1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an

116 655 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chất có hoạt tính sinh học được phân lập từ các loài khác của chi Ganoderma .... Đã có nhiều nghiên cứu về thành phần và các chất có hoạt tính sinh học của các loài nấm Linh chi thuộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

-

TRẦN THỊ NGỌC HÂN

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ HOẠT

TÍNH SINH HỌC CỦA NẤM LINH CHI (GANODERMA

MASTOPORUM (LEV.)PAT.)

Ở NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC

VINH, 2014

Trang 2

Luận văn được thực hiện tại phòng thí nghiệm chuyên đề Hoá hữu cơ - khoa Hoá, Trung tâm Kiểm định An toàn Thực phẩm và Môi trường, Trường Đại học Vinh, Viện Hàn Lâm - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Trần Đình Thắng – Phó trưởng khoa Hoá học, Trường Đại học Vinh đã giao đề tài, tận

tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Hoa Du, PGS.TS Lê Văn Hạc đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi hoàn thành luận văn

TS Đỗ Ngọc Đài đã giúp tôi thu mẫu thực vật

PGS.TS Ngô Anh (Khoa Sinh, Trường Đại học khoa học Huế) giúp định danh mẫu thực vật

Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, cán bộ bộ môn Hoá Hữu cơ, Khoa Hoá học, các anh chị nghiên cứu sinh, học viên cao học, các bạn sinh viên trong phòng thì nghiệm chuyên đề Hóa Hữu Cơ, gia đình và người thân đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, ngày tháng 10 năm 2014

Học viên

Trần Thị Ngọc Hân

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Chi Ganoderma (Linh chi) 3

1.1.1 Đặc điểm hình thái cơ bản và phân loại nấm Linh chi 3

1.1.2 Các hợp chất có hoạt tính sinh học đuợc phân lập từ Ganoderma lucidum 4 1.1.2.1 Những dẫn xuất tritecpenoit từ lanosterol 5

1.1.2.2 Các polisaccarit trong Gannoderma lucidum 17

1.1.2.3 Peptit và protein 22

1.1.3 Các chất có hoạt tính sinh học được phân lập từ các loài khác của chi Ganoderma 24

1.2 Ganoderma mastoporum 29

1.2.1 Đặc điểm hình thái 29

1.2.2 Thành phần hóa học của Ganoderma mastoporum 30

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM 31

2.1 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Phương pháp lấy mẫu 31

2.1.2 Phương pháp phân tích, phân tách các hỗn hợp và phân lập các hợp chất 31

2.1.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất 31

Trang 4

2.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị 32

2.2.1 Hóa chất 32

2.2.2 Dụng cụ và thiết bị 32

2.3 Nghiên cứu các hợp chất 32

2.3.1 Thu mẫu 32

2.3.2 Phân lập các hợp chất 32

2.3.3 Phương pháp thử hoạt tính kháng viêm 35

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Phân lâp các hợp chất 36

3.2 Xác định hợp chất A 36

3.3 Xác định hợp chất B 54

3.4 Xác định hợp chất C 66

3.5 Xác định hợp chất D 72

3.6 Kết quả thử hoạt tính kháng viêm của chất B và chất C 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Số liệu phổ 13C – NMR của chất A 38

Bảng 3.2: Số liệu phổ 13C – NMR của chất B 55

Bảng 3.3: Số liệu phổ của hợp chất C 66

Bảng 3.4: Số liệu phổ của hợp chất D 72

Bảng 3.5: Tác dụng ức chế của các hợp chất được tách từ G mastoporum sản sinh anion supeoxit và phóng thích elastase 90

Hình 1.1: Một số chất chuyển hóa được phân lập từ G.lucidum 6

Hình 1.2: Những chất chuyển hóa được phân lập từ G.lucidum 10

Hình 1.3: Các chất chuyển hóa đã được phân lập từ các loài khác của chi Ganoderma 14

Hình 1.4: Những chất chuyển hóa được phân lập từ các loài khác của chi Ganoderma 18

