1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về Thị trường tiền tệ

23 863 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 880,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường tiền tệ là một thị trường của thị trường tài chính. Bài nghiên cứu chỉ ra mục đích của thị trường tiền tệ, các chủ thể tham gia vào thị trường tiền tệ và đặc biệt làm rõ về các công cụ trên thị trường tiền tệ, lý giải lãi suất và mức độ rủi ro của các công cụ đó

Trang 1

CHƯƠNG 11: THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

I ĐỊNH NGHĨA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

Có thể thấy khái niệm thị trường tiền tệ thực sự là việc sử dụng nhầm tên Tiền – Tiền tệ khôngđược trao đổi trên thị trường tiền tệ mà là các chứng khoán Những chứng khoán giao dịch ở thịtrường này thường có kỳ hạn ngắn và độ thanh khoản cao nên chúng được xem gần như là tiền.Chứng khoán trên thị trường tiền tệ có 3 đặc điểm chung cơ bản sau :

- Thường được bán với giá trị khối lượng lớn

trường tiền tệthường có một thị trường thứ cấp sôi động.Nghĩa rằng, sau khi các chứng khoán ban

đầu được bán, nó sẽ dễ dàng tìm được người mua trong tương lai Một thị trường tiền tệ thứ cấp sôiđộng giúp cho các chứng khoán của thị trường tiền tệ là những công cụ rất linh hoạt để đáp ứng cácnhu cầu tài chính ngắn hạn VD như báo cáo hàng năm của Microsoft viết “Chúng tôi cân nhắc tất

cả các khoản đầu tư có tỷ suất sinh lợi có tính thanh khoản cao với thời gian đáo hạn dưới 3 tháng

kể từ ngày được thanh toán để trở thành khoản tương đương tiền”

Một đặc tính khác của thị trường tiền tệ là đó là thị trường bán buôn Có nghĩa rằng hầu hết

giao dịch thường rất lớn, trên 1 triệu USD Khối lượng này ngăn cản hầu hết những cá nhân muốntham gia trực tiếp vào thị trường tiền tệ Thay vào đó, những người môi giới và người tạo lập thịtrường, hoạt động tại các phòng giao dịch của ngân hàng hoặc phòng môi giới lớn, mang kháchhàng lại với nhau Những nhà đầu tư này sẽ mua hoặc bán 50 hoặc 100 triệu USD chỉ trong vàigiây

Sự linh hoạt và đổi mới là 2 đặc tính quan trọng của bất kỳ thị trường tài chính, và thị trườngtiền tệ cũng không ngoại lệ Mặc dù việc bán buôn là đặc tính cơ bản của thị trường tiền tệ, nhữngchứng khoán mới và những phương pháp giao dịch đã được phát triển để những nhà đầu tư nhỏ cóthể tham giao vào thị trường

1 Lý do chúng ta cần thị trường tiền tệ?

Thị trường tiền tệ không cần có trong một thế giới bất qui tắc, Ngành công nghiệp ngân hàngtồn tại chủ yếu để cung cấp các khoản vay ngắn hạn và nhận tiền gửi ngắn hạn Ngân hàng có mộtlợi thế hiệu quả trong việc thu thập thông tin từ đó có thể loại trừ sự cần thiết của thị trường tiền tệ.Nhờ vào mối quan hệ với khách hàng, ngân hàng có thể cho vay rẻ hơn các loại thị trường khác.Hơnthế, các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ không có tính thanh khoản cao và an toàn bằngtiền gửi trong ngân hàng và quỹ tiết kiệm Thế nhưng tạithị trường tiền tệvẫn tồn tại?

Trang 2

Ngân hàng tồn tại chủ yếu để trung hòa vấn đề thông tin bất cân xứng giữa người tiết kiệm(tứcngườicho vay) và người vay(người sử dụng vốn) và ngân hàng có thể kiếm lời từ việc cung cấp dịch

vụ này Tuy nhiên cần tốn nhiều chi phí cho các qui định và chi phí về hành chính cho ngân hànghơn khi giao dịch trênthị trường tiền tệ Như vậy, khi bất cân xứng thông tin không quá nghiêmtrọng, thị trường tiền tệ có một lợi thế riêng biệt cung cấp vốn ngắn hạn hơn ngân hàng

2 1.2 Chi phí thuận lợi của thị trường tiền tệ.

