Thị trường tài chính đóng một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế. Bài nghiên cứu nêu rõ về khái niệm thị trường tài chính, các chủ thể thị trường tài chính, vai trò thị trường tài chính, các định chế tài chính, các công cụ tài chính, các cách thức giao dịch trên thị trường tài chính.
Trang 1CHƯƠNG 1: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
I GIỚI THIỆU
Sự phát triển của hệ thống tài chính giúp trao đổi hàng hóa và dịch vụ diễn ra dễ dàng hơn.Trong quá trình trao đổi này, sự ra đời của tiền tệ làm gia tăng tốc độ và hiệu quả giao dịch Sử dụnggiá trị tiền tệ cũng tạo điều kiện gia tăng tiết kiệm vốn dư thừa Để có được lợi nhuận từ các khoảntiết kiệm tích lũy này, vốn huy động được sẽ được đem đi cho vay các cá nhân, doanh nghiệp haychính phủ để tài trợ cho đầu tư các dự án để tiêu dùng
Tương tự hệ thống kinh tế nói chung, đôi khi thị trường tài chính được đặc trưng bởi mức độbiến động cao Những biến động đột ngột định kỳ khiến người tham gia thị trường đánh giá quá caogiá trị nguồn vốn đầu tư Phá sản và khủng hoảng vào năm tiếp theo chính là hành động khắc phụchậu quả của thị trường để điều chỉnh những sai lầm trong tính toán của sự bùng nổ kinh tế trước đó.Trong hệ thống tài chính hiện đại, phá sản có thể diễn ra với tốc độ khủng khiếp Mặc dù tính chấtmỗi cuộc khủng hoảng là khác nhau, chúng ta có thể chắc ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng buộcchúng ta phải xem lại cách thức vận hành hệ thống tài chính
Để đảm bảo sự lành mạnh và ổn định của hệ thống tài chính, mỗi quốc gia cần ban hành khungpháp lý và thành lập các cơ quan quản lý để giám sát hệ thống tài chính Sự lành mạnh, ổn định của
hệ thống tài chính và vai trò của các quy định về tài chính là những vấn đề cần phải đạt được saukhủng hoảng tài chính toàn cầu Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tạo điều kiện hình thành nhiềuquy định và chính sách Một vài trong số đó được cho là vấn đề của việc quản lý nền kinh tế suythoái sau thời kỳ khủng hoảng trong khi số khác được xem là một phần của hệ thống tài chính.Trong quyển sách này có thể thấy, trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, việc bán khống bịcấm trong một khoảng thời gian ở Úc và chỉ được phép giao dịch lại kèm theo các quy định hạn chếmới Động thái của chính phủ và những nhà quản lý đối với khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ tiếptục là chủ đề thảo luận trong nhiều năm tới Bất cứ ai nghi ngờ điều này sẽ cần nhìn lại trường hợpgần đây về vai trò điều hành của ngân hàng trung ương trong cuộc khủng hoảng dot-com năm 2000chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế gần 1 thập kỷ sau đó Việc giảm và duy trìlãi suất ở mức thấp dẫn đến việc sụp đổ công ty dot-com bị chỉ trích là nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng lạm phát ở thị trường bất động sản Sự suy giảm giá bất động sản do bị thổi phồng quá mứctrước đó được xem là nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng tài chính toàn cầu
Thị trường tạo điều kiện cho việc trao đổi những thứ có giá trị Những thứ này được xem là tàisản thực như nhà hoặc xe, và tài sản tài chính như các khoản vay để mua nhà hoặc xe Các giao dịchnày có thể không diễn ra trên thị trường chính thức nhưng các giao dịch phi thị trường tốn nhiều thờigian và khó thực hiện hơn
Có thể tưởng tượng sẽ khó khăn như thế nào nếu chúng ta cứ phải nuôi một con bò để lấy sữathay vì hằng ngày có thể lái xe đến nông trại để mua sữa Nếu không có thị trường, mọi người sẽphải mất nhiều thời gian để tìm kiếm những hàng hóa và dịch vụ có thể được tiêu dùng hàng ngày
mà họ cần nhưng không thể tự sản xuất được Như vậy cần phải tìm một ai đó sản xuất dư nhữngthứ mà chúng ta muốn và ngược lại Sự phát triển của các thị trường trong ngôi làng và khu vực
Trang 2giúp giải quyết vấn đề này Việc thị trường mang mọi người lại với nhau và làmnhu cầu của mọi người gặp nhau thật sự cần thiết trước khi việc trao đổi xảy ra.
Vai trò của thị trường còn mở rộng hơn ngoài việc giúp những người muốn trao đổi hàng hóa vàdịch vụ tìm đến với nhau Sau khi tìm đúng người để trao đổi, việc tiếp theolà thiết lập một tỷ lệ trao
đổi (giá) Điều này có thể gây ra vấn đề phân chia Chuyện gì sẽ xảy ra nếu túi khoai tây mà bạn
muốn có được từ người khác lại có giá trị bằng một nửa mông bên trái của một con bò? Rõ ràngkhông thể lấy một miếng nhỏ của con bò để đổi lấy một túi khoai tây Cách để giải quyết vấn đề này
là chủ của con bò sẽ lập ra một cửa hàng thịt với mong muốn mọi người sẽ cung cấp một loạt cácsản phẩm và dịch vụ để đổi lấy các bộ phận khác nhau của con bò
Sự phát triển của thị trường tài chính giúp giải quyết vấn đề này Tiền tệ, đóng vai trò là một
trung gian trao đổi, cho phép thị trường hàng hóa và dịch vụ hoạt động hiệu quả hơn Sẽ không còn
vấn đề cản trở việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ nữa Tiền tệ có thể xác định giá trị của bất kỳ hànghóa nào và được chấp nhận là trung gian trao đổi một cách rộng rãi
Lịch sử ra đời của tiền tệkhá thú vị Khi người châu Âu đặt chân đến Úc, rượu và thuốc lá đượcchọn là trung gian trao đổi chung Ngày nay, tiền tệ có thể là tiền giấy, tiền đồng hay các công cụ tàichính khác như séc hay bút tệ dưới dạng các giao dịch thẻ tín dụng hay chuyển khoản
Sự ra đời của tiền tệ giúp các cá nhân dễ dàng tiết kiệm phần thặng dư trong thu nhập Tiết kiệm
có thể được định nghĩa là việc trì hoãn tiêu dùng sang tương lai Do đó, một chức năng khác của tiền
là phương tiện cất trữ Những khoản tiết kiệm từ những người có thu nhập dư thừa có thể chuyển
sang những người mà nhu cầu hàng hóa và dịch vụlớn hơn khả năng tài chính của họ Những ngườinày được gọi là người đi vay hay người cần vốn
Sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ có thể được tiến hành hiệu quả hơn nhờ thị trường có tổ chức.Các định chế và thị trường tài chính góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tài chínhgiữa người cung cấp vốn và người sử dụng vốn
Khi một giao dịch tài chính xảy ra, nó hình thành một khoản bù đắp cho dòng tiền trong tươnglai Điều này thể hiện ở việc tạo ra một tài sản tài chính trên bảng cân đối kế toán của người dư vốn.Tài sản tài chính được đại diện bởi các công cụ tài chính mà qua đó thể hiện số tiền vay bao nhiêu
và người đi vay phải trả bao nhiêu Ví dụ, nếu gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng sẽ phát hành mộtchứng chỉ tiền gửi có kì hạn cho bạn Đây là một công cụ tài chính Chứng chỉ sẽ ghi rõ bạn đầu tưbao nhiêu, lãi suất được trả là bao nhiêu, khi nào đến hạn trả lãi và số tiền ngân hàng trả lại cho bạn.Các khoản trả lãi và gốc được bù đắp vào dòng tiền trong tương lai
Người mua công cụ tài chính được gọi là người cho vay Những người này hiện thặng dư vốn vàmong muốn đầu tư hay dành việc mua sắm cho tương lai Người bán công cụ tài chính là nhữngngười thiếu vốn, mong muốn sẽ có được số tiền thặng dư trong tương lai để bù đắp cho việc trả lạicác món tiền đã vay mượn ở hiện tại
Vai trò chủ yếu của định chế tài chính và thị trường tài chính là giúp những người cung ứng vốn
và những người sử dụng vốn đến với nhau Dòng vốn cũng như mối quan hệ giữa người cung ứngvốn và người sử dụng vốn được thể hiện ở Sơ đồ 1.1 Một khi hiểu được cách thức hoạt động của thịtrường tài chính, chúng ta có thể xem xét các chức năng chính của một hệ thống tài chính hiện đại
Trang 3Mua các công cụ tài chính Phát hành các công cụ tài chính
Các giao dịch kinh tế và tài chính được định lượng với thuật ngữ tiền Tiền là trung gian trao
đổi và phương tiện cất trữ được chấp nhận rộng rãi
Các công cụ tài chính hình thành những dòng tiền trong tương lai, ví dụ như tiền lãi và gốctrên tài khoản tiền gửi có kì hạn ở ngân hàng
II CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Một hệ thống tài chính bao gồm các tổ chức tài chính, công cụ tài chính và thị trường tài chính
-nơi giúp dòng vốn lưu thông trong hệ thống tài chính Giám sát hệ thống tài chính, và đóng vai trò
trực tiếp là ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát tài chính
Trang 4Quyết định tiết kiệm cho phép các đơn vị thặng dư chuyển một số thu nhập hiện tại cho tương
lai trong khi hiện tại có thể được sử dụng để tiêu dùng Vì vậy, tiết kiệm cho phép tiêu dùng trongtương lai độc lập với thu nhập kiếm được trong tương lai Các đơn vị thặng dư đầu tư các khoản tiếtkiệm của họ thông qua việc mua sắm các công cụ tài chính vì mong đợi việc này sẽ giúp gia tăngcủa cải
Người cung cấp vốn mong đợi sẽ kiếm được một tỉ suất lợi nhuận kì vọng Tuy nhiên, có
những yếu tố tác động mà người cung cấp vốn cần xem xét, bởi nếu không tất cả họ sẽ chỉ mua cáccông cụ tài chính có tỷ suất lợi nhuận cao nhất Các nhà cung cấp vốn nên xem xét nhu cầu cụ thểcủa họ khi họ mua hoặc đầu tư vào tài sản Điều này sẽ ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lợi kì vọng Mộttài sản, cho dù là một tài sản thực như tài sản đầu tư hay là 1 tài sản tài chính như một khoản tiềngửi ngân hàng, luôn bao gồm 4 yếu tố:
Lãi suất hay lợi tức
Rủi ro
Tính thanh khoản
Dòng tiền theo thời gian
Một tài sản thực ví dụ như đầu tư vào một khu vực dân cư, lãi suất là tiền cho thuê định kỳ nhậnđược, cộng với sự gia tăng giá trị tài sản theo thời gian (tăng vốn) Rủi ro là sự không chắc chắnnhư người thuê nhà không thanh toán hoặc khả năng tài sản có thể bị cháy Tính thanh khoản củacác khu dân cư là việc dễ dàng bán tài sản Cuối cùng, dòng tiền theo thời gian sẽ khác nhau tùythuộc vào tần số của các khoản thanh toán cho thuê, chi phí bảo trì và thanh toán các chi phí khácnhư bảo hiểm và lãi suất
Trường hợp một tài sản tài chính, ví dụ mua cổ phần trong một công ty, lợi nhuận bao gồm cổtức nhận được và lời/lỗ thông qua giá thị trường chứng khoán Lưu ý rằng cổ tức là phần lợi nhuậncông ty định kỳ trả cho cổ đông; thị trường chứng khoán là nơi mà cổ phần các công ty được mua,bán Rủi ro được đo lường bằng sự thay đổi lợi nhuận kỳ vọng và đôi khi là khả năng các công ty bịphá sản.Tính thanh khoản của các cổ phiếu là chúng dễ dàng được mua bán trên thị trường chứngkhoán theo giá thị trường hiện tại Cuối cùng, dòng tiền theo thời gian của các cổ phiếu phụ thuộcvào lợi nhuận và chính sách cổ tức của công ty Thông thường, một công ty có lợi nhuận sẽ chi trả
cổ tức cho cổ đông hai lần một năm
Hợp lý khi giả định một người luôn thích lãi suất và tính thanh khoản, nhưng không mong muốnrủi ro và nắm giữ 1 dòng vốn đáng tin cậy May mắn, sở thích của người dư vốn đối với bốn yếu tốtrên là không giống nhau Nếu không, tất cả người dư vốn sẽ chỉ đặt tất cả tiền tiết kiệm của họ chorất ít người vay Từ sở thích không giống nhau, các tổ chức tài chính và thị trường cung cấp một sốlượng lớn các cơ hội đầu tư có mức độ khác nhau về lợi nhuận, rủi ro thanh khoản và dòng tiền theothời gian
Cá nhân và doanh nghiệp được phân loại thành: ngại rủi ro, rủi ro trung tính hoặc thích rủi ro.Những người càng ngại rủi ro sẽ chấp nhận mức tỉ suất sinh lợi mong đợi thấp hơn do rủi ro nhânđược thấp hơn Nếu gia tăng rủi ro, họ yêu cầu được bù đắp với một mức tỉ suất sinh lợi cao hơn.Như vậy, thông thường cá nhân và doanh nghiệp sẽ có 1 mức ngại rủi ro nhất định Họ không tránh
né hoàn toàn rủi ro nhưng họ yêu cầu 1 mức lợi nhuận cao hơn tương ứng với mức rủi ro cao hơn
Trang 5Ngoài ra, người dư vốn sẽ chấp nhận những mức độ thanh khoản hoặc dòng tiền theo thời gian khácnhau của các luồng tiền liên quan đến công cụ tài chính Do đó, người tham gia thị trường tài chính
có thể thay đổi các thành phần của danh mục tài sản tài chính bằng cách thay đổi sở thích của họliên quan đến bốn yếu tố là lãi suất, rủi ro, tính thanh khoản và dòng tiền theo thời gian Một danhmục tài sản là danh sách các tài sản được nắm giữ bởi người thừa vốn
Một chức năng chính của hệ thống tài chính là tạo điều kiện để cơ cấu và tái cơ cấu danh mục đầu tư thông qua việc mua bán các công cụ tài chính Tổ chức tài chính và thị trường cung cấp cho
các nhà cung ứng vốn tiềm năng những sự kết hợp về rủi ro, lãi suất, thanh khoản và dòng tiền phùhợp nhất với danh mục đầu tư cụ thể mà mỗi người dư vốn cần
Để hỗ trợ quyết định của cả các nhà cung cấp vốn và người sử dụng vốn, hệ thống tài chính cungcấp thông tin tài chính và kinh tế cho thị trường Thông tin ảnh hưởng đến giá cả và quyết định đầutư; Do đó, việc cung cấp thông tin kịp thời và chính xác là điều cần thiết cho một hệ thống tài chínhhiệu quả
Nếu một hệ thống tài chính thành công trong việc tạo ra một loạt các công cụ tài chính có thể kếthợp bốn thuộc tính khác nhau bởi người dư vốn, điều này sẽ khuyến khích sự gia tăng dòng vốn tiếtkiệm Bằng việc khuyến khích tiết kiệm, hệ thống tài chính trở nên quan trọng đối với sự tăngtrưởng kinh tế khi các khoản tiết kiệm trở thành nguồn vốn đầu tư có thể được sử dụng cho việc cảithiện năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Ngoài việc mong đợi một hệ thống tài chính hoạt động tốt sẽ làm gia tăng dòng tiền tiết kiệm,một hệ thống tài chính hiệu quả sẽ đảm bảo tiền tiết kiệm nhiều khả năng được chuyển trực tiếp tớingười sử dụng hiệu quả nhất Kết quả này giúp gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế Người dư vốnđiển hình sẽ tìm cách tối đa hóa lợi nhuận của họ, tùy thuộc vào mức độ ưa thích của họ về rủi ro,tính thanh khoản và dòng tiền theo thời gian, họ mong đợi vốn của họ được đầu tư cho người sửdụng có thể đáp ứng kỳ vọng, ví dụ họ sẽ chọn đầu tư vào các công ty sử dụng vốn để sản xuất hànghóa và dịch vụ mà thị trường đang có nhu cầu
Một chức năng quan trọng khác của hệ thống tài chính là vai trò của nó trong việc thực hiện
chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ liên quan đến các hoạt động của ngân hàng trung ương được
thực hiện để ảnh hưởng đến mức lãi suất trong hệ thống tài chính Chính sách tiền tệ hiện tại củangân hàng trung ương của các nước phát triển là duy trì mức độ lạm phát trong mức quy định Lạmphát là sự gia tăng giá cả tương đối với hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế Với một mức lạmphát nhất định, ngân hàng trung ương tìm cách đạt được các mục tiêu kinh tế như việc gia tăng việclàm và sự ổn định của tỷ giá hối đoái
Những điểm cần chú ý:
Một hệ thống tài chính bao gồm: tổ chức tài chính, công cụ tài chính và thị trường tài chính.Giám sát hệ thống tài chính là ngân hàng trung ương và các cơ quan giám sát tài chính.Tài sản tài chính bao gồm 4 yếu tố: lãi suất, rủi ro thanh khoản và dòng tiền theo thời gian Các sản phẩm tài chính hiện có trong hệ thống tài chính giúp cơ cấu danh mục đầu tư
Một hệ thống tài chính cung cấp thông tin kinh tế và tài chính cho thị trường; các thông tincần kịp thời và chính xác
Trang 6Một hệ thống tài chính hiệu quả sẽ nhanh chóng thu nhận và phản ánh thông tin mới vào giácủa công cụ tài chính
Một hệ thống tài chính khuyến khích tiết kiệm và phân bổ chúng cho người sử dụng vốn hiệuquả nhất
Ngân hàng trung ương sử dụng hệ thống tài chính để thực hiện chính sách tiền tệ để nhằmmục tiêu điều chỉnh lạm phát và đạt được mục tiêu kinh tế nhất định
III CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
Chúng ta hầu hết đã từng giao dịch với ít nhất 1 định chế tài chính Ví dụ, bạn có thể mở một tàikhoản tiền gửi ngân hàng nơi bạn sinh sống, một khoản vay từ ngân hàng đó hoặc sở hữu thẻ tíndụng Ngoài ra, bạn có thể đã ký kết một hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm y tế, bảo hiểm dulịch hoặc bảo hiểm nhân thọ với một văn phòng bảo hiểm
Các tổ chức tài chính hoạt động trong một phạm vi rất rộng trong hệ thống tài chính Trong khimột số định chế khác cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tương tự, điển hình là các tổ chức thường
có xu hướng chuyên về lĩnh vực mà họ có chuyên môn cao hơn Chúng ta sẽ thảo luận các loại hìnhđịnh chế tài chính khác nhau chi tiết hơn ở Chương 2 và chwowng3 Trong chương này, chúng tachỉ đơn giản phân loại các tổ chức tài chính thành năm loại dựa trên sự khác biệt về nguồn gốc cácquỹ và cách sử dụng chúng
1 Tổ chức lưu ký tài chính:
Chiếm một tỷ lệ lớn trong lượng tiền gửi tiết kiệm Ví dụ bao gồm tiền gửi trong tài khoản tiềngửi hoặc tài khoản tiền gửi có kì hạn tại các ngân hàng thương mại, quỹ xây dựng và hợp tác xã tíndụng Một chức năng kinh doanh chính của các tổ chức này là cung cấp các khoản vay cho kháchhàng trong gia đình và các lĩnh vực kinh doanh
2 Ngân hàng đầu tư và các ngân hàng bán buôn:
Thường tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ tư vấn cho khách hàng doanh nghiệp và chínhphủ Bao gồm tư vấn cho khách hàng về các thương vụ sáp nhập và mua lại, tái cơ cấu danh mụcđầu tư và quản lý rủi ro tài chính Các tổ chức này có thể cung cấp một số khoản vay cho kháchhàng nhưng thường tham gia tư vấn, giúp khách hàng huy động vốn trực tiếp từ thị trường vốn
3 Tổ chức tài chính theo hợp đồng
Là các tổ chức tài chính như văn phòng bảo hiểm nhân thọ, công ty bảo hiểm và quỹ hưu bổng.Các khoản nợ của họ chủ yếu là hợp đồng có tính chất hoàn trả những khoản thanh toán định kỳ chocác tổ chức, tổ chức này sẽ thực hiện thanh toán cụ thể cho chủ hợp đồng nếu một sự kiện quy địnhtại các hợp đồng xảy ra Biên lai thu tiền mặt định kỳ nhận bởi các tổ chức này cung cấp cho họ mộthình thức góp vốn vào các quỹ mà họ đầu tư Thanh toán được thực hiện bởi các tổ chức này baogồm các khoản thanh toán cho các khiếu nại dựa trên một chính sách bảo hiểm, hoặc thanh toán chomột thành viên bằng quỹ hưu bổng nghỉ hưu
4 Công ty tài chính
Trang 7Huy động vốn bằng cách phát hành công cụ tài chính như thương phiếu, tín phiếu trung hạn vàtrái phiếu ở thị trường tiền tệ và thị trường vốn Họ sử dụng quỹ này để cho vay và cho thuê tàichính với những khách hàng hộ gia đình hoặc khu vực kinh doanh
5 Quỹ đầy tư tín thác
Được thành lập theo một chứng thư ủy thác và được kiểm soát, quản lý bởi một ủy viên quản trịhoặc tổ chức có trách nhiệm Đơn vị ủy thác thu hút vốn bằng cách mời công chúng góp vốn tínchấp Kinh phí thu được từ việc bán các đơn vị góp vốn được gộp lại và sau đó các nhà quản lý quỹđầu tư theo các loại tài sản được quy định trong chứng thư ủy thác Quỹ tín thác tập trung vào mộtloại đầu tư nhất định, bao gồm tín dụng cổ phần, quỹ tín thác bất động sản, quỹ tín thác lãi suất cốđịnh và tín chấp
Bảng 1.1 Tài sản của các định chế tài chính Úc (tỉ $) Định chế tài chính 1990 % tổng
3.443.83.11.27.27.511.510.80.60.91.13.74.40.8
93.72239.521.741.6113.5130.7284.8752.546.211.64.1272.1130.0263.9
2.252.00.51.02.63.04.317.51.10.30.16.33.06.1
74.82649.524.750.266.1102.5177.3872.235.56.63.6256.0133.6141.6
1.657.70.51.11.42.23.9190.80.10.15.62.93.1
Trang 8Bảng 1.1 cho thấy tổng tài sản của các tổ chức tài chính ở Úc tháng 6 năm 1990, năm 2008 vàtháng 9 - 10 năm 2008 Hệ thống tài chính Úc phát triển nhanh chóng trong giai đoạn này để đápứng với những thay đổi đã xảy ra, bao gồm cả thay đổi quy định, quốc tế hóa thị trường tài chính vàứng dụng công nghệ để phát triển các sản phẩm tài chính mới và hệ thống thông tin Có thể thấy sựtăng trưởng các tài sản được nắm giữ trong hệ thống tài chính là rất lớn Điều này không chỉ giớihạn cho thị trường Úc mà ngay cả các thị trường quốc tế cũng cho thấy sự tăng trưởng đáng kể.Khái quát từ bảng 1.1:
Tổng tài sản của các tổ chức tài chính tăng gấp gần năm lần trong giai đoạn này, đạt 4594.2 $tỷ
Ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các tài sản của các tổ chức tài chính,chiếm 57.7% Tuy nhiên, con số này không hoàn toàn đại diện cho tất cả các ngân hàngthương mại uy tínvì các tổ chức này tham gia vào các hoạt động không được ghi nhận trựctiếp trên bảng cân đối của các ngân hàng (ví dụ như các hoạt động quản lý quỹ của họ).Tầm quan trọng của việcchuyển đổiHiệp hội xây dựng sang mô hình ngân hàng thương mại
do những điều chỉnh trong luật pháp, điều này cho phép các hiệp hội lớn chuyển đổi thànhngân hàng thương mại
Tỷ lệ cổ phần tài sản tài chính của các Ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn giảm sútphản ánh sự thay đổi mục tiêu kinh doanh tập trung vào cung cấp các dịch vụ tư vấn cáccông ty và khách hàng chính phủ
Các công ty tài chính giảm số lượng do tác động của việc dỡ bỏ các quy định tài chính, sựcạnh tranh khốc liệt của thị trường và việc sát nhập vào các ngân hàng khác
Trong giai đoạn này, tỉ lệ phần trăm cổ phiếu tổng tài sản của công ty bảo hiểm giảm Tuynhiên nó được bù đắp bởi phần gia tăng trong quỹ quản lý hưu trí
Tỷ lệ cổ phần của các tài sản trong quỹhưu trí tăng 19% Trong đó nhân tố chính tác động là
sự gia tăng tuổi nghĩ hưu , chính sách thuế khuyến khích tiết kiệm, sự ra đời của quỹ hưu tríbắt buộc
Một khu vực khác có tốc độ tăng trưởng tốtlà quỹ ủy thác đầu tư,khu vực này tăng gần 10 lầntrong thời gian qua Các nhà đầu tư có cơ hội sử dụng những kỹ năng chuyên môn của cácchuyên gia quản lý quỹ để đầu tư vào những lĩnh vực khó thực hiện bằng đầu tư cá nhân nhưthị trường chứng khoán quốc tế
Chứng khoán hóa phương tiện vận chuyển cho thấy mức tăng trưởng cao cho đến thời kì
khủng hoảng kinh tế Sự thắt chặt nghiêm trọng tín dụng trên thị trường vốn cùng với vấn đềbảo đảm các tài sản chứng khoán hóa bằng tài sản thế chấp dưới chuẩn khiến cho vấn đềchứng khoán hóa gần như biến mất Phần trăm thị phần các tài sản chứng khoán hóa giảmxuống chỉ còn 3.10% Chứng khoán hóa là việc chuyển các thể thức tín dụng thành thể thứcchứng khoán, phát hành trong công chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán của cácnhà đầu tư Một khi giải quyết được vấn đề tài sản dưới chuẩn được giải quyết thì khu vựcnày của thị trường có thể tăng trường trở lại Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này ở phần mởrộng cuối chương 10
Những điểm cần lưu ý:
Các định chế tài chính có thể được chia thành 5 loại dựa trên nguồn và cách sử dụng vốn
Trang 9Các định chế nhận tiền gửi như ngân hàng thương mại tham gia nhận tiền gửi của kháchhàng và cung cấp dịch vụ cho vay (Ngân hàng thương mại cũng cung cấp những dịch vụ tàichính khác).
