 74/2006/NĐ-CP cua Chính phủ Căn cứ chương trình, kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt, Chánh thanh tra ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra đ tiến hành thanh tra Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra đ tiến hành thanh tra Trước khi ra quyết định thanh tra, người ra quyết định thanh tra thu thập thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến nội dung, đối tượng cần thanh tra; xác định tính ch t, yêu cầu, mục đích của cuộc thanh tra, dự kiến thời gian tiến hành thanh tra; lựa chọn Trưởng Đoàn thanh tra, bố trí thành viên Đoàn thanh tra và chuẩn bị các điều kiện khác phục vụ cuộc thanh tra

Về việc ra quyết định thanh tra đột xuất

Việc ra quyết định thanh tra đột xu t được quy định cụ th tại Điều 17 Nghị định 74/2006/NĐ-CP của Chính phủ Thanh tra đột xu t được tiến hành khi phát hiện đối tượng thanh tra có d u hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao Bộ trưởng ra quyết định thanh tra đột xu t trong phạm vi thẩm quyền của mình; Chánh Thanh tra trình

Bộ trưởng quyết định việc thanh tra đột xu t Chậm nh t là 05 ngày, k từ ngày nhận được đề nghị việc tiến hành thanh tra đột xu t của Chánh Thanh tra, Bộ trưởng

có trách nhiệm xem xét, quyết định việc thanh tra và thông báo cho Chánh Thanh tra

Căn cứ vào quyết định phê duyệt của Bộ trưởng, Chánh Thanh tra ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra đ tiến hành thanh tra Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra đ tiến hành thanh tra Trường hợp phát hiện vụ việc vi phạm pháp luật cần phải áp dụng ngay

Trang 38

các biện pháp xử lý, Chánh Thanh tra ra quyết định thanh tra, đồng thời báo cáo ngay với Bộ trưởng theo quy định

1.5.1.2 Kế hoạch kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

ập kế hoạch ki m tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương là một trong các bước của quy trình một cuộc ki m tra được quy định tại Điều 12 Thông tư 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp

Đ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hàng năm Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xây dựng và quyết định kế hoạch ki m tra của đơn vị mình Kế hoạch ki m tra bao gồm: Kế hoạch ki m tra đối với c p dưới, kế hoạch ki m tra nội bộ đơn vị, kế hoạch ki m tra thường xuyên, kế hoạch ki m tra đột xu t và kế hoạch ki m tra liên ngành

Kế hoạch ki m tra là một nội dung r t quan trọng trong một cuộc ki m tra Vì vậy kế hoạch ki m tra phải được xây dựng trên các căn cứ kế hoạch công tác năm của ngành và của đơn vị; kế hoạch tổ chức thi hành án dân sự; chỉ tiêu thực hiện nhiệm vụ thi hành án dân sự được giao hàng năm của địa phương và đơn vị; kết quả thực hiện công tác của đơn vị và của đơn vị được ki m tra trong năm báo cáo và những năm trước đó; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị lập kế hoạch ki m tra; chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền là cơ quan quản lý Thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự c p trên19

Khi xây dựng kế hoạch ki m tra ta phải thực hiện đầy đủ các nội dung cơ bản như: mục đích, yêu cầu ki m tra; Nội dung kế hoạch ki m tra, phạm vi và nội dung ki m tra, hình thức và phương pháp ki m tra, nguyên t c xử lý sai phạm, tổ chức thực hiện kết luận ki m tra; Nội dung ki m tra; Thành phần đoàn ki m tra Kế hoạch ki m tra được xây dựng càng chi tiết, cụ th thì kết quả đạt được càng cao

Ví dụ: Năm 2013 Tổng Cục Thi hành án dân sự có Kế hoạch số TTr ngày 16/4/2013 về kế hoạch ki m tra việc ra quyết định thi hành án, thụ lý thi hành án, phân loại việc, tiền thi hành án dân sự, kết quả thi hành án dân sự và công tác thống kê thi hành án dân sự năm 2013 đối với các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương trong phạm vi toàn quốc20