Hình 1.5: Quả thể Ganoderma mastoporum 29

Hình 3.1: Phổ tử ngoại (UV) của chất A 39

Hình 3.2: Phổ hồng ngoại (IR) của chất A 39

Hình 3.3: Phổ khối lượng (EI-MS) của chất A 40

Trang 7

Hình 3.4: Phổ 1H-NMR của hợp chất A 40

Hình 3.5: Phổ 1H-NMR của hợp chất A (phổ dãn) 41

Hình 3.6: Phổ 1H-NMR của hợp chất A (phổ dãn) 41

Hình 3.7: Phổ 13C-NMR của hợp chất A 42

Hình 3.8: Phổ 13C-NMR của hợp chất A (phổ dãn) 42

Hình 3.9: Phổ 13C-NMR của hợp chất A (phổ dãn) 43

Hình 3.10 Phổ DEPT của hợp chất A 43

Hình 3.11: Phổ DEPT của hợp chất A (phổ dãn) 44

Hình 3.12: Phổ HMBC của hợp chất A 45

Hình 3.13: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) 46

Hình 3.14: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) 47

Hình 3.15: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) 48

Hình 3.16: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) 49

Hình 3.17: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) 50

Hình 3.18: Phổ HSQC của hợp chất A 51

Hình 3.19: Phổ HSQC của hợp chất A (phổ dãn) 52

Hình 3.20: Phổ HSQC của hợp chất A (phổ dãn) 53

Hình 3.21: Phổ COSY của hợp chất A 54

Hình 3.22 : Phổ khối lượng (EI-MS) chất B 57

Hình 3.23 : Phổ 1H-NMR của hơp chất B 58

Hình 3.24 : Phổ 1H-NMR của hơp chất B (phổ dãn) 58

Hình 3.25 Phổ 13C-NMR của hơp chất B 59

Hình 3.26 : Phổ 13C-NMR của hơp chất B (phổ dãn) 59

Hình 3.27 : Phổ DEPT của hơp chất B 60

Trang 8

Hình 3.28 : Phổ DEPT của hơp chất B (phổ dãn) 60

Hình 3.29 : Phổ HMBC của hợp chất B 61

Hình 3.29 : Phổ HMBC của hợp chất B 62

Hình 3.31 : Phổ HMBC của hơp chất B (phổ dãn) 63

Hình 3.32 : Phổ HSQC của hợp chất B 64

Hình 3.33 : Phổ HSQC của hợp chất B (phổ dãn) 65

Hình 3.34 : Phổ 1H-NMR của hợp chất C 68

Hình 3.35 : Phổ 1H-NMR của hợp chất C (phổ dãn) 69

Hình 3.36 : Phổ 1H-NMR của hợp chất C (phổ dãn) 69

Hình 3.37 : 13C-NMR của hợp chất C 70

Hình 3.38 : Phổ 13C-NMR của hợp chất C (phổ dãn) 70

Hình 3.39: Phổ DEPT của hợp chất C 71

Hình 3.40: Phổ DEPT dãn của hợp chất C (phổ dãn) 71

Hình 3.41: Phổ EI-MS của hợp chất D 75

Hình 3.42: Phổ 1H của hợp chất D 75

Hình 3.43: Phổ 1H của hợp chất D ( phổ dãn) 76

Hình 3.44: Phổ 1H của hợp chất D (phổ dãn) 76

Hình 3.45: Phổ 13C của hợp chất D 77

Hình 3.46: Phổ 13C của hợp chất D (phổ dãn) 77

Hình 3.47: Phổ DEPT của hợp chất D 78

Hình 3.48: Phổ DEPT của hợp chất D ( phổ dãn) 78

Hình 3.49: Phổ HMBC của hợp chất D 79

Hình 3.50: Phổ HMBC của hợp chất D (phổ dãn) 80

Hình 3.51: Phổ HMBC của hợp chất D (phổ dãn) 81

Trang 9

Hình 3.52: Phổ HMBC của hợp chất D (phổ dãn) 82

Hình 3.53: Phổ HMBC của hợp chất D (phổ dãn) 83

Hình 3.54: Phổ HSQC của hợp chất D 84

Hình 3.55: Phổ HSQC của hợp chất D (phổ dãn) 85

Hình 3.56: Phổ HSQC của hợp chất D (phổ dãn) 86

Hình 3.57: Phổ COSY của hợp chất D 87

Hình 3.58: Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) 88

Hình 3.59: Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) 89

Sơ đồ 2.1: Chiết cao metanol của quả thể nấm Ganoderma matoporum 33

Sơ đồ 2.2: Phân lập các hợp chất trong cao etylaxetat 34

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CC: Column Chromatography (Sắc kí cột)

FC: Flash Chromatography (Sắc ký cột nhanh)

TLC: Thin Layer Chromatography (Sắc kí lớp mỏng)

IR: Infrared Spectroscopy (Phổ hồng ngoại)

MS: Mass Spectroscopy (Phổ khối lượng)

EI-MS: Electron Impact-Mass Spectroscopy (Phổ khối va chạm electron)

1H-NMR: Proton Magnetic Resonance Spectroscopy (Phổ cộng hưởng từ hạt

nhân proton)

Trang 10

13C-NMR: Carbon Magnetic Resonance Spectroscopy (Phổ cộng hưởng từ hạt

nhân cacbon-13) DEPT: Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer

HSQC: Heteronuclear Single Quantum Correlation

HMBC: Heteronuclear Multiple Bond Correlation

COSY: Correlation Spectroscopy

s: Singlet

br s: Singlet tù

t: Triplet

d: Doublet

dd: Doublet của doublet

dt: Doublet của triplet

m: Multiplet

TMS: Tetramethylsilan

DMSO: Dimethylsulfoxide

Trang 11

Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện thêm nhiều loài Linh chi có những đặc tính quý, rất tốt cho phòng và chữa bệnh Các sản phẩm từ nấm Linh chi

(Ganoderma) được dùng để hỗ trợ điều trị nhiều bệnh như bệnh gan, bệnh về

đường tiết niệu, tim mạch, ung thư, AIDS [1, 2, 4, 6] Trong dịch chiết metanol,

hexan, etyl axetat của quả thể Ganoderma lucidum có các hợp chất như có hoạt tính

kháng vi rút Chúng có tác dụng kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển của vi rút

HIV [6] Các hoạt chất từ Ganoderma applanatum có tác dụng chống khối u cao

[2], chúng được sử dụng trong điều trị ung thư: ung thư phổi, ung thư vú, ung thư

dạ dày [1] Các dẫn xuất adenosine có trong G.capense và G amboinense có tác

dụng giảm đau, giãn cơ, ức chế kết dính tiền tiểu cầu [3]

Đã có nhiều nghiên cứu về thành phần và các chất có hoạt tính sinh học của

các loài nấm Linh chi thuộc chi Ganoderma Tuy nhiên còn rất ít nghiên cứu về thành phần và hoạt tính sinh học của loài Ganoderma mastoporum Chính vì vậy,

chúng tôi chọn đề tài : "Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học

của nấm linh chi (Ganoderma mastoporum (Lev.) Pat.) ở Nghệ An"

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần hóa học của nấm Ganoderma mastoporum

Trang 12

- Tách được chất có hoạt tính sinh học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các hợp

chất từ Ganoderma mastoporum

- Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ quả thể của Ganoderma mastoporum

- Thử hoạt tính kháng viêm

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Các quả thể (Ganoderma mastoporum (Mont) Pat.) được thu thập tại Vườn

Quốc gia Pù Huống của tỉnh Nghệ An, Việt Nam và được xác định bởi Tiến sĩ Ngô Anh, Khoa Sinh học, Đại học Huế

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng sắc kí cột và sắc kí bản mỏng cùng với dung môi rửa giải phù hợp

để tách các hợp chất từ quả thể Ganoderma mastoporum

- Sử dụng có phương pháp đo phổ hiện đại như: phổ hồng ngoại (IR), phổ tử ngoại (UV), phổ khối lượng va chạm eclectron (EI – MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR, 13C-NMR, phổ DETP, phổ HSQC, HMBC, COSY để xác định cấu trúc của các hợp chất

- Thử hoạt tính kháng viêm

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Chi Ganoderma (Linh chi)

1.1.1 Đặc điểm hình thái cơ bản và phân loại nấm Linh chi

Các loại nấm thuộc chi Ganoderma (đặc biệt là G lucidum), đã được biết

đến và sử dụng từ thời cổ đại trong y học cổ truyền phương Đông cho đến ngày nay trong việc điều trị và phòng ngừa một số bệnh như ung thư, cao huyết áp, viêm phế quản mãn tính và bệnh hen suyễn, nó còn là một thành phần quan trọng trong công thức của các thuốc bổ và thuốc an thần [42] Gần đây, các chế phẩm

khác được làm từ sợi nấm, quả thể và bào tử của G lucidum đã có trên thị trường

như thực phẩm chức năng, bổ sung vào chế độ ăn uống để kháng khối u, điều hòa

hệ miễn dịch và khả năng thu gom các gốc tự do [56, 84, 89] Thị trường thực

phẩm chức năng làm từ G lucidum được ước tính thu được khoảng 5 đến 6 tỷ USD mỗi năm, trong đó mức tiêu thụ tại Hoa Kỳ là 1,6 tỷ USD [99] Ngoài G lucidum, một số loài khác thuộc chi này đã được tìm ra và chứng minh là có tác dụng hữu ích đối với sức khỏe con người, như: G tsugae, G applanatum, G colossum, G concinna, G pfeifferi và G taan -japonicum [11, 42, 99, 24, 27, 39,

Nấm Linh chi (thường là thuộc bộ Fabale) có thể mọc trên cây gỗ sống hay

đã chết Quả thể gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5 -11), có thể mọc trên thân cây, quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây, nơi sống thích hợp của nấm là nơi bóng râm, ánh sáng khuếch tán nhẹ với nhiệt độ ôn hoà Nên chúng hay sống ở các vùng núi đồi

