Trái phiếu là chứng khoán đại diện cho khoản nợ của tổ chức phát hành cho nhà đầu tư. Trái phiếu bắt buộc các tổ chức phát hành phải trả một khoản tiền nhất định vào một ngày nhất định, thường là các khoản thanh toán lãi định kỳ. Bài nghiên cứu giới thiệu sơ lược về thị trường vốn, các loại trái phiếu và cách thức tính toán lợi suất của trái phiếu
Trang 1CHƯƠNG 12: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
I SƠ LƯỢC THỊ TRƯỜNG VỐN
1 Mục đích của thị trường vốn
Mục tiêu của các công ty phát hành chứng khoán ở thị trường vốn và các nhà đầu tư tham gia thịtrường này rất khác so với những người hoạt động trong thị trường tiền tệ Các doanh nghiệp và cánhân giao dịch trên thị trường tiền tệ chủ yếu để tạo quỹ trong ngắn hạn cho nhu cầu sử dụng vốnphát sinh Ngược lại, các công ty và cá nhân sử dụng thị trường vốn cho việc đầu tư dài hạn
Giả sử sau khi phân tích tài chính cẩn thận, 1 công ty xác định rằng cần đầu tư một nhà máymới để đáp ứng nhu cầu gia tăng của thị trường Phân tích này được đưa ra dựa trên tỷ lệ lãi suấtphản ánh chi phí dài hạn hiện tại của công ty Bây giờ giả sử rằng công ty lựa chọn để tài trợ chonhà máy này bằng cách phát hành chứng khoán thị trường tiền tệ, chẳng hạn như thương phiếu.Miễn là lãi suất không tăng, thì các chứng khoán ngắn hạn có hiệu quả: Khi những chứng khoánngắn hạn đáo hạn, công ty có thể tái phát hành tại cùng một mức lãi suất Tuy nhiên, nếu lãi suấttăng, như vào năm 1980, công ty có thể bị thiếu hụt dòng tiền hay thu nhập để hỗ trợ nhà máy bởi vìđối với các chứng khoán ngắn hạn đã đáo hạn, các công ty sẽ phải phát hành lại tại một mức lãi suấtcao hơn Ngược lại nếu công ty sử dụng các chứng khoán dài hạn, chẳng hạn như trái phiếu hay cổphiếu, thì việc tăng lãi suất sẽ không còn là vấn đề quan trọng Lý do chính mà các cá nhân và cáccông ty lựa chọn để vay dài hạn là để làm giảm nguy cơ lãi suất sẽ tăng lên trước khi họ trả hết nợ.Tuy nhiên giảm nguy cơ này đi kèm với chi phí Nhất là lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn
do phí bảo hiểm rủi ro Mặc dù cần phải trả lãi suất cao hơn để vay trong thị trường vốn, thị trườngnày vẫn hoạt động rất tích cực
2 Những người tham gia thị trường vốn
Các tổ chức phát hành chính của thị trường chứng khoán vốn là các chính phủ và các tập đoànliên bang và địa phương Chính phủ liên bang phát hành trái phiếu để tài trợ cho các khoản nợ quốcgia Chính quyền tiểu bang và thành phố cũng ban hành các trái phiếu để tài trợ cho các dự án vốn,chẳng hạn như trường học và xây dựng nhà tù Chính phủ không bao giờ phát hành cổ phiếu vì họkhông thể tuyên bố bán quyền sở hữu
Các công ty lớn phát hành cả trái phiếu và cổ phiếu Một trong những quyết định khó khăn nhấtcủa một công ty là sự lựa chọn để phát triển bằng vay nợ hay tăng vốn chủ sở hữu Sự phân phốivốn của một công ty giữa nợ và vốn chủ sở hữu gọi là cơ cấu vốn Các công ty tham gia vào thịtrường vốn vì họ không có đủ vốn hoặc muốn bảo toàn vốn của họ trước các nhu cầu đột xuất.Trong cả hai trường hợp, tính hiệu quả của thị trường vốn là rất quan trọng đối với khả năng tiếp tụchoạt động của các công ty Điều này đã được chứng minh trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008-
2009 Với sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và cổ phiếu, nguồn vốn cho các công ty mở rộng kinhdoanh gần như cạn kiệt Các công ty giảm hoạt động kinh doanh, thất nghiệp tăng cao và tăngtrưởng chậm Chỉ sau khi niềm tin thị trường trở lại mọi thứ mới bắt đầu hồi phục
Trang 2Người mua lớn nhất của thị trường chứng khoán vốn là cá nhân Các cá nhân và hộ gia đình sửdụng tiền gửi tại các tổ chức tài chính để mua các công cụ thị trường vốn như trái phiếu hoặc cổphiếu.
3 Giao dịch trên thị trường vốn
Giao dịch thị trường vốn có thể xảy ra trên cả hai thị trường sơ cấp hoặc thị trường thứ cấp Thịtrường sơ cấp là nơi mà cổ phiếu và trái phiếu mới được phát hành Quỹ đầu tư, các tập đoàn, và cácnhà đầu tư cá nhân có thể mua tất cả các chứng khoán được cung cấp trong thị trường sơ cấp Sựkiện các công ty bán chứng khoán lần đầu tiên gọi là đợt phát hành lần đầu ra công chúng (IPO).Các giao dịch mua bán tiếp theo của cổ phiếu hoặc trái phiếu mới của một công ty cho công chúngchỉ đơn giản là giao dịch thị trường sơ cấp (khác với IPO)
Các thị trường vốn thường có thị trường thứ cấp phát triển tốt Thị trường thứ cấp là nơi giaodịch các chứng khoán đã được phát hành, điều này rất quan trọng vì hầu hết các nhà đầu tư dự kiếnbán cổ phiếu và trái phiếu dài hạn trước khi chúng đáo hạn Có hai loại giao dịch trong thị trườngthứ cấp cho các chứng khoán vốn: thị trường chính thức và thị trường OTC Trong khi hầu hết cácgiao dịch thị trường tiền tệ được thực hiện thông qua qua điện thoại, hầu hết các giao dịch trên thịtrường vốn được thực hiện trên thị trường chính thức, tại một địa điểm nơi chứng khoán (gồm có cổphiếu, trái phiếu, quyền chọn, hợp đồng tương lai) được giao dịch
II THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
1 Các loại trái phiếu
Trái phiếu là chứng khoán đại diện cho khoản nợ của tổ chức phát hành cho nhà đầu tư Tráiphiếu bắt buộc các tổ chức phát hành phải trả một khoản tiền nhất định vào một ngày nhất định,thường là các khoản thanh toán lãi định kỳ Mệnh giá hoặc giá trị đáo hạn của trái phiếu là số tiền
mà tổ chức phát hành phải thanh toán khi đến hạn Lãi suất trái phiếu là tỷ lệ lãi suất mà tổ chứcphát hành phải trả và việc thanh toán lãi định kỳ này thường được gọi là trả lãi Tỷ lệ này thườngđược cố định trong suốt thời gian của trái phiếu và không có biến động so với lãi suất thị trường.Nếu các điều khoản trả nợ của trái phiếu không được đáp ứng, người giữ trái phiếu cóquyền yêucầu bồi thường bằng tài sản của tổ chức phát hành Nhìn vào hình 12.1 Mệnh giá của trái phiếuđược in ở góc trên bên phải Lãi suất 8%, cùng với thời gian đáo hạn được ghi nhiều lần trên mặtcủa trái phiếu
Trang 3Trái phiếu dài hạn giao dịch trên thị trường vốn gồm có trái phiếu dài hạn của chính phủ, tráiphiếu đô thị và trái phiếu công ty.
2 Trái phiếu chính phủ
Bộ Tài chính Mỹ phát hành trái phiếu kho bạc để tài trợ cho các khoản nợ quốc gia Sự khác biệtgiữ trái phiếu ngắn hạn (NOTE) và trái phiếu dài hạn (BOND) là trái phiếu ngắn hạn có thời hạnđáo hạn thông thường từ 1 đến 10 năm trong khi trái phiếu dài hạn có thời hạn đáo hạn từ 10 đến 30năm.Trái phiếu ngắn hạn hiện nay được phát hành với thời gian đáo hạn là 2, 3, 5, 7 và 10 năm Bêncạnh đó với các trái phiếu 20 năm, Kho bạc lại tiếp tục phát hành trái phiếu 30 năm vào tháng Hainăm 2006 Bảng 12.1 tóm tắt sự khác biệt giữa các kỳ hạn trái phiếu chính phủ.Gía của trái phiếuchính phủ và tín phiếu khó bạc được trích dẫn như một tỷ lệ phần trăm của mệnh giá 100 $
Trái phiếu chính phủ liên bang mặc định không có rủi ro vì chính phủ luôn có thể in tiền để trả
nợ nếu cần thiết Nhưng điều này không có nghĩa rằng những chứng khoán này là không có rủi ro.Chúng ta sẽ thảo luận về rủi ro lãi suất áp dụng cho trái phiếu sau trong chương này
Bảng 12.2 Trái phiếu Chính phủ
Tín phiếu kho bạcTrái phiếu ngắn hạn – noteTrái phiếu dài hạn – bond
Trang 4Trái phiếu chính phủ có lãi suất rất thấp vì mặc định không có rủi ro Mặc dù các nhà đầu tư vàotrái phiếu chính phủ đều nhận ra họ nhận được lãi suất thấp hơn so với tỷ lệ lạm phát trong một sốnăm (xem hình 12.2), phần lớn lãi suất trái phiếu chính phủ vẫn tốt hơn chứng khoán trên thị trườngtiền tệ vì rủi ro lãi suất
Biểu đồ 12.3 so sánh lợi tức trái phiếu chính phủ 20 năm so với lãi suất tín phiếu kho bạc 90ngày Có 2 điểm đáng chú ý trong đồ thị Đầu tiên, trong hầu hết các năm, tỷ suất sinh lợi của tínphiếu ngắn hạn là thấp hơn so với trái phiếu 20 năm Thứ hai, lãi suất ngắn hạn có nhiều biến độnghơn lãi suất dài hạn Lãi suất ngắn hạn chịu nhiều ảnh hưởng của tỷ lệ hiện tại của lạm phát Các nhàđầu tư chứng khoán dài hạn thường tính toán lãi suất dựa trên kỳ vọng tỷ lệ lạm phát ở mức rất caohay thấp hơn là mức thông thường, vì vậy lãi suất dài hạn thường không thay đổi nhiều như lãi suấtngắn hạn
4 Trái phiếu chính phủ chống lạm phát (TIPS)
Trang 5Năm 1997, Bộ Tài chính cung cấp một trái phiếu mới để loại bỏ rủi ro lạm phát từ việc nắm giữcác chứng khoán kho bạc.Trái phiếu chống lạm phát có lãi suất không thay đổi trong suốt thời hạncủa chứng khoán.Tuy nhiên, căn cứ để chính phủ tính mức lãi suất lại dựa trên chỉ số giá tiêu dùng –thứ có thể thay đổi Vào ngày đáo hạn, các chứng khoán được thu hồi lại với giá cao hơn so hoặcbằng với mệnh giá ban đầu được phát hành căn cứ vào mức điều chỉnh lạm phát
Ưu điểm của chứng khoán chống lạm phát hay còn được gọi là chứng khoán phòng ngừa lạmphát là chúng cho các nhà đầu tư cả cá nhân và tổ chức cơ hội để mua một chứng khoán có giá trị sẽkhông bị xói mòn/ mất giá bởi lạm phát Các chứng khoán này có thể được mua bởi người về hưu,hoặc những người muốn giữ một danh mục đầu tư có rủi ro thấp
5 Trái phiếu chính phủ không trả lãi định kỳ
Ngoài trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc, vào năm 1985, Kho bạc phát hành trái phiếu
cho các tổ chức lưu ký theo hình thức ghi sổ được gọi là Giao dịch tách biệt lãi suất và giá gốc của chứng khoán, hay gọi tắt là STRIPS Hình thức ghi sổ có nghĩa là không tồn tại giấy tờ; thay
vào đó, chứng khoán được phát hành và xử lý bằng điện tử Một STRIPS chia các khoản thanh toánlãi định kỳ từ nợ gốc Khi một trái phiếu có lãi suất cố định hoặc trái phiếu chống lạm phát đượcSTRIPS, mỗi lần thanh toán lãi và gốc sẽ trở thành một chứng khoán không trả lãi Mỗi thành phần
có số nhận dạng riêng và có thể được nắm giữ hoặc giao dịch riêng biệt.Ví dụ, một trái phiếu chínhphủ đáo hạn trong vòng 5 năm với kỳ trả lãi bán niên gồm có một khoản thanh toán nợ gốc vào ngàyđáo hạn và 10 lần thanh toán lãi suất – được thanh toán nửa năm 1 lần Khi trái phiếu này được tách
ra, mỗi lần trong số 10 lần thanh toán lãi và lần trả nợ gốc sẽ trở thành một chứng khoán riêng biệt.Như vậy, 1 trái phiếu chính phủ trở thành 11 chứng khoán riêng biệt có thể được giao dịch riêng lẽ.STRIPS còn được gọi là chứng khoán không trả lãi do nhà đầu tư chỉ nhận được 1 lần trả trong suốtthời gian đáo hạn của 1 STRIPS
Trước khi chính phủ đưa ra loại chứng khoán này, khu vực tư nhân đã gián tiếp tạo ra chúng.Trong đầu những năm 1980, Merrill Lynch tạo ra Quỹ đầu tư tăng trưởng (TIGRs, hay còn gọi là
"con hổ"), trong đó họ mua trái phiếu chính phủ và sau đó tách chúng để tạo ra chứng khoán chỉ trảgốc và chứng khoán chỉ trả lãi Hiện nay, hơn 50 tỷ USD của chúng khoán được tách ra là nổi bật
6 Trái phiếu cơ quan
Quốc hội đã ủy quyền cho một số cơ quan của Mỹ phát hành trái phiếu (các cơ quan được Chínhphủ tài trợ(GSEs)) Chính phủ không chính thức đứng ra bảo đảm cho các trái phiếu cơ quan, mặc
dù hầu hết các nhà đầu tư nhận định rằng chính phủ sẽ không để các cơ quan xảy ra rủi ro Công typhát hành trái phiếu cơ quan gồm có Hiệp hội tiếp thị cho vay sinh viên (Sallie Mae), các nhà quản
lý nông dân, Cục Quản lý nhà đất liên bang, Hội Cựu chiến binh, và Quỹ đất liên bang Các cơ quanphát hành trái phiếu để huy động vốn được sử dụng cho các mục đích được Quốc hội coi là lợi íchquốc gia
Các rủi ro của trái phiếu cơ quan rất thấp.Chúng thường được bảo đảm bằng các khoản cho vayđược thực hiện cùng với nguồn vốn huy động khi bán các trái phiếu này Bên cạnh đó,các cơ quanliên bang có thể sử dụng mối liên hệ về tín dụng với Bộ Tài chính khi họ gặp khó khăn trong việcthực hiện nghĩa vụ của mình Cuối cùng, thông thường chính phủ liên bang sẽ không cho phép các
Trang 6cơ quan của mình vỡ nợ do các nghĩa vụ của họ Điều này đã được minh chứng bằng các gói cứu trợcho Hiệp hội liên bang tín dụng thế chấp quốc gia (Fannie Mae) và Tổng công ty liên bang cho vaythế chấp nhà (Freddie Mac) trong năm 2008 Đối mặt với danh mục đầu tư cho vay thế chấp dướichuẩn, họ có nguy cơ vỡ nợ trái phiếu trước khi chính phủ can thiệp để đảm bảo thanh toán Gói cứutrợ tài chính được thảo luận trong các trường hợp sau đây.
-Khi chính phủ tạo ra một mạng lưới an toàn cho các tổ chức tài chính, chính phủ cần có quy địnhphù hợp và cơ chế giám sát để đảm bảo các tổ chức không chấp nhận rủi ro quá mức FannievàFreddie đã được giám sát bởi 1 tổ chức điều chỉnh liên bang và giám sát, Văn phòng Liên bang giámsát doanh nghiệp (OFHEO), do pháp luật quy định năm 1992, nhưng hoạt động của Văn phòng nàykhá yếu và chỉ được giới hạn trong hai công ty này Chính vì vậy: các công ty này thực hiện nhiềubiện pháp mạnh mẽ để chống lại quy định và sự giám sát bởi vì nó sẽ cắt giảm lợi nhuận của họ.Fannie và Freddie tăng cường vận động hành lang trong Quốc hội Năm 1999, FranklinRaines,Giám đốc điều hành Fannie cho biết: "Chúng tôi quản lý rủi ro chính trị của chúng tôi với cường độtương tự khi chúng tôi quản lý tín dụng và rủi ro lãi suất." Từ năm 1998 đến năm 2008,Fannie vàFreddie cùng dành hơn 170 triệu USD cho việc vận động hành lang, và từ năm 2000 đến năm 2008,
họ và nhân viên của họ thực hiện đóng góp trên 14.000.000 $ trong chiến dịch đóng góp chính trị Những nỗ lực vận động hành lang của họ đã được đền đáp: Những nỗ lực để tăng cường sự giámsát của OFHEO đối với 2 công ty, trong cả hai chính quyền Clinton và Bush trở nên vô ích, và điềunày đúng ngay cả sau khi vụ bê bối kế toán lớn ở cả hai công ty đã được tiết lộ vào năm 2003 và
2004 Chỉ đến tháng 7/2008, sau khi ông lớn rút khỏi bộ máy chính quyền và Fannie và Freddie đãgặp rắc rối nghiêm trọng, pháp luật đã thông qua việc thành lập Cơ quan Tài chính liên bang, thaythế OFHEO, để thực hiện những điều chỉnh mạnh mẽ hơn
Với sự giám sát yếu và khuyến khích chấp nhận rủi ro, Fannie và Freddie phát triển vô cùngmạnh mẽ, và đến năm 2008 nó đã mua hoặc đã đảm bảo hơn năm nghìn tỷ USD tài sản thế chấphoặc thế chấp chứng khoán Những vụ bê bối kế toán thậm chí có thể đã đẩy họ chấp nhận rủi rohơn Trong pháp luật năm 1992, Fannie và Freddie đã được giao một nhiệm vụ để phát triển nhà ởgiá rẻ Không có cách nào để làm tốt hơn là mua các khoản thế chấp dưới chuẩn và chứng khoánthế chấp Alt-A Những vụ bê bối kế toán làm động lực mạnh mẽ hơn bởi vì những vụ bê bối nàylàm giảm những sự ủng hộ của chính trị cho Fannie và Freddie, tạo cho họ động lực lớn hơn để làmhài lòng Quốc hội và hỗ trợ nhà ở giá rẻ bằng việc mua các tài sản Vào thời điểm khủng hoảng tàichính dưới chuẩn, họ đã có hơn một nghìn tỷ đô la Mỹ tài sản dưới chuẩn và Alt-A trên sổ sách của
họ Hơn nữa, họ có tỷ lệ vốn tài sản rất thấp, thấp hơn nhiều so với các tổ chức tài chính khác nhưngân hàng thương mại
Trang 7Đến năm 2008, sau khi nhiều khoản thế chấp dưới chuẩn bị vỡ nợ, Fannie và Freddie đã gặpnhững tổn thất lớn Do có nguồn vốn nhỏ, họ có rất ít vốn để chịu được những tổn thất, và các nhàđầu tư bắt đầu rút tiền ra Fannie và Freddie đóng vai trò chủ đạo trong thị trường thế chấp, chínhphủ Mỹ không đủ khả năng để họ đi ra khỏi kinh doanh vì điều này sẽ có ảnh hưởng tai hại đến tíndụng thế chấp, trong đó sẽ có tác động tàn phá sâu hơn về thị trường nhà đất Với việc phá sản sắpxảy ra, Kho bạc tham gia vào với một cam kết cung cấp lên đến 200 tỷ USDtrong nguồn ngân sách(thu từ thuế) cho các công ty khi cần thiết Những hỗ trợ này không đến miễn phí Chính phủ liênbang có quyền kiểm soát và giám sát các công ty này bằng cách đặt chúng vào sự quản lý, các công
ty phải điều chỉnh nội bộ, đòi hỏi các CEO của họ từ chức, Cơ quan Tài chính nhà liên bang, giámsát hoạt động hằng ngày của công ty Bên cạnh đó, chính phủ nhận được khoảng 1 tỷ USD cổ phiếu
ưu đãi cao cấp và quyền mua 80% cổ phiếu phổ thông nếu các công ty phục hồi Sau gói cứu trợ, giácủa cổ phiếu phổ thông cả hai công ty chỉ thấp hơn 2% của giá trị chỉ một năm trước
Số phận cuối cùng của hai công ty này cũng không rõ ràng Câu chuyện buồn của Fannie Mae vàFreddie Mac thật là nguy hiểm khi chính phủ để thiết lập công ty được Chính phủ tài trợ,làm nảysinh xung đột về vấn đề quyền lợi bởi vì họ đã dự định làm tôi hai chủ: đứng trên phương diện cáctập đoàn giao dịch công khai, họ đã dự kiến để tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông của họ, nhưngkhi là các cơ quan chính phủ, họ bị buộc phải làm việc vì lợi ích của công chúng Cuối cùng, khôngphải là công cũng không phải là cổ đông được phục vụ tốt.vấn đề này cũng chưa làm rõ được cácgói cứu trợ của chính phủ cho Fannie và Freddie sẽ tăng chi phí cho người nộp thuế Mỹ lên baonhiêu
7 Trái phiếu đô thị
Trái phiếu đô thị là những chứng khoán được phát hành bởi địa phương, hạt (tỉnh) và chính phủliên bang Tiền từ những trái phiếu này được dùng để tài trợ cho những dự án phục vụ lợi ích côngcộng ví dụ như trường học, ngành dịch vụ công cộng, hệ thống giao thông Những trái phiếu đô thịđược phát hành để thanh toán cho những dự án công cộng cốt yếu được miễn thuế từ liên bang, nócho phép địa phương vay mượn với chi phí thấp bởi vì nhà đầu tư sẽ hài lòng với lãi suất thấp đốivới trái phiếu miễn thuế Chúng ta có thể sử dụng công thức sau để minh họa cho mối liên hệ giữalãi suất miễn thuế tương đương với lãi suất chịu thuế:
Lãi suất miễn thuế tương đương = Lãi suất chịu thuế x (1 – Thuế suất biên)
VÍ DỤ 12.1: Trái phiếu đô thị
Giả sử rằng lãi suất chịu thuế của 1 trái phiếu doanh nghiệp là 9% và thuế suất biên là 28% Giả
sử 1 trái phiếu đô thị được miễn thuế với lãi suất là 6.75% Bạn sẽ chọn loại chứng khoán nào?
Giải:
Đối với trái phiếu doanh nghiệp sẽ có:
Lãi suất miễn thuế tương đương = Lãi suất chịu thuế x (1 – Thuế suất biên) = 0.09 x (1 – 0.28) = 0.0648 = 6.48%
Trang 8Vì lãi suất miễn thuế của trái phiếu đô thị (6.75%) cao hơn so với lãi suất miễn thuế tương đương của trái phiếu doanh nghiệp (6.48%) nên chọn trái phiếu đô thị.
Có 2 loại trái phiếu đô thị: trái phiếu trách nhiệm chung và trái phiếu thu nhập Trái phiếu trách nhiệm chung không có tài sản đảm bảo rõ ràng như chứng khoán hay một nguồn thu nhập rõ ràng
để đảm bảo cho sự trả lại, thanh toán lại của nó Thay vào đó, chúng được bảo đảm bởi danh tínhcủa người phát hành Điều này có nghĩa nhà phát hành hứa sẽ dùng toàn bộ nguồn lực sẵn có đểthanh toán lại cho những trái phiếu như đã hứa Đa số những trái phiếu trách nhiệm chung phát hành
ra phải được phê duyệt của những người đóng thuế bởi vì sự ủy quyền đánh thuế của chính phủ camkết cho việc thanh toán của họ
Ngược lại, trái phiếu thu nhập được đảm bảo bởi dòng tiền của dự án tạo ra thu nhập rõ ràng.
Lấy ví dụ, trái phiếu thu nhập có thể được phát hành để xây dựng một câu cầu có thu phí, việc thuphí này đảm bảo cho việc thanh toán cho trái phiếu Nếu doanh thu không đủ để thanh toán cho tráiphiếu, thì có thể sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt, và nhà đầu tư có thể bị lỗ Tình trạng này đã xảy ravới quy mô lớn năm 1983, khi mà hệ thống cung cấp điện của Washington (được gọi là WHOOPS)
sử dụng trái phiếu thu nhập để tàu trợ cho xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân Kết quả của việc giảmgiá điện và sự gia tăng chi phí cao là nhà máy không được đưa vào hoạt động, và những người muatrái phiếu này bị lỗ 225 tiệu đôla Đây là khoản nợ công chúng lớn nhất trong lịch sử Trái phiếu thunhập có xu hướng được sử dụng thường xuyên hơn so với trái phiếu trách nhiệm chung (xem hình12.4) Chú ý rằng lãi suất thấp trong những năm gần đây đã thúc đẩy cho địa phương phát hành mộtlượng lớn trái phiếu
Rủi ro trong thị trường trái phiếu đô thị
Trang 9Trái phiếu đô thị không phải là chứng khoán không có rủi ro Ví dụ, một nghiên cứu của FitchRatings cho thấy rằng có một tỷ lệ thâm hụt của trái phiếu đô thị là 0.63% Tỷ lệ thâm hụt còn caohơn khi nền kinh tế đang yếu kém Điều này đã chỉ ra rằng chính phủ cũng có lúc sẽ bị thiếu hụt tàichính Không giống như chính phủ liên bang, chính quyền địa phương không thể in tiền, và khi tăngthuế thì có một ngưỡng tối đa để người dân không dời đi nơi khác.
8 Trái phiếu doanh nghiệp
Khi những doanh nghiệp lớn cần phải vay mượn vốn trong thời gian dài, họ có thể phát hành tráiphiếu Đa số các trái phiếu doanh nghiệp có mệnh giá là 1,000 đôla và thanh toán lãi 2 lần 1 năm
Và đa số đều có thể được nhà phát hành mua lại trước khi đến hạn nhưng sau một ngày cụ thể nàođó
Ràng buộc của trái phiếu là một bản hợp đồng tuyên bố quyền lợi và đặc quyền của người chovay và nghĩa vụ của người đi vay Mọi tài sản ký quỹ được đưa ra như đảm bảo cho người nắm giữtrái phiếu cũng sẽ được để cập đến trong bản khế ước
Mức độ rủi ro dao động nhiều tùy vào những trái phiếu khác nhau được phát hành bởi vì rủi ro bịthâm hụt phụ thuộc vào sức khỏe của doanh nghiệp, điều này có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều các biến
số Lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp biến động cùng với mức độ rủi ro, như đã đề cập trongchương 5 Những trái phiếu có mức độ rủi ro thấp và xếp hạng cao (AAA là cao nhất) sẽ có lãi suấtthấp hơn so với những trái phiếu nhiều rủi ro (BBB) Khoảng cách lãi suất giữa những loại tráiphiếu khác nhau biến động liên tục Khoảng cách lãi suất giữa trái phiếu AA và BBB được tínhtrung bình vào khoảng 1.15% trong suốt 10 năm qua Vì cuộc khủng hoảng tài chính đã xảy ra, cácnhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn đã làm cho khoảng cách lãi suất tăng đến kỷ lục là 3.38% vào tháng
12 năm 2008
Trang 10Lãi suất của 1 trái phiếu cũng phụ thuộc vào tính riêng biệt và đặc điểm của nó Điều này sẽđược đề cập trong những phần sau đây.
Đặc điểm của trái phiếu doanh nghiệp
Trước đây, trái phiếu được bán kèm với các phiếu Coupon và chủ sở hữu của trái phiếu cắt cáccoupon này và gửi đến công ty phát hành để nhận được khoản thanh toán lãi Chúng được gọi là tráiphiếu vô danh vì khoản thanh toán được chi trả cho bất cứ ai đã nắm giữ trái phiếu Tuy nhiên SởThuế Vụ không còn sử dụng phương pháp thanh toán này, bởi vì phương pháp này gây khó khăncho việc theo dõi dòng thu nhập từ lãi trái phiếu Hiện nay, phần lớn trái phiếu vô danh đã được thaythế bằng trái phiếu ghi danh, và không bán kèm các phiếu coupon Thay vào đó, chủ sở hữu phảiđăng ký với công ty để nhận được khoản thanh toán lãi Các công ty được yêu cầu phải báo cáo choIRS tên của người nhận thu nhập lãi Mặc dù thực tế là trái phiếu không ghi tên với các phiếucoupon đính kèm đã được loại bỏ, lãi suất trả cho trái phiếu vẫn được gọi là "tiền lãi coupon", và lãisuất của trái phiếu được gọi là lãi suất coupon
Các điều khoản hạn chế: Nhà quản lý tài chính của một công ty được thuê, sa thải, và trả
lương theo sự chỉ đạo của ban giám đốc – những người đại diện cho các cổ đông của doanh nghiệp
Sự sắp xếp này ngụ ý rằng các nhà quản lý sẽ chú trọng việc bảo vệ quyền lợi của cổ đông hơn làbảo vệ quyền lợi của người sở hữu trái phiếu của công ty Nhà quản lý có thể không sử dụng phầnvốn huy động từ trái phiếu vào mục đích như các nhà đầu tư trái phiếu mong đợi Bởi vì các trái chủkhó có thể tin cậy Nhà quản lý của công ty sẽ bảo vệ quyền lợi cho họ khi công ty gặp khó khăn,
các trái chủ thường đưa ra các điều khoản hạn chế để bảo vệ tiền lãi của họ Chúng được gọi là Các điều khoản hạn chế Các trái chủ thường giới hạn số lượng cổ tức các công ty có thể chi trả
cho cổ đông (để đảm bảo công ty có tiền trả lãi trái phiếu cho các trái chủ) và khả năng giới hạnphát hành thêm các chứng khoán nợ …của công ty Các chính sách tài chính khác, chẳng hạn như
sự tham gia của công ty trong vụ sáp nhập, cũng có thể bị hạn chế Điều khoản hạn chế được thỏa
thuận trong khế ước trái phiếu Thông thường, có càng nhiều điều khoản hạn chế trong việc quản lý thì lãi suất yêu cầu của trái phiếu càng thấp hơn do các nhà đầu tư đánh giá trái phiếu
an toàn hơn.
Điều khoản mua lại: các thứ nhất khế ước mua bán trái phiếu doanh nghiệp thường gồm có một
điều khoản mua lại, trong đó quy định các tổ chức phát hành trái phiếu có quyền buộc các chủ sởhữu bán lại trái phiếu cho nhà phát hàng Các điều khoản mua lại thường quy định một khoảng thờigian tối thiểu từ lúc trái phiếu được phát hành lần đầu và thời gian khi nó có thể được mua lại Tổchức phát hành thường mua lại trái phiếu bằng mệnh giá trái phiếu hoặc cao hơn một chút (thường
là chi phí lãi trong một năm) Ví dụ, trái phiếu có mệnh giá $ 1,000, lãi suất 10%/ năm có thể có giámua lại là 1100 $
Nếu lãi suất giảm, giá trái phiếu sẽ tăng lên Nếu lãi suất giảm đủ nhiều, giá trái phiếu sẽ tăngcao hơn mức giá mua lại, và công ty sẽ mua lại trái phiếu Vì điều khoản mua lại giới hạn số tiền màcác trái chủ có thể kiếm được từ sự tăng giá của giá của trái phiếu, nhà đầu tư không thích điềukhoản mua lại
Trang 11Lý do thứ hai khiến tổ chức phát hành trái phiếu đưa ra điều khoản mua lại là cho phép họ mualại trái phiếu của họ theo các điều khoản thanh toán từng phần Đây một điều khoản trong hợpđồng , trong đó hàng năm công ty chi trả cho trái chủ một phần giá trị của trái phiếu Điều khoảnnày hấp dẫn đối với các trái chủ bởi vì nó làm giảm khả năng công ty không thanh toán được khi tráiphiếu đến hạn Bởi vì điều khoản thanh toán từng phần làm cho trái phiếu ít rủi ro hơn do đó công ty
có thể giảm lãi suất của trái phiếu
Lý do thứ ba các công ty thường phát hành trái phiếu với điều khoản mua lại là các công ty cóthể rút về các trái phiếu đã phát hành nếu các các điều khoản kèm theo trái phiếu ngăn cản công tythực hiện các hoạt động có lợi ích cho các cổ đông Giả sử một công ty cần vay thêm vốn để mởrộng các cửa hàng Nếu các điều khoản hạn chế kèm theo trái phiếu của công ty không cho phépcông ty nhận thên nợ vay, công ty sẽ phải mua lại các trái phiếu hiện tại của mình trước khi pháthành trái phiếu mới hoặc vay tiền để xây dựng nhà kho mới
Cuối cùng, một công ty có thể mua lại trái phiếu nếu có nhu cầu thay đổi cơ cấu vốn Một công
ty trưởng thành với nguồn vốn dư thừa có thể muốn giảm nợ để đầu tư vào các dự án đầu tư tiềmnăng
Vì các trái chủ thường không thích điều khoản mua lại, trái phiếu kèm điều khoản mua lại phải
có lãi suất cao hơn so với trái phiếu không kèm điều khoản này Mặc dù chi phí cao hơn, các công tyvẫn thường phát hành trái phiếu kèm điều khoản mua lại vì lợi ích của sự linh hoạt của điều khoảnnày đối với hoạt động của công ty
Điều khoản chuyển đổi : Một số trái phiếu có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông.
Chức năng này cho phép các trái chủ để kiếm lợi khi công ty hoạt động hiệu quả và giá cổ phiếutăng Hầu hết các trái phiếu chuyển đổi quy định trái phiếu có thể được chuyển đổi thành một sốlượng cổ phiếu phổ thông theo quyết định của trái chủ Tỷ lệ chuyển đổi sẽ được quy định theo mứcgiá dự kiến của ở thời điểm chuển đổi
Phát hành trái phiếu chuyển đổi là một cách để các công ty tránh việc gửi một tín hiệu tiêu cựccho thị trường Do thông tin bất đối xứng giữa người trong công ty và các nhà đầu tư, khi một công
ty lựa chọn phát hành cổ phiếu, thị trường thường diễn giải hành động này là giá cổ phiếu là tươngđối cao hoặc là nó sẽ giảm trong tương lai Thị trường đưa ra nhận định này vì nó tin rằng các nhàquản lý quan tâm đến lợi ích của các cổ đông hiện hữu và sẽ không phát hành cổ phiếu khi nó đượcđịnh giá thấp Nếu các nhà quản lý dự kiến công ty sẽ thực hiện tốt trong tương lai, thay vì pháthành cổ phiếu, họ phát hành trái phiếu chuyển đổi Nếu các nhà quản lý dự đoán chính xác và giá cổphiếu tăng, các trái chủ sẽ chuyển đổi sang cổ phiếu tại một tỷ lệ công bằng do các nhà quản lý đưa
ra Bên cạnh đó, trái chủ có quyền không chuyển đổi trái phiếu nếu họ cho rằng nhà quản lý đangphạm sai lầm về tương lai của công ty
Trái chủ thích trái phiếu chuyển đổi vì trái chủ chỉ mua trái phiếu nhưng được nhận cả trái phiếu
và một quyền chọn cổ phiếu (quyền chọn cổ phiếu sẽ được thảo luận đầy đủ trong Chương 24) Giácủa trái phiếu sẽ phản ánh giá trị của quyền chọn này và do đó sẽ cao hơn so với giá của trái phiếukhông chuyển đổi Giá trái phiếu chuyển đổi cao hơn do các công ty đưa ra một mức lãi suất thấphơn
Các loại trái phiếu doanh nghiệp
Trang 12Các trái phiếu doanh nghiệp được giao dịch trên thị trường rất đa dạng Chúng thường đượcphân biệt bởi các loại tài sản thế chấp bảo đảm cho trái phiếu và bởi thứ tự trái phiếu được thanhtoán nếu công ty mất khả năng chi trả
Trái phiếu bảo đảm: Trái phiếu bảo đảm là một trong những loại trái phiếu có tài sản thế chấp
kèm theo Trái phiếu thế chấp được sử dụng để tài trợ cho một dự án cụ thể Ví dụ, một tòa nhà có
thể là tài sản thế chấp đối với trái phiếu phát hành cho xây dựng Trong trường hợp công ty khôngthực hiện thanh toán như đã hứa, người sở hữu trái phiếu thế chấp có quyền thanh lý tài sản để đượcthanh toán Bởi vì những trái phiếu này có tài sản cụ thể cam kết như tài sản thế chấp, chúng ít rủi rohơn trái phiếu không có bảo đảm Vì thế, chúng sẽ có một lãi suất thấp
Chứng chỉ ủy thác thiết bị là loại trái phiếu bảo đảm bằng động sản hữu hình, chẳng hạn như
thiết bị nặng hoặc máy bay Thông thường, các trái phiếu bảo đảm bằng động sản này dễ bán ra thịtrường hơn so với trái phiếu thế chấp bằng bất động sản Cũng giống với trái phiếu thế chấp, sự hiệndiện của tài sản thế chấp làm giảm rủi ro của trái phiếu và vì thế làm giảm lãi suất của chúng
Trái phiếu không có bảo đảm: Trái khoán công ty là loại trái phiếu dài hạn không có tài sản
bảo đảm mà chỉ được phát hành dựa trên khả năng chi trả của các tổ chức phát hành, tức không cótài sản thế chấp cụ thể Trong trường hợp mất khả năng chi trả, các trái chủ phải kiện đến tòa án đểlấy lại (tịch thu) tài sản Tài sản thế chấp đã được cam kết trả cho con nợ khác thì không có sẵn cho
những người nắm giữ trái khoán công ty Trái khoán công ty thường có một hợp đồng kèm theo nêu
rõ các điều khoản của trái phiếu và trách nhiệm của nhà quản lý Hợp đồng kèm theo trái khoán
công ty được gọi là một khế ước (Hãy cẩn thận đừng nhầm lẫn giữa các điều khoản trái khoán công
ty và khế ước.) Trái khoán công ty có ưu tiên thấp hơn so với trái phiếu được bảo đảm nếu công ty
mất khả năng chi trả Kết quả là, chúng sẽ có một lãi suất cao hơn so với trái phiếu bảo đảm
Trái quyền hạng hai tương tự như trái khoán công ty ngoại trừ việc chúng có một yêu cầu ưu
tiên thấp hơn Điều này có nghĩa rằng trong trường hợp mất khả năng chi trả, người sở hữu tráiquyền hạng hai chỉ được chi trả sau khi người sở hữu trái quyền không hạng hai đã được thanh toánđầy đủ Do đó, chủ sở hữu trái quyền hạng hai có rủi ro mất mát lớn hơn
Trái phiếu có lãi suất biến đổi (có thể được bảo đảm hoặc không có bảo đảm) là một sự đổi mới
tài chính thúc đẩy bởi sự gia tăng biến đổi lãi suất trong những năm 1980 và 1990 Lãi suất cácchứng khoán này được gắn với một lãi suất thị trường khác, chẳng hạn như lãi suất trên trái phiếukho bạc, và được điều chỉnh định kỳ Lãi suất trên trái phiếu sẽ thay đổi theo thời gian khi lãi suấtthị trường thay đổi
Trái phiếu lãi suất cao (trái phiếu rác): tất cả các trái phiếu được đánh giá bởi các công ty
khác nhau theo rủi ro mất khả năng chi trả của họ Các công ty này nghiên cứu đặc điểm tài chínhcủa tổ chức phát hành và đưa ra phán quyết về khả năng vỡ nợ của tổ chức phát hành Một trái phiếu
với đánh giá AAA có thể có hạng cao nhất Trái phiếu được đánh giá từ mức Baa của Moody hoặc BBB của Standard và Poor trở lên thuộc hạng xem xét đầu tư Những đánh giá dưới mức Baa của
Moody hoặc BBB của Standard và Poor này thường được coi là đầu cơ (xem bảng 12.2) Cấp trái
phiếu đầu cơ thường được gọi là trái phiếu lãi suất cao (trái phiếu rác) Trước cuối những năm
1970, chứng khoán cấp đầu cơ rất hiếm; gần như tất cả trái phiếu mới phát hành là trái phiếu hạngxem xét đầu tư Khi các công ty gặp khó khăn về tài chính, xếp hạng trái phiếu của họ sẽ giảm
Trang 13Người sở hữu của những trái phiếu xuống cấp này khó bán lại trái phiếu trên thị trường thứ cấp.Thật dễ hiểu lý do tại sao các nhà đầu tư sẽ thận trọng với các chứng khoán này, vì họ thường khôngđược bảo đảm
Năm 1977, Michael Milken, tại công ty ngân hàng đầu tư của Drexel Burnham Lambert, côngnhận rằng có nhiều nhà đầu tư, những người sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro lớn hơn nếu họ được đền
bù với lợi nhuận lớn hơn Tuy nhiên, đầu tiên Milken phải giải quyết hai vấn đề mà cản trở thịtrường trái phiếu cấp thấp Đầu tiên là chúng có tính thanh khoản kém Trong khi bảo lãnh pháthành của trái phiếu cấp xem xét đầu tư tiếp tục tạo ra thị trường sau khi trái phiếu được phát hành,không có nhiều nhà sản xuất thị trường tồn tại đối với trái phiếu lãi suất cao Drexel đã đồng ý đảmnhận vai trò này như nhà sản xuất thị trường đối với trái phiếu lãi suất cao Điều này chứng minhrằng sự hoạt động của thị trường thứ cấp là một yếu tố quan trọng cho các nhà đầu tư, những ngườihiếm khi muốn giữ trái phiếu đến ngày đáo hạn
Vấn đề thứ hai với thị trường trái phiếu lãi suất cao là rủi ro các công ty phát hành sẽ mất khảnăng chi trả trên các khoản thanh toán trái phiếu của họ Bằng cách so sánh, rủi ro mất khả năng chitrả đối với các chứng khoán cấp đầu tư là không đáng kể Để giảm khả năng thua lỗ, Milken đã hànhđộng nhiều như là một ngân hàng thương mại cho tổ chức phát hành trái phiếu lãi suất cao Ông sẽđàm phán lại nợ hoặc tạm ứng kinh phí bổ sung của công ty nếu cần thiết để ngăn chặn công ty khỏi
sự thiếu nợ kéo dài Những nỗ lực của Milken giảm đáng kể rủi ro mất khả năng chi trả, và nhu cầuđối với trái phiếu lãi suất cao tăng vọt
AA Aa 0.02 Chất lượng cao Khả năng rất mạnh để trả lãi và trả
nợ gốc và khác với AAA / Aaa trong một mức độ nhỏ
A A 0.10 Năng lực mạnh để trả lãi và trả gốc Có nhiều thuộc
tính đầu tư thuận lợi và được xem là nghĩa vụ TB cấptrên Hơi nhạy cảm hơn với tác dụng phụ của những thay đổi trong hoàn cảnh và điều kiện kinh tế
BBB Baa 0.15 Nghĩa vụ trung cấp Vừa không bảo hộ cao vừa
không bảo đảm kém Đủ năng lực để trả lãi và trả gốc Có thể thiếu độ tin cậy dài hạn và các yếu tố bảo
vệ để bảo đảm lợi ích và thanh toán vốn gốc
Trang 14BB Ba 1.21 Khả năng vừa phải trả lãi và trả gốc Có yếu tố đầu
cơ và tương lai không thể được xem là đảm bảo tốt Kinh doanh bất lợi, kinh tế và điều kiện tài chính có thể dẫn đến không có khả năng để đáp ứng các nghĩa
vụ tài chính
và thanh toán vốn gốc trong thời gian dài có thể là nhỏ Điều kiện bất lợi là làm giảm khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính
CCC Caa 24.73 Có vị thế thấp Dễ bị tổn thương mang tính mặc định
và bị phụ thuộc vào điều kiện của những ngành kinh doanh chính, kinh tế và tài chính để đáp ứng thanh toán đúng hạn lãi suất và trả lại nợ gốc
CC Ca 24.73 Đại diện cho những giao dịch mà đầu cơ với mức độ
cao, các vấn đề thường mặc định và có những thiếu sót khác
C C 24.73 Là mức tính nhiệm thấp nhất của trái phiếu Triển
vọng về đạt được tiêu chuẩn về đầu tư là cực kì thấp
Có thể đuợc sử dụng để cho một tình huống phá sản, nhưng vẫn phải thanh toán nợ
cách thêm vào một cộng hoặc trừ cho thấy vị thế tương đối trong
ty đã truy cập các thị trường trái phiếu trong những năm 1980 Milken và công ty môi giới của ông
Trang 15đã được bù đắp rất xứng đáng cho những nỗ lực của họ Milken kiếm được một khoản phí 2% đến3% mỗi lần phát hành trái phiếu rác, khiến Drexel trở thành công ty có lợi nhuận cao nhất trên WallStreet trong năm 1987 Thu nhập cá nhân của Milken giữa năm 1983 và 1987 đã vượt quá 1 tỷ USD.Thật không may cho những người nắm giữ trái phiếu rác, cả hai Milken và Drexel đã bị bắt và bịkết tội giao dịch nội gián Với việc Drexel không thể hỗ trợ thị trường trái phiếu, 250 công ty đã phásản giữa năm 1989 và năm 1991 Drexel tự nộp phá sản trong 1990 do thua lỗ trong việc sở hữu tráiphiếu rác của mình Milken đã bị kết án ba năm tù vì vụ bê bối Tạp chí Fortune đã báo cáo rằng tàisản cá nhân của Milken vẫn còn vượt quá $ 400 million.
Thị trường trái phiếu đã phần lớn phục hồi từ mức thấp của nó trong những năm 1990, nhưngcuộc khủng hoảng tài chính trong năm 2008 một lần nữa làm giảm nhu cầu đối với chứng khoán rủi
ro cao hơn
9 Bảo đảm tài chính cho trái phiếu
Các tổ chức phát hành chứng khoán tài chính có tiềm lực yếu thường mua bảo lãnh tài chính đểgiảm thiểu rủi ro cho trái phiếu của họ Một bảo lãnh tài chính đảm bảo rằng người cho vay (muatrái phiếu) sẽ được thanh toán cả gốc và lãi trong trường hợp các tổ chức phát hành phá sản Cáccông ty bảo hiểm lớn và danh tiếng đưa ra các chính sách bảo hiểm để thu hồi trái phiếu đã pháthành Với một sự đảm bảo tài chính như vậy, người mua trái phiếu không còn phải quan tâm với sứckhỏe tài chính của tổ chức phát hành trái phiếu Thay vào đó, họ chỉ quan tâm tới sức mạnh củacông ty bảo hiểm Về cơ bản, xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp bảo hiểm là thay thế cho xếphạng tín dụng của tổ chức phát hành Kết quả của việc giảm thiểu rủi ro là nó hạ thấp mức lãi suấtyêu cầu của người mua trái phiếu Tất nhiên, tổ chức phát hành phải trả một khoản phí để các công
ty bảo hiểm bảo lãnh Bảo lãnh tài chính có ý nghĩa chỉ khi chi phí bảo hiểm thấp hơn lãi suất tiếtkiệm đc
Năm 1995 JP Morgan giới thiệu một phương pháp mới để đảm bảo trái phiếu được gọi là hợpđồng hoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) Trong dạng đơn giản nhất CDS cung cấp bảo hiểm chống lạinhững rủi ro mặc định trong các khoản thanh toán gốc và lãi của các công cụ tín dụng Tuy nhiên
về thực chất thì nó là một dạng bảo hiểm rủi ro về tài sản, cũng giống như khách hàng mua bảohiểm sức khỏe vậy.Ví dụ như khi bạn quyết định mua trái phiếu GE và muốn đảm bảo rằng mình sẽkhông có bất kỳ mất mát nào có thể xảy ra nếu GE có vấn đề Bạn có thể mua CDS từ nhiều nguồnkhác nhau mà có thể cung cấp sự bảo đảm này
Năm 2000 Quốc hội thông qua Đạo luật Hiện đại hóa hàng hóa tương lai, loại bỏ chứng khoánphái sinh, chẳng hạn như CDS, khỏi sự giám sát quản lý của nhà nước Thêm vào đó, nó còn ngănchặn hiệu lực của những bộ luật về chơi chứng khoán một cách như bài bạc đối với những loạichứng khoán này Ảnh hưởng của quy định này là để làm cho các nhà đầu tư có thể suy đoán được
về khả năng mặc định của chứng khoán mà họ không sở hữu Xem xét các ý tưởng mà bạn có thểmua bảo hiểm nhân thọ trên bất cứ ai bạn cảm thấy nhìn không khỏe mạnh Luật bảo hiểm ngănchặn loại đầu cơ bằng cách yêu cầu bạn phải ở trong một vị trí bị thiệt thòi trước khi bạn có thể muabảo hiểm Đạo luật Hiện đại hóa hàng hóa tương lai loại bỏ yêu cầu này đối với chứng khoán pháisinh Do đó, các nhà đầu cơ có thể, về cơ bản, về mặt pháp lý đặt cược vào việc một công ty hoặcchứng khoán sẽ thất bại trong tương lai
Trang 16Trong thời gian giữa năm 2000 và 2008 những người chơi CDS lớn gồm có AIG, LehmanBrothers, và Bear Stearns Số lượng CDS mọc lên như nấm đạt đỉnh đến hơn $ 62 nghìn tỉ trongnăm 2008 GNP của toàn thế giới là khoảng $ 50 nghìn tỉ Trong năm 2008, Lehman Brothers thấtbại, Bear Stearns đã được mua lại từng xu bởi JP Morgan, và AIG cần một gói cứu trợ trị giá 182triệu $ của chính phủ Chủ đề này được thảo luận chi tiết hơn trong Chương 21 "bảo hiểm và quỹhưu trí."
10 Tính toán lợi tức hiện tại
Chương 3 đã giới thiệu cho chúng ta lãi suất và trình bày khái niệm về lợi tức tới hạn.Nếu bạnmua một loại trái phiếu và nắm giữ nó tới ngày đáo hạn, bạn sẽ nhận được một lợi tức tới hạn Đó làcách chính xác nhất để xác định được lợi tức có được từ việc nắm giữ trái phiếu
Lợi tức hiện tại
Hiện giá của lới tức là một giá trị gần đúng của một lợi tức tới hạn của trái phiếu coupon, thườngđược sử dụng vì dễ tính toán Nó được định nghĩa là số tiền thanh toán coupon hàng năm chia chogiá của chứng khoán
Trong đó: : hiện giá của lợi tức
P: Giá của trái phiếu coupon
C: số tiền thanh toán coupon hàng năm
Công thức trên giống với công thức trong phương trình (5) của Chương 3 được dùng để tínhtoán lợi tức hưởng lợi vĩnh viễn Do là lợi tức hưởng lợi vĩnh viễn nên hiên giá của lợi tức là cáchthức tính toán chinh xác của lợi tức khi đáo hạn Đối với trái phiếu coupon có thời gian đáo hạn dài(ví dụ trên 20 năm, nó giống như lợi tức hưởng lợi vĩnh viễn khi mà phải trả lợi tức mãi mãi Do đó,bạn sẽ mong đợi hiện giá của lợi tức sẽ có giá trị gần đúng khi đáo hạn đối với trái phiếu coupon dàihạn và bạn có thể sử dụng cách tính toán hiện giá của lợi tức thay vì tìm kiếm lợi tức đến hạn trênbảng trái phiếu Tuy nhiên, nếu lợi tức của các trái phiếu coupon ngắn lại (ví dụ, dưới 5 năm) thì nó
sẽ không giống với lợi tức hưởng lợi vĩnh viễn và do đó hiện giá của lợi tức sẽ làm cho giá trị gầnđúng sẽ có nhiều sai lệch
Chúng ta sẽ thấy rằng khi giá trái phiếu bằng với mệnh giá của trái phiếu thì lợi tức khi đáo hạn
sẽ bằng với tì suất coupon (giá trị thanh toán coupon chia cho mệnh giá của trái phiếu).Bởi vì hiệngiá của trái phiếu bằng với giá trị thanh toán của coupon chia cho mệnh giá.Lập luận ngày sẽ giúpchúng ta đưa ra quyết định kết luận rằng khi giá trái phiếu bằng mệnh giá thì hiện giá của lợi tức sẽbằng với lợi tức khi tới hạn.Điều này có nghĩa là giá trái phiếu càng gần với mệnh giá hơn thì hiệngiá của lợi tức sẽ cho giá trị gần đúng với lợi tức khi đến hạn
Hiện giá của lợi tức phản anh trái ngược với giá của trái phiếu.Trong trường hợp trái phiếu tỷ lệlợi tức 10% Khi giá tăng từ $1000 lên 1100$, hiện giá của lợi tức sẽ giảm từ 10% (=$100/$1000).Theo bảng 3.1 chương 3 cho thấy, lợi tứong phc khi đến hạn thì cũng tỷ lệ nghịch liên quan tới giátrái phiếu; khi giá tăng từ $1000 lên 1800$, tỷ suất lợi tức sẽ giảm từ 10% xuống còn 8,48% Trần