Trang 39

1.5.2 h h ện hoạt ộng th nh t t ơ u n h h nh n n hương

1.5.2.1 Thực hiện hoạt động thanh tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Thực hiện thanh tra được quy định cụ th chi tiết từ Điều 9 đến Điều 18 của Thông tư 02/2010/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ Cuộc thanh tra được trực tiếp thực hiện từ khi công bố quyết định thanh tra cho tới khi ki m tra, xác minh xong toàn bộ nội dung cần thanh tra Đó là quá trình thu thập thông tin và chứng cứ thông qua nghiên cứu, xác minh, đối chiếu và phân tích, tổng hợp một cách khoa học, khách quan, trung thực đ Đoàn thanh tra có đủ cơ sở xây dựng báo cáo kết quả thanh tra Trực tiếp tiến hành thanh tra là bước quan trọng nh t, quyết định ch t lượng và sự thành công của cuộc thanh tra cho nên trong bước này, mỗi thành viên Đoàn thanh tra phải sử dụng toàn bộ những nghiệp vụ thanh tra chung cũng như nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực mình đang thanh tra đ thu thập, xác định những căn cứ chính xác, đầy đủ cho việc báo cáo kết quả thanh tra và xây dựng kết luận thanh tra

Trong bước này, thực hiện các việc sau: Công bố quyết định, kế hoạch thanh tra; Tiến hành thanh tra theo nội dung kế hoạch đề ra; Chuẩn bị báo cáo từng phần

và hoàn chỉnh từng phần hồ sơ thanh tra; Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra; Kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra21 Trong việc kết thúc thanh tra, thực hiện các việc sau: Xây dựng báo cáo kết quả thanh tra

và kết luận thanh tra; xem xét báo cáo kết quả thanh tra; Thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra; xây dựng dự thảo kết luận thanh tra; ký ban hành

và công bố kết luận thanh tra; kết luận và lưu hành kết luận thanh tra; tổng kết hoạt động của Đoàn thanh tra; lập, bàn giao hồ sơ thanh tra22

1.5.2.2 Thực hiện hoạt động kiểm tra đối với cơ quan Thi hành án dân sự địa phương

Thực hiện hoạt động ki m tra thi hành án dân sự được quy định tại Điều 17 Thông tư 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp

Sau khi xây dựng kế hoạch ki m tra, chuẩn bị thủ tục ra quyết định về việc

ki m tra, thành lập Đoàn ki m tra thì thực hiện các bước tiếp theo, như: Gửi công văn về các yêu cầu cụ th của đợt ki m tra kèm theo quyết định và kế hoạch ki m

Trang 40

tra cho cơ quan thi hành án nơi tiến hành ki m tra Sau đó Đoàn ki m tra đến địa

đi m ki m tra tổ chức họp với toàn th hoặc đại diện cơ quan thi hành án nơi tiến hành ki m tra Trưởng đoàn ki m tra công bố quyết định ki m tra và các yêu cầu cụ

th phục vụ cho việc ki m tra Thủ trưởng hoặc đại diện cơ quan Thi hành án nơi tiến hành ki m tra đọc các báo cáo công tác liên quan đến việc ki m tra, bàn giao địa di m làm việc, hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc ki m tra và đoàn ki m tra tiến hành công tác ki m tra theo đúng kế hoạch đã đề ra Sau khi thực hiện các quy trình trên xong, đoàn ki m tra tiến hành ki m tra theo nội dung kế hoạch ki m tra

c p trên, đối tượng thanh tra Trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước là người ra quyết định thanh tra thì kết luận thanh tra còn phải được gửi cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước c ng c p

Trong kết luận thanh tra phải có các nội dung: Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra; kết luận về nội dung thanh tra; xác định rõ tính ch t, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật; biện pháp xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị biện pháp xử lý Trong kết luận thanh tra phải th hiện rõ các nội dung trên đ các đối tượng được thanh tra thực hiện kết luận thanh tra một cách triệt đ nh t

Kết luận thanh tra là văn bản phản ánh toàn diện, đầy đủ về kết quả của cuộc thanh tra, là cơ sở pháp lý đ tổ chức thực hiện những kiến nghị trong Báo cáo kết quả thanh tra của Đoàn thanh tra Kết luận thanh tra là văn bản tổng hợp cuối c ng của người ra quyết định thanh tra; nó th hiện cô đọng, đầy đủ kết quả hoạt động nghiệp vụ của Đoàn thanh tra và sự nhận xét, đánh giá của người ra quyết định thanh tra trong quá trình tiến hành cuộc thanh tra Một kết luận thanh tra đúng pháp luật, có tính khả thi, được đối tượng thanh tra nghiêm túc ch p hành, tổ chức thực

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w