1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tại chi cục thi hành án dân sự thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh

81 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, các cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó có biện pháp cư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TẠI CHI CỤC THI HÀNH

ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn của tôi với đề tài “Pháp luật về kê biên quyền sử

dụng đất trong thi hành án dân sự từ thực tiễn tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ

Phạm Hồng Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Trần Quang Huy, Trường Đại học Luật Hà Nội và Ban chủ nhiệm Khoa sau Đại học và

các thầy, cô giáo trong Khoa Luật kinh tế, Trường Đại học Mở Hà Nội đã truyền đạt cho em những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất để em có thể thực hiện được luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Chi cục thi hành án dân

sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, các đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan, gia đình, bạn bè, người thân và những người đã luôn bên cạnh, không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sĩ

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn thạc sĩ, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do tính phức tạp của đề tài đồng thời do trình độ, nhận thức của tôi về lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế nên Luận văn thạc sĩ không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của các thầy, cô giáo để Luận văn thạc sĩ được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ

Phạm Hồng Hải

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Đặc điểm 9

1.1.3 Ý nghĩa 12

1.2 Cơ sở của việc quy định kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 14

1.2.1 Cơ sở lý luận 14

1.2.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 16

1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành 16

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17

1.3.3 Trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân 17

1.3.4 Năng lực chuyên môn của chủ thể kê biên quyền sử dụng đất 18

Kết luận chương 1 20

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH 21

2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 21

2.1.1 Nguyên tắc áp dụng 21

2.1.2 Trình tự, thủ tục kê biên quyền sử dụng đất 23

2.2 Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 31

2.2.1 Khái quát chung về đặc điểm kinh tế, xã hội và tổ chức, hoạt động của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh 31

2.2.2 Thực tiễn thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 35

Trang 6

CHƯƠNG 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN

SỰ 53

3.1 Các yêu cầu về nâng cao hiệu quả áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án 53

3.1.1 Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa 53

3.1.2 Yêu cầu của công cuộc cải cách Tư pháp 54

3.1.3 Bảo đảm quyền con người, quyền công dân 56

3.1.4 Yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của thành phố 57

3.1.5 Yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác THADS 58

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 58

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự 58

3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng các cấp 63

3.2.3 Nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cho chấp hành viên 65

3.2.4 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Cơ quan thi hành án dân sự với các cơquan, tổ chức có liên quan 66

3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật thi hành án dân sự 66

Kết luận chương 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN

Bảng 2.1 Kết quả thi hành án về việc trong giai đoạn từ năm

Bảng 2.2 Kết quả thi hành án về tiền trong giai đoạn từ năm

Bảng 2.3 Kết quả áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành

Bảng 2.4 Kết quả áp dụng các biện pháp kê biên quyền sử

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng ta đã đề ra Để thực hiện nhiệm vụ trên, vai trò pháp chế được đề cao, pháp luật được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Ở đây, yêu cầu bức xúc hàng đầu là phải tạo ra và duy trì ý thức coi trọng, nghiêm chỉnh thực thi pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước Đặc biệt Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết, quyết định của cơ quan duy nhất được quyền nhân danh Nhà nước trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đó là Tòa án nhân dân Điều 106 Hiến pháp

2013 đã khẳng định: "Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp

luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước

sẽ chỉ là những quyết định trên giấy không có ý nghĩa, giá trị nếu không được tổ chức thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, không chính xác trên thực tế Để thi hành triệt để các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, các cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong đó

có biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất nhằm bảo đảm thi hành dứt điểm những bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án

Kê biên quyền sử dụng đất là một biện pháp cưỡng chế kê biên, được pháp luật quy định và trao quyền cho cơ quan thi hành án dân sự, đây là một chuỗi quá trình phức tạp đòi hỏi Chấp hành viên phụ trách hồ sơ thi hành án phải có kỹ năng toàn diện mới có thể thực hiện được công việc này Mặt khác để đạt được hiệu quả trong công tác thi hành án, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cần phải có sự phối hợp của các ngành các cấp, ngành có liên quan ở cấp cơ sở góp phần giải thích tuyên truyền đề người thi hành án tự nguyện chấp hành nếu cố tình chống đối sẽ bị cưỡng chế Thực tiễn pháp luật hiện nay, các quy định về cưỡng chế thi hành án nói

Trang 10

chung và cưỡng chế quyền sử dụng đất nói riêng còn nhiều khó khăn, bất cập khi áp dụng trong thực tiễn Do vậy việc nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận

về cưỡng chế quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự cũng như thu thập, phân tích các số liệu, thực tiễn áp dụng các quy định này là cấp thiết Vì vậy, học viên xin

lựa chọn đề tài: “Pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

từ thực tiễn tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh”

làm đề tài luận văn thạc sỹ

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong những năm trở lại đây, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đề cập đến nội dung kê biên quyền sử dụng đất nói riêng và các vấn đề có liên quan trong thi hành án dân sự đã được công bố Có thể kể đến như:

Sách chuyên khảo, giáo trình: Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội- 2012 ; Giáo

trình kỹ năng THADS, phần nghiệp vụ, Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Tư pháp,

Hà Nội- 2012

Luận văn thạc sĩ: Lê Đình Nam, Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả

tiền trong hoạt động thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn

Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012; Nguyễn Văn Tiến, Kê biên quyền sử

dụng đất trong thi hành án dân sự qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015; Lê Quang Tuấn,

Kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo pháp luật thi hành án dân

sự từ thực tiễn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Học viện

khoa học và xã hội, năm 2016; Nguyễn Thị Mai, Thực tiễn thi hành án dân sự ở

tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 2016

Các tạp chí nghiên cứu: Trần Phương Thảo, “Các biện pháp cưỡng chế thi

hành án dân sự”, Tạp chí Luật học số 7/2007; Lê Anh Tuấn, “Cưỡng chế kê biên,

xử lý tài sản của người phải thi hành án”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, năm 2010;

TS Nguyễn Thanh Thủy và ThS Lê Thị Kim Dung (2010), “Xử lý tình huống trong

thi hành án dân sự và các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự”, nhà xuất bản

Trang 11

Tư pháp, Đinh Thị Thanh Mai, Áp dụng pháp luật thi hành án về kê biên tài sản

chung, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 10/2011

Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các vấn đề về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam từ một địa bàn cụ thể là thành phố Bắc Ninh Do đó, luận văn đảm bảo tính mới và không trùng lặp với các đề tài đã được công bố