Trang 14

cao trên 1000m so với mực nước biển, thích hợp nhiệt độ thấp từ 21- 260C như các vùng ở Tam Đảo, Pù Mát, Thừa Thiên Huế, dãy Trường Sơn ở nước ta

Các loài nấm Linh chi được phát hiện ở Việt Nam khá sớm Dựa theo màu sắc mũ nấm, y học phương Đông phân biệt 6 loại Linh chi với tên gọi tương ứng: Linh chi trắng (Bạch chi hay Ngọc chi), Linh chi vàng (Hoàng chi hay Kim chi), Linh chi xanh (Thanh chi hay Long chi), Linh chi đỏ (Xích chi hay Hồng chi), Linh chi tím (Tử chi), Linh chi đen (Hắc chi hay Huyền chi) Ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại khác

Các chi Linh chi đã được nghiên cứu theo nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào sự quan tâm của từng nhóm nghiên cứu:

a) Là nguồn cung cấp thuốc và thực phẩm chức năng [56, 84, 89 , 15-94] b) Tác nhân gây bệnh trên cây trồng như dầu cọ, dừa, cao su, chè, cà phê, ca cao và cây rừng [37, 67, 98]

c) Là một nguyên nhân gây ra bệnh hen suyễn do sự phát tán trong không khí của các bào tử [20]

d) Là nguồn cung cấp enzym ligninolytic với các ứng dụng tiềm năng trong thuốc nhuộm, xử lý chất độc trong nước bị ô nhiễm và các quy trình công nghệ sinh học khác [33, 75, 81, 85]

e) Và thậm chí là cung cấp một chế độ ăn uống cho gà nuôi trong trang trại [65]

1.1.2 Các hợp chất có hoạt tính sinh học đuợc phân lập từ Ganoderma lucidum

Các loài được nghiên cứu nhiều nhất trong họ Ganoderma là các loài laccate thuộc Ganoderma lucidum (Curtis) Những loại nấm này, ở Nhật Bản gọi là Reishi

và ở Trung Quốc gọi là Linh-zhi, đã được biết đến từ thời cổ đại, và thậm chí đã được đề cập trong cuốn sách y khoa nổi tiếng Thần Nông Bản Thảo, (viết trong thời Đông Hán) và Ben Cao Gang Mu (viết vào khoảng năm 1590 sau công

nguyên) Nhiều loại bệnh đã được điều trị thành công bằng G lucidum như là: viêm

gan, tăng cholesterol trong máu, tiểu đường, ung thư, suy giảm miễn dịch, giảm

Trang 15

bạch cầu, xơ vữa động mạch, bệnh trĩ, mệt mỏi mãn tính, mất ngủ và chóng mặt do suy nhược thần kinh, ngoài ra còn bệnh viêm phế quản và tăng huyết áp [12, 23,

26, 31, 54, 73, 96]

Tính đa dạng đáng ngạc nhiên này là do số lượng lớn các hợp chất có hoạt tính sinh học được phân lập từ loại nấm này Nhìn chung, hầu hết các chất chuyển

hóa có hoạt tính sinh học trong G lucidum đã báo cáo rơi vào hai nhóm chính:

những chất có nguồn gốc từ lanosterol (chủ yếu là axit ganoderic và các hợp chất

có liên quan) và các polisaccarit [19, 66] Tuy nhiên, cũng có những báo cáo về

các peptit phân tử khối thấp và các protein [76, 79, 81] Các báo cáo này đã chỉ ra

rằng dịch chiết của G lucidum đặc biệt có hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển

của sarcoma, trong khi trong dịch chiết không phân cực không có, mặc dù sau này hoạt tính nổi trội đó là chống sự peoxi hóa lipit cũng như thu gom các gốc tự do hydroxyl và supeoxit [35, 54]

1.1.2.1 Những dẫn xuất tritecpenoit từ lanosterol: Tritecpenoit bắt nguồn từ

lanosterol (axit ganoderic và các hợp chất liên quan)

Từ các phân đoạn không phân cực của dịch chiết G lucidum, có hơn 130

tritecpenoit khác nhau đã được phân lập Tất cả đều là dẫn xuất lanosterol chống oxy hoá cao có hoạt tính dược lý như có khả năng ức chế sự phát triển ung thư và

sự di căn bằng cách điều khiển hệ miễn dịch, gây bắt giữ chu kỳ tế bào, và kích hoạt apoptosis được gọi là axit ganoderic, ganoderiol, axit ganolucidic, lucidon và axit lucidenic [19]

Hình 1.1: Một số chất chuyển hóa được phân lập từ G.lucidum

R5 R3

R4 R7

R8 R6

R1

R2

Trang 16

R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 R8

11 β-OAc α-OAc β-Oac -H  24 25 -Me -COOH

Trang 17

71 =O α-OH -H -H  24 25 -Me -Me

R4 R3

O

R4 R2 R1

R1 R2 R3 R4

R5 R6 R7 R3

Trang 18

R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 R8

23 β-OH -H  5 6 -H  7 4 -H -H  22 23

25 β-OH -H α-OH β-OH  7 4 -H -H  22 23

26 β-OH -H α-OH β-OMe  7 4 -H -H  22 23

5 4

7 6

7 6

7 6

14 8

trí Axit Ganodermic S (1) và R (2) là một ví dụ về điều này [71]

Sự phân lập của axit ganoderic A (3) và B (4) (Hình 1.2) được báo cáo bởi

Kubota và các cộng sự (1982) từ dịch chiết clorofom của quả thể sấy khô

G.lucidum Kể từ đó, việc phát hiện ra các chất dẫn xuất lanosterol mới trong nhóm

của nấm này, đã tiếp tục được nghiên cứu cho đến nay [41]

Toth và các cộng sự (1983) đã thấy sự xuất hiện của 6 poly-oxy hóa

lanostanoit trong quả thể của G lucidum, chúng có tên là axit ganoderic T (5), V

(6), W (7), X (8), Y (9) và Z (10), Shiao và các cộng sự (1988) đã xác định được 5

hợp chất từ quả thể của G lucidum: Lanosta-7, 9 (11), 24-trien-3β, 15α, 22 axit

b-triaxetoxy-26-oic (11), axit lanosta-7, 9 (11), oxo-26-oic (12), axit lanosta-7, 9 (11), 24-trien-3α, 15α-diaxetoxi-23-oxo-26-oic (13), axit lanosta-7, 9 (11), 24-trien-3α-axetoxi-15α-hydroxi-23-oxo-26-oic (14), và axit lanosta-7, 9 (11), 24-trien-3α-axetoxi-15a, 22β-dihydroxi-26-oic (15) (Hình 1.1

24-trien-15α-axetoxi-3α-hydroxi-23-và 1.2) [72,82]

