1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về thị trường cổ phiếu

31 476 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu đưa ra các khái niệm về cổ phiếu, cách thức giao dịch của thị trường cổ phiếu, các kỹ thuật định giá cổ phiếu và những sai lầm thường gặp, các quy định của thị trường cổ phiếu, việc thiết lập giá cổ phiếu và cách thức mua cổ phiếu ở nước ngoài

Trang 1

CHƯƠNG 13: THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU

I ĐẦU TƯ VÀO CỔ PHIẾU

Mỗi cổ phiếu của một công ty đại diện cho quyền sở hữu của cổ đông đó với công ty.Một cổ đông sở hữu một tỷ lệ phần trăm lãi suất trong một công ty, tùy thuộc vào tỷ lệ cổphiếu đang lưu hành trên thị trường của tổ chức

Nhà đầu tư có thể kiếm được lợi nhuận từ cổ phiếutheo một trong hai cách Hoặc kiếmlời trên giá của cổ phiếu tăng theo thời gian, hoặc công ty trả cổ tức cổ đông Các nhà đầu tưthường kiếmlợi nhuận từ cả hai cách trên Cổ phiếu rủi ro hơn trái phiếu do cổ đông cóquyền ưu tiên thấp hơn so với trái chủ nếu công ty gặp khó khăn; lợi nhuận cho nhà đầu tưkhông chắc chắn vì cổ tức có thể dễ dàng thay đổi và sự gia tăng giá cổ phiếu không đượcđảm bảo Mặc dù có nhiều rủi ro, ta vẫn có thể kiếm được một khoản lợi nhuận lớn bằngcách đầu tư vào cổ phiếu, và điều này rất khó xảy ra khi đầu tư vào trái phiếu.Một khác biệtgiữa cổ phiếu và trái phiếu là cổ phiếu không có ngày đáo hạn

Quyền sở hữu cổ phiếu cho phép các cổ đông nắm giữ một số quyền liên quan đến công

ty Một trong số đó là quyền của nguyên đơn còn lại: cổ đông được quyền yêu cầu bồi

thường trên tất cả các tài sản và thu nhập còn lại sau khi các bên tranh chấp khác đã đượcgiải quyết Vậy nếu công ty không còn gì thì họ cũng không nhận được bất kì khoản bồithường nào.Tuy nhiên, các cổ đông vẫn có thể trở nên giàu có nếu công ty hoạt động tốt.Hầu hết các cổ đông có quyền biểu quyết chọn người điều hành và một số vấn đề liênquan chẳng hạn như sửa đổi điều lệ công ty hay xem xét có nênphát hành cổ phiếu mới

Ta có thể thấy rằng các chứng chỉ cổ phiếu trong hình 13.1 không liệt kê ngày đáo hạn,mệnh giá, hoặc lãi suất như trên trái phiếu thể hiện trong Chương 12

Trang 2

1 Phân loại cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Có hai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi.Mỗi cổ phần của cổ phiếu ưu

đãi trong công ty xác nhận quyền sở hữu công ty.Cổ đông cổ phiếu thường bỏ phiếu, nhận

cổ tức, và kỳ vọng rằng giá cổ phiếu của họ sẽ tăng lên Có nhiều loại cổ phiếu thường, được

ký hiệu là loại A, loại B,…Tuy nhiên các loại cổ phiếu này không có nghĩa là phải giốngnhau ở tất cả các công ty.Sự khác biệt của các loại cổ phiếu thường này thường liên quan đếnhoặc quyền nhận cổ tức, hoặc quyền biểu quyết Điều quan trọng là nhà đầu tư vào cổ phiếubiết chính xác quyền đi cùng với các cổ phiếu theo dự tính của họ

Cổ phiếu ưu đãi làmột hình thức của vốn chủ sở hữu.Tuy nhiên, nó khác với cổ phiếu

thường trên nhiều phương diện.Đầu tiên cổ đông ưu đãi nhận được cổ tức cố định không đổi,

nó giống với trái phiếu hơn là cổ phiếu thường Thứ hai, vì cổ tức không đổi, giá của cổphiếu ưu đãi tương đối ổn định Thứ ba, cổ đông ưu đãi thường không biểu quyết trừ khicông ty không thanh toán cổ tức như đã hứa.Cuối cùng, cổ đông ưu đãi có quyền yêu cầu bồithường về tài sản ưu tiên hơn các cổ đông thường nhưng sau các trái chủ

Cổ phiếu ưu đãi chiếm ít hơn 25% vốn cổ phần mới phát hành, và chỉ có khoảng 5% củatất cả các nguồn vốn được gia tăng bằng cách sử dụng cổ phiếu ưu đãi Điều này là do cổ tức

ưu đãi không được khấu trừ thuế cho công ty trong khi các khoản thanh toán lãi trái phiếu thìđược phép khấu trừ Do đó, phát hành cổ phiếu ưu đãi thường tốn nhiều chi phí hơn so vớiphát hành trái phiếu, mặc dù nó mang nhiều đặc tính của một trái phiếu

2 Cổ phiếu được bán ra như thế nào?

Trang 3

Hàng tỷ cổ phiếu được bán ra mỗi ngày làm việc tại Hoa Kỳ Dòng chảy có trật tự củathông tin, quyền sở hữu cổ phiếu và vốn thông qua thị trường cổ phiếu là một đặc điểm quantrọng để thị trường phát triển tốt và hiệu quả Chính những hoạt động hiệu quả này khuyếnkhích các nhà đầu tư mua cổ phiếu và cung cấp vốn cho các doanh nghiệp với cơ hội tăngtrưởng có giá trị Chúng ta cùng thảo luận cách cổ phiếu giao dịch hoặc trên sàn giao dịch tậptrung hoặc phi tập trung Gần đây, sự khác biệt này được thu hẹp lại nhờ các giao dịch điện

tử phát triển cả về lượng và tầm ảnh hưởng

Sàn giao dịch chứng khoán tập trung: Trong lịch sử, sàn giao dịch chứng khoán New