- Trình bày các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

- Phạm vi nghiên cứu :

+ Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành về pháp luật kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự và chỉ ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này trong thực tiễn

+ Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

+ Thời gian nghiên cứu: Các số liệu, kết quả thu thập trong 05 năm từ năm 2014-2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như : thống kê, khảo sát, so sánh, thu thập, phân tích… nhằm làm sáng tỏ, luận giải các luận điểm, nội

dung nghiên cứu của đề tài

Trang 12

6 Kết cấu của Luận văn

Bao gồm phần mở đầu và 3 chương với các phần chính sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Chương 2: Pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

và thực tiễn áp dụng tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Trang 13

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG

THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành

án dân sự

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm thi hành án dân sự

Về mặt thuật ngữ, theo từ điển Tiếng Việt, “Thi hành” là “làm cho thành hiện thực điều đã được chính thức quyết định” [37, tr 1559] Theo đại từ điển tiếng Việt thì Thi hành còn được hiểu là Thực hiện điều đã chính thức quyết định Theo

Từ điển Luật học thì thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu lực pháp luật

Ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm THADS vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, THADS là một giai đoạn

tố tụng dân sự bởi nếu tách THADS ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng dân sự Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Muốn nó được thực hiện trên thực tế cần phải chờ ở hiệu quả của công tác THA Vì vậy, THADS là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử Ở giai đoạn này, cơ quan THA áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Xét xử và THADS là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự

Quan điểm thứ hai cho rằng, THADS là hoạt động hành chính bởi THA là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành mà điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, THADS ở nước ta lại không do Tòa án -

cơ quan tư pháp tổ chức [36, tr 10]

Trang 14

Quan điểm thứ ba cho rằng, THADS là hoạt động hành chính – tư pháp THADS có tính chấp hành vì được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của Tòa án Tuy nhiên, tính chất chấp hành trong THADS có những nét đặc trưng riêng biệt Cơ sở để tiến hành các hoạt động THA

là các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật)

và bản án, quyết định của Tòa án (văn bản áp dụng pháp luật) Mục đích cuối cùng của hoạt động THADS nhằm bảo đảm cho các nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi, không phải là ban hành các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của cơ quan hành chính [33]

Có thể thấy, quan niệm THADS là một giai đoạn của tố tụng dân sự như quan điểm thứ nhất là chưa chính xác Bởi vì, tố tụng là quá trình giải quyết các vụ

án theo quy định của pháp luật, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình ban hành bản án, quyết định Còn THA diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Bản án, quyết định của Tòa án là cơ sở để tiến hành các hoạt động THA Ngoài ra, mục đích của hoạt động THA cũng khác với mục đích của tố tụng Mục đích của tố tụng là xác định các chứng cứ để khôi phục lại trạng thái ban đầu của sự việc Nói cách khác, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định pháp luật Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và đảm bảo các nguyên tắc như: bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền

và lợi ích của người tham gia tố tụng… và khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, THA không nhằm giải quyết về nội dung vụ việc mà áp dụng các biện pháp cần thiết để tổ chức và thi hành bản án, quyết định của Tòa án Như vậy, THA có sự độc lập tương đối với việc giải quyết vụ việc của Tòa án nên không được coi là một giai đoạn của tố tụng.THA là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử của Tòa án, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn trước đó

Trang 15

Từ những phân tích trên, có thể hiểu THADS là hoạt động hành chính -tư

pháp do cơ quan, tổ chức THADS tiến hành theo trình tự, thủ tục mà phápLTHADS quy định để đưa bản án, quyết định dân sự thực hiện trên thực tế nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,cơ quan, tổ chức

* Khái niệm biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái với ý muốn của họ Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội Trong hoạt động Tư pháp, khi Toà án nhân danh nhà nước ra bản án, quyết định về việc giải quyết những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình thì về nguyên tắc bản thân các phán quyết trong bản án, quyết định

đó đã thể hiện quyền lực nhà nước, thể hiện sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể liên quan Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định do Toà án tuyên thì nhà nước phải quy định các biện pháp cưỡng chế cụ thể và trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế này Việc thực hiện các quy định này là phương tiện để thực hiện quyền lực nhà nước đồng thời là phương tiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án

Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án, quyết định được đưa ra thi hành Do vậy, việc tự nguyện thi hành án của các đương sự được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án mặc dù có điều kiện thi hành án nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn mà cơ quan thi hành án đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án Trong những trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế thi hành án là hết sức cần thiết Theo quy định tại Điều 45 Luật thi hành

án dân sự, sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án do chấp hành viên ấn định, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành án, hoặc trong

Trang 16

trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Như vậy, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có thể được hiểu là biện

pháp thi hành án dân sự dụng quyền lực của Nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự của họ, do chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án

* Khái niệm về Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

Kê biên tài sản nói chung và kê biên QSDĐ nói riêng là một trong 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại 6 khoản của Điều 71 Luật thi hành án dân sự Biện pháp kê biên QSDĐ áp dụng đối với người phải thi hành án có nghĩa

vụ về tài sản (tiền) đối với người được thi hành án Nghĩa là biện pháp cưỡng chế kê biên QSDĐ không được áp dụng đối với hành vi của người phải thi hành án

Biện pháp kê biên QSDĐ của cơ quan THADS nhằm mục đích ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản ngoài ra còn có mục đích là căn cứ pháp lý để xử lý tài sản của người phải thi án để thanh toán tiền cho người được thi hành án, trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện nghĩa

vụ của mình mà bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực đã xác định Cũng như

kê biên tài sản, kê biên QSDĐ phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa vụ trả tiền cho người phải thi hành án; người phải thi hành án phải có tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án Tài sản bị kê biên có thể là tài sản thuộc sử hữu chung,

sở hữu riêng của người phải thi hành án, tài sản này có thể do người phải thi hành

án hoặc do người thứ ba quản lý, sử dụng, đã hết thời gian tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện, nhưng cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản Ngoài ra, kê biên QSDĐ cần phải lưu ý một số điểm được quy định tại Mục 8 Luật THADS như:

Trang 17

- Trước khi kê biên QSDĐ phải thông báo với Phòng đăng ký QSDĐ biết Đồng thời Chấp hành viên yêu cầu Phòng đăng ký QSDĐ cung cấp thông tin về QSDĐ bị kê biên để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật

- Chấp hành viên chỉ được kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp về đất đai

- Khi kê biên QSDĐ, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS

- Trường hợp kê biên QSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành viên kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất biết để tháo dỡ, di rời

Kê biên QSDĐ hiện nay là một trong những biện pháp kê biên thực hiện phổ biến, nhưng khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp kê biên, cưỡng chế THADS

Từ phân tích trên, có thể hiểu Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế

THADS, do Chấp hành viên thực hiện quyền lực Nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ vềtiền theo bản án, quyết định của Tòa án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án

Điều 106 Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân

dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan,

tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”[25] Trong trường hợp

các chủ thể này không tự giác chấp hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan Thi hành

Trang 18

án Cơ quan thi hành án là cơ quan duy nhất được Nhà nước trao quyền năng thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hệ thống cơ quan THADS được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo ngành dọc từ Trung ương xuống địa phương bao gồm: Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư Pháp, cấp tỉnh có Cục THADS tỉnh, cấp huyện có Chi cục THADS huyện Nhà nước trao cho Hệ thống cơ quan THADS thi hành về phần dân sự của bản án, quyết định của Tòa án Hệ thống

cơ quan thi hành án này hoạt động thông qua đội ngũ các bộ, công chức và người lao động Tuy nhiên không phải ai cũng được Nhà nước trao quyền thực hiện việc

kê biên QSDĐ nói riêng và thực hiện các biện pháp cưỡng chế THADS nói chung, Nhà nước chỉ trao cho người có chức danh, trong đó có chức danh Chấp hành viên Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp

Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Chấp hành viên phải đáp ứng tiêu chuẩn chung là: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bổ nhiệm làm Chấp hành viên Và đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể đối với từng ngạch chấp hành viên như sau:

Đối với Chấp hành viên sơ cấp: Có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự; Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp

Đối với Chấp hành viên trung cấp: Có thời gian làm Chấp hành viên sơ cấp

từ 05 năm trở lên; Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên trung cấp

Đối với Chấp hành viên cao cấp: Có thời gian làm Chấp hành viên trung cấp

từ 05 năm trở lên; Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp hành viên cao cấp

Tóm lại kê biên cưỡng chế QSDĐ mang tính quyền lực Nhà nước và được trao cho Chấp hành viên thực hiện trong từng vụ việc cụ thể

Thứ hai: Đối tượng kê biên là quyền sử dụng đất, đây là một tài sản đặc biệt

Trang 19

Theo Điều 105 BLDS 2015 quy định: “1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá

và quyền tài sản

2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”[26].Quyền sử dụng đất

là quyền tài sản của người sử dụng đất, nó bao gồm hệ thống các quyền của người

sử dụng đất, cho phép người sử dụng đất có thể tiếp cận, nắm giữ, khai thác năng lực sinh lợi của đất trong thời hạn sử dụng đất, tương ứng với phần diện diện tích đất và hình thức Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể, loại quyền tài sản này có giá trị lớn, được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng cả một hệ thống các cơ quan quản lý về đất đai từ Trung ương đến địa phương với số lượng cán bộ, công

chức rất lớn Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1 Đất đai là tài nguyên đặc

biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản l theo pháp luật

2 Tổ chức,cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền

sử dụng đất Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ” Điều 53 Hiến pháp quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”[25]

Điều đó đồng nghĩa là cá nhân, tổ chức không có quyền định đoạt đất đai, vì đất đai thuộc hình thức sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý QSDĐ của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập

do Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ

Tóm lại theo quy định của pháp Luật đất đai Việt Nam QSDĐ là một tài sản đặc biệt

Thứ ba: Biện pháp kê biên quyền sử dụng đất chỉ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ theo quyết định, bản án của Tòa án

Trang 20

Trong thi hành án dân sự, các đương sự có quyền tự định đoạt, do vậy nhà nước luôn khuyến khích các đương sự trong việc tự nguyện thi hành án Khoản 1

Điều 9 Luật thi hành án dân sự quy định: “1 Nhà nước khuyến khích đương sự tự

nguyện thi hành án”[23].Việc người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trước

khi người được thi hành án có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án là thể hiện của tinh thần thượng tôn pháp luật và là một cách hành xử văn minh Tuy vậy, thực tế thi hành án dân sự cho thấy không phải tất cả các bản án, quyết định của toà án sau khi có hiệu lực pháp luật đều được người phải thi hành án

tự nguyện thi hành.Có thể thấy sự chống đối của người thi hành án, pháp luật đã

lường trước sự việc như trên và khoản 2 Điều 9 quy định: “Người phải thi hành án

có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”[23] do đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi

hành án nói chung và biện pháp kê biên quyền sử dụng đất nói riêng được xem là giải pháp cuối cùng và cần thiết nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người được thi hành

án và thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của

người phải thi hành án

1.1.3 Ý nghĩa

Việc kê biên quyền sử dụng đất có các ý nghĩa sau:

Thứ nhất: Có nghĩa bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh các bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật

Pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự chung trong cuộc sống do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận mang tính chất bắt buộc thực hiện và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế các quy tắc xử sự đó không phải bao giờ cũng được các chủ thể thực hiện nghiêm chỉnh và tự nguyện, do đó, nếu có chủ thể cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Nhà nước phải có những biện pháp cưỡng chế để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, buộc các bên thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước Về nguyên tắc, để đảm bảo thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì đương sự và cơ quan, tổ chức,

Trang 21

cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, nhất các nghĩa vụ của người phải thi hành án Tuy nhiên, nếu các đương sự không tự nguyện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự buộc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo các chủ thể có liên quan phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình trong đó có biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất Vì vậy, có thể nói rằng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thực sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật, bảo đảm cho các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội

Thứ hai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân

Trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án có thể đương sự tự nguyện thi hành nhưng cũng có thể không tự nguyện thi hành, do đó nếu đương sự không tự nguyện thi hành thì phải có cơ chế bắt buộc phải thi hành, cơ chế đó chính

là cưỡng chế THADS Trường hợp đương sự không tự nguyện thi hành án nên phải cưỡng chế THADS nếu cưỡng chế THADS thành công thì bản án, quyết định được tôn trọng và thi hành trong thực tế, quyền và lợi ích theo bản án, quyết định được bảo đảm thi hành Dưới góc độ Nhà nước khi quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực, đồng nghĩa quyết định của Nhà nước đã được thể hiện, do đó cần có biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất để buộc họ phải chấp hành Tương tự như vậy, đối với trường hợp người được thi hành án khi không được người phải thi hành án thi hành bản án quết định thì đồng nghĩa quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo đảm Vì thế, cưỡng chế THADS bảo vệ quyền, lợi ích của các đương sự, tổ chức, cá nhân khác và lợi ích của Nhà nước nói chung và trong thi hành bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS nói riêng

Thứ ba: Góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể trong xã hội

Bản án, quyết định là sản phẩm trí tuệ của một quá trình dài thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh của các đương sự cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng, yêu cầu đặt ra là bản án, quyết định được thi hành nghiêm minh để khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả của quá trình, giai đoạn tố tụng và THADS, nâng cao ý thức pháp luật về THADS Tuy nhiên, trường hợp người phải thi hành án hoặc cá nhân,

Trang 22

tổ chức liên quan chống đối, trì hoãn, cản trở việc thi hành án thì cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất trong THADS là biện pháp quan trọng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật: răn đe, phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thi hành án Thông qua cưỡng chế THADS, ý thức pháp luật được nâng lên bởi lẽ sự nhận thức pháp luật sâu sắc hơn từ nhiều chủ thể do họ chú trọng chấp hành

1.2 Cơ sở của việc quy định kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân

sự

1.2.1 Cơ sở lý luận

Điều 274 BLDS năm 2015 quy định nghĩa vụ là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền) Có thể nhận thấy rằng pháp luật dân sự là luật gốc, còn pháp luật hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động là pháp luật phái sinh Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh các quan hệ dân sự Luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự Do vậy, các quan hệ nghĩa vụ trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động đều cùng bản chất với quan

hệ nghĩa vụ dân sự Nói cách khác thì nghĩa vụ dân sự ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa là bao hàm cả nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và nghĩa vụ dân sự khác

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư

Trang 23

pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Tòa án với tư cách là cơ quan bảo vệ công lý, căn cứ vào pháp luật của quốc gia để xác định và phán xử về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Thông qua phán quyết của Tòa án các quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của chủ thể được luật pháp ghi nhận đã trở nên có hiệu lực cưỡng chế và bên có nghĩa vụ có trách nhiệm phải thực thi phán quyết của Tòa án Có thể nhận thấy rằng các nghĩa vụ được ghi nhận trong phán quyết của Tòa án về căn bản có nguồn gốc từ nghĩa vụ dân sự mà chủ thể đó phải thực hiện trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Nghĩa vụ dân sự là một nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thi hành vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác, tuy nhiên nghĩa vụ ở đây có điểm đặc biệt là được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước, do vậy, để bảo đảm quyền lợi của bên có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ sẽ phải chịu sự cưỡng chế thi hành của Nhà nước

Do nghĩa vụ dân sự cần phải cưỡng chế thi hành có nguồn gốc từ nghĩa vụ dân sự mà chủ thể đó phải thực hiện trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động nên đối tượng của nghĩa vụ dân sự cần cưỡng chế

có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Có nhiều loại nghĩa vụ dân sự như nghĩa vụ trả tiền, giao vật, phải thực hiện hoặc không được thực hiện công việc Đối tượng thực hiện là quyền sử dụng đất cũng không nằm ngoài ngoại lệ các quy định trên, bởi quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản được pháp luật dân sự thừa nhận Do đặc thù riêng của quyền sử dụng đất nên cách thức thực hiện bên cạnh việc đáp ứng các yêu cầu chung thì có những quy định riêng mà pháp luật yêu cầu chủ thể thực hiện phải tuân theo, phù hợp với các quy định của Luật thi hành án dân sự

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 24

Trong giai đoạn hiện nay, có thể thấy được quyền sử dụng đất là loại tài sản được giao dịch phổ biến và rộng rãi, tuy nhiên do đặc thù được xác định đây là loại tài sản có giá trị lớn, gắn liến sự sinh tồn, mưu sinh của mỗi cá nhân con người nên pháp luật đã có những quy định riêng về việc chuyển nhượng, mua bán, tặng cho Chính vì thực tiễn quyền sử dụng là tài sản có giá trị lớn, do vậy nó là cơ sở thực tiễn cho việc quy định chế định kê biên QSDĐ trong Luật THADS Ngoài ra, thực tiễn hiện nay có nhiều tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, bồi thường thiệt hại có giá trị tiền có số lượng lớn Hay những vụ án hình sự các tội về tham nhũng cũng có số tiền lớn, lên tới hàng nghìn tỉ phải thi hành án Thực tế việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế kê biên các tài sản có giá trị thấp không bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án vừa được đề cập ở phần trên Do vậy cần phải có quy định kê biên QSDĐ trong pháp luật THADS là nhu cầu thực tế, khách quan

Kê biên QSDĐ là biện pháp thường được áp dụng để thi hành nghĩa vụ trả tiền, không chỉ do nó là tài sản có giá trị lớn mà còn bởi do QSDĐ là bất động sản nên không di dời được, việc chuyển nhượng QSDĐ phải thực hiện theo thủ tục chặt chẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành cho nên người phải thi hành án không dễ dàng tẩu tán được, ngay cả khi có ý định tẩu tán thì người có nghĩa vụ cũng phải trải qua nhiều giai đoạn mà pháp luật quy định nên đã hạn chế các trường

hợp tẩu tán tài sản là quyền sử dụng đất

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự

1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành

Để thực hiện hoạt động cưỡng chế kê biên QSDĐ có hiệu quả trước hết phải

có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp tình hình thực tiễn của hoạt động thi hành án ở mỗi giai đoạn Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vì vậy việc thực hiện pháp luật đòi hỏi phải đảm bảo pháp chế nghĩa là không những tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn phải đảm