Trang 19

El-Mekkawy và các cộng sự (1998) đã báo cáo về sự phân lập 13 chất

chuyển hóa từ G lucidum, đã xác định được là axit ganoderic α (16), A (3), B (4),

C1 (17) và H (18); ganoderiol A (19 ), B (20) và F (21); ganodermanontriol (22), ergosterol (23), ergosterol peoxit (24), cerevisterol (25) và 3β-5α-dihydroxi-6β- metoxyergosta-7,22-dien (26) Nhóm nghiên cứu này cũng đã tìm thấy ganoderiol

F, ganodermanontriol và các chất thấp hơn axit ganoderic B, C,α và H, ganoderiol

A và B, cũng như 3-5α -dihydroxi-6b-metoxyergosta-7, 22-dien, cho thấy hoạt tính kháng vi rút chống lại vi rút HIV-1[22]

Một năm sau González và các cộng sự (1999), báo cáo về sự cô lập được

ergosta-7, 22-dien-3-on (27); ergosta-5, 7-dien-3β-ol, (28) fungisterol (29); ergosterol (23), ergosterol peoxit (24), ergosta-4, 6, 8 (14), 22-tetraen-3-on (30), ganodermadiol (31), ganodermenonol (32); axit ganoderic DM (33), lucidadiol (34)

và lucidal (35) từ G lucidum[29]

Một báo cáo khác đã được thực hiện bởi Min và các cộng sự (2000), về quá

trình phân lập axit ganoderic γ (36), δ (37), ε (38), ζ (39), η (40) và θ (41), ngoài

ganolucidic axit D (42) và C2 (43) từ các bào tử của G lucidum, cũng như hoạt

tính gây độc tế bào của chúng chống lại các dòng tế bào khối u Meth-A và LLC[58]

Wu và các cộng sự (2001) đã phân lập được axit lucidenic A, C, N (51),

lucidolacton, metyl lucidenat F (52) và axit ganoderic E (53) từ quả thể khô của G

lucidum[91] Axit lucidenic A và N, và axit ganoderic E cho thấy hoạt tính gây độc

tế bào chống lại các dòng tế bào ung thư gan G2, viêm gan G2.2.15 và P-388 Gao

và cộng sự (2002) đã cô lập được 3 dẫn xuất lanosterol từ quả thể của G lucidum,

được gọi là luciandehit A (54), B (55) và C [26], trước đây nó được González và cộng sự (1999) [29] gọi là lucidal (35) Nhóm nghiên cứu này cũng báo cáo tìm thấy ganodermanonol (32), ganodermadiol (31), ganodermanondiol (49), ganodermanontriol (22), axit ganoderic A (3), axit ganoderic B8 (50) và axit ganoderic C1 (17) Luciandehit B và C (hoặc lucidal), cũng như ganodermanonol

Trang 20

và ganodermanondiol thể hiện hoạt tính gây độc tế bào in vitro chống lại các tế bào

ung thư phổi Lewis, sarcoma 180, dòng tế bào khối u T-47D và Meth-A [26] Trong một nghiên cứu tiếp theo thực hiện trên quả thể, các nhà nghiên cứu cũng

tìm thấy lucidimol B (51) và ganodermatriol (52), cho thấy hoạt tính gây độc tế bào

chống lại các tế bào ung thư phổi Lewis [25]

Hình 1.2: Những chất chuyển hóa được phân lập từ G.lucidum

R6

R5

R11 R10

R9

R8

R7 R4 R3

Α-OAc α-Me -H -H

25 26

7 α-OAc α-OH -H -H

Α-OAc α-Me -H -H

25 26

16 β-OH =O =O β-OAc β-OH α-Me -H =O  26 25 COOH -Me

18 β-OH =O =O β-OAc =O α-Me -H =O  26 25 COOH -Me

Trang 21

37 =O α-OH =O -H α-OH α-Me -H β-OH  26 25 -Me -COOH

66 β-OH =O =O β-OAc =O α-Me  20 22 β-OH -H -Me -COOH

82 =O =O =O β-Oac =O α-Me -H =O -H COOH COOBu

86 β-OAc β-OH =O -H α-OH α-Me -OH =O -H COOH -Me

87 α-OAc α-OAc -H -H α-OH α-Me -H -H  26 25 -Me -COOH

88 -OH α-OAc -H -H -H α-Me -H -H  26 25 -Me -COOH

Trang 22

Akisha và các cộng sự (2005) báo cáo sự xuất hiện của 7 tritecpenoit trong

quả thể của G lucidum, chúng được xác định là: axit 20 (21)-dehydrolucidenic A

(53), metyl-20 (21)-dehydrolucidenat A (54), axit 20-hydroxilucidenic D2 (55), axit 20-hydroxilucidenic F (56), axit 20-hydroxilucidenic E2 (57), axit 20- hydroxilucidenic N (58) và axit 20-hydroxilucidenic P (59) [9]

Trong cùng năm Hajjaj và các cộng sự đã phân lập được ganoderol A (32) và ganoderol B (31), còn được gọi là ganodermanonol và ganodermadiol tương ứng (González và các cộng sự 1999), ganoderal A (60) và axit ganoderic Y (9), từ dịch

chiết metanol của G lucidum[31]

Liu và đồng nghiệp (2006a, 2006b) đã mô tả tác dụng ức chế các enzym

5α-reductase, gây ra bởi các dẫn xuất lanosterol như axit ganoderic TR (61), DM (33),

A (3), B (4), C2 (62), D (63), I (64) và 5-lanosta-7, 9 (11), 24-trien-15

,26-dihydroxi-3-on (120) Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy các hợp chất với một

nhóm cacbonyl ở C-3 và một nhóm cacbonyl α, β không bão hòa ở C-26, thể hiện

O O

H

O 24

O

OH O O

H 73

Trang 23

tác dụng ức chế đối với các enzym, nó có thể điều trị và phòng ngừa các bệnh liên quan đến nội tiết tố androgen như ung thư tuyến tiền liệt, hói đầu ở nam giới và mụn trứng cá [49, 50]

Guan và đồng nghiệp tìm thấy 2 tritecpenoit từ quả thể G lucidum, được xác

định là axit 23S-hydroxi-3, 7, 11, 15 tetraoxo-lanost-8, 24E-dien-26-oic (65) và axit 12β-axetoxi-3β-hydroxi-7, 11, 15, 23-tetraoxo-lanost-8, 20E-dien-26-oic (66) [28]

Seo và các đồng nghiệp đã phân lập được 3 steroit và 5 tritecpenoit từ quả

thể của G lucidum, được xác định là ergosterol (23), ergosterol peoxit (24), stella

sterol, còn được gọi là ergosta-7, 22-dien-3β-ol (96), axit ganoderic A (3), C1 (17)

và Sz (67), metyl ganoderate A (68) và axit lucidenic A (69) [69]