York (NYSE) được biết đến nhiều nhất trong các sàn giao dịch tập trung NYSE bắt đầu giaodịch năm 1792, khi 24 nhà môi giới bắt đầu giao dịch một vài cổ phiếu trên Phố Wall.NYSEvẫn là sàn giao dịch chứng khoán với tính thanh khoản nhiều nhất và lớn nhất trên thếgiới.Định nghĩa truyền thống của sàn giao dịch tập trung là nơi có vị trí được quy định, nơingười mua và người bán gặp gỡ trao đổi một cách thường xuyên để giao dịch chứng khoánthông qua việc sử dụng một mô hình đấu giá công khai.Khi công nghệ hiện đại hơn đã được

sử dụng trong giao dịch chứng khoán, mô hình nàytrở nên ít sử dụng hơn.NYSE hiện coi nónhư là một thị trường hỗn hợp, nơi kết hợp phương pháp giao dịch điện tử và giao dịch đấugiá truyền thống.Vào tháng 3 năm 2006, NYSE sáp nhập với Archipelago, một công ty mạngtruyền thông điện tử (ECN).Ngày 4/4/2007, NYSE Euronext được thành lập bởi sự kết hợpcủa nhóm NYSE và Euronext NV.NYSE Euronext hoàn thành việc mua lại sàn giao dịchchứng khoán Mỹ trong năm 2009

Ngoài ra còn có nhiều sàn giao dịch chứng khoántập trunglớn trên thế giới.Sàn giao dịchhoạt động mạnh nhất trên thế giới là sàn giao dịch Nikkei ở Tokyo.Những sàn giao dịch quantrọng khác bao gồm sàn giao dịch cổ phiếu London ở Anh, sàn giao dịch DAX ở Đức, và sàngiao dịch cổ phiếu Toronto ở Canada

Để có một cổ phiếu niêm yết giao dịch trên một trong những sàn giao dịch tập trung, mộtcông ty phải nộp đơn và đáp ứng tiêu chí nhất định do sàn giao dịch đưa ra để tăng cườnggiao dịch Ví dụ, NYSE chỉ khuyến khích các công ty lớn nhất niêm yết để có khối lượnggiao dịch lớn Có một số cách để đáp ứng các yêu cầu niêm yết tối thiểu Nói chung, cáccông ty phải có thu nhập đáng kể và có giá trị thị trường (lớn hơn 10 triệu USD mỗi năm và

100 triệu USD giá trị thị trường)

Khoảng 8.500 công ty trên toàn thế giới niêm yết cổ phần của họ trên sàn NYSEEuronext Các doanh nghiệp trung bình trên sàn giao dịch có giá trị thị trường là 19,6 tỷUSD Ngày 28/10/ 1998,lần đầu tiên khối lượng giao dịch trên sàn NYSE đạt một tỷ cổphiếu.Đến năm 2010, khối lượng giao dịch hàng ngày thường vượt quá 4 tỷ cổ phiếu với 7 tỷ

cố phiếu được giao dịch vào những ngày cao điểm

Các sàn giao dịch khu vực, chẳng hạn như Philadelphia, thậm chí còn dễ dàng niêm yếthơn Một số doanh nghiệp lựa chọn niêm yết trên nhiều sàn giao dịch hơn, bởi tin rằng tiếpxúc nhiều hơn sẽ làm tăng nhu cầu đối với cổ phiếu của họ cũng như giá của nó Nhiều công

Trang 4

ty cũng tin rằng họ sẽ có uy tín nhất định khi niêm yết trên một trong những sàn giao dịchlớn.Họ thậm chí có thể đưa vấn đề này vào trong quảng cáo của mình.Tuy nhiên có rất ítnghiên cứu kết luận ủng hộ quan điểm này Ví dụ như Microsoft, không được niêm yết trênbất kỳ sàn giao dịch tập trung nào, nhưng cổ phiếu của nó đã có một giá trị thị trường tổngcộng hơn 251 tỷ USD vào cuối năm 2010.

Thị trường phi tập trung (OTC): Nếu cổ phiếu củaMicrosoft không được giao dịch

trên bất kỳ sàn giao dịch chứng khoán tập trung nào, vậy họ bán cổ phiếu của họ ở đâu?Chứng khoán không được niêm yết trên một trong những sàn giao dịch, chúng sẽ được giaodịch trên thị trường phi tập trung (OTC).Thị trường này không được tổ chức đúng nghĩa cócác tòa nhà nơi giao dịch diễn ra.Thay vào đó, giao dịch xảy ra qua các mạng viễn thông hiện

đại Một mạng lưới như vậy được gọi là Hiệp hội Quốc gia của đại lý chứng khoán có bảng giá được điện toán hóa (NASDAQ) (hay sàn giao dịch chứng khoán điện tử) Hệ

thống này, được giới thiệu vào năm 1971, cung cấp giá mua và giá bán hiện tại trên khoảng3.000 chứng khoán được giao dịch tích cực.Các đại lý "tạo nên tính thị trường" cho các cổphiếu bằng cách mua cổ phiếu cho danh mục khi các nhà đầu tư muốn bán và bán cổ phiếu từdanh mục khi nhà đầu tư muốn mua.Các đại lý này cung cấp các lượng cổ phiếu nhỏ có tínhthanh khoản, đó là một điều quan trọng để cố phiếu này được chấp nhận trên thị trường.Tổngkhối lượng trên NASDAQ thường thấp hơn so với trên sàn NYSE.Tuy nhiên, khối lượnggiao dịch trên NASDAQ đã phát triển và đôi khi vượt quá khối lượng giao dịch trên NYSE.Không phải tất cả các cổ phiếu giao dịch một cách công khai đều đượcniêm yết trên mộttrong các sàn giao dịch tập trung hay trên sàn NASDAQ Các chứng khoán mà giao dịchkhông thường xuyên hoặc giao dịch chủ yếu trong một khu vực của đất nước thường được