Trang 25

bảo cho pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống Các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS phải được các cơ quan, tổ chức, công dân tôn trọng, thực hiện và trước hết đòi hỏi các cơ quan công quyền, các cán bộ công chức cơ quan Nhà nước phải gương mẫu chấp hành Những văn bản dưới luật, văn bản hướng dẫn chuyên ngành phải phù hợp với quy định của Hiến pháp, Luật, nếu có xung đột thì phải chỉnh sửa

và hướng dẫn thực hiện cho đúng luật, các cơ quan cấp trên phải tăng cường hướng dẫn khi có vướng mắc trong thực tiễn Khi có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh điều đó thuận lợi cho cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và hiệu quả giúp các quy định của pháp luật thực sự đi vào cuộc sống và được thực hiện

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội được đánh giá là yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động cũng như kế quả của việc kê biên quyền sử dụng đất Bởi, thực tế cho thấy rằng điều kiện kinh tế khó khăn sẽ ảnh hưởng nhất định đến khả năng thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án cũng như thực hiện các thỏa thuận thi hành án của đương sự trong quá trình thi hành án Đặc biệt là, khi đương sự không có điều kiện thi hành án, mà chỉ có duy nhất quyền sử dụng đất, đồng nghĩa với việc đây là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án thì việc thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án dân sự cũng gặp nhiều trở ngại; người phải thi hành án thường có tâm lý trì hoãn, phản kháng, cản trở việc thi hành án Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế - xã hội còn là điều kiện đảm bảo cho việc xử lý tài sản cưỡng chế thi hành án dân sự, vì thực tế có rất nhiều quyền sử dụng đất qua nhiều lần đấu giá để thi hành án nhưng không có người mua, thậm chí do tâm lý xã hội nhiều người ngại mua tài sản thi hành án vì sợ gặp rắc rối, mất thời gian, bởi đặc thù khi mua quyền sử dụng đất thì người mua phải chờ việc thực hiện chuyển giao quyền sử dụng đất và tâm lý e ngại khi phải sinh sống trên chính mảnh đất của người phải thi hành án Từ đó, có thể thấy điều kiện kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tương đối lớn tới việc kê biên quyền sử dụng đất trong thực tiễn

1.3.3 Trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật của người dân

Trang 26

Hiệu quả THADS nói chung và cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất nói riêng chịu sự ảnh hưởng của trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật trong xã hội, nhất là của đương sự Nếu đương sự có trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật cao thì sẽ nhận thức đủ tính đúng đắn quyền, nghĩa vụ về THADS theo quy định pháp luật, từ đó tích cực phối hợp, giảm thiểu khả năng phải cưỡng chế THADS hoặc nếu có cưỡng chế THADS thì giảm thiểu khả năng phải huy động lực lượng tham gia vào quá trình cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất; giảm thiếu những khiếu nại, tố cáo về cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất không đúng sự thật Ngoài ra, việc tuân thủ pháp luật về thi hành án dân sự của người dân còn giúp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của quần chúng trên địa bàn có đất phải kê biên, giúp họ tự giác tuân thủ pháp luật

Đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, nếu được tuyên truyền, nhận thức đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình trong THADS khi được yêu cầu, đề nghị thì sẽ tích cực thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của mình tạo thuận lợi cho quá trình THADS nói chung, kê biên quyền sử đụng đất nói riêng, hạn chế khả năng can thiệp trái pháp luật vào quá trình THADS Thực tiễn có trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trì hoãn, không phối hợp trong việc thực hiện cưỡng chế THADS, thậm chí có văn bản yêu cầu hoàn, tạm dừng cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất ngay trước thời điểm tổ chức cưỡng chế THADS không đúng quy định của pháp luật

1.3.4 Năng lực chuyên môn của chủ thể kê biên quyền sử dụng đất

Chấp hành viên là người có thẩm quyền tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và là người có thẩm quyền tiến hành kê biên quyền sử dụng đất Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó, chấp hành viên có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện đúng các quy định pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong giới hạn, khuôn khổ các quy định của pháp luật, đảm bảo sự nghiêm minh, công bằng, đảm bảo ổn định, phát triển xã hội Kết quả hoạt động kê biên quyền sử dụng đất ảnh hưởng trực tiếp bởi năng lực chuyên môn của chính các chấp hành viên

Trang 27

Năng lực tổ chức kê biên quyền sử dụng đất ở chấp hành viên thể hiện ở khả năng về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp, nhân cách để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ kê biên quyền sử dụng đất đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, việc thể hiện năng lực của chấp hành viên còn phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm, tri thức riêng và khả năng giải thích pháp luật trong từng vụ việc; thể hiện cụ thể ở các đặc điểm cá nhân bao gồm phẩm chất chính trị, đạo đức, trí tuệ, trình độ hiểu biết về pháp luật và xã hội, mức độ thành thạo, chính xác trong sử dụng pháp luật để

tổ chức kê biên quyền sử đụng đất đảm bảo khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

Do đó, để đảm bảo năng lực tổ chức kê biên quyền sử dụng đất đòi hỏi chấp hành viên phải là người được đào tạo, bồi dưỡng bài bản, thường xuyên cả về mặt

lý thuyết và trau dồi kinh nghiệm thực tiễn, kịp thời cập nhật các thông tin, kinh nghiệm, văn bản quy phạm pháp luật mới để có thể áp dụng vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ tổ chức kê biên quyền sử dụng đất được giao Ngoài ra, năng lực tổ chức kê biên quyền sử dụng đất đất còn được đảm bảo thông qua việc lựa chọn được những chấp hành viên có đủ các yếu tố, tiêu chuẩn và ý thức chính trị, đạo đức như tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng,

có bản lĩnh, ý chí, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần kiên quyết bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa để có thể vững vàng trước sức ép, tình huống, tác động từ những tiêu cực của xã hội và sự chỉ đạo, can thiệp trái pháp luật của người có chức

vụ, quyền hạn, những người thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kê biên quyền

sử dụng đất của mình

Trang 28

Kết luận chương 1

Chương 1, học viên đã nghiên cứu và đưa ra được khái niệm kê biên quyền

sử dụng đất trong thi hành án dân sự, theo đó Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do Chấp hành viên thực hiện quyền lực Nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa

vụ về tiền theo bản án, quyết định của Tòa án, trong trường hợp người phải thi hành

án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án Đồng thời phân tích các đặc điểm của kê biên quyền sử dụng đất cũng như phân tích ý nghĩa của việc quy định biện pháp cưỡng chế này trong thi hành án dân sự Qua đó, phân tích các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quá trình cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất trong thực tiễn áp dụng Đây là những vấn đề lý luận rất cơ bản được học viên triển khai trình bày tại chương 1 của luận văn