Adams và các cộng sự (2010) đã phân lập được 3 lanostanoit mới và một dẫn

xuất benzofuran từ quả thể của G.lucidum, được đặt tên là axit ganoderic TR1 (70),

andehit ganoderic TR (71), axit 23-hydroxyganoderic S (72) và ganofuran B (73 )

[8]

Weng và các đồng nghiệp (2010) đã tìm thấy 2 sterol mới với tác dụng

chống lão hóa trên men, được xác định là ganodermaside A (74) và B (75) [87]

Lee một đồng nghiệp (2010a, 2010b, 2011) báo cáo đã phân lập 4 tritecpen

lanostan mới, được gọi là butyl ganoderat A (76), butyl ganoderat B (77), butyl

lucidenat N (78), và butyl lucidenat A (79), từ quả thể của G.lucium, trong đó

chúng thể hiện tác dụng ức chế đáng kể trên các tế bào mỡ trong tế bào 3T3-L1 Hiệu ứng này được thực hiện thông qua sự điều chỉnh giảm SREBP-1c Nhóm nghiên cứu này, cũng đã phân lập được metyl 7β, 15α-isopropylidenedioxy-3, 11,

23-trioxo-5α-lanost-8-en-26-oat (80) và butyl 12β-axetoxy-3β-hydroxy-7, 11, 15, 23-tetraoxo-5α-lanost-8-en-26-oat (81) Cả hai hợp chất này đều thể hiện hoạt tính

chống axetylcolinesterase [43-45]

Ngoài ra, Cole và Schweikert (2003) đã báo cáo một số chất chuyển hóa

khác được phân lập từ quả thể, bào tử và sợi nấm của G lucidum, như axit

Trang 24

H O H

OH H

O OH

OH

OH O

H O

O

91

O OH

OH

O O

H O H 92

O R1

R2 R3 R4

R5

Trang 25

O

O H

97

OH O

O

R3 O

O

O R1 R2

Trang 26

R2 R1 O

R5

R4 R3

22 20

22 20

Trang 27

1.1.2.2 Các polisaccarit trong Ganoderma lucidum

Bên cạnh các tritecpenoit đã được nêu ở trên, còn có sự xuất hiện của hơn

200 polisaccarit đã được báo cáo với khả năng kháng u và hoạt động điều hòa miễn

dịch, trong các dịch chiết phân cực của G lucidum Các polisaccarit có hoạt tính

sinh học chính được phân lập từ loại nấm này là D-glucan với những liên kết glicozit β-1-3 và β-1-6 Cấu trúc cơ bản của các cacbonhidrat được nêu giống β-1-3-D-glucopyran và chuỗi bên với 1-15 đơn vị β 1-6 monoglucosyl với trọng lượng phân tử trung bình 1.050.000 Da [74, 97]

Hoạt tính kháng khối u của polisaccarit ở G.lucidum đã được công nhận là do

tác động tích cực của chúng trên hệ thống miễn dịch của người dùng, chứ không phải là gây độc tế bào trực tiếp chống lại tế bào ung thư [47]

25 26

β-OH =O β-OAc =O -H -H -H

25 26

Trang 28

Trong số các hoạt tính sinh học của polisaccarit thu được từ loại nấm này đã được báo cáo như: điều hoà miễn dịch, chống độc cho gan, thu gom gốc tự do ảnh hưởng đến chu kỳ tế bào và dẫn truyền tín hiệu tế bào, ức chế sự tăng trưởng tế bào bạch cầu, bạch cầu cảm ứng của tế bào biệt hóa thành bạch cầu đơn nhân/đại thực bào, ức chế tiểu cầu kết tập, sự ức chế của sự tương tác giữa vi rút và màng tế bào với sự gia tăng sản xuất IL-2 Những hoạt tính này cũng đã được tìm thấy trong

dịch chiết của sợi nấm G.lucidum, và với một liều lượng nhất định sẽ làm giảm

đáng kể tỷ lệ và kích thước của khối u gây ra bởi azoxymetan và N, dimetylhydrazin trong tế bà F344 ở ruột của chuột đực [54, 66, 71, 76]

N-Bao và các cộng sự (2001, 2002) đã báo cáo sự xuất hiện của một D-glucozo polisaccarit được gọi là PSGL-I-1A, được tách ra từ dịch chiết trong nước của bào

tử G.lucidum có tác dụng kích thích tế bào T-lymphocytes [12, 13] Trước đây,

nhóm nghiên cứu này cùng tìm thấy một polisaccarit có tên PGL, nó có một cấu trúc riêng biệt với liên kết β-D (1-6), tạo nhánh với chuỗi bên glucozit liên kết bởi những liên kết β (1-3) và β (1-4) Theo các tác giả này, PGL ức chế sự gia tăng của

tế bào T-lympho Hung và các đồng nghiệp đã phân tích các thành phần

polisaccarit của G lucidum, và xác nhận sự hiện diện của liên kết 1-3 và 1-6 [34]

Hình 1.4: Những chất chuyển hóa được phân lập từ các loài khác của chi

Trang 29

O O

R3 R2 R1

O

O O

H 121

OH O

O H

O 126

Trang 30

O

O O

O O O

135

O O

O

OAc O

Trang 31

H OH

H O

H

H

O OH O

161

O O

R4

R2 R1

25 24

146 =O -H 2425 -Me

Trang 32

OH O

H

R1 O O

OH O

OH H

R1

Một số hoạt tính khác của polisaccarit của G lucidum là: kháng vi rút,

kháng viêm, chống oxy hóa, hạ đường huyết, bảo vệ chống bức xạ và tổn thương DNA [8]

1.1.2.3 Peptit và protein

Một protein có hoạt tính mitogenic tên LZ-8 được phân lập từ sợi nấm G lucidum Polipeptit này bao gồm 110 dư lượng axit amin với một axetyl amin kết

thúc, có trọng lượng phân tử 12 kDa [66]

You và Lin (2002) báo cáo sự xuất hiện của một phức hợp polisaccarit- protein được gọi là GLPP có khả năng trung hòa các tác hại gây ra bởi phản ứng oxi hóa (ROS) trong các đại thực bào của chuột GLPP có trọng lượng phân tử trung bình 5,13 × 105 Da, bao gồm các amino axit sau đây: ASP 8,49, 3,58 Thr, Ser 3,93, Glu 5,81, 3,50 Gly, Ala 3,84, Cys 1,06, Val 2,68, Met 5,33, Iso-Leu 0,25, 1,5 Leu, Phe 1,99, Lys 3,30, 1,21 , Arg 3,94, Pro1.22 (mg/g) Các polisaccarit trong phức hợp được cấu tạo từ ramnose, xylozơ, fructozơ, galactozơ và glucozơ với một phân tử gam của 0,549:3,614:3,167:0,556:6,89, liên kết bằng các liên kết -glycozit [96]