xử lý bởi các văn phòng khu vực của công ty chứng khoán khác nhau.Những văn phòng nàythường duy trì một lượng nhỏ danh mục của các chứng khoán phổ biến ở khu vực đó Cácđại lý tạo một thị trường cho cố phiếu mà giao dịch với khối lượng thấp rất quan trọng cho sựthành công của thị trường phi tập trung Nếu không có những đại lý này đứng ra sẵn sàng đểmua hoặc bán cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ không muốn mua cổ phiếu trong các khu vực hoặccông ty chưa có tiếng tăm, và nó sẽ rất khó khăn cho các công ty mới thành lập để tăngnhucầu vốn cần thiết.Nhớ lại từ Chương 4 rằng một tài sản thanh khoản cao hơn, lượng cầu lớnhơn Bằng cách cung cấp sự can thiệp thanh khoản, các đại lý tăng lượng cầu cho các chứngkhoán được giao dịch ít

Giao dịch tập trung và Phi tập trung: Có một sự khác biệt rõ rệt giữa cách hoạt động

của thị trường tập trung và thị trường OTC Đặc điểm của giao dịch tập trung là như một thịtrường đấu giá mà có sự xuất hiện của nhà buôn trên sàn chuyên về một số cổ phiếu đặc thùnào đó Những chuyên gia này giám sát và giao dịch dễ dàng trong một nhóm các cổ phiếu.Những nhà buôn trên sàn (đại diện cho nhiều công ty môi giới khác nhau bằng các lệnh đặtbán và mua) gặp nhau tại một địa điểm giao dịch trên sàn và nghiên cứu về giá bán và giámua hiện tại.Những giá niêm yết này được hô lên rất lớn.Trong khoảng 90% của giao dịch,

Trang 5

các chuyên gia sẽ sắp xếp người mua và người bán với nhau Trong 10% còn lại, các chuyêngia sẽ can thiệp vào bằng cách mua lại hoặc bán cổ phiếu của họ ra Nhiệm vụ của cácchuyên gia là duy trì trật tự của thị trường cổ phiếu thậm chí phải mua lại chúng ngay cả khithị trường đang đi xuống.

Khoảng 1/4 số lệnh trên sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) được thực hiệnbằng cách đích thân các nhà buôn trên sàn tiếp cận các chuyên gia trên sàn để giao dịch.3/4

số lệnh còn lại được thực hiện bằng hệ thống SuperDOT (hệ thống siêu trực tiếp điều hànhlệnh mua bán chứng khoán).SuperDOT là một hệ thống định tuyến lệnh điện tử, nó truyềncác lệnh một cách trực tiếp đến các chuyên gia đang giao dịch một loại cổ phiếu nào đó.Hệthống này cho phép sự giao tiếp của giao dịch nhanh hơn so với việc sử dụng các nhà buôntrên sàn.SuperDOT dùng để giao dịch dưới 100,000 cổ phần và cấp quyền ưu tiên để giaodịch dưới 2,100 cổ phần.Khoảng 95% lệnh mua hoặc bán trên thị trường NYSE được thựchiện bởi hệ thống này

Trong khi sàn giao dịch tập trung có các chuyên gia để giám sát giao dịch thì thị trườngphi tập trung (OTC) lại có những nhà tạo lập thị trường Thay vì giao dịch cổ phiếu dướihình thức đấu giá, thì nó giao dịch trên một hệ thống mạng điện tử, nơi giá mua và giá bánđược thiết lập bởi các nhà tạo lập thị trường.Thường có rất nhiều nhà tạo lập thị trường chobất kỳcổ phiếu đặc thù nào.Mỗi người sẽ định giá mua và giá bán của họ.Một khi điều nàyđược thực hiện, thì họ có nghĩa vụ mua hoặc bán ít nhất 1.000 chứng khoán tại mức giáđó.Một khi giao dịch đã được tiến hành, họ có thể nhập giá mua và giá bán mới.Các nhà tạolập thì trường đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế, họ phải đảm bảo cho tính liên tục vàthanh khoản cho mỗi cổ phiếu, thậm chí cả khi khối lượng giao dịch nhỏ.Nhà tạo lập thị

trường được hưởng phần chênh lệch giữa giá mua và giá bán.Họ còn nhận được hoa hồng

Mạng thông tin điện tử (ECNs): ECNs đang thách thức cả sàn NASDAQ và sàn giao

dịch tập trung trong kinh doanh trong những năm gần đây ECN là một mạng điện tử, nó kếtnối phần lớn nhà môi giới và nhà buôn lại với nhau để họ có thể giao dịch và bỏ qua nhữngngười trung gian.Hệ thống ECNs có rất nhiều lợi ích nên đã giúp cho nó phát triển mạnh

- Tính minh bạch: Những lệnh (mua & bán) chưa được thực hiện sẽ được xem xét lại

bởi nhà buôn ECN Điều này cung cấp thông tin đắt giá về cung và cầu mà những nhàbuôn có thể sử dụng để thiết lập chiến lược của họ Mặc dù thông tin này cũng được

Trang 6

cung cấp trên một số sàn giao dịch, nhưng nó không phải lúc nào cũng mang tính hiệnhành và hoàn chỉnh như hệ thống ECN cung cấp.

- Giảm chi phí: Bởi vì người môi giới trung gian và hoa hồng được loại bỏ khỏi giao

dịch, nên những giao dịch được thực hiện bằng hệ thống ECN có thể có chi phí giaodịch thấp hơn Khoảng cách giữa giá mua và giá bán thường được giảm xuống và đôikhi gần như không có

- Thực hiện nhanh hơn: Bởi vì hệ thống ECNs là hoàn toàn tự động, nên các nhà buôn

được liên kết với nhau và xác nhận nhanh hơn so với việc thực hiện một cách thủcông Đối với nhiều nhà buôn thì việc này không có gì đáng chú ý, nhưng đối vớinhững người đang muốn giao dịch với sự biến động giá nhỏ thì việc này rất quantrọng

- Giao dịch ngoài giờ: Trước khi hệ thống ECNs xuất hiện thì chỉ có nhà buôn dạng tổ

chức mới có thể giao dịch chứng khoán sau khi sàn giao dịch đóng cửa Có rất nhiềubáo cáo và nguồn thông tin được cung cấp sau khi sàn giao dịch đóng cửa nên nhiềunhà đầu tư nhỏ lẻ không được giao dịch khi có được những dữ liệu này Vì hệ thốngECNs không bao giờ đóng cửa, nên giao dịch được tiếp diễn liên lục quanh các múigiờ

Bên cạnh những ưu điểm của hệ thống ECNs thì cũng có những nhược điểm.Điều quantrọng nhất là nó chỉ hoạt động tốt với những cổ phiếu có khối lượng lớn (ổn định).Bởi vì hệthống ECNs cần có một người bán kết hợp với một người mua và ngược lại, nên những cổphiếu giao dịch với khối lượng ít có thể có một khoảng thời gian lâu mà không được giaodịch.Một trong những hệ thống ECNs lớn nhất là Instinet.Nó được sử dụng chủ yếu chonhững nhà buôn dạng tổ chức.Instinet cũng sở hữu Island, một hệ thống dành cho những nhàbuôn dạng cá nhân năng động

Những sàn giao dịch lớn đang cạnh tranh với hệ thống ECNs bởi sự phát triển của hệthống giao dịch tự động Ví dụ, sàn giao dịch NYSE gần đây đã thông báo những thay đổicủa hệ thống định hướng lệnh trực tiếp của nó (Direct+order routing system) và sáp nhập vớiArchipelago để cung cấp cho nó một nơi được thiết lập trong thị trường này Mặc dù sànNYSE vẫn chiếm ưu thế trong thị trường chứng khoán Mỹ về điều khoản (thời hạn) của cổphần và khối lượng giao dịch đô la, nhưng hình thức đấu giá này có thể sẽ không tồn tại khicông nghệ thông tin đang thách thức nó trong nhiều năm tới

Qũy hoán đổi danh mục (ETFs) (Công ty quỹ chung giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán)

Quỹ hoán đổi danh mục (ETFs) được đưa ra cải tiến thị trường sau này để đáp ứng nhucầu của nhà đầu tư ETF lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào năm 1990, đến năm 2007 cóhơn 400 ETFs riêng biệt đã được giao dịch Hiểu một cách đơn giản, ETFs là hình thức khimua một rổ chứng khoán và một cổ phiếu được tạo ra dựa trên rổ này mà được giao dịch trênsàn giao dịch ETFs đang dần được hoàn thiện và cơ cấu lại, tuy nhiên ETFs luôn có nhữngđặc điểm cơ bản sau:

Trang 7

- 1 ETFs được niêm yết và giao dịch như các cổ phiếu riêng lẻ trên sàn giao dịchchứng khoán Hiện nay, ETFs được giao dịch trên thị trường chứng khoán Mỹ với tất

ETFs hoạt động giống như các quỹ đầu tư chỉ số chứng khoántương hỗ trong đó chúnghoạt động dựa trên một số chỉ số tham chiếu như S&P 500 hoặc chỉ số trung bình côngnghiệp Dow Jones Sự khác biệt ở chỗ chứng chỉ quỹ ETFs được giao dịch như các cổphiếu.Do đó, nhà đầu tư được phép thực hiện các lệnh giới hạn, bán khống, lệnh dừng lỗ vàlệnh mua theo bảo chứng (Việc mua chứng khoán với khoản tiền trả trước ít hơn tổng giá trịphải bỏ ra ngay một lúc) ETFs có phí quản lý thấp hơn so với quỹ đầu tư chỉ số tương hỗ.Ví

dụ, Vanguard tham gia thị trường ETF báo cáo tỷ lệ phí là 0.08% so với tỷ lệ phí 0.25% khitham gia thị trường quỹ đầu tư chỉ số chứng khoán tương hỗ.Một ưu điểm khác của ETFs làchúng thường không có số tiền đầu tư tối thiểu, trong khi các quỹ tương hỗ thường đòi hỏimức đầu tư tối thiểu là $3,000 - $5,000

Nhược điểm chính của ETFs là kể từ khi được giao dịch như cổ phiếu, nhà đầu tư phải trảtiền hoa hồng môi giới mỗi khi họ mua hoặc bán cổ phần Chi phí này tạo ra một bất lợi sovới các quỹ tương hỗ đối với những nhà đầu tư muốn thường xuyên đầu tư một lượng nhỏ,chẳng hạn như thông qua một 401K (Quỹ hưu trí tư nhân)

ETFs đưa ra một số tên gọi đặc biệt không có trong thị trường tài chính như Vipers,Diamonds, Spider, và Qubes.Những tên này được bắt nguồn từ các chỉ số tham chiếu hoặctên của công ty phát hành Ví dụ, Diamonds tham chiếu theo chỉ số công nghiệp trung bìnhDow Jones, Spiders tham chiếu theo chỉ số S&P 500, và Qubes theo NASDAQ (biểu tượngticker QQQQ) Viper là ETFs của công ty Vanguard Danh sách các chỉ số có sẵn mà các quỹEFTs tham chiếu nhanh chóng mở rộng, bao gồm mọi lĩnh vực, hàng hóa, và phong cách đầu

tư (giá trị, tăng trưởng, vốn hóa, v.v…).ETFs ngày càng phổ biến hơn khi các nhà đầu tư tìmhiểu về cách sử dụng ETFs để đa dạng hóa danh mục đầu tư hiệu quả với chi phí thấp

II ĐO LƯỜNG GIÁ CỦA CỔ PHIẾU PHỔ THÔNG

Một nguyên tắc cơ bản của tài chính là giá trị của khoản đầu tư được đo lường bằng cáchlấy giá trị hiện tại của tất cả các dòng tiền được tạo ra của khoản đầu tư trong suốt dòng đờicủa nó Ví dụ, một tòa nhà thương mại sẽ được bán với giá phản ánh dòng tiền ròng (tiềnthuê - chi phí) có được trong suốt thời gian sử dụng.Tương tự như vậy, giá trị của cổ phiếu

Trang 8

phổ thông là giá trị ngày hôm nay của tất cả các dòng tiền trong tương lai.Dòng tiền một cổđông có thể kiếm được từ cổ phiếu là cổ tức, chênh lệch giá bán cổ phiếu hoặc cả hai.

Để phát triển lý thuyết về định giá cổ phiếu, chúng ta bắt đầu với giả định đơn giản nhất.Giả định rằng nhà đầu tư mua cổ phiếu, giữ nó trong một khoảng thời gian để có được một

cổ tức, sau đó bán cổ phiếu Chúng ta gọi đây là mô hình định giá một giai đoạn

1 Mô hình định giá một giai đoạn

Giả sử bạn có một số tiền để đầu tư cho một năm.Sau một năm bạn sẽ cần phải bán khoảnđầu tư của bạn để trả học phí Sau khi xem Wall Street Week trên truyền hình, bạn quyếtđịnh rằng bạn muốn mua cổ phiếu của Intel Corp Bạn gọi nhà môi giới của bạn và thấy rằngIntel hiện đang bán với giá $50 trên mỗi cổ phiếu và trả cổ tức là $0.16 một năm Các nhàphân tích của Wall Street Week dự đoán rằng chứng khoán sẽ được bán với giá $60 trongnăm tới.Bạn có nên mua cổ phiếu này?

Để trả lời câu hỏi này, bạn cần phải xác định xem giá hiện tại của cổ phiếu có phản ánhchính xác dự báo của giới phân tích hay không Để định giá cổ phiếu ngày hôm nay, bạn cầnphải tìm giá trị hiện tại của cổ phiếu thông qua phương pháp chiết khấu dòng tiền dự kiến (thanh toán trong tương lai) sử dụng công thức trong phương trình 1 của chương 3, trong đólãi suất chiết khấu sử dụng để chiết khấu dòng tiền là lợi nhuận yêu cầu trong việc đầu tư củabạn Dòng tiền dự kiến bao gồm cổ tức trả cuối năm cộng với giá bán cổ phiếu 1 năm tới khichiết khấu dòng tiền về giá trị hiện tại với lãi suất yêu cầu của bạn, bạn sẽ có được giá trịhiện tại của cổ phiếu:

P0= ¿1

(1+ ke)+

P1

(1+ke)

P0= giá hiện tại của cổ phiếu Giả định năm hiện tại là năm 0

Div1= Cổ tức thanh toán vào cuối năm 1

Ke= tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư yêu cầu của nhà đầu tư

P1= giá vào cuối giai đoạn đầu tiên Đây là giá bán giả định của cổ phiếu

Ví dụ 13.1: định giá cổ phiếu theo mô hình một giai đoạn

Dựa trên giả định bên trên, để tìm giá trị hiện tại của cổ phiếu cần xác định được tỷ suấtlợi nhuận trên vốn đầu tư yêu cầu của nhà đầu tư để tìm giá trị hiện tại của dòng tiền.Bời vì

cổ phiếu rủi ro hơn trái phiếu, nhà đầu tư yêu cầu một tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với tỷsuất lợi nhuận trên thị trường trái phiếu Giả sử rằng sau khi xem xét cẩn thận bạn quyết địnhrằng bạn sẽ hài lòng để với tỷ suất lợi nhuận là 12% trên vốn đầu tư

Đưa con số này vào phương trình:

P0= 0.16

(1+12%)+

60(1+12 %)=0.14+53.57=$ 53.71

Trang 9

Dựa trên phân tích của bạn, bạn thấy rằng cổ phiếu nên có giá hiện tại là $53,71 Do cổphiếu hiện đang được bán với $50, bạn sẽ chọn để mua nó Tại sao giá cổ phiếu hiện tại lạithấp hơn $53,71? Có thể là do các nhà đầu tư khác đánh giá cổ phiếu với mức rủi ro kháctrên dòng tiền hoặc ước tính dòng tiền nhận được ít hơn bạn.

2 Mô hình định giá cổ tức tổng quát

Mô hình định giá cổ tức một giai đoạn có thể được mở rộng đến bất kỳ số lượng giai

đoạn nào.Khái niệm này vẫn tương tự.Giá trị của cổ phiếu là giá trị hiện tại của tất cả cácdòng lưu chuyển tiền tệ trong tương lai.Dòng tiền duy nhất mà một nhà đầu tư sẽ nhận được

là cổ tức và giá bán cuối cùng khi cổ phiếu được bán ra.Công thức tổng quát cho cổ phiếu cóthể được viết như trong phương trình 2

xu [$50/(1.1275) = $0.01] Điều này có nghĩa rằng giá trị hiện tại của một cổ phần của cổphiếu có thể được tìm thấy một cách đơn giản như là giá trị hiện tại của dòng cổ tức trong

tương lai Mô hình cổ tức tổng quát được viết lại trong phương trình 3 mà không có giá bán

Người mua cổ phiếu hy vọng rằng công ty sẽ trả cổ tức vào một ngày nào đó Hầu hết thời

gian một hiệp hội (cơ quan) công ty chi trả cổ tức càng sớm càng cho thấy nó đã hoàn thànhgiai đoạn tăng trưởng nhanh chóng của chu kỳ sống của nó.Việc tăng giá cổ phiếu là thờigian tiếp cận cho các dòng cổ tức để bắt đầu

Các mô hình định giá cổ tức tổng quát đòi hỏi chúng ta tính toán giá trị hiện tại của mộtdòng cổ tức vô hạn, một quá trình có thể là khó khăn.Vì vậy, các mô hình đơn giản hóa đã

được phát triển để làm cho các tính toán dễ dàng hơn Một trong những mô hình là mô hình tăng trưởng Gordon với giả định tăng trưởng cổ tức không thay đổi.

Trang 10

3 Mô hình tăng trưởng Gordon

Nhiều công ty phấn đấu tăng cổ tức của họ tại một tốc độ không đổi mỗi năm Phươngtrình 4 viết lại phương trình 3 để phản ánh sự tăng trưởng liên tục này trong cổ tức

Trong đó: D0 = cổ tức phải trả gần đây nhất

g = tỷ lệ tăng trưởng liên tục được dự kiến trong cổ tức

Ke = lợi nhuận yêu cầu trên sự đầu tư vốn chủ sở hữu

Phương trình 4 đã được đơn giản hóa bằng cách sử dụng đại số để có được phương trình

- Cổ tức được cho là tiếp tục tăng trưởng với một tốc độ không đổi mãi mãi Trên thực

tế, miễn là chúng được dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ không đổi cho một khoảngthời gian dài (thậm chí nếu không mãi mãi), các mô hình nên mang lại kết quả hợp lý.Điều này là do sai số khi dòng lưu chuyển tiền tệ xa xôi trở nên nhỏ khi chiết khấuđến hiện tại

- Tốc độ tăng trưởng được cho là thấp hơn so với lợi nhuận yêu cầu về vốn cổ phần, k e.Myron Gordon, trong việc phát triển mô hình của mình, đã chứng minh rằng đây làmột giả định hợp lý Về lý thuyết, nếu tốc độ tăng trưởng là nhanh hơn so với tốc độyêu cầu bởi chủ sở hữu vốn cổ phần của công ty, về lâu dài công ty sẽ không thể pháttriển lớn mạnh

Ví dụ 13.2 Định giá cổ phiếu: Mô hình tăng trưởng Gordon

Tìm giá thị trường hiện tại của cổ phiếu Coca-Cola với giả định tăng trưởng cổ tức vớitốc độ không đổi là 10,95%, D0 = $1.00, và lợi nhuận yêu cầu là 13%

Ta có:

P0=D0×(1+g)

(keg)

Trang 11

4 Phương pháp định giá dựa vào tỉ số P/E (tỉ số giá trên thu nhập của một cổ phiếu)

Về mặt lý thuyết, phương pháp tốt nhất để định giá cố phiếu là phương pháp định giá cổtức.Tuy nhiên, đôi khi phương pháp đó khó mà thực hiện được Nếu một công ty không chitrả cổ tức hoặc có một tỉ lệ tăng trưởng thất thường, thì kết quả tính ra có thể sẽ không đượcthỏa đáng Vì vậy có nhiều phương pháp định giá cổ phiếu khác đôi khi vẫn được ápdụng.Một trong số những cách phổ biến hơn cả là phương pháp tính dựa trên tỉ sổ giá/thunhập

Tỉ lệ giá trên thu nhập cổ phần (PE) là một thước đo quan sát rộng rãi về thị trường có

thể sẵn sàng trả bao nhiêu cho $1 thu nhập từ một công ty Một tỉ số PE cao có hai cách giảithích

- Một tỉ lệ PE cao hơn mức trung bình có thể có nghĩa là kỳ vọng của thị trường là thunhập của cổ phiếu này sẽ tăng lên trong tương lai Điều này sẽ làm cho PE cao hơnmức tiêu chuẩn

- Một tỉ lệ PE cao có thể chỉ ra rằng thị trường cảm thấy thu nhập của công ty có mộtmức rủi ro rất thấp và vì thế họ sẵn lòng trả giá cao hơn cho cổ phiếu của công ty đó

Tỉ số PE có thể được sử dụng để ước tính giá trị cổ phiếu của một công ty Chú ý rằng,theo số học, thì kết quả của phép tính PE nhân với thu nhập kỳ vọng sẽ bằng giá cổ phiếu củacông ty

P

E × E=P(6)

Các công ty trong cùng một ngành dự kiến sẽ có một tỉ số PE tương tự nhau trong dàihạn Giá trị cổ phiếu của công ty có thể tính bằng cách lấy tỉ số PE trung bình của ngànhnhân với thu nhập kỳ vọng trên mỗi cổ phần

Ví dụ 13.3 Định giá cổ phiếu bằng phương pháp sử dụng tỉ số PE

Tỉ số PE trung bình của một ngành nhà hàng giống như Applebee’s, một chuỗi nhà hàng– tiệm rượu là 23 Giá hiện tại của Applebee’s là bao nhiêu nếu thu nhập trên mỗi cổ phiếu

dự kiến là $1,13

Trang 12

Sử dụng công thứ 6 và dữ liệu của bài ta tính được:

P 0 = P/E x E

P 0 = 23 x $1,13 = $26

Phương pháp dụng tỉ sốPE đặc biệt hữu ích cho việc định giá các công ty tư nhân và cáccông ty mà không trả cổ tức Hạn chế của phương pháp này là việc tính toán phải sử dụng tỉ

sổ PE trung bình của ngành, những nhân tố đặc trưng của ngành có thể ảnh hưởng đến tỉ số

PE dài hạn, làm cho nó cao hơn hoặc thấp hơn mức trung bình bị bỏ qua khi phân tích Mộtnhà phân tích chuyên môn sẽ điều chỉnh tỉ số PE này lên hoặc xuống để phản ánh đặc điểmđặc trưng của một công ty khi ước tính giá cổ phiếu của nó

III.THỊ TRƯỜNG THIẾT LẬP GIÁ CHỨNG KHOÁN NHƯ THẾ NÀO

Giả sử như bạn đi đến một cuộc đấu giá ô tô Có rất nhiều xe hơi có sẵn để chọn lựa trướckhi buổi đấu giá bắt đầu, bạn thấy thích một chiếc Mazda Miata nhỏ Bạn lái thử chiếc xe ởbãi đỗ xe và để ý thấy chiếc xe này có vẻ tạo ra tiếng động lạ, nhưng bạn vẫn quyết định làbạn vẫn thích chiếc xe Bạn quyết định giá của chiếc xe là $5000, giá này có thể cho phépbạn trả một vài hóa đơn thanh toán cho việc sửa chữa chiếc xe về tiếng ồn của nó trước khilỗi này trở nên nghiêm trọng Cuộc đấu giá chuẩn bị bắt đầu, vì vậy bạn bước vào trong vàchờ đợi khi chiếc Miata xuất hiện

Giả sử có một người mua khác cũng để ý chiếc Miata Ông ấy lái thử chiếc xe và nhận rarằng tiếng ồn chỉ đơn giản là do má phanh bị mòn, ông ấy có thể sửa chữa được tại mức giádanh nghĩa của nó Ông ấy quyết định rằng chiếc xe này đáng giá $7000 Ông ấy cũng thamgia và chờ đợi chiếc Miata xuất hiện

Ai sẽ mua được xe và với giá bao nhiêu? Giả sử rằng chỉ có bạn và ông này thích chiếcMiata đó.Bạn bắt đầu đấu giá với $4000.Ông ấy nâng giá lên $4500.Bạn nâng giá lên với giácao nhất mà bạn chấp nhận là $5000.Ông ấy nâng lên $5100 Giá bây giờ đã cao hơn cái giá

mà bạn sẵn lòng trả cho chiếc xe, nên bạn không đấu giá nữa Chiếc xe được bán cho ngườiđịnh giá cao hơn là $5100

Ví dụ đơn giản này cho ta thấy nhiều vấn đề Đầu tiên, giá được thiết lập bởi giá cao nhất

mà người mua sẵn lòng mua.Giá có thể không cần thiết là giá cao nhất mà tài sản có thể đạtđược, nhưng nó là giá cao hơn giá những người mua khác sẵn lòng trả

Thứ hai, giá thị trường sẽ được thiết lập bởi người mua, người có thể tận dụng lợi thế tốtnhất của tài sản Người mua chiếc xe biết rằng ông ta có thể sửa được vấn đề tiếng ồn mộtcách dễ dàng và không tốn kém Bởi vì một điều là ông ta sẵn lòng trả giá cho chiếc xecaohơn bạn Vấn đề này tương tự cho các tài sản khác.Ví dụ, một mảnh đất hoặc một tòa nhà sẽbán cho ai mà sử dụng tài sản có hiệu quả nhất Xem xét lý do tại sao một công ty thường trảgiá cao đáng kể so với giá thị trường hiện tại để có được quyền sở hữu công ty (mục tiêu)

Trang 13

khác Công ty mua lại có thể tin rằng nó có thể đưa tài sản công ty mục tiêu làm việc tốt hơn

so với hiện tại và điều này lí giải cho việc vì sao họ mua với giá cao

Cuối cùng, ví dụ cho thấy vai trò của thông tin trong việc định giá tài sản Nắm đượcnhiều thông tin về tài sản nào đó có thể làm gia tăng giá trị của tài sản đó vì nó giúp giảmthiểu rủi ro Khi bạn xem xét việc mua một cổ phiếu, có nhiều ẩn số về dòng tiền trong tươnglai Người mua nào nắm giữ các thông tin tốt nhất về dòng tiền tương lai sẽ chiết khấu dòngtiền này với mức lãi suất chiết khấu thấp hơn so với người mua không có thông tin chắcchắn

Bây giờ chúng ta áp dụng những ý tưởng trên để định giá cổ phiếu Giả sử rằng bạn đangxem xét việc mua cổ phiếu có mức chi trả cổ tức dự kiến là $2 ở năm tiếp theo (D1 = $2).Công ty dự kiến tốc độ tăng trưởng vô hạn là 3% mỗi năm Bạn không chắc chắn cả về tính

cố định của dòng cổ tức cũng như tính chính xác của tốc độ tăng trưởng ước tính Để bù đắpnhững rủi ro này, bạn yêu cầu mức tỷ suất sinh lợi là 15%

Giả sử một nhà đầu tư khác là Jennifer đã nói chuyện với người trong ngành công nghiệp

và cảm thấy tự tin hơn về dòng tiền dự kiến Jennifer chỉ yêu cầu mức lợi tức 12% doJennifer chấp nhận mức độ rủi ro của cổ phiếu này thấp hơn bạn Mặt khác, Bud đang hẹn hòvới giám đốc điều hành của công ty.Anh ta biết gần như chắc chắn về tương lai của công ty.Anh ta cho rằng cả tốc độ tăng trưởng ước tính và dòng tiền dự kiến sẽ thấp hơn so vớinhững gì họ thực sự đạt được trong tương lai Vì cảm thấy gần như không có rủi ro trongviệc đầu tư này, anh ta chỉ yêu cầu mức lợi tức 7%

Mỗi nhà đầu tư sẽ định giá loại cổ phiếu trên là bao nhiêu? Áp dụng mô hình tăngtrưởng Gordon, ta tính được giá cổ phiếu như sau

Nhà đầu tư Lãi suất chiết khấu Giá cổ phiếu

BạnJenniferBud

Vấn đề của phần này là những người tham gia trên thị trường đấu giá cạnh tranh vớinhau, tạo nên giá thị trường.Khi thông tin mới được công bố về một công ty, kỳ vọng sẽ thayđổi, và đồng nghĩa với điều đó là giá cả sẽ thay đổi Thông tin mới có thể gây ra những thayđổi về kỳ vọng mức cổ tức trong tương lai hoặc các rủi ro của các mức cổ tức này Bởi vì

Trang 14

người tham gia thị trường liên tục nhận được những thông tin mới và liên tục thay đổi các kỳvọng, do đó giá cổ phiếu cũng sẽ liên tục thay đổi theo.

IV.NHỮNG SAI LẦM TRONG ĐỊNH GIÁ

Trong chương này, chúng ta đã học về một số mô hình định giá tài sản.Một bài tập thú vị

là áp dụng các mô hình này vào các công ty thực.Sinh viên làm được điều này nhận ra rằnggiá cổ phiếu được tính toán đôi lúc không giống với giá thị trường.Họ thường đặt câu hỏi liệucác mô hình này sai hoặc không đầy đủ hoặc liệu rằng các mô hình định giá này không được

sử dụng đúng cách.Có nhiều sai lầm khi áp dụng các mô hình này vào thực tế; bao gồm cácvấn đề về ước lượng tốc độ tăng trưởng, ước tính rủi ro hay dự báo cổ tức

1 Vấn đề ước lượng tốc độ tăng trưởng

Mô hình tăng trưởng đều yêu cầu các nhà phân tích phải ước tính tốc độ tăng trưởngkhông đổi của công ty Bạn có thể ước tính tốc độ tăng trưởng trong tương lai bằng cách tínhtoán tốc độ tốc độ tăng trưởng của cổ tức, doanh thu, lợi nhuận ròng trong quá khứ Cách tiếpcận này không quan tâm đến bất kỳ sự thay đổi của doanh nghiệp hay của nền kinh tế mà nó

có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng Robert Haugen, giáo sư tài chính tại Đại học

California, đã viết trong cuốn sách của mình mang tên “Nền Tài chính mới” rằng sự cạnh

tranh sẽ ngăn cản các công ty có tốc độ tăng trưởng cao trong việc duy trì tốc độ tăng trưởngtrong quá khứ Tuy nhiên, ông chứng minh rằng, giá cổ phiếu của các công ty có tốc độ tăngtrưởng cao trong quá khứ có khuynh hướng phản ánh sự tiếp tục tăng trưởng ở tỷ lệ cao.Kếtquả là các nhà đầu tư vào các doanh nghiệp này sẽ nhận được tỷ suất sinh lợi thấp hơn so vớinhững gì họ có thể nhận được nếu đầu tư vào các công ty đã phát triển Điều này chỉ ra rằngngay cả các chuyên gia cũng gặp khó khăn khi ước tính tốc độ tăng trưởng trong tương lai.Bảng 13.1 cho thấy giá cổ phiếu của một công ty có mức tỷ suất sinh lợi yêu cầu là 15%, cổtức $2 với các tốc độ tăng trưởng khác nhau Giá cổ phiếu dao động từ $14,43 với tốc độtăng trưởng 1% đến $228 tại tốc độ tăng trưởng 14% Tốc độ tăng trưởng ước tính ở mức13% thay vì 12% sẽ dẫn đến mức chênh lệch $38,33 Sự thay đổi tốc độ tăng trưởng ảnhhướng lớn đến giá của cố phiếu, thay đổi tốc độ tăng trưởng càng ở mức cao thì sự thay đổi

về giá càng lớn

Tốc độ tăng trưởng (%) Giá ($)

1351011

14.4317.1721.0044.0055.50

Trang 15

74.67113.00228.00

Bảng 13.1: Giá cổ phiếu có D 0 = $2, k e = 15% và tốc độ tăng trưởng như trong bảng

Lợi tức yêu cầu (%) Giá ($)

101112131415

42.0035.0030.0026.2523.3321.00

Bảng 13.2: Giá cổ phiếu có D 0 = $2, g = 5% và lợi tức yêu cầu như trong bảng

2 Vấn đề ước tính rủi ro : Tỷ suất sinh lợi đòi hỏi

Các mô hình định giá cổ tức yêu cầu các nhà phân tích ước tính tỷ suất sinh lợi đòi hỏitrên vốn chủ sở hữu của công ty.Bảng 13.2 cho thấy giá của một cổ phiếu có mức chia cổ tức

$2, tốc độ tăng trưởng là 5% sẽ thay đổi như thế nào ứng với các mức tỷ suất sinh lợi ướctính khác nhau Mặc dù không tìm ra được căn cứ thuyết phục nhưng rõ ràng, giá cổ phiếuphụ thuộc nhiều vào tỷ suất sinh lợi đòi hỏi

3 Vấn đề dự báo cổ tức

Ngay cả khi chúng ta có thể ước tính chính xác tốc độ tăng trưởng của một công ty và tỷsuất sinh lợi đòi hỏi thì chúng ta vẫn phải đối mặt với vấn đề xác định công ty sẽ trả cổ tứcbao nhiêu trong số lợi nhuận mà nó kiếm được Rõ ràng, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến

tỷ lệ chi trả cổ tức, bao gồm các cơ hội tăng trưởng trong tương lai của công ty và vấn đềquản lý dòng tiền trong tương lai

Tóm lại, chúng ta có thể thấy rằng các nhà phân tích chứng khoán hiếm khi chắc chắnviệc dự đoán giá cổ phiếu là chính xác hay không Đây là lý do tại sao giá cổ phiếu lại haydao động nhiều trên các bản tin Ví dụ, thông tin nền kinh tế đang phát triển chậm lại có thểkhiến các nhà phân tích xem xét lại các kỳ vọng tăng trưởng của họ.Khi điều này xảy ra trênmột loạt các cổ phiếu, các chỉ số chính trên thị trường có thể thay đổi

Ngày đăng: 17/07/2015, 10:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w