Trang 29

Một là, Cơ quan thi hành án dân sự và Văn phòng Thừa phát lại có quyền áp dụng kê biên quyền sử dụng đất:

Như đã phân tích tại chương 1, thì Chấp hành viên là chức danh được tuyển chọn và bổ nhiệm theo quy định; là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của toà án Theo quy định của Điều 17 Luật THADS chỉ có Chức danh Chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, trong

đó có biện pháp kê biên QSDĐ Việc cưỡng chế thi hành án nhằm bảo đảm thi hành nghĩa vụ của người phải thi hành án nhưng cũng rất dễ xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của họ và những người liên quan đến quyền sử dụng đất bị cưỡng chế thi hành án Do vậy, để tránh sự lạm quyền của các chủ thể được trao quyền trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự, Luật thi hành án dân sự đã quy định cụ thể chủ thể áp dụng kê biên quyền sử dụng đất là chấp hành viên (khoản 3 Điều 71 Luật thi hành

án dân sự) Ngoài chấp hành viên được nhà nước trao quyền trực tiếp áp dụng kê biên thì còn chủ thể khác là Thừa phát cũng có quyền kê biên quyền sử dụng đất

Trang 30

trong trường hợp người yêu cầu thi hành án yêu cầu Văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành Việc Văn phòng thừa phát lại kê biên quyền sử dụng đất được thực hiện theo Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 và Nghị định 135/2013/NĐ-

CP ngày 18/10/2013 sửa đổi Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009

Hai là: Thời gian tổ chức kê biên quyền sử dụng đất phải theo quy định của pháp luật

Việc kê quyền quyền sử dụng đất là cần thiết nhằm đảm bảo hiệu lực của bản

án, quyết định, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án Tuy nhiên, để việc kê biên quyền sử dụng đất không ảnh hưởng tới trật tự công cộng, không làm xáo trộn sự sinh hoạt của cộng đồng dân cư xung quanh và trực tiếp của người bị thi hành án, vì mục đích nhân đạo và tôn trọng phong tục truyền thống tốt

đẹp của dân tộc Khoản 2 Điều 46 Luật thi hành án dân sự quy định: “Không tổ

chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định”[23] Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng

chế thi hành án do Luật Thi hành án dân sự quy định nêu trên, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian

15 ngày trước và sau tết Nguyên Đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương

Ba là: Chỉ kê biên phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với giá trị nghĩa

vụ phải thi hành án

Mục đích của kê biên quyền sử dụng đất là buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ; tuy nhiên, việc thực hiện kê biên quyền sử dụng đất bên cạnh việc phải bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án thì việc cưỡng chế thi hành án phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của người phải thi hành án Do vậy, Chấp hành viên phụ trách vụ việc cần phải tính toán kỹ trước khi

kê biên QSDĐ của người phải thi hành án làm sao tương ứng với nghĩa vụ phải thi

Trang 31

hành án Để thực hiện đúng nguyên tắc này Chấp hành viên phải đánh giá sơ bộ giá trị của QSDĐ trước khi kê biên bằng cách trưng cầu các cơ quan chức năng thẩm định giá Giá trị của QSDĐ kê biên sau khi trừ đi các chi phí và phần nghĩa vụ phải thực hiện bảo đảm ngang bằng, tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án tránh trường hợp kê biên QSDĐ phần quá lớn gây tổn hại đến quyền lợi của người phải thi hành án Pháp luật cũng quy định trường hợp ngoại lệ, Chấp hành viên được quyền kê biên quyền sử dụng đất mà giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ phải thi hành án

đó là trường hợp không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế kê QSDĐ của người phải thi hành án để thi hành án Ví dụ: Tài sản của người phải thi

22 tháng 12 năm 2014 quyết định của UBND tỉnh Bắc Ninh Ban hành quy định hạn mức giao đất ở; diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở; hạn mức công nhận đất ở; hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước chưa sử dụng trên địa

bàn tỉnh Bắc Ninh quy định diện tích tối thiểu sau khi tách thửa tại Điều 6 là: “Đối

với đất ở đô thị, đất ở nông thôn ven quốc lộ, tỉnh lộ và thuộc quy hoạch khu đô thị mới thì diện tích đất ở tối thiểu sau khi tách thửa được thực hiện theo quy hoạch chi tiết được duyệt; trường hợp chưa có quy hoạch chi tiết được duyệt thì diện tích tối thiểu sau khi tách thửa phải từ 40 m 2 trở lên và có kích thước mỗi cạnh không nhỏ hơn 3,5 m”[28] Như vậy, nếu kê biên quyền sử dụng đất tương ứng với giá trị

nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp này sẽ không đủ điều kiện diện tích tối thiểu

để tách thửa, do đó, trường hợp này chấp hành viên cần phải kê biên toàn bộ diện

Trang 32

hành án lập thành một hồ sơ thi hành án Trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Chấp hành viên phải tiến hành lập hồ sơ thi hành

án Hồ sơ thi hành án phải thể hiện toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án của Chấp hành viên đối với việc thi hành án, lưu giữ tất cả các tài liệu đã, đang thực hiện và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ Hồ sơ thi hành án bao gồm: bản

án, quyết định, các biên bản bàn giao, xử lý vật chứng, tài sản đã kê biên, tạm giữ, biên bản xác minh, biên bản giải quyết việc thi hành án; giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, các đơn yêu cầu, khiếu nại về thi hành án; các biên lai, phiếu thu, phiếu chi; các tài liệu liên quan đến việc xử lý tài sản để thi hành án; các công văn, giấy tờ của cơ quan thi hành án dân sự, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thi hành án như: Công văn xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án; công văn trao đổi với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thi hành án; công văn yêu cầu chuyển tiền, tang vật còn thiếu hoặc chưa chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự; các giấy tờ, tài liệu liên quan khác (nếu có)

Hồ sơ thi hành án phải có bìa in theo mẫu thống nhất hướng dẫn tại Phụ lục

II của Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01 tháng 02 năm 2016 Hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi hành án dân sự