O R1

O

H OH

H O

Trang 33

Sripuan và các cộng sự (2003) phân lập từ quả thể G lucidum, α-enzym

galactosidase, có khả năng thủy phân p-nitro-α-D-galactopyranoside, cũng như melibiose, raffinose và stachyose Thêm vào đó, một peptideglycan với hoạt tính hạ đường huyết được gọi là ganoderan C đã được phân lập từ loại nấm này Các polisaccarit của phân tử này bao gồm D-glucozơ (69,6% của peptideglycan) và D-galactozơ (2,9%) Cả khung và chuỗi bên ganoderan C chứa liên kết D-glucopyranosyl β-1-3 và β-1-6, giống liên kết α-1-6 của D-galactopyranosil [76]

Ngoài ra, sự xuất hiện của một peptit trọng lượng thấp gọi là GLP, trong dịch chiết trong nước của loại nấm này có tác dụng chống oxi hóa và đóng vai trò quan trọng đối với việc ức chế sự peoxi hóa lipit trong cơ thể [79]

Liu và các đồng nghiệp (2004) đã báo cáo việc cô lập các proteoglycan

với tỷ lệ cacbohydrat 10.4:1 từ sợi nấm trồng G lucidum Proteoglycan này cho thấy hoạt động kháng vi rút chống lại herpes simplex loại vi rút 1 và 2 Theo

nhóm nghiên cứu này, các proteoglycan ức chế sự nhân lên của vi rút bằng cách can thiệp vào khi vi rút bám dính và nhập vào các tế bào mục tiêu [51]

Wang và Ng (2006) đã mô tả sự cô lập của một enzym ligninolytic từ quả thể

tươi G.lucidum, nó có tác dụng ức chế mạnh đối với quá trình sao chép ngược của

HIV-1 [85] Ngoài ra, có những báo cáo trước đó về việc cô lập và đặc tính của một số laccase isozym khác [40]

Du và các cộng sự (2006) cho thấy G.lucidum có thể biến đổi sinh học selen

vô cơ thành selen hữu cơ, được lưu trữ trong một loại protein hòa tan trong nước Các nhà nghiên cứu phân lập được một protein có chứa selen, thuộc nhóm protein DIN G [21]

Protein này ở trạng thái ban đầu của nó đã được xác định như là một monome có khối lượng 36.600 Da và có số lượng vượt trội trong các gốc supeoxit

và hydroxyl

Trang 34

1.1.3 Các chất có hoạt tính sinh học được phân lập từ các loài khác của chi Ganoderma

Ngoài G.lucidum các loài khác cũng phân lập được những chất có hoạt tính

sinh học

Ví dụ, Lee và cộng sự [42] đã báo cáo sự xuất hiện của một số chất được

chứng minh là gây giảm mạnh sự ức chế in vitro ở chuột, trong dịch chiết etyl axetat của quả thể G applanatum (Pers.) Trong số những hợp chất được tìm thấy:

D-mannitol (89), axit 2-metoxi béo (90), cerebrosides (91), daucosterol (92),

2,5-dihydroxyaxetophenon (93), 2,5 axit dihydroxybenzoic (94)

protocatechualdehyde (95) (Hình 1.3)

Các loại nấm giống như trên, thường được gọi là " artist's conk ", có sterol

5α-ergost-7-en-3β-ol (29), 5α-ergost-7,22-dien-3β-ol (96), 5,8 -epoxy-5α, ergost-6,22-dien-3β-ol (24) và một lanostanoit (97) cho thấy hoạt tính kháng sinh

8α-chống lại vi khuẩn gram dương đáng chú ý Mặc dù một số polisaccarit đã được

phân lập từ dịch chiết hòa tan trong nước của G applanatum, nhưng không có chất

nào trong số chúng cho thấy hoạt tính kháng u, không giống như những polisaccarit

được phân lập từ G lucidum Tuy nhiên, các axit applanoxidic A (98), B (99), C,

D, E, F, G (100) và H, được phân lập từ một phần dịch chiết không phân cực của

loại nấm này, chúng được chứng minh là có hiệu quả chống lại các khối u da ở

chuột Mặt khác, dịch chiết của G applanatum được báo cáo là có tác động ức chế

metaloendopeptidase encefalinase EC 3.4.24.11, mà có thể có ứng dụng tiềm năng

trong điều trị đau Hơn nữa, sự xuất hiện của ergosterol (23), 24 lanosta-25-on (101), ergosta-7, 22-dien-3-on (27), friedelin (102), alnusenon (friedoolean-5-en-3-on) (103), axit ganoderic F (82), axit ganoderenic A (104) và

z-metyl-5α-axit lucidenic D1 (105) trong G.applanatum đã được báo cáo [14, 17, 19, 24,84,

99]

Wang và Liu (2008) đã tìm thấy hai lanostan mới có khả năng chống oxy hóa

cao thuộc loại tritecpenoit tên là axit ganoderic AP2 (106) và AP3 (107) được tách

Trang 35

từ quả thể của nấm G applanatum[88] Ngoài ra, các nhà nghiên cứu đã báo cáo sự

cô lập của axit ganoderenic A (104), B (108), D (109) và G (110) (Hình 1.3) và

Gan và các cộng sự đã phân lập từ Ganoderma neojaponicum (Imazeki) được các

chất chuyển hóa sau đây: ganoderal A (60), ganodermadiol (31), 3β-YL palmitate (111), ergosta-7,22-dien-3-on (27), ergosta-7,22-dien-3β-ol (96), ergosta-4,6,8 (14), 22-tetraen-3-on (30), và một steroit được xác định là 2β, 3α, 9α- trihydroxyergosta-7, 22-dien (112)[24] Bên cạnh đó, Paterson (2006) báo cáo rằng

ergosta-7,22-dien-2 driman giống sesquitecpen được gọi là axit cryptoporic H và I đã được phân lập

từ loại nấm này [66]

Kleinwätcher và cộng sự (2001) đã báo cáo sự xuất hiện của 7 tritecpenoit

trong G.colossus (Fr.), đặt tên là colosolacton A (113), B (114), C (115), D (116),

E (117), F (118) và G (119) (Hình 1.4) Những colosolacton không cho thấy hoạt

tính kháng sinh, nhưng lại thấy hoạt tính gây độc tế bào vừa phải chống lại L-929, K-562 và các tế bào HeLa, với các giá trị IC50 từ 15-35 µg/ml Bên cạnh đó, các chất này dehydrogenase 3α-hydroxysteroit (3α-HSD) ở nồng độ tương đương gây

ức chế với indomethacin như một loại thuốc tiêu chuẩn, cho thấy tính kháng viêm [39]

Theo González và cộng sự (2002), 15 hợp chất đã được phân lập từ

G.concinnum (R yvarden), 12 trong số đó đã được báo cáo: ganodermanonol (32),

ganodermadiol (31), axit ganoderic Y (9), ganoderiol F (21), ganodermatriol (52), ganodermanontriol (22), ganoderiol A (19), ganoderiol B (20), ergosta-7,22-dien-3-

on (27), fungisterol (29) và ergosterol peoxit (24) Một số các hợp chất đã được

chứng minh là có hoạt tính sinh học dựa trên các nghiên cứu về G lucidum Ba chất

chuyển hóa khác được xác định là 5 -lanosta-7, 9(11), 24-trien-3β-hydroxy-26-al

(47), 5α-lanosta-7, 9 (11), 24-trien-15α-26-dihydroxy-3-on (120), và 8α,

9α-epoxi-4, 9α-epoxi-4, 14 on-trimetyl-3, 7, 11, 15, 20-pentaoxo-5α-pregnan (121), và thể hiện hoạt

tính phá hủy tế bào chống lại bệnh bạch cầu dòng tủy tế bào HL-60 [27]

Trang 36

Sự cô lập của ganomycin A (122) và B (123) (Hình 1.4) từ nấm Ganoderma

pfeifferi (Bres.) châu Âu đã được báo cáo Các chất chuyển hóa này cho thấy hoạt tính kháng sinh đối với B subtilis, S aureus, và Micrococcus flavus, các vi khuẩn

khác Cũng có những báo cáo về sự cô lập ganodermadiol, và lucidadiol, cả hai chất này thể hiện hoạt tính kháng vi rút với loại vi rút cúm A và HSV-1 [60, 99]

Ngoài ra, Niedermeyer và cộng sự (2005) đã phân lập từ G.pfeifferi basidiocarps, được các chất chuyển hóa được biết đến trước đây: ergosta-7, 22-

dien-3-on (27); ergosta-4, 6, 8 (14), 22-tetraen-3-on (30), 5α,

8α-epidioxy-ergosta-6, 22-dien-3β-ol (24), andehit lucic B (48), ganoderol A (32), ganoderol B (31), ganoderal A (60), ergosta-7,22-dien-3β-ol (96) và các axit applanoxidic A (98), C

và G (100), cũng như các tritecpenoit mới andehit lucic D (3, 7, lanosta-8, 24-dien-26-al) (124), ganoderon A (5α -lanosta-8, 24-dien-26-hydroxy-3, 7-dion) (125) và ganoderon C (5α -lanosta-8-en-24, 25-epoxi-26-hydroxy-3, 7,- dion) (126) [63]

11-trioxo-5α-Trong khi đó, Ganoderma australe (Fr.) có tritecpenoit với hoạt động gây

độc tế bào chống lại tế bào ung thư, như axit ganoderic Z (10), Y (9), X (8), W (7),

V (6) và T (5), cũng như andehit lucic A (47), B (48) và C (35) (León và các cộng

sự 2003) Từ cùng một loại nấm Albino-Smania và cộng sự (2007) đã cô lập được

5α-ergost-7-en-3β-ol (29), 5α-ergost-7,22-dien-3β-ol (96), 5, 8-epidioxy-5α, ergost-6, 22-dien-3β-ol (24), axit applanoxidic A (98), C, F, G (100) và H, cũng như axit australic (131) và metyl australate (132) (Hình 1.4) Cả hai axit australic

8α-và metyl australat có hoạt tính chống vi khuẩn 8α-và nấm Bên cạnh đó, Elissetche 8α-và

cộng sự (2007) đã cô lập 2 enzym laccase từ G australe [32]

Xem xét đầy đủ chi đó, Paterson (2006) đề cập đến các hợp chất từ G

lipsiense (Batsch) sau đây: ergosterol (23); 5α-ergosta-7, 22-dien-3β-ol (96),

ergosta- 7, 22-dien-3-on (27), cũng như axit ganoderic A (3) và D (63) và este

metyl của chúng đã được cô lập Paterson cũng báo cáo về sự xuất hiện của

ergosta-7, 22-dien-3β-ol (96), ergosta-7, 22-dien-3β-YL palmitat (111), 26,

Trang 37

27-dihydroxy-lanosta-7, 9 (11), 24-trien-3, 16-dion (133), metyl oleat (134) và

glyceryl trioleat (135) trong G.carnosum (Pat.) [66]

Bên cạnh đó, trong G amboinense (Lam.) đã được mô tả sự xuất hiện của:

ergosta-7, 22-dien-3β-ol (96), ergosta-7, 22-dien-3β-YL palmitat (111), ergosta-7, 22-dien-3β-YL linoleat (136), 2β, 3α, 9α-trihydroxy-5α-ergosta-7, 22-dien (112), 5α, 8α-epidioxy-ergosta-6, 9 (11 ), 22-trien-3β-ol (24), 2β-metoxyl-3α-9α- dihydroxy-ergosta-7, 22-dien (137) và axit ganoderic AM, còn được gọi là 3β- hydroxy-7, 11, axit 15, 23-tetraoxo-lanosta-8-en-26-oic (138) (Hình 1.3) [66] Từ

quả thể của G amboinenese, đã cho thấy tác dụng phòng ngừa trên axetaminophen

gây tổn thương gan cấp tính [64]

Trong khi đó, Shen và cộng sự (2008) báo cáo sự cô lập và xác định các

sterol ergosta-4, 6, 8 (14), 22-tetraen-3-on (30), từ G atrum (Zhao) [70]

Niu và các cộng sự (2006), tìm thấy 3 hợp chất phenolic mới có tên fornicin

A (139), B (140) và C (141) với các hoạt tính gây độc tế bào vừa phải trên tế bào

Hep-2, ở nấm Ganoderma fornicatum (Fr.) [64]

Các loại nấm Ganoderma tsugae (Murr.), cũng đã được sử dụng trong y học

cổ truyền phương Đông giống như G lucidum, có hoạt tính chống oxy hóa cao, làm

giảm sức mạnh thu gom và khả năng tạo phức Có những báo cáo về sự cô lập của

một vài lanostanoit với hoạt động gây độc tế bào in vitro từ G tsugae basidiocarps

bao gồm cả axit tsugaric A (142), B (143) và C (144), và tsugarosit A, B, C, ngoài

bốn chất chuyển hóa được biết đến trước đây: axit 3β-hydroxy-5α-lanosta-8,

24-dien-21-oic (145), axit 3-oxo-5α-lanosta-8,24-24-dien-21-oic (146), 3β-ol (96), và 2β, 3α, 9α-trihydroxy-5-ergosta-7, 22-dien (112) Mặt khác, Chen

ergosta-7,22-dien-và Chen (2003) đã báo cáo về sự phân lập của axit ganoderic A (3), B (4), C1 (17), C5 (147), C6 (148), D (63), E (46) và G (83), cũng như axit ganoderenic D (109),

từ quả thể G.stugae [18, 56, 77]

Qiao và cộng sự (2007) đã cô lập 2 tritecpenoit từ Ganoderma sinense

(Zhao), được xác định là ganolacton B (149) và ganoderiol A triaxetat (150) [68]

Trang 38

Sato và các cộng sự (2009b) đã báo cáo rằng có năm lanostan mới có tính oxy hóa

cao thuộc loại tritecpenoit được gọi là axit ganoderic GS-1 (151), axit ganoderic GS-2 (152), axit ganoderic GS-3 (153), axit 20 (21)-dehydrolucidenic N (154) và

axit 20-hydroxylucidenic A (155) được phân lập từ quả thể của G.sinense, cùng với

các hợp chất được biết đến bao gồm 6 tritecpenoit và 3 sterol Trong số này, axit ganoderic GS-2 và axit 20 (21)-dehydrolucidenic N, ức chế sự suy giảm miễn dịch virut-1 protease của con người với các giá trị IC50 từ 20 đến 40 µM

Nhóm nghiên cứu này, cũng đã cô lập 3 tritecpenoit lanostan loại mới có các

nửa hydroquinone farnesyl, tên ganosinensin A (156), B (157) và C (158), từ cùng

một loại nấm (Sato cùng cộng sự 2009a) Sau đó, Wang và các cộng sự (2010) đã báo cáo về sự cô lập của 3 tritecpenoit mới có chứa bốn nhóm trong một vòng cũng

từ nấm có tên metyl ganosinesat A (159), axit ganosinesic A (160) và axit ganosinesic B (161) (Hình 1.4)

Cuối cùng, Welti cùng cộng sự (2010) báo cáo sự cô lập của axit ganoderic

FWI (162) (Hình 1.3) từ Ganoderma tuberculosum (Murr.) Theo các nhà nghiên

cứu dịch chiết của G tuberculosum có thể ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cũng như G lucidum hoặc thậm chí tốt hơn Vì nó chỉ được phân lập từ dịch chiết

G tuberculosum, axit ganoderic FWI có thể được sử dụng cũng như một dấu hiệu

chemotaxonomic [90]

Như chúng ta thấy, trong ba mươi năm qua, chi Ganoderma được nghiên cứu

rộng rãi để tìm ra các chất chuyển hóa trị liệu mới Nghiên cứu này đã dẫn đến sự

cô lập của hàng trăm các hợp chất mới có giá trị chữa bệnh, hầu hết trong số đó là một trong hai dẫn xuất lanosterol (axit ganoderic và các phân tử có liên quan) hoặc polisaccarit

Trong số các hoạt tính sinh học chính của các dẫn xuất lanosterol là gây độc

tế bào đối với một số dòng tế bào ung thư, hoạt tính chống viêm, kháng virut và chống ung thu gan, cũng như ức chế 5α-reductase và sinh tổng hợp cholesterol Mặt khác các polisaccarit, được biết đến để tăng cường hệ thống miễn dịch và phát huy

Trang 39

hoạt động thu gom các gốc tự do Tuy nhiên, chi này là một trong những chi lớn

nhất thuộc họ Ganodermataceae, do đó vẫn còn rất nhiều điều cần nghiên cứu

thêm

1.2 Ganoderma mastoporum

1.2.1 Đặc điểm hình thái

Linh Chi mastoporum lần đầu tiên được (Lev.) Pat., định danh Bull Sóc

Mycol Cha 5 (2,3): 71, 1889: Quả thể nấm (Hình 1.5), nó thường mọc đơn hoặc mọc nhiều rải rác dọc theo thân cây, khoảng cách từ 10-14 cm sống một năm hoặc lâu năm Không cuống, tán nấm hình tròn gần quạt hoặc vỏ hến, 4,5 – 5,5 x 6,5 – 9

cm, bề mặt nâu tím đến nâu đen, một ít màu nâu đất có vân vòng đồng tâm dày, bóng, mép tù, nguyên vẹn Nó còn được gọi với tên khác là nấm Linh chi lỗ tròn Mọc trên cây đổ, gốc chặt cây lá rộng, gây ra mục trắng

Phân bố: Ganoderma mastoporum phân bố chủ yếu ở những nơi nhiệt đới

như ở châu Á, châu Đại Dương Ở Việt Nam lần đầu tiên tìm thấy ở Liên Chiểu -

Đà Nẵng [6]

Hình 1.5: Quả thể Ganoderma mastoporum

Trang 40

1.2.2 Thành phần hóa học của Ganoderma mastoporum

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới Ganoderma mastoporum được nghiên cứu rất ít Lần đầu tiên Ganoderma mastoporum được Masao Hirotan1 và các cộng

sự (1995) tách và phân lập được 4 hợp chất ganomastenol A (rel-3α, 8, trihydroxycadin-4, 10 (15)-dien), ganomastenol B (rel-3β, 8, 9-trihydroxicadin-4,

9α-10 (15)-dien), ganomastenol C (rel-3β, 8β, 9α-trihydroxicadin-9α-10 (15)-dien) và ganomastenol D (rel-8β, 9α-dihydroxycadin-4-hydroxymethylcadin-4, 10 (15)-dien) [55]

H

OH H

O

1 2 3 4

5 6 7 8

9 10

O

1 3

4 6 89

Ganomastenol A Ganomastenol B

H

OH H

O

1 3

OH

1

4 6 89

Ganomastenol C Ganomastenol D

Ngày đăng: 20/07/2015, 10:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.5: Quả thể Ganoderma mastoporum - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 1.5 Quả thể Ganoderma mastoporum (Trang 39)
Hình 3.2: Phổ hồng ngoại (IR) của chất A - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.2 Phổ hồng ngoại (IR) của chất A (Trang 49)
Hình 3.3: Phổ khối lượng (EI-MS) của chất  A - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.3 Phổ khối lượng (EI-MS) của chất A (Trang 50)
Hình 3.12: Phổ HMBC của hợp chất A - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.12 Phổ HMBC của hợp chất A (Trang 55)
Hình 3.15: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.15 Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) (Trang 58)
Hình 3.17: Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.17 Phổ HMBC của hợp chất A (phổ dãn) (Trang 60)
Hình 3.18: Phổ HSQC của hợp chất A - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.18 Phổ HSQC của hợp chất A (Trang 61)
Hình 3.21: Phổ COSY của hợp chất A - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.21 Phổ COSY của hợp chất A (Trang 64)
Hình 3.35:  Phổ  1 H-NMR của hợp chất C (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.35 Phổ 1 H-NMR của hợp chất C (phổ dãn) (Trang 79)
Hình 3.41: Phổ EI-MS của hợp chất D - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.41 Phổ EI-MS của hợp chất D (Trang 85)
Hình 3.49: Phổ HMBC của hợp chất D - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.49 Phổ HMBC của hợp chất D (Trang 89)
Hình 3.56: Phổ HSQC của hợp chất D (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.56 Phổ HSQC của hợp chất D (phổ dãn) (Trang 96)
Hình 3.57: Phổ COSY của hợp chất D - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.57 Phổ COSY của hợp chất D (Trang 97)
Hình 3.58: Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.58 Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) (Trang 98)
Hình 3.59: Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) - Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của nấm linh chi (ganoderma mastoporum (LEV )PAT ) ở nghệ an
Hình 3.59 Phổ COSY của hợp chất D (phổ dãn) (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w