Do phải đặt một phần tiền gửi dưới dạng dự trữ không lãi suất tại Cục dự trữ liên bang, ngânhàng không thể đầu tư 100% trên mỗi USD tiền gửi Nghĩa là ngân hàngsẽ trả lãi suất thấp hơn chongười gửi tiền so với khi đem toàn bộ tiền gửiđi đầu tư

Để giảm sức cạnh tranhgiữa các ngân hàng,năm 1930, các nhà làm luật đã đưa ra những quyđịnh vềtỉ lệ lãi suất vì họ cho rằng điều này sẽ làm mạng lưới các ngân hàng vững chắc hơn Dokhông có sự cạnh tranh mạnh mẽ, ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn từ các chi phí củakhách hàng Đây là một sựbiện minh rằng một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh có thể giúp một nềnkinh tế ổn định

Nhờ vào qui định về thiết lập trần lãi suất huy động mà lợi nhuận của ngân hàng được đảm bảo.Đạo luật Glass-Steagall năm 1933 ngăn cấm việc trả lãi trên tài khoản sec (tài khoản thanh toán) và

c giới hạn lãi suất trên tiền gửi Giới hạn tỉ lệ lãi suất đặc biệt không có ảnh hưởng đến ngân hàngcho đến cuối những năm 1950 Hình 11.1 cho thấy giới hạn này bắt đầu ảnh hưởng tới ngân hàngvào cuối những năm 1979 và đầu những nhăm 1980 khi lạm phát đẩy lãi suất ngắn hạn lên trên giớihạn mà ngân hàng có thể trả theo pháp định Những người đầu tư rút tiền ra khỏi ngân hàng và đầu

tư vào các tài khoản chứng khoán trên thị trường tiền tệ được cung cấp bởi nhiều công ty môi giớichứng khoán Những nhà đầu tư mới này giúpthị trường tiền tệ phát triển nhanh chóng Trần lãi suấtngân hàng thương mại được bãi bỏ từ tháng 3 năm 1968, từ đó thị trường tiền tệ bán lẻ được hìnhthành

Hình 11.1 Lãi suất tín phiếu kho bạc 3 tháng và trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở các NHTM.

Trang 3

II MỤC ĐÍCH THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

Thông qua các công cụ của thị trường tiền tệ tạo điều kiện cho thị trường thứ cấp phát triểnnhanh chóng, từ đó giúp thị trường tiền tệ trở thành một nơi lý tưởng cho các công ty hoặc tổ chứctài chính dự trữ thặng dư cho đến khi nào họ cần sử dụng Tương tự mục đích trên, thị trường tiền tệ

là nguồn cung cấp cho các nguồn vốn có chi phí thấp cho các công ty, chính phủ và các trung giantài chính khi cần vốn trong ngắn hạn

Phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ thường không cố gắng kiếm một khoản lời cao.Thay vào đó, họ xem thị trường tiền tệ như một nơi cất giữ các khoản chi tạm thời hơn là giữ tiềnmặt hay gửi tiền trong ngân hàng với lãi suất thấp Họ cảm thấy các điều kiện ở thị trường tiền tệkhông thích hợp để đầu tư sinh lợi hoặc họ mong đợi lãi suất gia tăng nên không mua trái phiếu.Việc nắm giữ tiền mặt thặng dư nhàn rỗi thường tốn nhiều chi phí cho các nhà đầu tư bởi số dư tiềnmặt không tạo ra thêm thu nhập cho nhà đầu tư Tiền nhàn rỗi đó đại diện cho chi phí cơ hội củaviệc không thu được thu nhập lãi suất

Thị trường tiền tệ cung cấp phương tiện đầu tư cho vốn nhàn rỗi.Các nhà tư vấn đầu tư thườnggiữ một số vốn trong thị trường tiền tệ để họ có thể hành động nhanh chóng tận dụng cơ hội đầu tư.Hầu hết các quỹ đầu tư và các trung gian tài chính nắm giữ chứng khoán thị của trường tiền tệ đểđáp ứng việc đầu tư hoặc gửi tiền.Người bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ thấy rằng thịtrường này cung cấp một nguồn vốn tạm thời với chi phí thấp Bảng 11.1 cho thấy lãi suất có sẵntrên các công cụ thị trường tiền tệ được bán bởi một loạt các công ty và các tổ chức Ví dụ, các ngânhàng có thể phát hành các quỹ liên bang để có được các nguồn vốn đáp ứng thiếu hụt trong việc dựtrữ ngắn hạn Chính phủ tài trợ một phần lớn các khoản nợ của Mỹ với tín phiếu kho bạc…

Bảng 11.1 Mẫu lãi suất thị trường tiền tệ ngày 8 tháng 4 năm 2010

Lãi suất cơ bản

Quỹ liên bang

Tại sao các công ty và Chính phủ Mỹ đôi khi cần nắm giữ lượng tiền mặt trong tay nhanhchóng? Lý do là dòng tiền mặt vào và ra hiếm khi tương đồng với nhau VD, doanh thu thuế củaChính phủ thường có vào một khoảng thời gian nhất định trong năm nhưng các chi phí thì phát sinh

Trang 4

quanh năm Chính phủ có thể vay mượn các khoản vốn ngắn hạn và sẽ hoàn trả các khoản này khi

có các khoản thu thuế Các doanh nghiệp cũng đối mặt với tình trạng doanh thu và chi phí phát sinhtại các thời điểm khác nhau Thị trường tiền tệ cung cấp một cách thức hiệu quả, tốn ít chi phí trongviệc giải quyết các vấn đề trên

III AI THAM GIA VÀO THỊ TRƯƠNG TIỀN TỆ

Có 2 dạng người tham gia vào thị trường tiền tệ là người cho vay và người đi vay Tuy nhiên hầuhết những người tham gia đều có thể vừa là người đi vay, vừa là người cho vay Ví dụ, một ngânhàng lớn sẽ vay trong thị trường tiền tệ bằng cách bán các hợp đồng chứng chỉ tiền gửi thương mạilớn Đồng thời, nó sẽ cho vay vốn ngắn hạn cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, có thể xác địnhnhững người tham gia chính trên thị trường tiền tệ là Bộ Tài chính Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang, ngânhàng thương mại, các doanh nghiệp, công ty đầu tư và chứng khoán, các cá nhân

1 Bộ Tài Chính Mỹ (Bộ Ngân Khố)

Bộ Tài Chính là độc nhất vì nó luôn có nhu cầu vay mượn tiền trong khi không bao giờ dư thừa

để cho vay Bộ Tài chính Mỹ là chủ thể đi vay lớn nhất trong tất cả chủ thể vay tiền trên toàn thếgiới Nó phát hành tín phiếu kho bạc (thường được gọi là T-bill) và các chứng khoán khác phổ biếnvới người tham gia thị trường tiền tệ khác Phát hành các chứng khoán ngắn hạn cho phép chính phủhuy động vốn cho đến khi thu thuế Kho bạc cũng phát hành tín phiếu để xử lý những vấn đề phátsinh

2 Hệ thống dự trữ Liên Bang

Đại lý của Kho bạc trong việc phân phối của các chứng khoán kho bạc là Cục Dự trữ Liênbang (FED) FED nắm giữ một lượng lớn trái phiếu chính phủ sẽ được bán ra nếu nó tin rằng cầngiảm lượng cung tiền Tương tự như vậy, FED sẽ mua chứng khoán kho bạc nếu họ tin rằng cungtiền nên được mở rộng Chính trách nhiệm này của FED làm cho nó trở thành người tham gia có sứcảnh hưởng nhất trong thị trường tiền tệ, có thể kiểm soát nền kinh tế thông qua nghiệp vụ thị trườngmở

3 Ngân Hàng Thương Mại

Ngân hàng thương mại chiếm một tỷ lệ phần trăm chứng khoán chính phủ Mỹ chỉ đứng sau quỹlương hưu Điều này một phần là do các quy định hạn chế các cơ hội đầu tư cho các ngân hàng Cụthể, các ngân hàng đều bị cấm sở hữu chứng khoán rủi ro, như cổ phiếu hoặc trái phiếu doanhnghiệp Nhưng được phép sở hữu chứng khoán chính phủ, do rủi ro thấp và thanh khoản cao

Ngân hàng cũng là nơi chính phát hành chứng chỉ tiền gửi (CDs), chấp nhận thanh toán của ngânhàng, các quỹ liên bang, và các thỏa thuận mua lại Ngoài việc sử dụng thị trường chứng khoán tiền

tệ để quản lý thanh khoản, nhiều ngân hàng thương mại còn giao dịch thay mặt khách hàng của họ

4 Doanh nghiệp

Các doanh nghiệp mua và bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ Những hoạt động này thườngđược giới hạn đối với các tập đoàn lớn do có ảnh hưởng đến lượng lớn dollar Như đã thảo luận ở

Trang 5

trên, thị trường tiền tệ được sử dụng rộng rãi để các doanh nghiệp duy trì thặng dư vốn và để huyđộng vốn ngắn hạn

5 Công ty đầu tư và công ty chứng khoán

Các tổ chức tài chính khác tham gia vào thị trường tiền tệ được liệt kê trong Bảng 11.2

Bảng 11.2: Thành phần tham gia trên thị trường tiền tệ

vay ngắn hạn; cung cấp tài khoản đầu tư cá nhân đầu tưchứng khoán thị trường tiền tệ

Các doanh nghiệp Mua, bán chứng khoán ngắn hạn khác nhau để kiểm soát

lượng tiền mặt thường xuyênCác công ty đầu tư Giao dịch với tư cách đại diện cho các tài khoản

Các công ty tài chính Cho vay tiền cá nhân

Các công ty bảo hiểm Duy trì tính thanh khoản cần thiết để đáp ứng nhu cầu

đột xuấtQuỹ hưu trí Duy trì các quỹ thị trường tiền tệ, sẵn sàng đầu tư vào cổ

phiếu và trái phiếu

Cá nhân Mua các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ

Các quỹ tương hỗ thị trường

tiền tệ

Cho phép nhà đầu tư nhỏ tham gia vào thị trường tiền tệbằng cách tập hợp các quỹ đầu tư của họ thành chứngkhoán thị trường tiền tệ mệnh giá lớn

- Các công ty đầu tư: Các công ty môi giới đa ngành lớn đang hoạt động trong thị trường tiền

tệ như: Ngân hàng Mỹ, Merrill Lynch, Barclays Capital, Credit Suisse và Goldman Sachs.Chức năng chính của các đại lý này là để "tạo ra một thị trường" cho chứng khoán trên thịtrường tiền tệ bằng cách duy trì một danh mục tất cả hàng hóa để mua hoặc bán Các doanh

Trang 6

nghiệp này rất quan trọng đối với khả năng thanh khoản của thị trường tiền tệ vì chúng đảmbảo rằng người bán hàng dễ dàng trao đổi chứng khoán của các công ty

- Công ty tài chính: Công ty tài chính huy động vốn trên thị trường tiền tệ sơ cấp bằng cách

bán thương phiếu Sau đó, người tiêu dùng vay tiền để chi trả vào việc mua các hàng hóa lâubền như ô tô, tàu thuyền, hoặc sửa chữa nhà

- Các công ty bảo hiểm:Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn phải duy trì thanh khoản do

những nhu cầu về vốn không thể đoán trước của họ Ví dụ, khi bốn cơn bão đánh vào Floridanăm 2004, các công ty bảo hiểm phải chi trả hàng tỷ đô la cho lợi ích bảo hiểm Để đáp ứngnhu cầu này, các công ty bảo hiểm bán một số chứng khoán trên thị trường tiền tệ của họ đểhuy động tiền mặt Trong năm 2010, ngành công nghiệp bảo hiểm nắm giữ cùng một lượngchứng khoán kho bạc tương đương với các ngân hàng thương mại (196 tỷ $ so với $ 199 tỷ)

- Quỹ hưu trí Quỹ hưu trí đầu tư một phần tiền mặt của họ trong thị trường tiền tệ để có thể

tận dụng cơ hội đầu tư mà họ nhận thấy trên thị trường chứng khoán hoặc trái phiếu Như cáccông ty bảo hiểm, quỹ hưu trí phải có tính thanh khoản có khả năng đáp ứng nghĩa vụ củamình Tuy nhiên, vì nghĩa vụ của họ là gần như có thể dự đoán, do đó nắm giữ quá nhiều cácchứng khoán thuộc thị trường tiền tệ là không cần thiết

6 Cá nhân

Lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho các khoản tiền gửi trở nên không hấp dẫn đối với cácnhà đầu tư cá nhân dolạm phát tăng trong cuối những năm 1970 Cùng thời gian này, nhà môi giới

đã bắt đầu thúc đẩy các quỹ tương hỗ của thị trường tiền tệ, nơi nhận được lãi suất cao hơn

Ngân hàng không thể ngăn cản một lượng lớn tiền mặt chạy đến các quỹ tương hỗ do quy địnhgiới hạn lãi suất họ có thể trả cho khoản tiền gửi Để chống lại sự dịch chuyển tiền rakhỏi ngânhàng, các nhà làm luật đã sửa đổi các quy định Ngân hàng nhanh chóng tăng lãi suất để nỗ lực lấylại những khoản đầu tư cá nhân Điều này giúp giảm sự chuyển dịch tiền sang các quỹ, nhưng cácquỹ tương hỗ của thị trường tiền tệ vẫn là một lựa chọn để đầu tư cá nhân phổ biến Lợi thế của cácquỹ tương hỗ là họ cung cấp cho các nhà đầu tư với một lượng tiền mặt tương đối nhỏ để tạo thànhchứng khoán mệnh giá lớn

IV CÔNG CỤ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ

Sư đa dạng của các công cụ thị trường tiền tệ sẵn có để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người thamgia thị trường Chứng khoán này là hoàn hảo cho một nhà đầu tư này; chứng khoán khác có thể làtốt hơn cho người khác Trong phần này chúng ta sẽ nhận được một sự hiểu biết lớn hơn về đặcđiểm của chúng khoán thị trường tiền tệ và bằng cách nào những người tham gia thị trường tiền tệ

sử dụng chúng để quản lý tiền của họ

1 Tín phiếu kho bạc

Bộ Tài chính Mỹ đưa ra một loạt các chứng khoán nợ để tài trợ cho các khoản nợ quốc gia.Chứng khoán được nắm giữ rộng rãi và có tính thanh khoản cao nhất là tín phiếu kho bạc được bánvới kỳ hạn 28, 91 và 182 ngày Các tín phiếu có mệnh giá tối thiểu là $ 1,000 cho đến năm 2008, lúc

đó mệnh giá mới là 100 $ được bán ra FED đã thiết lập một quyền chọn mua trực tiếp giúp các cánhân có thể sử dụng để mua trái phiếu kho bạc qua Internetgiúp cho tín phiếu kho bạc được phổ

Trang 7

biến rộng rãi Thay đổi này bắt đầu lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1998 Chính phủ không thực sự trảlãi suất tín phiếu kho bạc Thay vào đó, chúng được phát hành với giá giảm so với mệnh giá (giá trịlúc đáo hạn) Trái tức của nhà đầu tư chính là sự gia tăng giá trị của tín phiểu trong thời gian nóđược mua đến thời gian đáo hạn.

TÌNH HUỐNG Chiết khấu của chứng khoán Kho bạc để trả lãi suất

Các chứng khoán trên thị trường tiền tệ thường không chi trả lãi mà thay vào đó họ sẽ phảitrả ít hơn so với giá trị thực tế của các chứng khoán này khi chúng đáo hạn Chúng ta gọi đó

là chiết khấu Đây là điều thường thấy ở các chứng khoán ngắn hạn, bởi vì chúng thường đáohạn trước khi tổ chức phát hành có thể kiểm tra và thực hiện lại việc chi trả tiền lãi chochúng

Bảng 11.3 là bảng kết quả đấu giá các loại tín phiếu kho bac và được báo cáo trực tiếptrên Web site của bộ tài chính Nếu nhìn vào dòng đầu tiên ta có thể thấy được rằng tín phiếu

kỳ hạn 28 ngày mệnh giá 100$được bán với giá là 99.988722$ Điều này có nghĩa là với1000$ chúng ta sẽ được chiết khấu thành 999.89$ Bảng trên còn có tỷ lệ % chiết khấu và tỷ

Tỷ lệ % đầu tư được tính theo công thức sau:

i investment = F−P P x 365n

Trang 8

Tỷ lệ % đầu tư đại diện chính xác hơn cho những gì mà người đầu tư nhận được khi

sử dụng số ngày thực tế của năm và đầu tư ban đầu đúng trong tính toán Một lưu ý rằng khi

sử dụng cách tính tỷ lệ % đầu tư thì Bộ tài chính sử dụng số ngày thực tế của năm tiếp theo

Có nghĩa rằng nếu năm nhuận thì phải tính 366 ngày/năm

Số ngày

đáo hạn

Ngày phát hành

Ngày đáo hạn

Lãi suất chiết khấu

Lãi suất đầu tư

Giá mua mỗi $199

Bảng 11.3: Kết quả đấu giá các hối phiếu gần đây

Ví dụ 11.1 : Tính tỷ lệ % chiết khấu và tỷ lệ % đầu tư.

Bạn nộp thầu không có sự cạnh tranh vào tháng 4/2010 mua 1 tín phiếu kho bạc mệnhgiá1000$ thời gian đáo hạn 28 ngày, bạn đang mua tín phiếu với giá 999,88722$ Tính tỷ lệ

% chiết khấu và tỷ lệ % đầu tư?

Những tính toàn trên cho tỷ lệ % chiết khấu và tỷ lệ % đầu tư phù hợp với những báo cáo do

Bộ tài chính chỉ đạo cho Tín phiếu kho bạc đầu tiên ở bảng 11.3

- Rủi ro: Tín phiếu kho bạc gần như không có rủi ro bởi vì khi Chính Phủhết tiềnChính phủ có

thể phát hành thêm tiền để mua lại chúng khi đến hạn Rủi ro do thay đổi bất ngờ trong chỉ số

Trang 9

lạm phát cũng rất thấp vì chúng là những chứng khoán ngắn hạn Thị trường công cụ tín

phiếu kho bạc phát triển là một thị trường rất sâu rộng và có tính thanh khoản cao Thị trường sâu rộng ở đây hiểu là thị trường có nhiều người mua và người bán khác nhau Thị trường có tính thanh khoản cao là thị trường mà chứng khoándễ dàng được mua bán một

cách nhanh chóng và chi phí giao dịch rất thấp Những nhà đầu tư khi hoạt động trên thịtrường sâu rộng và có tính thanh khoản cao sẽ rất ít khi gặp rủi ro khi họ muốn thực hiện báncác chứng khoán của họ ngay khi họ cần

- Đấu giá Tín phiếu kho bạcMỗi tuần, bộ tài chính sẽ công bố số lượng và những loại Tín

phiếu kho bạcsẽ được bán ra Bộ Tài Chính chấp nhận sự đặt giá cao nhất Những sự đặt giáđược chấp nhận sẽ được thưởng với mức lợi tức cao nhất.Những người tham gia đấu thầu sẽcạnh tranh theo chiều hướng tăng lên của lợi tức cho đến khi nó đạt được đến giá đề nghị

- Ngoài những sự đặt giá phải cạnh tranh, Bộ tài chính còn chấp nhận những sự đặt giá không có tính cạnh tranh Khi sự đặt giá canh tranh được chấp nhận, nhà đầu tư sẽ tuyên

bố số lượng chứng khoán họ muốn mua và giá chứng khoán mà họ có muốn trả Ngược lại,đặt giá không có tính cạnh tranh chỉ bao gồm số lượng chứng khoán mà nhà đầu tư muốnmua thôi Và họ sẽ được mua với giá giống như những người đấu giá có tính cạnh tranh vớinhau Điều khác biệt rõ nhất giữa 2 hình thức đó là người đấu giá có tính cạnh tranh thì cóthể đấu giá thắng hoặc thua Còn người đấu giá không có tính cạnh tranh thì được đảm bảolúc nào cũng mua được chứng khoán

- Vào năm 1976, Bộ tài chính đã chuyển đổi toàn bộ những phần chia khả mại của nợ liên

bang thành những chứng khoán ghi sổ, thay thế cho rất nhiều giấy mực Trong hệ thống ghi

sổ, quyền sở hữu chứng khoán Bộ tài chínhchỉ được ghi nhận trong máy tính của Liên bang.Việc ghi nhận điện tử như vậy đã thay thế cho những chứng khoán giấy, và làm giảm chi phíphát hành chứng khoán Bộ tài chínhcũng như chi phí trong việc chuyển giao quyền sở hữukhi nó được mua bán trên thị trường thứ cấp

- Việc đấu giá chứng khoán của Bộ tài chínhcó tính cạnh tranh và công bằng cao Để đảm tínhcạnh tranh tốt, không một dealer nào được phép mua hơn 35% số lượng chứng khoán đượcphát hành Và chỉ có khoảng 40 dealer quan trọng được tham gia vào buổi đấu giá

- Lãi suất của Tín phiếu kho bạc: Tín phiếu kho bạcđược xem như là không có rủi ro Do đó

lãi suất của nó cũng thuộc dạng thấp nhất trong nền kinh tế Những nhà đầu tư nhận thấyrằng trong vài năm, lợi nhuận thu được từ Tín phiếu không đủ để bù đắp sự thay đổi trongsức muado lạm phát Biểu đồ 11.2 diễn biến lãi suất của Tín phiếu Bộ tài chính và tỷ lệ lạmphát từ năm 1973-2006 Rõ ràng rằng, Tín phiếu Bộ tài chính không phải là một kênh để đầu

tư nhưng nó là một kênh dự trữ nguồn vốn dư thừa vì nó hiếm khi nào theo kịp tỷ lệ lạmphát

Trang 10

Biểu đồ 11.2 Tỉ giá hối đoái Tín phiếu kho bạc và tỉ lệ lạm phát từ tháng 1 năm 1973 đến tháng

1 năm 2010

TÌNH HUỐNG: Cuộc đấu giá Tín phiếu Bộ tài chính

Vào các ngày thứ 5 trong tuần, Bộ tài chính sẽ công bố rằng có bao nhiêu tín phiếu sẽđược bán với kỳ hạn 28 ngày, 91 ngày và182 ngày Những người mua phải đặt giá đấu vàongày thứ 2 kế tiếp, và quyết định sẽ được đưa ra vào buổi sáng hôm sau Bộ tài chính chọntrúng thầu mức giá đấu là cao nhất

Việc đấu giá chứng khoán của Bộ TC có tính cạnh tranh và công bằng cao Để đảm tính cạnhtranh tốt, không một dealer nào được phép mua hơn 35% số lượng chứng khoán được phát

hành Và chỉ có khoảng 40 dealer quan trọng được tham gia vào buổi đấu giá.Vào năm 1991,Salomon Smith Barney đã vi phạm quy định trên và vơ vét trên thị trường, làm cho người ta

phải hoài nghi về tính công bằng của cuộc đấu giá Salomon đã mua 35% số lượng chứng

khoán với chính tên của mình bằng cách ra giá cao Sau đó, Salomon đã mua thêm chứng

khoán với tên của những khách hàng của ông ta Và thường là không có sự đồng ý của nhữngkhách hàng này Tiếp theo, Salomon lại mua lại những chứng khoán từ các khách hàng này

Kết quả của những giao dịch này, Salomon đã vơ vét trên thị trường và trở thành nhà độc

quyền Cuộc điều tra về Salomon đã vạch ra rằng trong quá trình đấu giá vào tháng 5 năm

1991, người môi giới này đã cố gắng để kiểm soát 94%, tương đương 11 tỷ USD được phát

hành Theo sau sự việc này, ông John Gutfreund, chủ tịch của công ty, cùng với những ngườiđiều hành cấp cao và Salomon đã phải từ chức Từ đó, Bộ tài chính đã phải ban hành ra

những luật mới để đảm bảo tính cạnh tranh của thị trường

Trang 11

2 Nguồn vốn liên bang

Nguồn vốn liên bang là những nguồn vốn ngắn hạn được dịch chuyển giữa các định chế tài chính

với nhau, thường là trong khoản thời gian 1 ngày Thuật ngữ “Nguồn vốn liên bang” rất dễ gây hiểunhầm Nguồn vốn liên bang thực sự không có liên quan gì với chính phủ liên bang Thuật ngữ đó bắtnguồn từ việc nguồn vốn đó được nắm giữ bởi Ngân hàng dự trữ liên bang Thị trường của nguồnvốn liên bang bắt đầu từ những năm 1920, khi mà xuất hiện các ngân hàng thừa vốn cũng với cácngân hàng thiếu vốn để cho vay Lãi suất của việc vay những nguồn vốn này thường ngang với lãisuất mà cục dự trữ liên bang tính trên các khoản vay chiết khấu

- Mục đích của Nguồn vốn liên bang Cục dự trữ liên bang đã ban hành tỉ lệ dữ trữ bắt buộc

tối thiểu mà các ngân hàng phải duy trì Các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ tiền gửi nhấtđịnh tại Cục dự trừ liên bang nhằm hỗ trợ kịp thời cho các ngân hàng khi dự trữ của các ngânhàng đó cạn kiệt Các ngân hàng có thể vay ngay từ Cục dự trữ liên bang, nhưng việc nàykhông được khuyến khích Vì thế, mặc dù lãi suất nguồn vốn liên bang thấp nhưng nó vẫn ítđược sử dụng

- Kỳ hạn của Nguồn vốn liên bang thường là những khoản đầu tư qua đêm Các ngân hàng

sẽ phân tích nguồn dự trữ của mình trong mỗi ngày để quyết định là sẽ vay thêm hay cho vaynguồn vốn của mình Giả sử rằng một ngân hàng có nguồn dự trữ vượt trội là 50 triệu USD,

nó sẽ liên hệ với ngân hàng đối tác của nó để xem ngân hàng đó có cần tăng dự trữ ngày hôm

đó hay không Ngân hàng thừa vốn sẽ bán nguồn vốn đó cho ngân hàng nào đưa ra lãi suấttốt nhất Một khi đạt được thoả thuận, ngân hàng thừa vốn sẽ chỉ thị cho Cụcdự trữ liên bangghi giảm tiền trong tài khoản của họ và ghi có vào tài khoản của ngân hàng thiếu vốn Vàongày tiếp theo, nguồn vốn sẽ được chuyển về lại như ban đầu, và cơ chế cứ tiếp diễn nhưvậy.Đa số các nguồn vốn vay liên bang không có tài sản đảm bảo Điển hình là toàn bộ thoảthuận đều được hình thành dựa trên sự thoả thuận trực tiếp giữa các ngân

- Lãi suất của Nguồn vốn liên bang lãi suất của Nguồn vốn liên bang được quyết định bởi

yếu tố cung cầu Đây là một thị trường cạnh tranh nên các nhà phân tích phải theo dõi sát cácchỉ báo để thấy được điều gì đang xảy ra với lãi suất ngắn hạn Lãi suất Nguồn vốn liên bangđược được thông báo trên báo chí là lãi suất có hiệu lực

- Cục dự trữ liên bang không thể điều khiển trực tiếp lãi suất của Nguồn vốn liên bang mà chỉ

có thể gián tiếp điều khiển lãi suất bằng cách điều chỉnh mức độ dự trữ tại các ngân hàngtrong hệ thống Cục dự trữ liên bang có thể gia tăng số lượng tiền trong hệ thống tài chínhbằng cách mua chứng khoán Nếu Cục dự trữ liên bang làm giảm nguồn dự trữ bằng cáchbán chứng khoán, thì lãi suất Nguồn vốn liên bang sẽ tăng lên Mặc dù lãi suất này chỉ ảnhhưởng đến một số ít các doanh nghiệp và người tiêu dùng, nhưng các nhà phân tích đều xem

nó như một chỉ số quan trọng để xác định hướng mà Cục dự trữ liên bang đang muốn nềnkinh tế hướng tới Biểu đồ 11.3 so sánh lãi suất Nguồn vốn liên bang với lãi suất Tín phiếu

Bộ tài chính Dễ nhận thấy được rằng 2 loại lãi suất này luôn gần xấp xỉ với nhau

Ngày đăng: 17/07/2015, 10:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 11.1 Lãi suất tín phiếu kho bạc 3 tháng và trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở các NHTM. - Nghiên cứu về Thị trường tiền tệ
Hình 11.1 Lãi suất tín phiếu kho bạc 3 tháng và trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở các NHTM (Trang 2)
Bảng 11.3: Kết quả đấu giá các hối phiếu gần đây - Nghiên cứu về Thị trường tiền tệ
Bảng 11.3 Kết quả đấu giá các hối phiếu gần đây (Trang 8)
Hình thức khác nhau. Vào năm 1969, thị trường thắt chặt tiền tệ khiến cho các ngân hàng nắm giữ các công ty phải phát hành thương phiếu để tài trợ cho các khoản vay mới - Nghiên cứu về Thị trường tiền tệ
Hình th ức khác nhau. Vào năm 1969, thị trường thắt chặt tiền tệ khiến cho các ngân hàng nắm giữ các công ty phải phát hành thương phiếu để tài trợ cho các khoản vay mới (Trang 14)
Bảng 11.4 tóm tắt các loại chứng khoán thị trường tiền tệ và sự phát triển của thị trường thứ cấp. - Nghiên cứu về Thị trường tiền tệ
Bảng 11.4 tóm tắt các loại chứng khoán thị trường tiền tệ và sự phát triển của thị trường thứ cấp (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w