Chấp hành viên có trách nhiệm ghi đầy đủ, chi tiết nội dung các mục đã in trên bìa hồ sơ Trường hợp bìa hồ sơ đã cũ, nát, ố nhàu thì phải được thay thế bằng bìa hồ sơ mới Bìa hồ sơ mới phải ghi đầy đủ các cột mục, nội dung của bìa hồ sơ

cũ Các tài liệu có trong hồ sơ thi hành án phải được sắp xếp cẩn thận, đánh số bút lục và liệt kê đầy đủ vào bảng danh mục in trên bìa hồ sơ thi hành án Chấp hành viên phải liệt kê và sắp xếp tài liệu theo thứ tự bắt đầu từ bút lục số 01 cho đến bút lục cuối cùng

Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện khắc dấu bút lục để sử dụng theo mẫu thống nhất tại Thông tư số 01/2016/TT-BTP ngày 01 tháng 02 năm 2016 Hướng dẫn thực hiện một số thủ tục về quản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong thi

Trang 33

hành án dân sự Việc quản lý và sử dụng dấu bút lục thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu

2.1.2.2 Thông báo thi hành án

Việc thông báo thi hành án được thực hiện theo Điều 2 Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01 tháng 8 năm 2016 như sau:

- Trường hợp do đường sá xa xôi, giao thông không thuận tiện; người được thông báo có nhiều địa chỉ liên lạc, nơi ở không cố định, thường vắng mặt ở nhà vào giờ hành chính; đương sự đang bị giam, tạm giam; người được thi hành án chưa yêu cầu thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 49 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự; các trường hợp khác mà việc thông báo trực tiếp

có khó khăn thì việc thông báo được thực hiện qua dịch vụ bưu chính bằng thư bảo đảm Ngày gửi thư bảo đảm là ngày thông báo hợp lệ

- Trường hợp thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác theo yêu cầu của người được nhận thông báo thì Chấp hành viên phải lưu vào hồ sơ thi hành án văn bản thể hiện yêu cầu, văn bản cần thông báo và văn bản thể hiện kết quả thông báo như bức điện tín, thư điện tử, báo cáo bản fax đã được gửi

- Thông báo đối với người đang bị giam, tạm giam được thực hiện theo địa chỉ nơi người đó đang bị giam, tạm giam Giám thị trại giam, tạm giam có trách nhiệm giao văn bản thông báo cho người được thông báo

- Trường hợp có ủy quyền thì việc thông báo các văn bản về thi hành án được thực hiện đối với người được ủy quyền

- Trường hợp giao thông báo qua người khác nhận thay thì người thông báo phải lập biên bản ghi rõ họ tên, chức vụ, địa chỉ của người nhận thay; ngày, giờ nhận thay; quan hệ giữa họ với người được thông báo; cam kết giao tận tay hoặc thông báo ngay cho người được thông báo Biên bản có chữ ký của người nhận và người giao thông báo

- Việc niêm yết được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được thông báo cư trú hoặc cư trú cuối cùng và

Trang 34

tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo Việc xác định nơi cư trú được thực hiện theo pháp luật về cư trú

Trường hợp niêm yết để bán đấu giá tài sản thì nơi niêm yết thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho chủ sở hữu chung quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả thẩm định giá, Chấp hành viên thông báo cho đương sự quyền yêu cầu định giá lại theo quy

định tại điểm b khoản 1 Điều 99 Luật Thi hành án dân sự

2.1.2.2 Xác minh điều kiện thi hành án

Để Chấp hành viên tổ chức thực hiện thi hành án nói chung và kê biên QSDĐ nói riêng thì điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất là người phải thi hành

án phải có tài sản là QSDĐ để thi hành án Và để biết được người phải thi hành án

có điều kiện thi hành án là QSDĐ hay không thì Chấp hành viên phải tiến hành thủ tục xác minh điều kiện thi hành án Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn

tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp

khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay

Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành

án Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án

Chấp hành viên phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án

Trang 35

Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiện việc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành viên có thể xử phạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

Trường hợp cần làm rõ thông tin về tài sản, nơi cư trú, nơi làm việc, trụ sở của người phải thi hành án hoặc các thông tin khác liên quan đến việc thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể ủy quyền xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự nơi có thông tin trên

Việc ủy quyền xác minh của cơ quan thi hành án dân sự phải thể hiện bằng văn bản, nêu rõ bên ủy quyền, bên nhận ủy quyền, nội dung ủy quyền và nội dung cần thiết khác Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy quyền phải trả lời bằng văn bản kết quả xác minh và những nội dung cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền xác minh

Đối với việc xác minh tài sản là quyền sử dụng đất thời hạn xác minh và gửi kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền là 30 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền Trường hợp việc xác minh tài sản khó khăn, phức tạp thì thời hạn xác minh và gửi kết quả xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể

từ ngày nhận được ủy quyền

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải tiến hành xác minh

Sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án

Trang 36

Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa

có điều kiện thi hành án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đủ các điều kiện sau:

- Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày

ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;

- Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự;

- Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành

án

Trường hợp Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự phải tổ chức việc thi hành án

Như vậy có thể thấy, việc xác minh bao gồm 02 nội dung chính về điều kiện thi hành án và sự tự nguyện thi hành án của người phải thi hành án Chấp hành viên chỉ được kê biên quyền sử dụng đất khi xác minh được người được thi hành án có quyền sử dụng đất hợp pháp và không tự nguyện thi hành án

2.1.2.3 Ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ

Theo khoản 5, Điều 20 Luật thi hành án dân sự thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế là Chấp hành viên Chấp hành viên chỉ có thể ra quyết định kê biên quyền sử dụng đất khi đã tiến hành các thủ tục cần thiết như xác minh QSDĐ, khi

kế hoạch cưỡng chế kê biên QSDĐ được phê duyệt Khi thực hiện đầy đủ các điều kiện trên thì Chấp hành viên tiến hành ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ Theo Điều 70 Luật THADS, căn cứ tổ chức cưỡng chế kê biên gồm có: Bản án, quyết định, quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án Kê biên, xử lý

Trang 37

tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự

2.1.2.4 Tổ chức kê biên quyền sử dụng đất

- Lập kế hoạch kê biên quyền sử dụng đất

Để đảm bảo quá trình kê biên đạt hiệu quả, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế dự liệu các tình huống có thể xảy ra để chuẩn bị, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử

lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội, tạo sự chủ động của cơ quan công an và các cơ quan khác có liên quan trong việc bảo vệ tổ chức cưỡng chế thi hành án, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác cưỡng chế thi hành