Ngânhàng đầu tư và ngân hàng bán buôn không được nhận tiền gửi mà chỉ cung cấp các dịch
vụ tư vấn cho khách hàng về sát nhập và hợp nhất
Tổ chức tài chính theo hợp đồng như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí thực hiện giao kếthợp đồng với khách hàng, phát sinh giao dịch bồi thường khi có vi phạm theo các quy địnhcủa hợp đồng ( tai nạn xe, bị đuổi việc,…)
Công ty tài chính huy động vốn trực tiếp trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn để cho vayhoặc cho thuê tài chính
Quỹđầu tư tín thác kêu gọi góp vốn bằng tín thác và đầu tư quỹ vào các chứng thư tín thác.Các quỹ đầu tư tín thác được liên kết bởi nhà tài trợ và được bán cho nhà đầu tư thông quacác nhà môigiới chứng khoán
IV CÔNG CỤ TÀI CHÍNH
Khi có nhu cầu vay vốn từ người cho vay, người đi vay cần phải chuẩn bị một văn bản pháp lý
rõ ràng xác định hợp đồng cam kết Loại văn bản này là một công cụ tài chính và được xem như mộtcam kết tài chính đại diện cho giá trị ròng của dòng tiền tương lai Công cụ tài chính được thể hiệnnhư một khoản tài sản tài chính trên bảng cân đối kế toán của người sử dụng vốn Nếu tài sản tàichính là một khoản nợ phải trả thì nó được ghi nhận ở mục tài sản, ngược lại nếu tài sản tài chính lànguồn vốn thì nó sẽ được ghi nhận ở mục nguồn vốn chủ sở hữu
Ta có thể xem xét ví dụ sau: nếu một khách hàng gửi một khoản tiền tại ngân hàng với 1 kỳ hạnnhất định, ngân hàng sẽ xác nhận số tiền gửi này và ghi giấy chứng nhận gồm các nội dung như sốtiền, ngày đáo hạn, lãi suất được thanh toán và kỳ hạn trả lãi Các điều khoản và điều kiện được xácđịnh trong các hợp đồng vay tài chính có thể thay đổi khác nhau Ví dụ, một khoản vay vốn có thểbao gồm một mức lãi suất cố định theo thời hạn, trong khi một khoản vay khác có thể có lãi suấtthay đổi vào những ngày nhất định Khoản vay này có thể yêu cầu thanh toán lãi và tiền gốc hàngtháng, trong khi khoản vay khác có thể yêu cầu trả lãi nửa năm với vốn gốc chỉ hoàn trả khi đáo hạn.Những người dư vốn cũng sẽ là nhà cung cấp vốn, sẽ mua tài sản tài chính có tính rủi ro, lãi suất,tính thanh khoản và dòng tiền theo thời gian đáp ứng nhu cầu cụ thể của họ
Công cụ tài chính có thể được chia thành ba loại chính: vốn chủ sở hữu (bao gồm cả chứngkhoán hỗn hợp), nợ và công cụphái sinh
1 Vốn
Có nhiều hình thức vốn:ví dụ nếu bạn mua một chiếc xe với một phần tiền là vốn tự có và vay
phần vốn còn lại tại ngân hàng, số vốn bạn có trong chiếc xe là số vốn tự có Khi bạn trả dần nợ vaytại ngân hàng, tỷ lệ vốn tự có trong chiếc xe của bạn cũng tăng lên Do đó vốn có thể được xem như
tỷ lệ sở hữu trong một tài sản
Trong nội dung thảo luận của bài viết này, vốn của một công ty được thể hiện thông qua số
lượng cổ phần Dạng vốn cơ bản nhất của một công ty là cổ phiếu phổ thông Các công ty cổ phần
lớn niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết ở phần 2 Cổ phiếuphổ thông không có ngày đáo hạn, dòng đời của cổ phiếu gắn liền với dòng đời của doanh nghiệp
Trang 10Tuy nhiên vì được niêm yết trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể mua bán cổ phiếuphổ thông tại giá thị trường.
Cổ đông phổ thông có quyền hưởng lợi từ lợi nhuận của công và được chia dưới dạng cổ tức.Giá trị của cổ tức có thể tăng theo thời gian, đại diện cho thặng dư vốn cổ phần Nếu công ty bị phásản, cổ đông được bồi hoàn dựa trên giá trị tài sản còn lại sau khi các nghĩa vụ nợ khác của công ty
đã được hoàn trả Người nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền biểu quyết tại đại hội cổ đông củacông ty, đặc biệt là tham gia vào biểu quyết các thành viên hội đồng quản trị của công ty
Một dạng vốn khác là chứng khoán hỗn hợp, nghĩa là loại này vừa có tính chất của công cụ vốn
lẫn công cụ nợ.Cổ phiếu ưu đãi là một loại chứng khoán hỗn hợp: nó là 1 chứng khoán vốn nhưnglại có nhiều điểm chung với công cụ nợ Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có quyền nhận được thunhập cố định theo một tỷ lệ lãi suất nhất định, không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty Lợi tức
cố định này sẽ được chia trước với lợi tức của cổ đông phổ thông.Người sở hữu cổ phiếu ưu đãicũng được bồi hoàn trước cổ đông thông thường.Tuy nhiên, thị giá của cổ phiếu này phụ thuộc vào
sự thay đổi lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty
Việc phát hành các chứng khoán hỗn hợp hay công cụ chứng khoán lai ngày càng trở nên quantrọng với các công ty khi cần gia tăng vốn Ta sẽ thảo luận kỹ phần này ở chương sau
2 Nợ
Nợ là một khoản vay cần phải hoàn trả Một công cụ nợ thể hiệncam kết giữa người cho vay vàngười đi vay, trong đó yêu cầu người đi vay hoàn trả các khoản cố định bao gồm lãi và gốc tại mộtthời điểm nhất định
Các dạng công cụ nợ được phát hành bởi một công ty bao gồm: hối phiếu, tín phiếu, khoản vay,thương phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, thấu chi và cho vay thế chấp.Trong chương này, chúng ta sẽ thảoluận về thị trường tiền tệ và thị trường vốn Trái phiếu và các khoản vay không đảm bảo dài hạnđược phát hành trên thị trường vốn, trong khi thương phiếu và kỳ phiếu là những công cụ ngắn hạnphát hành trên thị trường tiền tệ Cho vay ngắn hạn, cho vay thế chấp và thấu chi thường được cungcấp bởi các tổ chức tài chính
Các công cụ nợ của chính phủ bao gồm trái phiếu chính phủ và tín phiếu chính phủ sẽ được thảoluận ở phần sau
Công cụ nợ thể hiện nghĩa vụ hoàn trả của người vay và tài sản liên quan nếu người đi vay mất
khả năng thanh toán Công cụ nợ có thể chia thành hai loại là: nợ có tài sản đảm bảovà nợ tín chấp.
Một hợp đồng thế chấp quy định tên tài sản của người đi vay hoặc của bên thứ ba để đảm bảo chokhoản vay Nếu người đi vay không trả được nợ, người cho vay sẽ sử dụng tài sản để thanh toán chonghĩa vụ trả nợ này
Có thể phân loại công cụ nợ theo cách khác dựa trên tính chuyển nhượng quyền sở hữu công cụ
Công cụ nợ có thể chuyển nhượnglà chúng có thể dễ dàng được bán và chuyển giao từ người này
sang người khác.Các công ty lớn phát hành thương phiếu để tài trợ cho các dự án của mình thay choviệc đi vay ngân hàng và thương phiếu có thể bán lại trên thị trường tiền tệ Nợ không có khả năngchuyển nhượng: tiêu biểu nhất là các khoản vay ngân hàng
1 Công cụ phái sinh
Trang 11Một công cụ tài chính quan trọng thứ ba là công cụ phái sinh.
Hợp đồng phái sinh được sử dụng để giảm thiểu rủi ro Ví dụ như một người đi vay lo lắng lãisuất có thể tăng trong tương lai, anh ta có thể chấp nhận rủi ro này hoặc giảm thiểu rủi ro bằng cáchchốt mức lãi suất tại mức lãi suất hiện tại Một trong những cách để chốt mức lãi suất là sử dụng hợpđồng phái sinh
Hợp đồng phái sinh được sử dụng để quản lý rủi roliên quan đến tài sản (vàng hay dầu) và cáccông cụ tài chính (quản lý độ nhạy cảm lãi suất, tiền tệ hay chứng khoán) khá đa dạng Vì vậy công
cụ phái sinh có thể được dùng để quản lý rủi ro cho cả công cụ nợ và công cụ vốn
Có bốn dạng công cụ phái sinh cơ bản: hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyềnchọn và hợp đồng hoán đổi
i Hợp đồng tương lai (giao sau) là hợp đồng bán hoặc mua một số lượng hàng hóa hoặc công cụtài chính cụ thể trong tương lai với một giá cụ thể được xác định ở thời điểm hiện tại và sẽ đượcthanh toán trong tương lai Hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa và được giao dịch tại thịtrường giao sau
ii Hợp đồng kỳ hạn cũng tương tự như hợp đồng tương lai tuy nhiên nó đa dạng hơn và được giaodịch ngoài thị trường, tại một ngân hàng thương mại hoặc một ngân hàng đầu tư Một hợp đồngchuyển đổi ngoại tệ kỳ hạn thiết lập tỷ giá tại một ngày cụ thể trong tương lai Một thỏa thuận lãisuất kỳ hạn được sử dụng để chốt mức lãi suất hiện tại cho một ngày cụ thể trong tương lai iii Hợp đồng quyền chọn cho phép người mua có quyền nhưng không có nghĩa vụ để mua hoặc bánmột tài sản cụ thể tại một ngày cụ thể hoặc trong một thời gian cụ thể trong suốt thời gian hiệulực của hợp đồng, tại một mức giá được xác định trước Người mua phải trả một khoản phí chongười bán quyền chọn
iv Hợp đồng hoán đổi là một dạng cam kết giao dịch một dòng tiền cụ thể trong tương lai Với mộtmức lãi suất hoán đổi nhất định, dòng tiền trong tương lai sẽ được hoán đổi tại một mức giá nhấtđịnh được xác định trước ở thời điểm hiện tại Một hợp đồng hoán đổi tiền tệ sẽ hoán đổi 1 sốlượng ngoại tệ tại mức tỷ giá xác định trước Số tiền lãi cũng được hoán đổi tại cùng mức tỷ giánày
Công cụ phái sinh khác với công cụ nợ và công cụ vốn ở chỗ nó không cung cấp nguồn vốn thựccho người phát hành Vốn cần được đưa ra thị trường vốn hay thị trường nợ, sau đó các công cụphái sinh mới được sử dụng để phòng ngừa rủi ro Xem xét ví dụ một nhà đầu tư lo lắng giá trị cổphiếu anh ta nắm giữ trong danh mục đầu tư có thể giảm giá Nhà đầu tư này có thể ký một hợpđồng phái sinh để mua một quyền chọn bán cổ phiếu với mức giá ở ngày hiện tại, thời hạn là mộtngày xác định trong tương lai Nếu giá cổ phiếu trong tương lai giảm, nhà đầu tư này có thể thựchiện quyền và bán cổ phiếu với giá đã xác định trong quyền chọn
Trang 12Đặc điểm cơ bản của công cụ nợ là nghĩa vụ phải hoàn trả Các chủ nợ có quyền chuyểnnhượng dòng tiền trong các công cụ nợ ( các khoản thanh toán lãi và trả nợ gốc) Nợ có thểđược bảo đảm hoặc không có bảo đảm
Hợp đồng phái sinh được thiết kế để tạo thuận lợi cho quản lý rủi ro (ví dụ như rủi ro lãisuất) Các loại sản phẩm phái sinh là tương lai, kỳ hạn, quyền chọn và hoán đổi
Tiếp theo chúng ta sẽ thảo luận về thị trường tài chính Khi đã có những hiểu biết cơ bản về tổchức tài chính và các công cụ tài chính, phần này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cấu trúc của thịtrường tài chính Một khi đã hiểu được cấu trúc của thị trường tài chính, chúng ta sẽ nắm bắt mộtcách đầy đủ về chức năng của thị trường và vai trò quan trọng của thị trường tài chính trong sự pháttriển kinh tế của một quốc gia Trong chương này, chúng ta bắt đầu bằng cách phân loại thị trườngtheo các loại giao dịch xảy ra trong từng thị trường Sau đó, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết các tổchức và các công cụ phổ biến ở mỗi thị trường tài chính Phần này xem xét:
Lý thuyết kết nối
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường trực tiếp và các định chế tài chính trung gian
Thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ
Thị trường tiền tệ
Thị trường vốn
1 Lý thuyết kết nối
Lý thuyết kết nốilà một trong những nguyên tắc cơ bản cho sự tồn tại của một loạt các công cụ
tài chính và thị trường tài chính Lý thuyết này cho rằng tài sản ngắn hạn như vốn lưu động và hàngtồn kho nên được tài trợ bởi các khoản nợ ngắn hạn Ví dụ, nếu một công ty mua cổ phiếu (tài sản)
mà thời gian còn lại khá ngắn trước khi hàng hóa của công ty được bán ra, các công ty nên sử dụngmột khoản vay ngắn hạn để tài trợ cho việc mua cổ phiếu Một ví dụ về một khoản vay ngắn hạn cóthể được sử dụng cho mục đích này là một cơ sở thấu chi
Lý thuyết kết nối nói lên rằng tài sản dài hạn nên được tài trợ bởi nguồn vốn chủ sở hữu và nợdài hạn Ví dụ, một công ty có thể mua một thiết bị nhà máy và sản xuất mới, và hy vọng rằng cáctài sản này sẽ tạo ra thu nhập cho 10 năm tới Để tài trợ cho việc mua mới này, các công ty nên pháthành cổ phiếu và /hoặc nợ dài hạn như trái phiếu
Thị tường tiền tệ và thị trường vốn giao dịch những công cụ tài chính ngắn hạn và dài hạn chophép người đi vay áp dụng lý thuyết này đến tài trợ Người đi vay có thể tìm được nguồn tài trợ phùhợp với dòng tiền mà tài sản đó tạo ra
Dù lý thuyết kết nối có thể được coi là một nguyên tắc cơ bản của thị trường tài chính nhưng nólại thường xuyên bị lờ đi Ví dụ, lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lượng tài chínhngắn hạn có sẵn trong thị trường tiền tệ có nhiều trên thị trường.Nhiều tổ chức tài chính đã tài trợcác công cụ dài hạn bằng nguồn tài chính ngắn hạn trong thị trường tiền tệ Khi nguồn tài trợ nàyđột nhiên không còn, các tổ chức phải đối mặt với vấn đề thanh khoản dẫn đến một vài tổ chức bịphá sản Lí do là họ đã quên nguyên tắc cơ bản trên
Trang 132 Hoạt động giao dịch trên thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Dù khái niệm về thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp khá đơn giản, nhưng chúng có vai trò rấtquan trọng trong việc bảo đảm tính hiệu quả của các thị trường tài chính
Hoạt động giao dịch trên thị trường sơ cấpdiễn ra khi các doanh nghiệp, chính phủ và cá nhân
phát hành các công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn Ví dụ, khi một công ty cónhu cầutăng tài trợ vốn cho dự án đầu tư bằng cách phát hành thêm cổ phiếu phổ thông để, công tytiến hành giao dịch trên thị trường sơ cấp tại các thị trường vốn Tương tự, chính phủ bán trái phiếudài hạn mới trên thị trường sơ cấp để tài trợ cho các công trình công, y tế, giáo dục Cá nhân vaytiền từ ngân hàng để mua nhà cũng được gọi là giao dịch trên thị trường sơ cấp Đặc điểm để phânbiệt một giao dịch trên thị trường sơ cấp là nó tạo ra một công cụ tài chính mới Dòng vốn trên thịtrường sơ cấp và mối quan hệ được minh họa trong hình 1.2
HÌNH 1.2: GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG SƠ CẤPMARYMARKET
TRANSACTIONS
Ngược lại,hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp liên quan đến giao dịch với các công cụ
tài chính hiện có Công cụ giao dịch trên thị trường thứ cấp là những công cụ được tạo ra trong cácgiao dịch thị trường sơ cấp Ví dụ như việc một nhà đầu tư mua cổ phần (vốn chủ sở hữu) của mộtcông ty Nếu người nắm giữ những cổ phiếu trên quyết định bán lại cổ phiếu cho các nhà đầu tưkhác, việc bán các cổ phiếu được coi là một hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp.Dòng vốntrên thị trường thứ cấp và mối quan hệ được minh họa trong hình 1.3
HÌNH 1.3: GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG THỨ CẤPFIGURE
cung cấp vốn Nhà cung cấp vốn
(Đơn vị thặng dư vốn)
Người sử dụng vốn (Đơn vị thiếu hụt vốn)
Sử dụng vốn để mua hàng hóa, tài sản hoặc dịch vụ
Phát hành công cụ tài chính "mới" (nợ hoặc vốn chủ
sở hữu) cho người cung cấp vốn.
Nhà đầu tư 2
Chủ sở hữu của các công cụ
tài chính phát hành trước đó
.
Nhà đầu tư n nhận giá trị thị trường
Trang 14Hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp không tác động trực tiếp làm tăng vốn hay giá trị chocông ty phát hành, công ty không nhận được thêm tiền từ các giao dịch trên thị trường thứ cấp Giaodịch trên thị trường thứ cấp hiểu một cách đơn giản là chuyển quyền sở hữu các công cụ tài chính từngười này qua người khác.
Tuy nhiên, sự tồn tại của một thị trường thứ cấp phát triển tốt có tác động quan trọng đến việctiếp cận thị trường của các công cụ tài chính trên thị trường sơ cấp hoặc chứng khoán
Hoạt động giao dịch trên thịtrường thứ cấp giải quyết hai trở ngại tiềm ẩn khi đầu tư vào thịtrường vốn dài hạn, đó là vấn đề về tính thanh khoản và ngại rủi ro Nếu không có một thị trường tàichính thứ cấp tích cực thì những nhà đầu tư phải giữ các công cụ tài chính phát hành mới dài hạncho đến ngày đáo hạn Nếu đứng trên phương diện vốn chủ sở hữu, nó sẽ gây ra những tác động xấuhơn nữa vì thông thường cổ phiếu không có ngày đáo hạn Thị trường thứ cấp có tính thanh khoảncao và hoạt động hiệu quả sẽ giúp giải quyết vấn đề trên thông qua việc cung cấp thị trường để mua
và bán các công cụ tài chính Sẽ có rất nhiều người mua và người bán tham gia vào thị trường thứcấp có tính thanh khoản cao và hoạt động hiệu quả
Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của thị trường sơ cấp Hoạt động giao dịch trênthị trường thứ cấp thúc đẩy tăng nguồn vốn mới cho công ty và chính phủ thông qua việc tăng vốnđiều lệ công ty và tăng đầu tư Thị trường thứ cấp tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình điềuchuyển vốn từ nhà đầu tư sang người sử dụng vốn, tuy nhiên nó khuyến khích cả tiết kiệm và đầu tư
vì nó nâng cao tính thị trường và tính thanh khoản cho các công cụ tài chính phát hành trên thịtrường sơ cấp, tạo thêm động lực và sự hấp dẫn cho người đầu tư
Một số thuật ngữ thị trường hữu ích trong chương này: Tài sản tài chính đã được định nghĩa nhưmột quyền lợi cho dòng tiền trong tương lai Công cụ tài chính là một thuật ngữ tổng quát hơn được
sử dụng để mô tả các công cụ mà giao dịch của nó không được thực hiện trong thị trường thứ cấp có
tổ chức Thị trường cũng mô tả một số các công cụ tài chính như chứng khoán Chứng khoán là mộtthuật ngữ dùng để mô tả một tài sản tài chính có thể được giao dịch trong một thị trường thứ cấp có
tổ chức như một thị trường chứng khoán hoặc thị trường ngoại tệ Ví dụ về công cụ tài chính là mộtkhoản tiền gửi ngân hàng, ví dụ về chứng khoán là một cổ phiếu phổ thông trong một công ty niêmyết công khai Cả hai đều là các tài sản tài chính
3 Tài chính trực tiếp và trung gian tài chính
Việc phát hành các công cụ tài chính mới trên thị trường sơ cấp từ người đầu tư sang người sửdụng vốn thông qua 2 con đường:
Nguồn vốn được cung cấp trực tiếp từ người đầu tư sang người cần vốn
Nguồn vốn sẽ được cung cấp thông qua định một chế tài chính trung gian như ngân hàng
i Tài chính trực tiếp:
Nguồn vốn được huy động trực tiếp trên thị trường sơ cấp khi có hợp đồng thỏa thuận giữa bêncung cấp và bên sử dụng vốn Nguồn vốn này không được cung cấp thông qua một trung gian tàichính Mối quan hệ giữa người cung cấp và người sử dụng vốn trực tiếp được thể hiện qua biểu đồ1.4
Trang 15HÌNH 1.4: DÒNG VỐN TRỰC TIẾP2PRIMARYMARKET
Nhà đầu tư thường mua chứng khoán thông qua môi giới chứng khoán, họ đại diên cho kháchhàng mua trực tiếp hoặc bán chứng khoán thông qua hệ thống điện tử cuả thị trường chứng khoán
Ví dụ của tài chính trực tiếp là phát hành cổ phiều, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ.Chúng ta sẽ thảo luận thêm về chứng khoán ở các chương sau
ii Lợi ích và bất lợi của tài chính trực tiếp.
Tài chính trực tiếp thường chỉ dành cho cáccông ty và cơ quan chính phủ đã xây dựng được hệ
thống xếp hạng tín dụng tốt Xếp hạng tín dụng là đánh giá mức độ tín nhiệm của một tổ chức phát
hành giấy tờ có giá Vì mối quan hệ hợp đồng trong tín dụng trực tiếp được thực hiện trực tiếp giữangười cung cấp và người sử dụng, do đó rủi ro mà người phát hành được mặc định là quan trọng.Những người đi vay nếu không được xếp hạng tín dụng tốt thì sẽ không vay được trực tiếp
Ưu điểm chính của tín dụng trực tiếp:
Loại bỏ các chi phí của một trung gian tài chính Nếu người đi vay có được một khoản vaythông qua một tổ chức tài chính, họ sẽ phải trả một mức lợi nhuận biên cho tổ chức trunggian Nếu một tập đoàn hoặc chính phủ được xếp hạng tín dụng (ví dụ như của Standard &Poor là BBB trở lên) thì có thể có khả năng huy động vốn trực tiếp từ thị trường trong nước
và quốc tế với tổng chi phí thấp hơn so với vay thông qua ngân hàng
Cho phép người vay đa dạng hóa nguồn vốn bằng cách tiếp cận nguồn và thị trường cả trongnước lẫn quốc tế Điều này làm giảm rủi ro so với chỉ tiếp cận một nguồn tài trợ hoặc thịtrường duy nhất
Linh hoạt hơn trong việc sử dụng các loại công cụ tài chính để đáp ứng nhu cầu tài chínhkhác nhau Có thể sử dụng các chiến lược tài trợ phức tạp hơn để huy động vốn Ví dụ, mộtcông ty có thể vay vốn đô la Mỹ (USD) trên thị trường quốc tế và sau đó trả nợ bằng USDthu từxuất nhập khẩu
cung cấp vốn
Người sử dụng vốn (Đơn vị thiếu hụt vốn)
Nhà cung cấp vốn
(Đơn vị thặng dư vốn)
Nhà môi giới hoặc đại lý
Công cụ tài chính
Trang 16Một tổ chức có thể nâng cao vị thế quốc tế của mình bằng cách thực hiện các giao dịch trênthị trường tài chính quốc tế Khi vị thế tăng lên trong thị trường tài chính sẽ giúp tănguy tíntrên thị trường cho hàng hoá và dịch vụ công ty.
Nhược điểm của tài chính trực tiếp:
Vấn đề về sự phù hợp giữa người cho vay và người đi vay Ví dụ, người cho vay có thể cómột số tiền nhất định có sẵn để đầu tư, nhưng số tiền này có thể không đủ cho nhu cầu củangười đi vay, người đi vay phải tìm kiếm và tham gia vào các thỏa thuận tài trợ với nhà cungcấp vốn bổ sung Hoặc là vấn đề không phù hợp trong cơ cấu kỳ hạn: người đi vay có thể cầnvay trong một thời gian dài hơn so với thời gianngười cho vay sẵn sàng cho vay
Thanh khoản và tính khả mại của một công cụ tài chính trực tiếp cần được quan tâm Làmthế nào để người nắm giữ công cụ phát hành tài chính trực tiếp có thể bán chúng dễ dàng bàongày hôm sau? Sự cần thiết có một thị trường thứ cấp hoạt động hiệu quả và có tính thanhkhoản cao? Không phải tất cả các công cụ tài chính có thể được bán trên một thị trường thứcấp hiệu quả
Chi phí tìm kiếm và giao dịch liên quan đến giao dịch trực tiếp có thể khá cao Bao gồm phí
tư vấn, chi phí chuẩn bị một bản cáo bạch, chi phí pháp lý, tư vấn thuế, tư vấn và chuyên gia
tư vấn cụ thể kế toán Các khoản phí của giao dịch tài chính trực tiếp có thể lên tới hàng triệu
đô la
Khó khăn để đánh giá mức độ rủi ro khi đầu tư vào một giao dịch trực tiếp, đặc biệt là rủi romặc định Chuẩn mực kế toán và báo cáo có thể khác nhau giữa các quốc gia, và thông tin vềmột tổ chức phát hành có thể bị giới hạn trong bản cáo bạch và xếp hạng tín dụng của tổchức phát hành
VI TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
Sự khác biệt quan trọng giữa tài chính trực tiếp và trung gian tài chính là mối quan hệ giữangười cung cấp vốn, trung gian và người sử dụng vốn Với tài chính trung gian, như minh họa tronghình 1.5, các trung gian có vai trò tích cực trong mối quan hệ giữa các bên Các trung gian đóng vaitrò cung cấp tài chính cho bên thâm hụt vốn, mua lại quyền sở hữu của các công cụ tài chính Lợiích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản Các lợi ích bao gồm việc nhận các khoản thanh toánlãi và trả nợ gốc Mặt khác, rủi ro chủ yếu cho các bên trung gian là rủi ro mặc định hoặc rủi ro tíndụng tức là rủi ro mà khách hàng vay có thể không trả nợ
BIỂU ĐỒ 1.5 DÒNG VỐN TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
Để có thể cung cấp các khoản vay cho khách hàng của mình, trung gian huy động nguồn tài trợ
từ người thặng dư vốn Những người thặng dư vốn nhận các công cụ tài chính được phát hành bởibên trung gian, chẳng hạn như chứng nhận tiền gửi dài hạn của một ngân hàng Một hợp đồng thỏa
(Đơn vị thiếu hụt vốn)
Trung gian Nhà cung cấp vốn
(Đơn vị thặng dư vốn)
Công cụ tài chính Công cụ tài chính
Trang 17thuận sẽ tồn tại giữa người thặng dư vốn và trung gian với kỳ hạn xác định Các trung gian tạo ramột thỏa thuận riêng biệt với người đi vay (người sử dụng vốn sau cùng) Người thặng dư vốnkhông có quyền yêu cầu bồi thường về thu nhập hay tài sản từ người đi vay cuối cùng Người tiếtkiệm chỉ có thể yêu cầu cho việc trả lãi và hoàn trả vốn gốc vào ngày đáo hạn từ ngân hàng Mặtkhác, theo một hợp đồng cho vay riêng biệt, các trung gian dựa trên người đi vay để trả nợ cáckhoản vay Thất bại trong việc thu hồi vốn từ người đi vay của ngân hàng không làm thay đổi mốiquan hệ hợp đồng giữa ngân hàng và người tiền gửi.
1 Lợi ích của trung gian tài chính
Thường thì sở thích danh mục đầu tư của người gửi tiền và người đi vay khác nhau Ví dụ, mộtngười cho vay sợ rủi ro có thể chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp hơn để đổi lấy việc duy trì vốntheo yêu cầu Mặt khác, người vay có thể sẵn sàng trả một mức lãi suấtcao để có thể có sẵn tiềntrong khoảng thời gian yêu cầu Nhiều khả năng là nhiều người tiết kiệm và người đi vay sẽ gặp khókhăn để đáp ứng nhu cầu đầu tư và tài trợ của họ nếu chỉ có tài chính trực tiếp
Một trung gian tài chính có thể giải quyết vấn đề này để đáp ứng yêu cầu của cả hai bên, đồngthời tạo ra lợi nhuận Trung gian có thể chuyển đổi các quỹ tiền gửi ngắn hạn sang vốn vay dài hạn.Một vai trò kinh tế quan trọng của một trung gian là giải quyết mâu thuẫn giữa các giá trị thặng dư
và giá trị thâm hụt, từ đó khuyến khích được cả tiết kiệm và đầu tư hiệu quả
Trong việc thực hiện vai trò đưa ra các công cụ tài chính khác nhau với các đặc tính tài chínhkhác nhau (rủi ro, lợi nhuận, khả năng thanh khoản, thời gian lưu chuyển tiền tệ), trung gian thựchiện một loạt các chức năng quan trọng đối với cả bên tiết kiệm và đi vay Đó là:
Chuyển đổi tài sản
Chuyển đổi thời hạn vay
Đa dạng hóa và chuyển đổi rủi ro tín dụng
Chuyển đổi thanh khoản
Giảm chi phí giao dịch do qui mô lớn
2 Chuyển đổi tài sản
Các trung gian tài chính tham gia vào việc chuyển đổi tài sản của họ bằng cách cung cấp cho
khách hàng các sản phẩm tài chính trên cả hai bên của bảng cân đối, bao gồm tiền gửi, đầu tư và cácsản phẩm cho vay
Nếu không có trung gian, đơn vị thặng dư tạo ra từ tiết kiệm sẽ rất nhỏ do đó sẽ không có bất kỳđộng cơ nào để tiết kiệm; còn người sử dụng vốn (ví dụ các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ) phải trảmột chi phí vay quá cao Các trung gian khá chuyên nghiệp trong việc tìm kiếm và thu thập cáckhoản tiết kiệm và có thể đạt được quy mô kinh tế trong hoạt động của mình Họ có thể kiếm đượcnhiều khoản tiền nhỏ từ nhiều người tiết kiệm, gộp chúng thành khoản lớn hơn và hình thành cáckhoản vay cho khách hàng cần vốn
Trung gian tài chính cung cấp các sản phẩm tiền gửi đáp ứng các sở thích và nhu cầu của cáckhách hàng khác nhau Gồm các tài khoản tiền gửi, tài khoản vãng lai, tiền gửi kỳ hạn và ủy thácquản lý tiền mặt Đồng thời, tổ chức trung gian tài chính cung cấp một loạt các sản phẩm cho vay,bao gồm cả các thấu chi, khoản vay ngắn hạn, cho vay thế chấp và thẻ tín dụng
Trang 183 Chuyển đổi thời hạn vay
Thông thường người dư vốn thích các tài sản tài chính của họ có thanh khoản lớn, trong khingười đi vay có xu hướng thích sử dụng vốn vay với thời dạn dài hơn Bằng cách quản lý tiền gửinhận được, trung gian tài chính có thể vừa cung cấp các khoản vay có tính chất dài hạn trong khi
vừa đáp ứng yêu cầu của người gửi tiền trong thời hạn ngắn Điều này được gọi là chuyển đổi kỳ
hạn vay
Các ngân hàng là một ví dụ điển hình về chức năng chuyển đổi kỳ hạn vay của các trung gian.Phần lớn ác khoản tiền gửi mà họ nhận được khá ngắn (thường ít hơn 5 năm), nhưng phần lớn cáckhoản cho vay phục vụ mục đích mua nhà thường có kỳ hạn hơn 30 năm Do đó, các ngân hàng vấpphải vấn đề chênh lệch trong thời hạn giữa bên cung cấp nguồn vốn và bên có nhu cầu vay vốn Trung gian tài chính có thể thực hiện chuyển đổi kỳ hạn mạnh mẽ vì hai lý do Đầu tiên, khôngphải tất cả người gửi tiết kiệm sẽ chọn rút tiền gửi của họ tại cùng một thời điểm Việc rút tiền gửitrong bất kỳ giai đoạn nào nói chung có thể được bù đắp một phần hoặc thậm chí nhiều hơn bằngkhoản tiền gửi mới Lí do quan trọng hơn là trung gian tài chính tham gia vào chuyển đổi kỳ hạn
phụ thuộcchính sách quản lýnợcủa họ
4 Đa dạng hóa và chuyển đổi rủi ro tín dụng
Chuyển đổi rủi ro tín dụng xảy ra thông qua các thỏa thuận hợp đồng của các trung gian Người
cung cấp vốn thỏa thuận với các tài chính trung gian, và do đó rủi ro tín dụng của người cung cấpvốn sẽ được giới hạn bởirủi ro mặc định của bên trung gian Các trung gian tài chính có một thỏathuận cho vay riêng biệt với bên vay và đối mặt với rủi ro tín dụng của bên đi vay
Trung gian tài chính có hai điểm vượt trội so với cá nhân người dư vốn trong quản lý đầu tư.Đầu tiên, trung gian chuyên cho vay và do đó họ có nhiều kinh nghiệp trong việc đánh giá rủi ro củakhách hàng tiềm năng Việc này xuất phát từ các kỹ năng kỹ thuật của các nhân viên trung gian tàichínhcũng như các hệ thống đánh giá và giám sát các ứng dụng cho vay, và cũng từ những thông tinthu được thông qua các giao dịch trước đây với khách hàng vay
5 Chuyển đổi thanh khoản
Người tiết kiệm thường thích các khoản đầu tư của họ có tính thanh khoản cao vì thời gian củathu nhập và chi tiêu của họ đôi khi không hoàn toàn trùng khớp Có khi thu nhập cao hơn so với chitiêu và tiết kiệm sẽ sẵn có để đầu tư Nhưng cũng có những lúc chi tiêu vượt quá thu nhập Để quản
lý vấn đề thời gian, người gửi tiết kiệm sẽ có xu hướng nắm giữ ít nhất một số tài sản tài chính của
họ trong một hình thức linh hoạt có thể dễ dàng được chuyển đổi sang tiền mặt
Chuyển đổi thanh khoản được đo bằng khả năng chuyển đổi tài sản tài chính thành tiền mặt gần
với giá trị thị trường hiện tại của công cụ tài chính Tuy nhiên, thanh khoản có một chiều hướngkhác: chi phí giao dịch liên quan đến thu thập và xử lý của các tài sản tài chính Chi phí giao dịchthường có thể là khá cao Tuy nhiên, một tài chính trung gian có thể có khả năng giảm phí giao dịchbằng cách cố định chi phí trên một số lượng lớn các giao dịch.Thời gian thực hiện một giao dịchcũng có thể là một thành phần quan trọng hình thành nên tổng chi phí giao dịch
Trang 19Các trung gian tài chính cung cấp các tài khoản có tính thanh khoản cao giúp các cá nhân có thể
dự trữ tài sản của họ Ngoài ra, chi phí giao dịch liên quan đến việc chuyển đổi dư nợ tín dụng thànhtiền mặt được giới hạn bởi các ngân hàng Trung gian như ngân hàng thương mại có thể cung cấpcác tài sản có tính thanh khoản cao cho người tiết kiệm, mà người sử dụng vốn cuối cùng có thểkhông làm được
Các ngân hàng tiếp tục mở rộng tính thanh khoản của hệ thống thông qua mạng lưới điện tử như:máy rút tiền tự động (ATM) và chuyển tiền điện tử tại điểm bán hàng (EFTPOS)
6 Quy mô kinh tế
Quy mô kinh tế của các trung gian tài chính tăng đáng kể về kích thước và khối lượng các giao
dịch kinh doanh, do đó cần có các nguồn lực để phát triển hệ thống phân phối chi phí hiệu quả Cácngân hàng duy trì mạng lưới chi nhánh rộng rãi với vai trò là đại lý phân phối của các ngân hàng.Đồng thời họ cũng cung cấp hệ thống phân phối dựa trên công nghệ như máy ATM, EFTPOS, ngânhàng qua điện thoại và Internet banking
Chi phí của hệ thống máy tính và truyền thông tinh vi cần thiết để hỗ trợ mạng lưới phân phốiđược lan truyền trên hàng triệu giao dịch xử lý
Trung gian cũng có được lợi thế về chi phí thông qua công tác quản lý thông tin hiệu quả và sựtích lũy tài chính, chuyên môn về kinh tế và pháp lý Ví dụ, một ngân hàng thường sử dụng các quyđịnh tiêu chuẩn cho các sản phẩm tiền gửi và cho vay Các ngân hàng biết rằng các tiêu chuẩn này
sẽ tuân thủ các yêu cầu quy phạm pháp luật Một lợi thế chi phí khác là giảm chi phí tìm kiếm cho
cả người gửi tiết kiệm và khách hàng vay; có nghĩa là người tiết kiệm không cần phải điều tra vềmức độ tín nhiệm của khách hàng vay cuối cùng; bên trung gian sẽ có những dữ liệu có sẵn trướckhi quyết định cho vay
Trong một thị trường cạnh tranh, các trung gian tài chính đạt được hiệu quả thông qua việc giảmlãi suất biên và phí
VII THỊ TRƯỜNG BÁN BUÔN VÀ BÁN LẺ
Hoạt động giao dịch tài chính trực tiếp giữa các nhà đầu tư và khách hàng vay vốn được mô tả
như là hoạt động giao dịch trênthị trường bán buôn Các cơ quan đầu tư bao gồm ngân hàng
thương mại, văn phòng bảo hiểm, quỹ hưu trí, ngân hàng đầu tư, nhà quản lý quỹ, công ty tàichính,sở xây dựng, quỹ tín dụng, các cơ quan chính phủ và các tập đoàn lớn Giao dịch thực hiện tạicác thị trường bán buôn thường nằm trong khoảng từ hàng chục ngàn đô la để hàng triệu đô la Ví
dụ, một nhà quản lý danh mục đầu tư có thể mua một quỹ quản lý bán buôn trị giá $50.000 cho mộtkhách hàng, trong khi một tổ chức tài chính có thể bán $10.000.000 các hối phiếu thương mại vàothị trường tiền tệ
Chi phí vốn bán buôn được xác định bởi nhiều yếu tố, chẳng hạn như mức độ thanh khoản (quỹthặng dư) trong hệ thống tài chính, lãi suất kỳ vọng trong tương lai và cơ cấu kỳ hạn của các cơ hộiđầu tư Ví dụ, một lượng lớn nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư qua đêm trong thị trường tiền tệ.Nhìn chung, các nhà đầu tư bán buôn có thể tích lũy số lượng lớn các quỹ thặng dư và đem đầu tưnhằm đạt được lợi nhuận cao hơn so với đầu tư trên thị trường bán lẻ Đồng thời, người vay trên thịtrường bán buôn có vị thế trên thị trường được quyền truy cập vào các quỹ
Trang 20Thị trường bán lẻbao gồm các giao dịch chủ yếu giữa các cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các giao dịch được thực hiện chủ yếu thông qua trung gian tài chính Người tham gia thị trường làngười chấp nhận giá; tài chính trung gian có thể chọn cả mức lãi suất huy động và cho vay Ngườitham gia thị trường bán lẻ vẫn có thể tham gia vào thị trường bán buôn Họ có thể truy cập trực tiếpvào các thị trường bán buôn thông qua các sản phẩm đầu tư được quản lý như tài khoản quản lý tiềnmặt và các quỹ tín thác
VIII THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Thị trường tài chính có thể được phân loại dựa trên các đặc tính của các công cụ tài chính đượcgiao dịch trên thị trường Trong thị trường nợ và vốn chủ sở hữu, thị trường bao gồm thị trường tiền
tệ và thị trường vốn Thị trường tiền tệ và các thị trường vốn bao gồm một số mảng nhỏ khác Cácthị trường khác như thị trường ngoại hối và thị trường phái sinh, cũng là một phần của hệ thống tàichính
Các hoạt động giao dịch của thị trường tiền tệ liên quan đến bán buôn các chứng khoán ngắn hạnđáo hạn dưới 1 năm Như vậy các chứng khoán trung và dài hạn thuộc các giao dịch của thị trườngvốn Mỗi thị trường đều bao gồm thị trường sơ cấp và thứ cấp trong nước và thị trường quốc tế.Hình 1.6 mô tả cấu trúc của thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Hình 1.6: Cấu trúc của thị trường vốn và thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ giúp chuyển giao giữa các tổ chức đầu tư thặng dư vốn và thiếu hụt vốn ngắn
hạn Thị trường tiền tệ hấp dẫn đối với các nhà đầu tài chính ngắn hạn vì tính thanh khoản cao,chứng khoán được phát hành trên thị trường thứ cấp được tiêu chuẩn hóa và được phát triển kỹ
Thị trường tài chính
Thị trường vốn Thị trường tiền tệ
Thị trường vốn thứ cấp (trao đổi các chứng khoán hiện hữu)
Thị trường vốn sơ cấp (những chứng khoán
và công cụ nợ dài hạn được phát hành)
Thị trường tiền tệ
sơ cấp (đáo hạn
dưới 1 năm)
Thị trường tiền tệ thứ cấp (thời gian còn lại dưới 1 năm)
địa ngắn hạn
Trang 21càng Tại thời điểm này, thị trường tiền tệ trên thế giới vẫn gặp phải vấn đề về thanh khoản khởi đầu
từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Thị trường tiền tệ cho phép các tổ chức đầu tư như ngân hàng thương mại, văn phòng bảo hiểm,quỹ hưu trí, ngân hàng đầu tư, nhà quản lý quỹ, công ty tài chính, sở xây dựng, quỹ tín dụng, các cơquan chính phủ và các tập đoàn lớnquản lý nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn Ví dụ, một cửa hàng bán
lẻ lớn tích lũy vốn thặng dư từ doanh thu Để có lợi nhuận, các cửa hàng cần phải đầu tư vốn thặng
dư Tuy nhiên, các công ty có thể cần phải sử dụng vốn trong một vài ngày để mua thêm chứngkhoán Cửa hàng biết rằng có thể bán các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ hôm nay và
dễ dàng bán lại trong một vài ngày tới khi công ty cần tiền mặt
Từ quan điểm của người cần vốn, một trong những chức năng chính của thị trường tiền tệ là cóthể kết nối được những điểm bất hợp lý giữa dòng tiền chi tiêu và dòng tiền thu nhập Một công tylớn có thể cần huy động vốn ngắn hạn, họ có thể vay tiền từ ngân hàng nhưng cũng có thể vay vớimột lãi suất thấp bằng cách phát hành chứng khoán ngắn hạn vào thị trường tiền tệ Các chứngkhoán này có thể được hoàn trả như các khoản thu nhập mà công ty tạo ra từ các sản phẩm hoặcdịch vụ của mình
Thị trường tiền tệ không có địa điểm kinh doanh cụ thể Các giao dịch thị trường tiền tệ đượcthực hiện từ văn phòng của những người tham gia có sử dụng máy tính kết nối mạng Thị trườngtiền tệhoạt động trên thị trường sơ cấp khi chứng khoán mới được phát hành và trên thị trường thứcấp khicác chứng khoán cũ được mua và bán
Bảng 1.7 Công cụ và thành phần tham gia thị trường tiền tệ:
Ngân hàng trung ương
Ngân hàng thương mại
Quỹ hưu trí
Ngân hàng đầu tư và các ngân hàng thương mại
Công ty tài chính
Bảo hiểm
Quỹ quản lý (bao gồm cả đơn vị ủy thác)
Ngân hàng phát triển nhà và quỹ tín dụng
Ủy thác quản lý tiền mặt
Quỹ tài khoản thanh toán ngoại tệTín phiếu kho bạc
Trái phiếu chính phủ (dưới 12 tháng đếnngày đáo hạn)
Thương phiềuLệnh phiếuTiền gửiChứng chỉ tiền gửi khả nhượngCác khoản vay liên ngân hàngCác cam kết mua lại
Trang 22Tổng công ty
Theo bảng trên, thị trường tiền tệ, bao gồm:
Ngân hàng trung ương: hệ thống thanh khoản và chính sách tiền tệ
Thị trường liên ngân hàng
Thị trường hối phiếu
Thị trường thương phiếu
Chứng chỉ tiền gửi
1 Ngân hàng trung ương: hệ thống thanh khoản và chính sách tiền tệ
Ngân hàng trung ương sử dụng thị trường tiền tệ để thực hiện các giao dịch nhằm duy trì hoặcthay đổi lượng thanh khoản có sẵn trong hệ thống tài chính Lượng thanh khoản hàng ngày của hệthống tài chính bị ảnh hưởng chủ yếu bởi thặng dư hoặc thâm hụt ngân sách nhà nước, các giao dịchhối đoái và doanh thu thuần của chứng khoán chính phủ Số lượng thanh khoản trong hệ thống tàichính trực tiếp tác động đến lãi suất trên thị trường Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền
tệ của mình nhắm đến các mục tiêu về tiền mặt, từ đó ngân hàng trung ương thực hiện giao dịch saocho tỷ lệ tiền mặt vẫn ở mức mục tiêu
Ví dụ ở Úc, ngân hàng trung ương là Ngân hàng Dự trữ Úc Ngân hàng này thương xuyênthực hiện các thỏa thuận hàng trên thị trường tiền tệ nhằm mục đích quản lý nguồn cung của cácnguồn vốn có tính lỏng cao có sẵn trong hệ thống tiền tệ Ngoài ra, Ngân hàng Dự trữ Úc chịu tráchnhiệm thực thi các chính sách tiền tệ với mục tiêu duy trì môi trường kinh tế có mức lạm phát trongkhoản từ 2 đến 3%
2 Thị trường liên ngân hàng:
Thị trường liên ngân hàng tạo điều kiện cho việc quản lý nhu cầu thanh khoản ngắn hạn của
các ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thực hiện giao dịch đại diện cho khách hàng của họ và cho chính họ Việc thanhtoán các giao dịch giữa các ngân hàng diễn ra thông qua hệ thống thanh toán Để thực hiện giaodịch, mỗi thành viên của hệ thống thanh toán cần duy trì một tài khoản thanh toán với ngân hàngtrung ương
Vai trò quan trọng của thị trường liên ngân hàng là cho vay để chuyển giao vốn dư thừa Chínhvai trò này càng làm tăng tầm quan trọng của thị trường liên ngân hàng
3 Thị trường hối phiếu
Hối phiếu là chứng khoán giảm giá ngắn hạn Một hối phiếu được phát hành ngày hôm nay với
mệnh giá sẽ được hoàn trả vào ngày đáo hạn Hối phiếu không phải trả lãi, nhưng được bán cho cácnhà đầu tư với giá thấp hơn mệnh giá Vì vậy, những người nắm giữ hối phiếu được hoàn vốn đầu tư
từ sự chênh lệch giữa mức giá mà họ phải trả và mức giá mà họ bán nó, hoặc mệnh giá nếu được giữđến ngày đáo hạn Ví dụ, người có nhu cầu vay vốn phát hành 1 hối phiếu có mệnh giá $1.000.000,thời hạn 90 ngày và bán ra với mức giá là $980.000 thì lợi nhuận của ccacs nhà đầu tư sẽ là $2.000nếu họ giữ hối phiếu đến ngày đáo hạn Còn người phát hành huy động được $980.000 trong 90ngày với chi phí là $2.000
Trang 23Thị trường hối phiếu chiếm phần lớn nhất của thị trường tiền tệ, bao gồm giao dịch hối phiếu
ngân hàng và phi ngân hàng Hối phiếu thương mại phát triển trong một thị trường thứ cấp năngđộng Điều này cho phép người tham gia thị trường quản lý kỳ hạn theo nhu cầu Ví dụ, một nhà đầu
tư có thể mua một hóa đơn 90 ngày nhưng bán nó sau bảy ngày Tương tự có thể được bán nhiều lầntrong thời hạn 90 ngày của hối phiếu đó
4 Thị trường thương phiếu.
Một phân khúc quan trọng khác của thị trường tiền tệ là phát hành và kinh doanh các lệnh phiếu
Quy ước thị trường xem các lệnh phiếu là thương phiếu
Một lệnh phiếu là một chứng khoán giảm giá (tương tự như một hóa đơn thương mại) Nó đượcphát hành với mệnh giá được trả vào ngày đáo hạn Vì lệnh phiếu không trả lãi, nó được bán với giáhiện tại thấp hơn mệnh giá
Thị trường này có xu hướng dao động với ảnh hưởng tổng thể của nền kinh tế Vì các lệnh phiếuthường được phát hành trên cơ sở không có bảo đảm, chỉ dựa trên xếp hạng tín dụng tốt đã có thểphát hành ra thị trường Tuy nhiên, một phân khúc của thị trường này bao gồm vấn đề bảo đảm cácthương phiếu được hỗ trợ bởi chứng khoán có tài sản đảm Như đã đề cập ở trên, phân khúc này củathị trường thương phiếu hầu như không còn hoạt động như một kết quả của cuộc khủng hoảng tíndụng liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn Điều này xảy ra bởi vì một phần của tài sảnđảm bảo chứng khoán hóa ra là chứng khoán dưới chuẩn với rủi ro được mặc định là cao Thươngphiếu sẽ được thảo luận trong Chương 9
5 Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
Chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng, thường được gọi là CDs, là các chứng khoángiảm
giá ngắn hạn được phát hành bởi các ngân hàng
Phân khúc CDs của thị trường tiền tệ là một nguồn tài trợ thanh khoản cho các ngân hàng Đây
là kết quả của việc tăng kinh phí quản lý, thị trường CDs ngày càng trở thành một nguồn quan trọngcủa nguồn vốn thanh khoản, giúp cho các ngân hàng linh hoạt trong việc quản lý các khoản mụcngắn hạn trong bảng cân đối của họ
IX THỊ TRƯỜNG VỐN.
Thị trường vốn là kênh huy động các nguồn vốn đầu tư vốn dài hạn cho các dự án của công ty,
cá nhân, chính phủ Vì thế các công cụ tài chính của thị trường vốn là các công cụ có kỳ hạn dài hơnmột năm Các công cụ của thị trường vốn bao gồm cả các công cụ nợ và vốn chủ sở hữu trong cả thịtrường nội địa và quốc tế
Thị trường vốn rất rộng lớn và cung cấp một loạt các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của cả ngườicho vay và người đi vay Ví dụ: những khoản vay có thể được vay trực tiếp hoặc thông qua các địnhchế tài chính trung gian trong thời gian khác nhau Các khoản vay có thể có hoặc không có tài sảnđảm bảo, lãi suất có thể cố định hoặc không, có thể khác nhau giữa phương thức trả nợ và phươngthức hoàn vốn
Sự phát triển của thị trường vốn nội địa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế vì chúng cung cấp nguồn vốn dài hạn cho đầu tư sản xuất Ngoài ra, thị trường vốn quốc tế mang
Trang 24đến những cơ hội đầu tư và vay mượn trên nhiều quốc gia, nhiều thị trường và nhiều đồng tiền khácnhau Xem xét thị trường vốn thông qua các thị trường sau:
Thị trường chứng khoán
Thị trường tín dụng công ty
Thị trường nợ chính phủ
Thị trường ngoại hối
Thị trường phái sinh
1 Thị trường chứng khoán
Đặc điểm chính của thị trường chứng khoán là cung cấp vốn cổ phần nắm giữa quyền sở hữu
công ty.Thông thường, hình thức phát hành chứng khoán chủ yếu là phát hành cổ phiếu phổ thông,hay được gọi là cổ phiếu thông thường Các cổ đông có quyền hưởng lợi từ lợi nhuận của doanhnghiệp bằng cách nhận cổ tức hoặc lãi trên vốn (lỗ) trong giá trị của các cổ phần
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu cung cấp một nguồn vốn dài hạn mà không phảihoàn trả Vốn chủ sở hữu được sử dụng để:
Bổ sung cơ sở hạ tầng như nhà xưởng, trang thiết bị
Cung cấp nguồn để xử lý các khoản nợ
Đảm bảo khả năng tài chính để giải quyết trong những trường hợp bất thường
Tăng tính thanh khoản cho công ty
Bài này tập trung chủ yếu vào vốn được phát hành bởi các công ty niêm yết trên thị trườngchứng khoán Có rất nhiều điều để tìm hiểu về thị trường chứng khoán Tham gia vào thị trườngchứng khoán rất dễ gây “nghiện”, đặc biệt nếu bạn trở thành một nhà đầu tư
2 Thị trường tín dụng công ty
Nợ dài hạn là một nguồn tài trợ quan trọng cho sự phát triển của một tổ chức kinh doanh Vốn
nợ thị trường đại diện cho một cam kết tài chính thông thường là một khoản lãi được dự tính trước
và sẽ chi trả trong suốt kỳ hạn của khoản nợ được thỏa thuận cùng khoản chi trả vốn gốc Vốn gốc
có thể được phân bổ trả góp định kỳ trong thời hạn khoản vay hoặc trả một lần vào ngày đáo hạn
Các công cụ nợ trung đến dài hạn được phát hành trên thị trường tín dụng công ty bao gồm :
Cho vay ngắn hạn: được cung cấp bởi ngân hàng thương mại, ngân hàng bán buôn và ngânhàng đầu tư
Bất động sản tài chính thương mại: Cho vay có bảo đảm bằng đăng ký thế chấp bất động sảnkinh doanh được tài trợ
Trái khoán công ty: là trái phiếu công tyn được đưa ra dưới hình thức một khoản phí đối vớitài sản của người đi vay
Tín phiếu không bảo đảm: Một trái phiếu doanh nghiệp không có đảm bảo đi kèm
Nợ thứ cấp: những yêu cầu của chủ nợ bị phụ thuộc vào những người cho vay khác
Thỏa thuận cho thuê: Định kỳ thanh toán tiền thuê nhằm hoàn trả cho việc vay mược tài sản.Chứng khoán hóa : là bán những tài sản hiện có, ví dụ những khoản vay thế chấp, để tạo ravốn mới
Thị trường vốn quốc tế cũng đang là một nguồn tài trợ quan trọng cho các công ty có xếp hạngtín dụng tốt do việc bãi bỏ quy định của hệ thống tài chính Trong khi các sản phẩm được cung cấp
Trang 25trên các thị trường tài chính quốc tế về cơ bản giống như trên Sự khác biệt chính là loại tiền tệ màchúng được phát hành.
3 Thị trường nợ chính phủ
Chính phủ cũng cần dự thảo ngân sách về dòng tiền và chi phí vốn Ngân sách chính phủ có thểthặng dư, thâm thụt hoặc cân bằng Nếu ngân sách thâm hụt, chính phủ sẽ cần vay vốn để trang trảicho phần thâm hụt dự báo Nếu ngân sách thặng dư, số tiền thặng dư có thể được sử dụng để trả nợ.Quỹ ngân sách chính phủ thâm hụt có thể được vay dài hạn ở thị trường trong nước và cả ở thịtrường vốn quốc tế Nếu chính phủ có nhu cầu tài trợ thanh khoản ngắn hạn do sự không phù hợpgiữa dòng tiền vào từ thuế và dòng tiền ra như thanh toán lương hưu, điều này có thể được khắcphục bằng cách phát hành các chứng khoán ngắn hạn
Ví dụ, nếu chính phủ Úc có nhu cầu tài trợ ngắn hạn sẽ phát hành Tín phiếu kho bạc.Hoặc pháthành trái phiếu Chính phủ để huy động vốn dài hạn Ngân hàng Dự trữ Úc đóng vai trò như ngânhàng của Chính phủ và tham gia phát hành chứng khoán Chính phủ để đáp ứng nhu cầu tài trợ choChính phủ
Tín phiếu kho bạc là những chứng khoán chiết khấu được phát hành trong thị trường tiền tệ với
kỳ hạn đến 6 tháng,
Trái phiếu kho bạc được phát hành ở Úc với những kỳ hạn khác nhau, lên đến 10 năm Chúngchủ yếu được phát hành với lãi suất cố định cho các khoản thanh toán lãi suất nửa năm được thựchiện theo kỳ hạn của trái phiếu và gốc được trả vào ngày đáo hạn Các trái phiếu có thể được pháthành với giá chiết khấu hoặc phụ trội so với mệnh giá phụ thuộc vào tỉ suất sinh lợi của lãi suấtcuống phiếu cố định so với giá dự thầu phát hành
Mức độ vay mượn của chính phủ có tác động đến khu vực tư nhân Nếu chính phủ tăng vaymượn trên thị trường, nó sẽ lấn át hoặc làm giảm số vốn quỹ sẵn có cho các khách hàng vay làdoanh nghiệp
4 Thị trường ngoại hối
Từ khi việc thả nổi tỷ giá được thực hiện trên phần lớn các quốc gia và bãi bỏ quy định của hệ
thống tài chính của những nền kinh tế lớn trên thế giới, thị trường ngoại hối là một thành phần
quan trọng của thị trường vốn
Doanh nghiệp, tổ chức tài chính và Chính phủ đều tiếp cận những nguồn vốn trên thị trường tàichính quốc tế, nơi cung cấp hàng loạt các công cụ tài chính và các nguồn tài trợ đa dạng mà có thểkhông có sẵn trong thị trường vốn nội địa.Những công cụ tài chính được phát hành trên thị trườngvốn quốc tế thường bằng một đồng ngoại tệ Do đó thanh toán lãi và chi trả gốc liên quan đến camkết nợ quốc tế đòi hỏi người đi vay cần mua đồng ngoại tệ cần thiết để thực hiện các khoản thanhtoán định kỳ
Thị trường ngoại hối tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua và bán những đồng ngoại tệ cần thiết
để tiến hành những giao dịch trên thị trường vốn quốc tế Tỷ giá hối đoái là giá của một tiền tệ sovới tiền tệ khác Rủi ro tỷ giá là rủi ro tỷ giá hối đoái của những đồng tiền sẽ thay đổi Các yếu tố có
Trang 26thể tác động đến tỷ giá hối đoái như lạm phát tương đối, lãi suất tương đối, tăng trưởng thu nhậpquốc gia, sự can thiệp của chính phủ và tỷ giá hối đoái kỳ vọng
5 Thị trường phái sinh
Thị trường phái sinh cung cấp các sản phẩm để quản lý các rủi ro liên quan đến các giao dịch thịtrường vốn cho khách hàng đi vay vốn Những rủi ro chính được quản lý bao gồm rủi ro lãi suất, rủi
ro hối đoái và rủi ro về giá Ví dụ, một người đi vay với khoản vay có sẵn sẽ quan tâm đến nhiềuloại lãi suất và lãi suất có thể tăng trong tương lai Người vay có thể sử dụng một sản phẩm pháisinh để quản lý rủi ro đó
Sản phẩm phái sinh để quản lý những rủi ro bao gồm hợp đồng tương lai, hợp đồng lãi suất kỳhạn, hợp đồng ngoại hối kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi lãi suất và hoán đổi tiền tệ
Thị trường phái sinh, thông qua việc cung cấp một loạt các sản phẩm quản lý rủi ro, sẽ hỗ trợ vàkhuyến khích các giao dịch thị trường vốn Quản lý rủi ro thông qua việc sử dụng các hợp đồng pháisinh là một lĩnh vực phức tạp của tài chính
Những điểm cần lưu ý:
Lý thuyết kết nối cho rằng tài sản ngắn hạn nên được tài trợ bởi các khoản nợ ngắn hạn và tàisản dài hạn được tài trợ bởii nợ dài hạn và vốn cổ đông
Thị trường sơ cấp là những thị trường mà các công cụ tài chính mới được ban hành
Thị trường thứ cấp là những thị trường mà chứng khoán được mua và bán
Tài chính trực tiếp xảy ra khi bên thặng dư vốn cung cấp vốn trực tiếp cho bên vay vốn Lợiích có thể bao gồm chi phí thấp, tiếp cận với các nguồn vốn đa dạng và linh hoạt Nhượcđiểm có thể gặp là vấn đề tài chính phù hợp, tính thanh khoản và thị trường của các công cụphát hành, chi phí tìm kiếm giao dịch và đánh giá rủi ro
Tài chính trung gian xảy ra khi các nhà cung cấp vốn kí hợp đồng với trung gian tài chính,như một ngân hàng thương mại, và các hợp đồng trung gian tài chính riêng rẽ với người sửdụng vốn Lợi ích bao gồm chuyển đổi tài sản, chuyển đổi kỳ hạn thanh toán, đa dạng hóa vàchuyển đổi rủi ro tín dụng, chuyển đổi thanh khoản và quy mô kinh tế
Hoạt động giao dịch thị trường bán buôn là giao dịch trực tiếp với khối lượng lớn được thựchiện bởi các nhà đầu tư tổ chức Giao dịch thị trường bán lẻ thường lớn về số lượng nhưngkhối lượng nhỏ hơn, thường được thực hiện bởi một tổ chức tài chính của các cá nhân vàdoanh nghiệp nhỏ và vừa
Thị trường tiền tệ là thị trường tài chính bán buôn trực tiếp phát hành chứng khoán chiếtkhấunhư hối phiếu, kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng
Thị trường vốn cung cấp tài chính dài hạn, bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ doanh nghiệp và nợchính phủ Các thị trường vốn được hỗ trợ bởi thị trường ngoại hối và thị trường phái sinh
X DÒNG TIỀN, MỐI QUAN HỆ VÀ SỰ ỔN ĐỊNH
Một chức năng chính của hệ thống tài chính là tạo điều kiện cho dòng vốn giữa các nhà cung cấpvốn và người sử dụng vốn gặp nhau
Các dòng vốn cho đơn vị thâm hụt được tạo ra từ các công cụ tài chính chuyển đổi tiền ở các thịtrường sơ cấp Dòng vốn này có thể trực tiếp chuyển từ người cho vay sang người sử dụng Ngoài ra
Trang 27có thể gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính Nếu gián tiếp, các tổ chức tài chính tập trung cáckhoản tiết kiệm của đơn vị thặng dư và cung cấp các khoản vay cho các đơn vị thiếu hụt.
Một vài công cụ tài chính như chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp sẽ được giaodịch tiếp trên thị trường thứ cấp Hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp không cung cấp thêmvốn cho tổ chức phát hành mà nó giúpdịch chuyển dòng vốn và thay đổi quyền sở hữu giữa hai bênliên quan Một chức năng của thị trường thứ cấp là tạo tính thị trường và tính thanh khoản cho thịtrường chứng khoán sơ cấp Đặc biệt, điều này cho phép những người nắm giữ chứng khoán cơ cấulại danh mục đầu tư bằng cách mua và bán theo giá thị trường hiện tại
Đặc biệt, tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp làm cho việc phát hành chứng khoán mới trênthị trường sơ cấp dễ dàng hơn và làm giảm lợi tức mà người thặng dư vốn đòi hỏi nếu các chứngkhoán ít thanh khoản hơn
Mối quan hệ của dòng vốn trong hệ thống tài chính đề cập đến hai vấn đề: người tiết kiệm cuốicùng hay đơn vị thặng dư, và người đi vay cuối cùng hay đơn vị thâm hụt Bây giờ, chúng ta xem
xét về dòng vốn của ngành trong điều kiện mô hình tiết kiệm và vay mượn của các lĩnh vực then
chốt trong nền kinh tế
Kinh tế trong nước có thể được chia thành bốn phần:
Tập đoàn kinh doanh
Vay ròng và cho vay ròng của những lĩnh vực chính trong nền kinh tế thì khác nhau giữa cácquốc gia Các luồng vốn giữa các ngành cũng thay đổi từ năm này sang năm khác, tùy thuộc vào cácnhân tố như hoạt động ngân sách của chính phủ, mức độ hoạt động kinh tế và tình trạng của chu kỳkinh doanh
Tổng quát, bình quân khu vực doanh nghiệp sẽ là một khu vực thâm hụt Hầu hết các doanhnghiệp kinh doanh cần phải vay mượn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của họ
Khu vực các công ty tài chính cũng có xu hướng là một khu vực thâm hụt; các tổ chức tài chínhtài trợ cho sự tăng trưởng trong bảng cân đối của họ bằng cách vay mượn trên thị trường vốn Khu vực chính phủ có thể dao động giữa là khu vực thâm hụt hoặc dư thừa, tùy thuộc vào mụctiêu chính sách ngân sách Ví dụ, Chính phủ chi một lượng lớn vốn cho chương trình việc làm có thểcần để tài trợ cho chương trình này bằng cách vay mượn trên thị trường
Các hộ gia đình thường là điển hình cho khu vực thặng dư, nghĩa là một người tiết kiệm vốnròng Đặc biệt, các khoản tiết kiệm tích lũy của một nước có dân số già đảm bảo rằng khu vực nàyduy trì thặng dư
Phần còn lại của thế giới có thể được so sánh với một mục cân đối Một quốc gia có môi trườngchính trị ổn định, có một nền kinh tế mạnh mẽ và có tiềm năng tăng trưởng tốt mong đợi có thể thu
Trang 28hút tiền tiết kiệm từ các nhà đầu tư nước ngoài Bãi bỏ quy định của các thị trường vốn toàn cầu đãcho phép phần còn lại của thế giới trở nên nhạy cảm hơn với những thay đổi đột ngột của các nguồnvốn, các nhà đầu tư có thể di chuuản tiền từ thị trường này sang thị trường khác khác nhanh chóng
và dễ dàng Trong khi mỗi khu vực đã được xác định hoặc là thặng dư hoặc là thâm hụt, tuy nhiênkhông phải tất cả thành phần tham gia trong khu vực đó sẽ hành xử theo cùng một cách Ví dụ, mặc
dù các hộ gia đình có thể là một khu vực thặng dư, không phải tất cả cá nhân đều có dư vốn
Nghiên cứu về dòng vốn ngành giúp chúng ta có được một số cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng củachính sách chính phủ tới tiết kiệm và quyết định đầu tư, đặc biệt là chính sách tài chính và chínhsách tiền tệ Ngoài ra, quyết địnhvề các vấn đề như quỹ hưu trí bắt buộc có tác động rõ ràng về mức
độ tiết kiệm do đó các quyết định đầu tư cũng sẽ dịch chuyển Cuộc khủng hoảng tín dụng dướichuẩn gần đây đã có tác động to lớn đến các dòng vốn trong hệ thống tài chính toàn cầu Phản ứngchính sách của chính phủ có khác nhau, nhưng bao gồm việc cung cấp bảo lãnh tiền gửi và cho vay,bơm một lượng lớn thanh khoản vào hệ thống tài chính và cung cấp vốn bổ sung cho một số tổ chứctài chính đang gặp khó khăn.Trong một số trường hợp đáng chú ý, đặc biệt là Hy Lạp, Tây Ban Nha,
Bồ Đào Nha, Ireland và Italy, kết hợp với hoàn cảnh cụ thể trong từng trường hợp, khủng hoảngkinh tế toàn cầu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tài chính khu vực chính phủ của các quốcgia Việc quản lý những "cuộc khủng hoảng nợ có chủ quyền" yêu cầu hành động phối hợp của Liênminh châu Âu (EU) thông qua Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) Các gói hỗ trợ cung cấp cho một số quốc gia dân tộc, đặc biệt là Hy Lạp và Tây Ban Nha, đãgiúp hỗ trợ cho lĩnh vực tài chính của họ Tầm quan trọng của tính bất định vẫn còn che phủ thịtrường tài chính toàn cầu Nhiệm vụ đối đầu với các chính phủ, các ngân hàng trung ương và cácnhà quản lý khác, những người muốn duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính là rất thử thách.Đối với những người muốn mở rộng sự hiểu biết về hệ thống tài chính hơn nữa, có ba phần học
mở rộng ở cuối chương này Học mở rộng A xem xét toàn cầu hóa của thị trường tài chính, học mởrộng B nghiên cứu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào hệ thống tài chính và học
mở rộng C xem xét khủng hoảng kinh tế toàn cầu
XI TIN TỨC TÀI CHÍNH
Trang 29Biểu hiện kinh tế của Úc và sự ổn định của hệ thống tài chính trong suốt và sau khủng hoảngkinh tế thế giới chứng tỏ tầm quan trọng của những sự điều chỉnh cần thiết Tại sao các ngân hàng
Úc có thể chịu được các khủng hoảng kinh tế thế giới mà không bị thiệt hại tàn phá “hàng loạt” nhưnhiều ngân hàng ở nước ngoài? Tại sao các vụ bê bối và sự sụp đổ của công ty không đạt được mức
độ tai tiếng như chương trình Ponzi của Bernard Madoff ở Mỹ? Có thể may mắn đóng một vai trònhấ định nhưng sức mạnh của những sự điều chỉnh tài chính ở Úc cũng là một nhân tố quan trọng.Dưới đây là một đoạn trích từ bài phát biểu của Chủ tịch ASIC, Tony D'Aloisio
Có nhiều lý do tại sao khủng hoảng kinh tế thế giới ít tác động đến thị trường chứng khoán và đầu tư tại Úc, nhưng nổi bật trong số đó là cấu trúc và vai trò giám sát quản lý tài chính diễn ra tại những thị trường này bởi ASIC
Thứ nhất, cấu trúc quy định: kể từ khi khủng hoảng kinh tế thế giới, không cần thiết để Úc thực hiện các thay đổi pháp lý nhưng lại cần thiết ở các nước khác Điều này là do hệ thống quản lý mạnh mẽ
Ngoài ra nó nằm trong thực tế là Úc đã trải qua một loạt các cuộc khủng hoảng nhỏ kể từ khi thả nổi tiền tệ vào năm 1983 (cũng như Canada, vì những lý do tương tự đã có một hệ thống tài chính và giám sát mạnh vẫn gặpkhủng hoảng kinh tế thế giới) Những khó khăn của các ngân hàng nhà nước, sự sụp đổ bảo hiểm của HIH và sự sụp đổ của thế chấp bất động sản (EM) và những thay đổi đó tăng cường cấu trúc quy định của Úc (ví dụ như mô hình các đỉnh tháp đôi)
Những thay đổi cung cấp biện pháp bảo vệ có tầm quan trọng trong việc giảm thiểu sự ảnh hưởng mà chúng ta chứng kiến ở những nơi khác trong suốt khủng hoảng kinh tế thế giới Hãy để tôi giải thích:
Từ năm 2002, chúng tôi đã giới thiệu một chế độ cấp giấy phép và hệ thống pháp lý mạnh
mẽ cho kinh doanh tài chính, tư vấn và các giao dịch liên quan đến sản phẩm tài chính theoĐạo Luật Dịch vụ tài chính năm 2001 Hệ thống này cải cách hỗ trợ trong việc duy trì tínhtoàn vẹn của thị trường
Báo cáo công bố sản phẩm (PDS) công bố thông tin đã giúp làm nổi bật những nhược điểmcủa sản phẩm dịch vụ rủi ro cho nhà đầu tư bán lẻ Các cánh tay tiếp thị của ngân hàng đầu tưtoàn cầu sẽ không bỏ lỡ cơ hội để mang những sản phẩm này vào Úc Một phần lý do ít hấpdẫn để tiếp thị các sản phẩm này cũng có thể là do quy luật công bố thông tin của chúng tôi(ví dụ như PDS)
Các khung pháp lý xung quanh các chương trình đầu tư được quản lý khuyến khích cácchương trình kiểu Ponzi, Madoff, và gây khó khăn cho họ để không bị phát hiện, như tất cảcác chương trình cung cấp cho các nhà đầu tư bán lẻ phải được đăng ký và phải chịu tráchnhiệm với nghĩa vụ tuân thủ và quản lý rủi ro bổ sung
Các giám sát quản lý cho kiểm toán, tư vấn tài chính và các trung gian khác được cung cấp
sự bảo vệ quan trọng
Là một phần của những cải cách này, quyền giám sát của ASIC được củng cố trong giai đoạntrước khủng hoảng kinh tế thế giới Dưới sự chủ trì của Jeff Lucy ASIC thực hiện nhiều hơn vàocác hoạt động giám sát và tuân thủ
Trong khi có những yếu tố khác để giải thích lý do tại sao Úc ở tình trạng tốt hơn trong khủnghoảng kinh tế thế giớinhư một nền kinh tế mạnh, một hệ thống ngân hàng vững mạnh, và một nền
Trang 30văn hóa đạo đức của công ty tích cực, sức mạnh của kiến trúc quản lý tài chính và vai trò của ASICtrong việc giám sát đã góp phần quan trọng tại sao Úc ở tình trạng tốt hơn và không nên đánh giáthấp
Những điểm cần thảo luận:
ASIC đã thay thế các trang mạng FIDO cho MONEYSMART Truy cập vào trang webMONEYSMART (www.moneysmart.gov.au) và xem những lời khuyên bạn có thể tìm thấycho các nhà đầu tư muốn đầu tư vào cổ phiếu, tương lai và các quyền chọn Đặc biệt, bạn cónghĩ rằng trang web sẽ giúp nhà đầu tư hiểu rõ hơn về những rủi ro liên quan đến các loạihình đầu tư?
Chủ tịch ASIC cho rằng một phần giúp hoạt động của Australia tương đối tốt hơn trong suốtkhủng hoảng kinh tế thế giớilà một nền văn hóa đạo đức của công ty tích cực Bạn có tinrằng Úc không có một nền văn hóa đạo đức công ty tích cực? Bạn nghĩ rằng làm thế nào nóđóng một vai trò đáng kể trong việc giúp Úc tránh thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trong suốt
và sau khủng hoảng kinh tế thế giới?
PDS là gì? Bạn có nghĩ rằng yêu cầu PDS là một đóng góp quan trọng đối với sự ổn địnhcủa hệ thống tài chính của Úc?
XII TÓM TẮT
Mục tiêu học tập 1
Các chức năng của hệ thống tài chính hiện đại:
Sự ra đời của tiền tệ và sự phát triển của thị trường trong nước đối với thương mại hàng hóa
là nguồn gốc của hệ thống tài chính ngày nay
Tiền là một phương tiện trao đổi cho các giao dịch hàng hóa và dịch vụ
Thị trường chuyên biệt được phát triển cho phép việc chuyển giao hiệu quả các nguồn vốn từngười tiết kiệm (các thực thể thặng dư) sang người sử dụng vốn (các thực thể thâm hụt)
Hệ thống tài chính hiện đại bao gồm các tổ chức tài chính, các công cụ và thị trường cungcấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ tài chính
Hệ thống tài chính khuyến khích tiết kiệm, sau đó được đem đầu tư trong nền kinh tế
Công cụ tài chính kết hợp các thuộc tính rủi ro, tỉ suất sinh lợi, tính thanh khoản và thời gianlưu chuyển tiền tệ Người tiết kiệm có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân của mình bằng cách chọnkết hợp khác nhau của các thuộc tính
Bằng cách khuyến khích tiết kiệm, và sau đó được phân bổ cho người sử dụng hiệu quả nhất,
hệ thống tài chính có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và sự phát triển của mộtquốc gia
Trang 31Các ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương gia có xu hướng chuyên môn hóa cung cấp dịch
vụ tư vấn cho khách hàng
Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, như văn phòng bảo hiểm và quỹ hưu bổng, ký kết hợpđồng, trong đó họ nhận được tài trợ với cam kết sẽ trả một số tiền xác định nếu một sự kiệntrên hợp đồng xảy ra
Công ty tài chính bán công cụ nợ trực tiếp cho các đơn vị thặng dư và sau đó sử dụng nguồnvốn đó cho vay và tài trợ cho khách hàng vay
Quỹ tín thác bán vốn dựa trên sự tin tưởng Quỹ tích lũy được gộp lại và đầu tư vào các loạitài sản quy định trong chứng thư ủy thác
Ngân hàng thương mại chiếm ưu thế về thị phần các tài sản trong tổ chức tài chính
Mục tiêu học tập 3
Các loại công cụ tài chính được phát hành vào hệ thống tài chính gồm công cụ vốn (vốn chủ sởhữu), công cụ nợ (nợ), công cụ phái sinh
Công cụ tài chính là trung tâm của bất kỳ mối quan hệ tài chính nào
Nếu người tiết kiệm mua được quyền sở hữu của đối tượng thâm hụt, công cụ tài chính làcông cụ vốn
Nếulà một khoản vay, công cụ tài chính được đề cập đến như là một công cụ nợ
Một công cụ tài chính kết hợp các đặc điểm của cả công cụ nợ và công cụ vốn được xem nhưmột công cụ lai
Một loại khác là công cụ phái sinh (tương lai, kỳ hạn, hoán đổi và các quyền chọn) Mụcđích sử dụng chính của công cụ phái sinh là quản lý hàng hóa và các rủi ro tài chính
Mục tiêu học tập4
Thảo luận về bản chất của dòng vốn giữa người tiết kiệm và người đi vay, bao gồm cả thị trường
sơ cấp, thị trường thứ cấp, tài chính trực tiếp và tài chính trung gian
Thị trường tài chính và các công cụtài chính cho phép khách hàng vay đáp ứng các yêu cầucủa lý thuyết phù hợp; có nghĩa là, tài sản ngắn hạn nên được tài trợ bởi các khoản nợ ngắnhạn và tài sản dài hạn nên được tài trợ bởi các khoản nợ dài hạn và công cụ vốn
Thị trường mà chứng khoán nợ và chứng khoán vốn mới được phát hành được gọi là thịtrường sơ cấp
Nơi dễ dàng mua bán các chứng khoán phát hành trước đó, chẳng hạn như thị trường cổphiếu, được gọi là thị trường thứ cấp
Bằng cách cung cấp thị trường cho giao dịch chứng khoán tồn tại, thị trường thứ cấp có chứcnăng quan trọng nhất là tạo tính thanh khoản cho các công cụ tài chính
Thị trường thứ cấp hoạt động giúp cho công cụ tài chính tồn tại, các công cụ này thườngđược gọi là chứng khoán
Trong thị trường sơ cấp, các đối tượng thặng dư có thể mua các tài sản trực tiếp từ tổ chứcphát hành
Các dòng vốn có thể thông qua một trung gian tài chính, trong trường hợp này đơn vị thặng
dư thiết lập một mối quan hệ tài chính với các trung gian chứ không phải là với người vaycuối cùng
Trung gian cung cấp một loạt các thuộc tính tài chính có thể có hoặc không có sẵn; do đó thuhút được những người dư vốn