án Theo quy định trước khi tiến hành cưỡng chế kê biên QSDĐ để thi hành án, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay

Sau khi lập kế hoạch cưỡng chế Chấp hành viên phải gửi ngay cho Viện kiểm sát và cơ quan Công an cùng cấp, UBND cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc

cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án theo cơ chế phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự quy định tại Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 bao gồm các thông tin như: Tên và địa chỉ của người bị cưỡng chế; Dự kiến thời gian, địa điểm tiến hành cưỡng chế, biện pháp cưỡng chế cần áp dụng; Tóm tắt nội dung vụ việc cần cưỡng chế; Tính chất phức tạp của vụ việc (đặc điểm địa bàn, tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, diễn biến tâm lý, thái độ, khả năng chống đối của đương sự); Yêu cầu cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự về các nội dung cần phối hợp; Dự kiến số lượng người cần tham gia bảo vệ cưỡng chế, các trang thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để phục vụ cho việc bảo vệ cưỡng chế và dự trù kinh phí chi cho việc bảo vệ cưỡng chế Căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan Công

an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi

Trang 38

tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm phạm tội Việc lập kế hoạch cưỡng chế trước khi thưc hiện kê biên là rất cần thiết và có một ý nghĩa rất quan trọng đối với đoàn cưỡng chế Tạo sự chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh, sẽ làm giảm

đáng kể các hậu quả xấu xảy ra, giúp tăng hiệu quả trong thực hiện kê biên

- Thông báo về kê biên quyền sử dụng đất

Theo qui định tại Điều 39 của Luật thi hành án dân sự, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chấp hành viên phải thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên Tuy nhiên, trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án thì không phải thực hiện thông báo này Việc thông báo có ý nghĩa để đương sự và các bên có liên quan chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ trong thông báo Việc thông báo được thực hiện theo các hình thức sau đây: Thông báo trực tiếp hoặc qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật; Niêm yết công khai; Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Chi phí thông báo do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi trả hoặc người được thi hành án chịu

Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên,

Trang 39

gắn liền với đất Việc kê biên QSDĐ phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên

Trước khi cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên tập trung lực lượng cưỡng chế tại UBND xã, nơi có QSDĐ kê biên để họp bàn trước khi cưỡng chế nhằm mục đích đánh giá lại tình hình lần cuối trước khi cưỡng chế; Dự kiến những tình huống có thể xảy ra và phương án giải quyết những tình huống đó;

Từ đó, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong đoàn cưỡng chế để phối hợp nhịp nhàng trong quá trình cưỡng chế kê biên QSDĐ Sau khi họp bàn cưỡng chế xong, đoàn cưỡng chế kê biên QSDĐ xuống địa điểm tiến hành cưỡng chế Trước tiên Chấp hành viên phải giới thiệu thành phần cưỡng chế, sau đó công bố quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, chỉ đạo các thành phần cưỡng chế thực hiện công việc đã phân công Khi kê biên QSDĐ phải được lập biên bản, biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, các thành phần tham gia cưỡng chế, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng Biên bản kê biên phải có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, thành phần tham gia cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản Kết thúc buổi cưỡng chế kê biên QSDĐ, Chấp hành viên thông qua biên bản cưỡng chế Sau đó trở về UBND xã tổ chức rút kinh nghiệm trong buổi cưỡng chế kê biên QSDĐ

2.2 Thực tiễn kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2.2.1 Khái quát chung về đặc điểm kinh tế, xã hội và tổ chức, hoạt động của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

2.2.1.1.Tổng quan về đặc điểm kinh tế, xã hội thành phố Bắc Ninh

Thành phố Bắc Ninh nằm ở phía Nam sông Cầu, phía Đông Bắc của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 30km về phía Nam, cách thành phố Bắc Giang 20km

về phía Bắc Thành phố có 19 đơn vị hành chính gồm 16 phường và 3 xã

Trang 40

+ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;

+ Phía Nam giáp huyện Tiên Du, huyện Quế Võ;

+ Phía Đông giáp huyện Quế Võ;

+ Phía Tây giáp huyện Tiên Du, huyện Yên Phong

- Dân số: 196.000 người (tính đến tháng 5/2018)

- Diện tích: 82,60 km2

Thành phố Bắc Ninh gồm 19 đơn vị hành chính Trong đó có 16 phường: Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Ninh Xá, Tiền An, Vệ An, Vạn An, Kinh Bắc, Đại Phúc, Võ Cường, Vân Dương, Hạp Lĩnh, Phong Khê, Khúc Xuyên, Khắc Niệm và 3 xã: Hòa Long, Kim Chân, Nam Sơn.[38]

Thành phố Bắc Ninh địa hình của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, tương đối bằng phẳng, gồm địa hình đồng bằng và địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Đông Bắc - Tây Nam

Theo số liệu thống kê đất đai, diện tích tự nhiên của thành phố có 8.260,88ha Trong đó: đất nông nghiệp 3.745,16ha, đất phi nông nghiệp 4.459,76ha

và đất chưa sử dụng 55,96ha

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn thành phố đạt 11,9%; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng đạt trên 97% Thành phố Bắc Ninh đẩy mạnh thu hút đầu

tư, xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) lớn như: KCN Quế Võ (650 ha), KCN Hạp Lĩnh - Nam Sơn (300ha) và 05 cụm công nghiệp làng nghề, thu hút gần 2.000 doanh nghiệp và hàng trăm cơ sở, hợp tác xã sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động hiệu quả Công tác quy hoạch và đầu tư xây dựng

hạ tầng đô thị- nông thôn được triển khai tích cực, bộ mặt đô thị ngày càng được đổi mới, nhiều tuyến đường giao thông kết nối nội - ngoại thành, các tuyến đường trung tâm được xây dựng mới và nâng cấp; nhiều dự án khu đô thị với quy mô lớn được đầu tư và đưa vào sử dụng như: Vũ Ninh - Kinh Bắc, Hòa Long - Kinh Bắc, Hồ Ngọc Lân III; Khu đô thị mới đường Lê Thái Tổ (khu HUD); Khu đô thị mới Bắc

Ngày đăng: 22/04/2020, 17:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN